Danh ngôn

Trong mọi cộng đồng, chúng ta cần một nhóm thiên thần gây rối.

We need, in every community, a group of angelic troublemakers.

(Bayard Rustin – trích bài phát biểu tại New York City 1963)

Trong mọi trường hợp, chắc chắn rằng sự thiếu hiểu biết, đi kèm với quyền lực, là kẻ thù tàn bạo nhất có thể có của công lý.

It is certain, in any case, that ignorance, allied with power, is the most ferocious enemy justice can have.

(James Baldwin - No Name in the Street 1972)

Các cuộc cách mạng và các cá nhân có thể bị giết hại, nhưng bạn không thể giết chết các ý tưởng.

While revolutionaries and individuals can be murdered, you cannot kill ideas.

(Thomas Sankara, một tuần trước khi bị ám sát, 1987)

Không có cảm giác nào cô đơn hơn việc bị chính đất nước mình trục xuất.

There's not a more lonely feeling than to be banished by my own country.

(Kiyo Sato – Kiyo’s Story 2009)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

Một màu tím làm day dứt mãi

Hà Nhật

Từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, xuất hiện bút danh của một nhà thơ, độc đáo là chỉ có một từ: HỮU. Bút danh này xuất hiện với những bài thơ hay, chẳng hạn như bài Đèo Cả, với những câu mà Xuân Diệu khen nức nở trong một bài của mục Tiếng thơ:

Đèo Cả

Đèo Cả

Mây Ai Lao

Sầu đại dương

Đá bia mù sương

Dặm về heo hút

Mà thương ai lên đường

Chầy ngày lạc giữa núi

Sau chân

Lối vàng

xanh tuôn

Hồi ấy nhà thơ đã nổi tiếng.

Tuy nhiên, Hữu chỉ thực nổi tiếng, đến vang dội, sau khi khắp nơi truyền đi một bài thơ: MÀU TÍM HOA SIM.

Có một điều rất lạ: bài thơ của một người lính Việt Minh lại nổi tiếng trong vùng Pháp chiếm hơn là trong vùng mà nó được sinh ra. Từ Hà Nội, đến Huế, Sài Gòn, ở đâu cũng có nhiều người chuyền tay nhau chép rồi ngâm ngợi bài thơ. Chính tôi được một người bạn đưa cho chép rồi thuộc lòng bài thơ này khi đang học ở trường Khải Định – Huế.

Đến sau này, khi anh Nguyễn Bính bảo đưa in bài Màu tím hoa sim lên báo Trăm hoa, tôi cũng từ trí nhớ mà chép lại rồi đưa đến nhà in.

Mãi đến khi Hà Nội giải phóng, ra Hà Nội, tôi mới biết Hữu, không ai khác, chính là Hữu Loan. Còn hay hơn, tôi gặp chính nhà thơ Hữu Loan ở nhà của nhà thơ Nguyễn Bính. Tôi còn nhớ dáng anh trong lần gặp đầu tiên: cao gầy, rắn rỏi, hơi có chút khắc khổ. Có lẽ nhờ cái dáng này mà anh đứng vững trong những năm gay go nhất của cuộc đời.

Bị kỷ luật, bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn, anh không thèm chờ đợi bất cứ sự ban ơn nào, mà dứt áo rời khỏi Hà Nội, trở về quê hương Thanh Hoá, bắt đầu một cái nghề kiếm sống cực kỳ vất vả: đẩy xe chở đá. (Cũng nên biết rằng, trong những năm kháng chiến, anh từng là cán bộ chỉ huy, từng là người điều khiển một tờ báo của quân đội: báo Vệ quốc quân).

Hữu Loan phải làm như thế, bởi anh từng viết bài thơ chống những kẻ nịnh hót, với những câu thơ viết về những kẻ ấy:

Hít thượng cấp cứ thơm như múi mít!

Hữu Loan không thể “hít thượng cấp”!

Hữu là thế! Hữu Loan là thế!

Sau này, khi nhận bình thơ cho  Đài truyền hình HTV ở Sài Gòn, tôi cố gắng tìm cách đưa lên bài thơ đặc biệt không thể quên của Hữu Loan: Màu tím hoa sim.

Những câu thơ dung dị đến tận cùng, cũng yêu thương đến tận cùng, và cũng đau đến tận cùng. Mở đầu cứ thủ thỉ như lời chuyện trò. Mà đúng hơn, là lời tự mình trò chuyện với mình:

Nàng có ba người anh

Đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

.

Tôi

Người Vệ quốc quân

Xa gia đình

Yêu nàng

Như tình yêu em gái…

.

Ngày hợp hôn

Nàng

không đòi may áo cưới

Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi giày đinh

Bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

Bên anh chồng

độc đáo

Đúng là độc đáo: một đám cưới độc đáo, một chú rể độc đáo, một cô dâu độc đáo.

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Thật giản dị, thật hồn nhiên. Thế mà trong cái vui đã ẩn chứa cái buồn:

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng đời chiến chinh

Mấy người đi

Trở lại

.

Lỡ khi mình

Không về

Thì thương

Người vợ

Chờ

Bé bỏng

Chiều quê

Đẹp quá, tình yêu của người chồng. Nhưng sao mà buồn thế! Cứ như một dự cảm đau đớn:

Nhưng

Không chết

Người trai

Khói lửa

.

Mà chết

Người

Gái nhỏ

Hậu phương 

Rồi dự cảm thành sự thật hiện ra ngay trước mắt:

Tôi về

không

gặp nàng

.

Má tôi ngồi

bên mộ con

Đầy bóng tối

.

Chiếc bình hoa ngày cưới

Thành

bình hương

Tàn lạnh

vây quanh

Khi tóc nàng xanh xanh

Ngắn chưa đầy búi

.

Em ơi

Giây phút cuối

Không được

nghe nhau nói

Không được trông nhau

Một lần 

Kỷ niệm cũ ùa về:

Ngày xưa

Nàng yêu hoa sim tím

Áo nàng

màu tím hoa sim

.

Ngày xưa

Đèn khuya bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

Ngày xưa…

Đúng là những nỗi đau chỉ thời chiến tranh mới có:

Một chiều rừng mưa

Ba người anh

Trên chiến trường Đông Bắc

Được tin

Em gái

Mất

Trước tin em lấy chồng

.

Một sớm thu về

Dờn dợn

Nước sông

Đứa em nhỏ

Lớn lên

Ngỡ ngàng

Trông

Ảnh chị

.

Những sớm thu về

Cỏ vàng

Chân mộ chí

Chao ôi, một đoạn thơ cuối cùng, đọc là không thể quên, bởi nó đi đến tận cùng nỗi buồn, tận cùng nỗi đau:

Những chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

.

Những đồi hoa sim

Dài trong chiều

Không hết

Màu tím hoa sim

Tím chiều hoang biền biệt

.

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh đứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm mẹ già xa lâu…

.

Thật như một sự tình cờ cho thơ Việt Nam: cái chết bất ngờ của cô gái trẻ tên Ninh ở một làng quê Thanh Hoá, đã đưa đến cho thơ Việt Nam một bài thơ tình giản dị mà hay vô cùng. Đây là bài thơ tình hay nhất thời chiến, bài thơ tình hay nhất của thơ Việt Nam!

Tấm lòng một người chồng. Tấm lòng một người lính. Tấm lòng một nhà thơ..

Một màu tím cứ day dứt mãi lòng người!