Danh Ngôn

Sự xúc phạm lớn nhất dưới chế độ độc tài là việc người dân đứng lên chống lại sự cai trị của nhà cầm quyền. Như vậy, sự bất tuân trở thành một “thứ tội trời không dung đất không tha”, và sự phục tùng là đức tính quan trọng trong đạo lý làm người. Sự phục tùng ngụ ý nhìn nhận quyền lực và trí tuệ ưu việt của nhà cầm quyền, quyền ra lệnh và quyền thưởng phạt theo những mệnh lệnh độc đoán của họ. Nhà cầm quyền đòi hỏi sự phục tùng không phải chỉ vì sự sợ hãi của người dân trước quyền lực của họ, mà vì tin vào tính ưu việt và thẩm quyền đạo lý của mình. Sự kính trọng mà người dân phải dành cho nhà cầm quyền luôn đi đôi với điều cấm kỵ là người dân không được chất vấn họ.

(The prime offense in the authoritarian situation is rebellion against the authority’s rule. Thus disobedience becomes the “cardinal sin”; obedience, the cardinal virtue. Obedience implies the recognition of the authority’s superior power and wisdom; its right to command, to reward and to punish according to its own fiats. The authority demands submission not only because of the fear of its power but out of the conviction of its moral superiority and right. The respect due the authority carries with it the taboo on questioning it.)

Erich Fromm (1900-1980), nhà tâm lý học Đức. “Man for Himself: An Inquiry into the Psychology of Ethics,” 4.2.A, 1947

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 45): Nguyễn Văn Sâm – Tình đất

clip_image001

Nguyễn Văn Sâm sanh tại Sài Gòn, 1940. Từng dạy ở trường Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho, Pétrus Ký, Ðại Học Văn Khoa (Sài gòn) và các trường Ðại Học Vạn Hạnh, Cao Ðài, Hoà Hảo, Cần Thơ.
Sang Mỹ từ năm 1979, vẫn sống bằng nghề dạy học. Viết cho Văn, Văn Học và các tạp chí Việt ngữ của người Việt. Trước 1975 chuyên viết về biên khảo văn học. Đã in:

  • Văn Học Nam Hà (1971, 1973)
  • Văn Chương Tranh Ðấu Miền Nam (1969)
  • Văn Chương Nam Bộ và Cuộc Kháng Pháp (1972)

Qua Mỹ viết truyện ngắn. Ðã in ở Mỹ:

  • Câu Hò Vân Tiên (1985)
  • Ngày Tháng Bồng Bềnh (1987)
  • Khói Sóng Trên Sông (2000)

Gần đây, trở về gia tài cổ của dân tộc bằng cách phiên âm các tuồng hát bội, truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm trong các thư viện lớn ở Âu Châu:

  • Tam Quốc Diễn Nghĩa
  • Lôi Phong Tháp
  • Sơn Hậu Diễn Truyện
  • Trương Ngáo, v.v.

Thành viên Ban Biên Tập Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn. Trưởng ban Văn chương, Viện Việt-Học.

Biên khảo: Tuồng hát bội viết bằng chữ Nôm
Hiện cư ngụ tại California, Hoa Kỳ.

Tình đất

"Trong thế gian nỗi sầu đau đớn nhất,

Cũng không bằng sầu mất quê hương."

(Thái Tú Hạp)

Buổi sáng sương mai còn ngái ngủ trên lá. Không khí trong lành tinh khiết, mọi vật tràn đầy nhựa sống, sẵn sàng chịu đựng nắng mưa bất thường của ngày mới. Vườn thơm bên kia đường phô diễn từng luống thẳng tắp, từng bụi tỏa lá xòa ra xanh ngắt, tủa gai; giữa mỗi bụi đậu một trái nho nhỏ mới nhú bằng cườm tay, xanh mởn. Đứng đầu vườn ai cũng vui mắt ngó, tưởng tượng như hàng ngàn đóa hoa thật lớn với những đài hoa lê thê nâng niu nụ xanh mơn mởn tròn trĩnh bên trên.

Phía bên nầy đường trải dài bát ngát vườn lài rộng. Mùi thơm thoảng quyện mơ hồ trong không khí ươn ướt buổi tinh sương. Những nhánh lài nho nhỏ, mảnh mai đầy bông trắng, lốm đốm, dát ngọc toàn thể khu vườn bao la. Chim chóc vẫn còn trốn tránh đâu đó, biếng lười kéo dài thêm giấc ngủ chờ chút nắng sớm để ca hát đón chào bình minh.

Thỉnh thoảng một chiếc xe ngựa mù mờ ẩn hiện trong bóng đêm, đèn xe che bằng bốn tấm kiếng khác màu cung cấp một chút ánh sáng yếu ớt ma trơi huyền hoặc, móng ngựa sắt gõ trên đường trải dầu hoắc lóc cóc tạo một hòa âm đồng điệu kéo dài từ mơ hồ xa xa tới rõ rõ từ từ rồi chui lọt tan biến giữa hai khu vườn ép sát hai bên hông con đường nhỏ còn đẫm nước sương.

Sắp hàng bên lề, hai dãi cây dầu con, mặc dầu còn được cột dựa vô một miếng ván nhỏ mới đứng vững, buổi sáng sớm coi bộ cũng sởn sơ hơn, đứng ễnh ngực kiểu đội lính danh dự xếp hàng làm cảnh trong buổi lễ lộc vương giả. Vài mái nhà ba gian nền đúc, dãi cột hàng ba bự xông nghênh ngang lõ mắt trong gió sớm ngó về lớp bông trắng xóa ngang hông người, như lớp mây bông gòn phất phới mờ ảo khúc Nghê Thường.

Cô Út hít một hơi thiệt dài, khoan khoái. Bao nhiêu năm nay, từ khi rinh nổi nửa thùng thiếc nước, mỗi sáng sớm cô đều ra vườn tưới bông, vậy mà bữa nào cũng có cảm tưởng như mới lần đầu được làm cái công việc cô thích thú đó. Vườn đẹp không thua tiên cảnh, bên vườn lài, trắng xóa, thơm nhẹ, thoang thoảng mơ hồ như có nhiều nàng tiên nữa lẩn khuất xa gần, bên vườn thơm, xanh  ngắt lãng đãng mùi lá đầy nhựa mạnh mẽ tỏa ra cái sức sống của một đội dũng sĩ tràn đầy sinh lực. Giọt sương long lanh trên lá, trên hoa, trên nụ, trên nhánh, dát kim cương hột cám chung quanh những viên ngọc lớn. Tất cả không gian êm đềm, ngưng đọng kiểu một khu vườn thần thoại đắm mình trong giấc ngủ thời gian.

Cô đưa tay nưng niu mơn trớn một nhánh bông. Những giọt sương thức giấc lăng xăng, chạy về chỗ thấp, đụng đầu nhau, hợp thành một, lớn lên từ từ rồi rủ nhau nương theo sóng lá chạy tọt xuống đất. Nhánh bông vẫn mơn mởn nằm trong tay cô chủ, thỏa mãn được cái nhìn trìu mến, tưng tiu. Cô thả ra, kéo một nhánh khác, những viên ngọc nhỏ khác lại tung tăng chạy trên sóng lá rồi hè nhau nhảy xuống đất. Cô ngó theo, mắt mở lớn vui vui, đất sớm mai trùn đùn đầy mặt vô số đống nho nhỏ cao bằng cái chén chung, những cục đất tròn vo nhỏ như viên thuốc tiêu ngày còn thơ dại má mua năn nỉ uống mỗi khi sình bụng. Cô rút chưn ra khỏi chiếc guồng lồng mức, đạp đạp nhẹ giỡn với đất, sương sớm quyện trong đất chạm vô lòng bàn chưn mát rượi truyền cảm khoái nhẹ nhàng lên tới sóng lưng chạy dài lên ót. Cô mỉm cười sung sướng như thích thú vì cử chỉ vui đùa trẻ trung của mình.

Bỏ chưn vô guốc lại, cô bắt đầu thiệt sự công việc làm hằng ngày. Cô bợ đít bình tưới lên cao hơn với độ cao vừa phải, tính toán trong đầu sao cho mấy tia nước phụt ra không vọt mạnh làm đau đớn bất cứ nhánh bông nào. Nước đem nguồn sống tới toàn thể khu vườn nhưng một tia nước mạnh có thể làm chết số bông già, sắp được lặt nay mai, cô thấu đáo nguyên lý đó ngay từ ngày còn nhỏ ra vườn coi cha cẩn thận tưới cây, tưng tiêu triều mến săn sóc khu vườn.

Cô lên tiếng với dì Tám Sang đương tưới luống bên mặt:

“Mai họ tới lấy bông khô, dì Tám thấy bông mình hái tuần rồi quá dốt chưa. Lần trước còn ỷ ỷ họ mắng vốn quá, nói mình mần ăn không giữ chứ tín, họ trừ tiền hết một thùng. Nếu cần trưa nay dì cho phơi thêm một nắng nữa.”

Cô nhớ tới chuyện đong bông lần trước. Đã thất thâu còn bị nặng nhẹ đủ điều, cãi không lại họng tụi nó nên đành bóp bụng không dám hở môi. Đối với ông già còn ngậm câm hơn, nuốt tức giận vô lòng sợ cha buồn bịnh nặng thêm. Ông già Bảy đương tưới luống bên trái, bất bình ứng tiếng:

“Sao cô không cho tôi hay, tôi sạt cho tụi nó một trận? Vậy mà ỷ ỷ nỗi gì nữa chớ? Thêm một nắng nữa thì khô quéo hết, hao cầu mấy thùng bông của người ta. Họ ỷ mua nhiều quá bắt bí quá rồi, trả tiền mà đặt cà dựa, nhấp nhấp, lại còn làm eo làm xách chê hôi chê thúi ai chịu cho nổi.”

Dì Tám chậm rãi:

“Tụi nó là vậy không. Cười cười nói nói nhỏ nhẹ mà móc túi thiên hạ tới cắc bạc cuối cùng. Cô coi bộ thằng cha Hồng ký xài hổng vô thì chịu mối với tụi Phát ký đi. Trà ‘Thiết Quan Âm Kỳ Chưởng’ của họ thơm lắm, bán đắt, chắc họ cần bông của mình, mấy cái vườn nhỏ đằng miệt sau vườn Bà Lớn làm sao cung cấp đủ”. Dì cười nửa miệng, giọng thiệt vui: “Còn cái ông gì ở bên Giồng Ông Tố muốn làm trung gian, mua mão bông nguyên vườn để bán lại cho các tiệm trà, mình khỏi tiếp xúc từng người một cô tính với ổng chưa? Tôi thấy cách đó cũng hay hay, khỏi cực lòng cực trí đối phó với từng bạn hàng.”

Cô Út đổ thêm nước vô bình tưới, xách đi về cuối luống, trả lời nhỏ nhẹ:

“Tính như vậy thì cứ tính, chứ tụi nó phe đảng đàng trời, thằng này chê eo thì thằng kia chê tròn chê méo. Ông ta cũng một lò họ ra chứ đâu. Lệ thuộc một mình ông ta tới chừng xích mích thì càng hỏng giò hơn.”

Cô giơ cao bình tưới lên, thân yêu theo dõi mấy tia nước rót trên bông trên lá ở những nhánh cao hơn.

Cô ngó về phía mấy người bạn làm, cẩn thận sợ họ thấy bộ mặt mình áo não. Đầy ứ khó khăn trước mặt. Tụi Chà Và, tụi Tiều Châu cứ đòi mua đứt miếng vườn. Anh Năm thì cứ đốc thúc ông già ngày một bán đi để làm ăn thứ khác. Hỏi làm gì thì ảnh mờ ớ nói không rõ ràng nhưng ý như là muốn đòi chia gia tài ngay bây giờ. Thơm càng ngày càng sút giảm. Năm nay cho ra mười thiên thâu huê lợi không bằng năm ngoái năm thiên. Bạn hàng gần thì mặc may còn tới đếm chứ ở xa thì coi như trốn luôn giựt ba cái tiền thiếu chịu trước đó. Người nầy một chút người kia một mớ, lặc vặc, cộng lại cũng bộn bàng, nghĩ tới thiếu điều chóng mặt. Mấy người tới đếm không tế nhị hay là muốn nói bóng gió xa gần cho mình biết mà cứ nức nở khen thơm Lái Thiêu ngon dịu, thơm Bến Lức ngọt thanh. Ông già bịnh rề rề cả hai năm nay từ bữa trúng gió khi đi dẫy mả bà già. Nhà càng ngày càng thấy buồn. Lạnh tanh như mới đưa đám ma. Nhang khói bà già không ai nhớ đốt ngoài mình. Ông anh ôm mấy cái xe ngựa đã không giúp chuyện mắm muối chung trong nhà thì chớ lâu lâu lại thẹo nẹo mượn tiền rồi không bao giờ trả. Anh Tốt thì ông già bắt đi Tây học, ban đầu còn chống chế, lúc nầy coi bộ xuôi xuôi, chắc trước sau gì cũng đi, bỏ thân mình phận gái một tay đối phó với khó khăn dồn dập tứ phía. Cô đưa tay quẹt mấy giọt nước li ti bay phất phới trong không gian, gặp gió trốn chạy trên mặt, trên trán.

Tiếng ông Bảy rươm rướm:

“Có gì cũng cố gắng vững tay chèo nhe cô Út. Buông xụi lúc nầy tụi tui không biết đi đâu… Mà uổng nữa. Cơ ngơi nầy đâu dễ gì tạo. Xô dễ chứ xây dựng thì khó đàng trời, theo tui đã có được thì bất cứ giá nào cũng phải giữ. Đất vườn bây giờ lên giá lắm. Ngưng một lúc thiệt lâu ông mới trầm ngâm thêm:  “Như là miệt dưới không yên thiên hạ đương đổ xô về Sài Gòn”.

Dì Tám Sang nói vói qua ông Bảy, giọng thật trầm như chỉ muốn đủ hai người nghe thôi:

“Từ lúc ông bịnh, coi mòi cô càng ngày càng xanh xao, thấy tội nghiệp quá! Xót ruột mà không biết phải làm sao. Thôi anh Bảy đừng nói nữa cô ấy rớt nước mắt bây giờ.”

Buổi sáng yên tịnh cô Út nghe mơ hồ nhưng đoán được hết, nước mắt cảm động sắp rơi, cô cũng muốn khóc cho hả hơi. Của ông bà tôi để lại, tía tôi cả đời bù đắp. Má tôi bịnh hoạn ở đây. Anh Hai với anh Ba tôi bị nạn ở đây. Bây giờ tía tôi nằm đó, lẽ nào tôi không lo? Có điều sức đàn bà con gái lại đơn chiếc mà không họ hàng, lo cho mấy cũng không chắc bằng thiên hạ. Có tận nhân lực đó nhưng mà còn tùy thiên mạng.

Cô thọc tay vô vòi nước, đưa lên thoa thoa mặt. Nước buổi sáng mát lịm khuây khuây lòng. Nước chun vô môi, cô liếm liếm, nghe ngon mát tận cuống họng. Cô gượng vui chỉa vòi xuống rửa chưn. Đất cát cứ nhảy vọt khỏi mặt đất leo lên guốc như muốn nựng nịu đôi bàn chưn nõn nà của cô chủ. Một mớ cát dính được vô sau gót. Cô vừa rửa vừa ngó chưn mình. Đỏ thiệt tình. Nhưng mà sóng đời dập tới vùi lui biết còn đỏ được bao lâu nữa!

Cô tưới mạnh hơn, lấy chưn nầy chà lên chưn kia. Chà mạnh lên quai guốc. Nước xoáy mòn đất chung quanh hai chiếc guốc. Vẫn còn một vài hột cát len lỏi trên da mát rượi của người con gái. Cô xách bình nước đi về phía giếng. Dì Tám Sang đi theo bên phía nầy, nói nhỏ trong khi quay lại ngó chừng ông Bảy:

“Ba của cậu Tốt mời bạn bè ra ngoài ngày tới ăn mừng cậu ấy được giấy đi Tây học bác sĩ.”

Cái bình tưới được đặt xuống đất hơi mạnh tay:

“Tôi đã biết từ hai tháng nay lận. Chuyện tới phải tới. Ảnh ở đây đâu có tương lai. Ông già hối như giặc ngày một. Lạng quạng ở lại bị lính xúc vô quân trường có ngày. Con một, ba ảnh lo xa cũng phải.”

“Rồi cô tính sao?”

Mấy giọt nước đeo cứng trên khóe mắt cô Út giờ mới chịu buông tay xuống đất:

“Tính sao giờ? Người đi cứ đi. Người ở cứ ở. Ai lo chuyện nấy. Sau nầy gặp lại thì tốt, không thì ai có cuộc đời nấy. Không hứa gì hết để khỏi cực lòng cực trí đôi bên. Nước sông chảy rẽ nhánh chia dòng là thường, tiếc cũng không làm gì hơn được.”

Người đàn bà buông dụng cụ xuống, ngó cô chủ, áy náy:

“Phải chi cậu Tốt ở lại giúp cô gây dựng thêm miếng vườn nầy thì hay biết mấy. Nằm đêm tôi vái van hoài cho thổ thần thổ địa cuộc đất giục cho cậu đòi ở lại. Thiên muôn gì chuyện phải làm, một mình cô lo đâu xuể. Cậu Năm có lo khỉ gì đâu; phá cho tanh bành té bẹ thì có!”

Cô Út chấm dứt khi đề tài đi quá xa:

“Thôi sáng rồi, dì vô kêu con Cúc dậy tôi với nó đem bông ra chợ. Rằm tháng chạp chắc bán cũng không đến nỗi nào. Mình sửa soạn sẵn sàng không thôi anh Năm ảnh lại cằn nhằn cửi nhửi mất vui.”

Trong ánh sáng mờ mờ cuối đêm đầu ngày hàng mấy chục chậu bông được chất khéo léo lên chiếc xe ngựa sẵn sàng cho một buổi chợ bông những ngày giáp Tết. Con Cúc tuy đã rửa mặt mày sạch sẽ, tóc tai gọn gàng nhưng coi bộ còn ngái ngủ lắm, ngồi vắt vẻo trên một cái càng xe ngó cô chủ lười biếng chào bằng một nụ cười mỉm nhẹ. Hai cái đèn xe treo lủng lẳng dưới lườn cùng chao mạnh, đong đưa thiệt mau hai cái bóng qua lại giao thoa trên nền đất khi lên xe dốc vô đường cái.

Vầng dương từ từ nhú lên đằng phía chơn trời. Tiếng ồn ào thức giấc của ngày mới chừng như đã bắt đầu.

***

Nói nào cho ngay, con Út không ghét bỏ gì tôi. Ai có phần nấy, huê lợi đã ăn đồng chia đủ rồi. Tôi khai thác bốn con ngựa với hai cái xe, vừa chạy vừa cho mướn, kiếm được bao nhiêu tôi làm mưa làm gió xây xài gì tùy ý mặc lòng. Nó lãnh phần cái vườn lài với vườn thơm. Lài bán cho Ba Tàu chợ lớn ướp trà, thơm đếm cho bạn hàng mấy cái chợ nhỏ. Huê lợi nhiều nên nó gánh vác phí tổn cơm nước, chợ búa, trả tiền cho kẻ ăn người làm trong nhà. Cả hai chưa ai có gia đình nên tình anh em coi mòi cũng còn đậm đà. Mỗi tháng vài ba lần giúp nó chở bông ra chợ, coi như bỏ chuyến nhứt, nhưng không bao giờ tôi cho đó là sự thiệt thòi. Nó cũng vậy, đi chợ lựa món ngon vật lạ về cho cả nhà ăn chớ không hà tiện để dành tiền riêng mà bóp họng bóp hầu người trong nhà.

Ông già đau rề rề hai năm nay nên nó cũng tốn kém. Lâu lâu kẹt mượn nó đỡ nhắm mớ, có thì trả không thì thôi, lâu quá quên luôn. Chừng nó cần hỏi lại, tôi đưa mặt mo ra cười trừ, nó nhằn nhằn một đôi câu rồi cũng thôi. Đâu vô đó. Đợi cho ngui ngui, cần, tôi lại năn nỉ mượn nữa. Anh em hột máu xẻ đôi, ai chớ tôi biết con Út tình anh em nó nặng. Trước sau gì tiền cũng xì ra.

Tôi không tin quỷ thần dị đoan nên khó nói chỗ nầy, nhưng nếu được thì tôi nói có quỷ thần hai vai chứng giám tôi thương nó lắm và tôi muốn cứu cái cơ nghiệp nhà mình. Hai cái vườn bự xộn ở trong đất của đô thành tiền đất rẻ mạt nên tây tà, chà và ma ní, cắc chú ba tàu đều ngắm nghé. Trước thì vài ba viên đạn với mấy trái lựu đạn lép ai đó chôn gần giếng rồi mạch cho Tổng Nha, lính kín tới đào lên, ông già chạy hết một mớ tiền. Kế đó ba bốn người họp bàn quốc sự trong vườn thơm bị bắt quả tang, ổng chạy té khói lần nữa, lần nầy thì mang công mang nợ. Rồi ổng đau nằm liệt giường. Con Út lo đâu xuể. Tôi phải tính kế. Tiền. Ai giúp gia đình mình có tiền trả nợ đây? Không có tiền thì thiên hạ xiết đất đi ra mình không cả đám có ngày. Thấy trước chuyện đó lẽ nào tôi tọa thị điềm nhiên? Dòm xuôi dòm ngược chỉ còn một con đường: nuôi đề. Đại Thế Giới xổ đề hằng ngày. Mỗi ngày là mỗi hy vọng. Trong một tương lai thiệt gần khoảng 24 tiếng đồng hồ mình sẽ không còn là người khổ sở hiện tại nữa. Thua bữa nay, dời sự háo hức lại ngày mai. Sự thành công luôn luôn thấy trước mắt. Ngủ một giấc dậy chạy xe tới trưa là có thể hi vọng thanh toán hết nợ nần rồi. Từ nuôi đề đi lần tới đánh đề, mỗi bữa tôi bàn chiêm bao của mình của người, tôi bàn đề trên tranh hài hước nhựt trình “Tiếng Dân”, “Ánh Sáng”, mặn con nào dốc túi mua con đó để có thêm hi vọng. Tôi chạy theo đề như người ta đuổi theo hươu nai thỏ chồn, thấy trước mặt đó tưởng như chỉ cần đưa tay ra là bắt được nhưng không bao giờ bắt được. Từ đánh đề tôi đi lần tới những thứ cờ bạc ăn thua quanh quẩn giữa những người quen biết với nhau, móc túi nhau đem về làm của mình. Bài cào, dà dách, cắt tê, đánh me, cu-di… không có thứ nào chừa, không có lần nào ai rủ mà tôi có can đảm từ chối. Càng thua xiểng niểng, càng tuột quần, càng thiếu nợ như đỉa đeo tôi càng mặn với con bài lá bạc. Đời sống tôi không bao giờ biết vui thú, biết rảnh rang, tôi chỉ nghĩ tới làm sao có thời giờ và tiền bạc để chung vô sòng, chỉ nghĩ tới cái thú cầm lên lá bài và quơ tiền thiên hạ. Gỡ. Gỡ. Đó là lý do đẩy tôi vô sòng, đó cũng là lý do đẩy tôi xuống lỗ thẳm của những lo lắng muộn phiền triền miên đeo đẳng. Nợ nần lột bỏ từ từ trong người tôi những yếu tố để được kính trọng. Thiên hạ dạ dạ trước mặt rồi đấm c. sau lưng. Ai cũng nói lén nhún trề tôi là thằng cờ bạc. Kệ! Biết làm sao hơn. Lỡ rồi. Thằng Tốt cặp với con Út đâu chừng hai năm nay, khăng khít không rời như sam cả xóm nầy ai cũng biết. Trước đây nó thấy tôi còn đứng dậy giả lả chào hỏi, khúm núm bẽn lẽn, mà con Út cũng coi bộ sợ sệt, bối rối. Thét rồi nó tới chà lết quết xảm ở nhà tôi, gặp thì chỉ chào sơ rồi quay ra tíu ta tíu tít với cái con Út, coi tôi như không phải người quan trọng trong nhà, như một kẻ ăn nhờ ở đậu không có quyền hành gì. Con Út lớn rồi. Tôi đâu nói rầy gì được nên đành làm lơ. Thằng học cũng giỏi. Năm ngoái đậu  bắc-on, đương học bắc-đơ, cử chỉ coi bộ chững chạc, nghiêm nghị kiểu thầy bà chữ nghĩa. Không bao giờ còn muốn kéo dài vài ba câu nói chuyện để cầu thân với tôi. Trong trí nó nghĩ làm sao bộ tôi không biết sao? Khi dễ, rẻ rún. Đó là ảnh hưởng của cây bài lá bạc. Tôi không còn có cách nào khác hơn là van vái đất nước ông bà cho tôi trúng cá cặp để tôi từ bỏ hết thảy các thứ cờ bạc, trở thành người tốt. Con Út nhu mì, bươn chải. Hai đứa xứng lứa, vung nồi vừa vặn. Cũng cầu tụi nó xuôi chèo mát mái. May ra con Út không cần miếng vườn, theo thằng chồng nhà khá giả của nó. Đó là một lý do nữa cho tôi có cơ may thoát khỏi gông cùm nợ nần. Nhiều quá, chúa chổm rồi, tính ra cứ đánh xe ngựa kiểu nầy, sớm bửng ra đi tối mịt mới về ngày nầy qua ngày khác trả nợ tới đời con cũng chỉ mới được một phần nhỏ thôi. Bản án nghèo khổ tù đày treo lủng lẳng trên đầu tôi thấy rõ ràng như in.

Vậy tôi phải tính.

Tính vậy mà trời nói không phải vậy. Con Út khắn khít với thằng đó thì khắn khít mà thờ ơ thì cũng thờ ơ. Nó thương đất chứ không thương tiền. Nó có thể bỏ thằng Tốt chớ không bao giờ bỏ miếng đất. Nó tưới bông mỗi sáng xăn xái còn hơn con trai hẹn mèo, năm nầy qua năm khác, không ngày nào lơi nghỉ. Nó nựng nịu từng nụ bông búp. Nó nhẹ nhàng sợ đau từng cái bông nở. Nó tưng tiu vun gốc từng cây mỗi chiều. Hai ba ngày là qua tuốt lá bên vườn thơm. Chủ vườn đâu ai làm những chuyện tiểu tiết nầy. Vậy mà nó khoái. Nó có thể ngồi trong vườn cả một hai giờ đồng hồ, ngó theo từng con chim xập xòe bay lượn, quan sát từng cánh bướm tung tăng. Ghi vô trí nhớ chỗ nào đất sụp, chỗ nào cây đẹt, chỗ nào kiến đùn. Ngày rảnh nó đi lùng trong mấy luống đất, xăm xoi, ngó ngó. Không phải chỉ có mấy cái bông lài với mấy trái thơm mà thôi. Nó còn thuộc đất chỗ nào màu gì, đất thịt hay đất cát. Chậu nào bể, nhánh nào khô, luống nào cần phân cần nước. Đất vườn đã thành da thịt của nó, máu huyết của nó, cái hồn của nó... Nó thương miếng đất quá cỡ. Kiểu như nó tính sanh ở đây, sống nhờ miếng vườn, sẽ chết gởi thịt gởi xương trong đó, bứng xeo, xoi, cạy gì cũng không đi, không bỏ. Không phải chuyện huê lợi, cũng không phải chuyện tiền bạc nhiều ít gì đó. Đối với tôi thì nhiều chớ đối với thằng Tốt sau khi tụi nó nên vợ thành chồng rồi thì ba cái đó đâu thấm tháp gì, như bạc vụn nằm sót đáy rương thôi, cái kiểu nhà giàu tiền bạc bỏ quên trong kẹt hóc nào đó không nhớ tới vậy mà!

Người ta nói đất có quỷ có ma, sông có Hà Bá thiệt đúng ngay bân. Quỷ ma phải hiểu là thần đất. Thần đất hớp hồn nó rồi. Chặt không đứt, bứt không rời. Đi đâu rồi cũng trở lộn về. Làm gì trong ngày cũng phải có lúc ra thăm vườn nưng bông, dòm lá, vuốt nhánh, hít thở chung không khí với cây. Nó như là một phần tử của vườn. Như là một cây chúa tu luyện lâu năm nên thần thông biến hóa thành người luôn luôn thương mến, che chở thần dân của mình.

Thằng Tốt chữ nghĩa đầy bụng tối ngày lẽo đẽo kế bên nó nên tôi có muốn ăn hiếp em cũng hơi khó lòng. Lâu lâu chỉ mượn được ba món tiển tủn mủn đỡ ngặt tức thời mà thôi, chứ không giải quyết được chuyện lâu dài. Nhằm nhò gì? May quá, ra ngoài ngày, ba thằng đó bắt nó đi Tây. Cả chục năm sau nó về sẽ về với chức bác sĩ nếu không lụy một con đầm mắt xanh mũi lõ nào để bị cột chưn vô đó. Bác sĩ nào mới ra trường lại chịu lấy vợ ngang ngang tuổi mình mà bên vợ coi mòi không thế lực để có thể nhờ cậy trên bước đường sự nghiệp công danh? Cá một ăn mười vụ nầy tôi cũng bắt là tụi nó rã đám, nước ra nước, cái ra cái ngay từ lúc chia tay. Tôi cứ ẩn nhẫn chờ ngày ông già ra đi theo ông bà chắc là ăn nhứt, không còn sợ ai cản đản nói nầy nọ nhức đầu. Lúc đó nằm không cũng sẽ có tiền trả nợ. Phải lo thân mình trước, đi theo đường nhân nghĩa mà giựt nợ, thiên hạ còng đầu mình chớ còng đầu ai?

Lạ lùng là trước đây tôi lo tính kế cứu miếng đất, bây giờ tôi là người chủ trương bằng bất cứ giá nào tẩy miếng đất đi để cứu thân mình. Tất cả chỉ vì lọt vô cửa đổ bát mà thôi. Đi sai đường kẹt như vậy đó, phải chi hồi đó tôi nghĩ cứu bằng con đường khác, lo tu tỉnh làm ăn chẳng hạn, không chọn đường tắt. Đường tắt luôn hi vọng làm người anh xứng đáng của tôi, tắt tương lai dễ thở của một người chủ vườn có xe ngựa cho mướn. Và chắc chắn sẽ mang tới cho em tôi muôn vàn đau khổ, có thể sẽ sứt mẻ tình anh em ruột thịt nữa không biết chừng. Nhưng mà… Thôi chuyện đời nó vậy thì phải vậy!

Hay là tôi mê cờ bạc trước đó mà không tự biết và chuyện cứu vãn miếng đất chỉ là cái cớ tự trong thâm sâu lòng tôi đưa ra để che giấu chuyện ham mê bạc bài? Có thể lắm, biết bao nhiêu chuyện người ta làm ở đời vì có máu me mà cố bao che nầy nọ bằng những lý do tốt đẹp. Máu me cờ bạc đi vô máu huyết tôi như mùi thơm bông lài xuyên vô xương tủy con Út… Có lý lắm. Không thì tại sao ngay từ nhỏ tôi đã thích đỏ đen ông già đánh đập trói cột bỏ đói tôi cũng không chừa?

***

Thằng Thìn nắm chặt mớ tiền cô Út đưa, nhảy vọt qua đầu mấy chậu bông vạn thọ, mồng gà thấp - dải bông dành bán ngày rằm tháng giêng tới – rồi lững thững đi tắt ngang vườn thơm về phía chợ Cây Điệp. Cô Út vừa cười đưa hàm răng hột dưa trắng đẹp điếng hồn vừa nói ngọt thì biểu lên trời nó cũng đi. Đây chạy ù ra đó hai bận đi về một chút chứ mấy, lâu lắc gì. Nhưng nó không chạy mà cà-rịch, cà-tang mặc dầu trong bụng nôn muốn quính. Nó lầm bầm tức tối cái con quỷ Cúc mới tảng sáng đã mắc dịch bỏ đi đâu mất biệt để cho cổ thấy mặt đặt tên mình. Con trai người ta gần Tết mà mượn đi chợ. Thiệt hết đường! Tụi nó đương gầy sòng bầu cua cá cọp ăn thua sớm ở chỗ cái giếng nước cãi cọ dậy giặc coi bộ vui đáo để mà mình không được chơi. Hột của thằng Hai Chí chết rồi, lắc bao nhiêu cũng còn trơ trơ, gà nai cứ ra hoài, canh mà đặt thế nào cũng kiếm được chút đỉnh ra ăn mì thánh của ba thằng Ngầu lấy hên ngày mùng một. Đó là chưa kể hễ ra ba con, biểu nó lắc một cái thế nào cũng dính cựa lại một hai con, phải thời đặt một cái cụp bứng cái, chiều mùng một tra bộ đồ mới vô kéo nhau đi sở thú dòm con gái lấy hên hay ra bồn binh hứng gió coi tây tà…

Nó càu nhàu, lầm bầm, tưởng tượng nhưng vẫn bước đều. Nó biết sức nặng của lời nói cô Út. Ba nó kỳ khôi không giống ai, đánh con ai giựt roi cũng không tha, hễ mất cây nầy thì lấy cây khác thay vậy mà cô xin thì tha liền. Cậu Năm ôn hoàng dịch lệ vậy, ai nói gì cũng không tin mà cô lên tiếng bào chữa về vụ nó làm mất nửa tháng tiền cắt cỏ trả cho dì Tám Sang thì cậu nín khe móc bóp đưa tiền khác đem trả liền. Cô ít mét đứa nào, mà hễ cô mắng vốn xa gần thì chắc chắn là đứa đó lãnh tật. Năm ngoái con Cúc làm gì đó mà cô chỉ nói một tiếng con nhỏ bị đòn thiếu điều lòi bản họng.

Chợ Cây Điệp nhỏ bằng bụm tay mặc dầu, tưng tửng sáng hăm chín cũng đen nghẹt người ta. Giống như âm phủ họp chợ ba mươi Tết. Nó nhớ tới kiểu nói ngộ nghĩnh của ông già nó mặc dầu nó không biết âm phủ họp chợ ra sao và tại sao lại đông quá mạng. Trực nhớ lại chuyện gì đó coi bộ quan trọng, nó quýnh quáng đưa tay rờ cái túi quần ở ngoài mông, mặt tái ngắt. Chết cha… Rồi nó cười tủm tỉm. Vậy mà tưởng mất rồi. Cầm trong tay mà kiếm thiếu điều muốn xanh mặt. Nôn quýnh nôn quáng nên không khác gì ốc mượn hồn! Quên đầu quên đuôi ráo trọi.

Nó đảo mắt mấy vòng kiếm mấy chị bán trái cây. Chợ xóm nghèo sập có chủ đâu bao nhiêu, phần đông thiên hạ đụng đâu ngồi đó nên người mua phải kiếm kẻ bán. “Mua hai trái dừa Xiêm với hai trái mãn cầu Xiêm. Lựa mãn cầu nở gai vừa vừa thôi, đừng có nở tét mới chưng được tới ngày mùng Ba. Mà gai còn túm quá cũng đừng lấy. Non quá nó sượng chín không kịp. Dừa thì lựa trái họ vạt vỏ xanh rồi, búng ở đầu mà nghe cốc cốc tiếng thanh là vừa cơm, tiếng nặng đục thì đừng lấy, cứng cạy đó”. Nó cười tủm tỉm một mình. Ba người đàn bà ai cũng như nấy, lộn xộn bực mình bực mẩy, cũng bao nhiêu đó. Thứ đồ ba cái trái cây cúng rồi cũng ăn, để dành để để gì đó mà làm như chuyện lên trời, dặn tới dặn lui, gai nở gai túm, cứng cạy non cạy nghe phát mệt. Nó tấp vô chỗ một người đàn bà có mấy trái mãn cầu với một rổ sung trước mặt, sung từ chùm từ chùm như trái dâu màu đỏ bầm thỉnh thoảng lác đác vài đốm hoe hoe coi hơi lạ mắt.

“Mua giùm đi cậu Ba. Còn có mớ nầy bán đổ bán tháo về sớm dọn dẹp đón Tết. Trời ơi, mãn cầu hết xẩy, chín cây đó, gai vừa mới nở. Tới mùng Bốn thì vừa”. Nó còn đương do dự chị kia đã bồi thêm: “Nói thiệt hỏng giấu gì cậu Ba. Thấy cậu coi bộ biết ăn biết mua nên tôi nói thiệt. Mãn cầu nhà trồng đó. Ông nhà tôi tháp vô cây bình bát trồng mé rạch nên trái nó ngọt thanh lắm, không phải chua lòm như trái mãn cầu Xiêm thường đâu. Thứ nầy người biết ăn kiếm đỏ con mắt cũng không ra. Phải ở gần rạch cạn mới có cây bình bát mà còn phải biết tháp nữa…”

Thằng Thìn không biết nói gì hơn. Nó rờ rờ bóp bóp trái mãn cầu bự xộn. Da mặc dầu màu xanh lợt không đậm như mãn cầu Xiêm nó thường thấy nhưng coi bộ láng láng, mát rượi, gai nở đều, không có chỗ đèo, không có chỗ nào sâu. Thôi mua đại mua đùa cho rồi.

Nó cầm một chùm sung lên xăm xoi tò mò. Mấy con kiến lửa hay gây sự được dịp bò mau lên tay nó giơ càng tấn công chí tử những chỗ thịt non. Nó để chùm sung xuống gãi lia lịa, coi bộ bực mình muốn dợm cẳng bỏ đi chỗ khác.

Người đàn bà phủi kiến cho nó, đon đả:

“Cậu Ba thích chùm sung nầy hả. Bự xộn há. Sung mãn. Cậu lấy tính rẻ thôi. Có qua có lại.”

Nó nghe hết mặc dầu bữa chợ đông, tiếng lào xào lì xì gần muốn lấn át những câu đối thoại của những người nhỏ nhẹ từ tốn. Nó không trả lời vì chưa quyết định được. Cô Út dễ chịu đã đành, tiền còn đưa hơi dư nữa, nhưng mà cô đâu có dặn mua sung. Làm lanh mua về chắc cô không rầy la gì đâu, nhưng cái thằng cha cậu Năm, tánh tình của thằng chả làm sao biết được? Hay mình tự tung tự tác thằng chả thế nào cũng nói nầy nọ nọ kia khó chịu. Lóng nầy coi bộ thằng chả ưa bắt lỗi bắt phải nhún trề với mình…

Trong trí nó lởn vởn hai ý mua – không. Nó ngần ngà ngần ngừ. Mấy bà buôn đầu chợ bán cuối chợ nói ngọt ngào bao nhiêu thì càng cắt cổ mổ họng người ta bấy nhiêu. Mật ngọt chết ruồi mà! Đâu có ai khi không mà tử tế với người lạ quắc lạ quơ mới gặp ngoài chợ?

Tiếng người đàn bà tiếp tục dong dài như một thứ bùa chú tâm lý:

     “Tết nhứt ai cũng phải cúng kiếng. Trái cây là cách ước nguyện cầu xin với ông bà vậy mà. Đâu có ước gì nhiều đâu? Cầu sung vừa đủ. Sung mãn cầu vừa đủ. Đủ là được rồi phải không cậu Ba? Cầu dư mất phước. Tết ai cũng mua mấy thứ đó mà tôi không đủ vốn mua dừa Xiêm với lại đu đủ. Nặng nề bầm dập mà bán không hết ra Giêng kẹt vốn khó lòng. Tôi chỉ bán bậy bạ quơ quào ba ngày Tết kiếm chút mớ cho mấy đứa nhỏ ăn bánh mà thôi. Ngày thường còn phải coi con cái. Mấy cháu còn nhỏ quá. Cậu Ba mua mấy trái? Hai trái nầy ngon lắm nè. Qua Tết ăn phải biết! Ngậm mà nghe!”

Nó bắt cười khan lên tiếng dòn. Chị đàn bà nầy nói cũng dòn, cũng hay đó nhưng mà nghe bắt tức cười. Ngậm mà nghe… Ra hè nhả… Người đàn bà coi bộ thất vọng khi thấy nó thờ ơ không có vẻ gì muốn mua. Nó thấy tội nghiệp chị ta và thấy mình ngon lành bảnh tỏn hơn khi nhớ lại nãy giờ được kêu một điều cậu Ba hai điều cậu Ba, lại còn được hầu hạ giải thích đủ điều. Cái tay áo chị rách teng beng té bẹ vá chùm vá chụp thấy dễ động lòng. Nó trả giá đại đùa cho có, bất kể mắc rẻ. Sòng bầu cua lởn vởn trong trí nó “lấy cái tay ba con nai, hột kê huề, cấm tả” tiếng cãi lộn om sòm bát nhã của tụi bạn cùng trang lứa trong xóm xóa bỏ lời dạy “nói thách mua rẻ” nó học được từ lâu.

Chị bạn hàng xăn xái giúp nó để hai trái mãng cầu xuống đáy giỏ, chị chêm tử tế bằng lá chuối khô, cảm ơn liền miệng khiến nó cảm tưởng ấm lòng. Cầm giỏ ra đi nó nghĩ mình mua mắc, thấy tiếc tiếc nhưng nó chỉ nhún vai bước đi khi ngó lại thấy cái tay áo rách be bét của chị bán hàng đương xếp đặt mấy trái mãn cầu còn lại. Nó đi thẳng tới cuối chợ kiếm dừa Xiêm. Có tiếng đàn bà khóc giãy thảm thiết đâu đó gần chỗ mấy bà bán thịt. Lại chuyện hết tiền vì giựt vòng giây hay tráo bài ba lá gì đây. Nó chen vô. Người đàn bà nước mắt đầm đìa mặt, cặp mắt đỏ ửng, nắm vạt áo cãi lẩy với một thằng cha đàn ông nào đó mặt mày vằn vện coi thiệt có cô hồn. Thằng cha nầy liếc ngang liếc dọc, nửa muốn tháo chạy, nửa muốn giải vây bằng cãi lẩy. Coi bộ mặt tỉnh tuồng của thằng chả cũng biết tụi đồng đảng chung quanh cũng khá bộ bàng. Chưa cần đó thôi, nếu có chuyện gì chúng đã hè nhau vô giúp rồi. Người thường bị đàn bà nắm áo giữa chợ mấy ai lại cười hềnh hệch như giả ngộ, cái hềnh hệch tin tưởng ăn chắc và chờ đợi coi tình hình biến chuyển cách nào.

Nó lách mình ra khỏi đám đông. Cũng chuyện đáng giận đó không hà! Kết cuộc là người đàn bà yếu đuối không làm sao được đành bù lu bù loa một hồi rồi bỏ về, chạy đầu trên xóm dưới quơ quào trám vô chỗ tiền bị mất mát!

Đáng đời! Ai biểu đàn bà mà tham lam, chỗ chúng cờ bạc mà xách đít vô! Chắc cũng loại máu me nữa rồi. Muốn giở nhà chúng về cất chuồng heo thì chúng đem bàn thờ ông bà mình ra làm củi chụm. Ruộng vườn bán hết tra thân vào cùm. Cậu Tốt nói lẩm rẩm vậy mà có lý. Nó cười tự thưởng mình. Ưa hóng mỏ nghe người lớn nói chuyện như vậy mà có lý quá cỡ, nhiều câu hay đáo để. Sao lại có chuyện đàn bà con gái mà đi đặt bài ba lá được chứ. Rồi về chạy tiền không ra, bị chồng nó đập cho một trận nên thân mở con mắt ra thì đã muộn.

Tiếng thằng cha đàn ông mầy tao với chị đàn bà làm thằng Thìn tức tức. Tiếc là lính mã tà tới chậm lụt quá. Tụi đồng bọn sẽ gỡ để giải vây cho hắn bây giờ đây. Nó giận mình không lớn con dềnh dàng để nhảy vô can thiệp, tống cho thằng cha bợm bãi một đạp té nhào, rồi đạp lên ngực kiểu Triệu Khuông Dẫn đạp Hàng Thông biểu nó trả hết tiền lại cho người đàn bà yếu đuối đáng tội nghiệp kia. Giận quá mấy thằng điếm! Nó nhớ tới trận đòn tuần trước vì thua bông vụ vuốt mặt. Tụi cờ gian bạc lận đáng ghét đã đành, tụi bày trò lường gạt hay giở thói ăn vùa thua giựt còn đáng ghét biết bao!

Nó phun nước miếng khi đi ngang qua mấy sòng bông vụ. Chun vô đó sẽ thua sạch túi lần nữa. Về nhà chơi bầu cua cá cọp với tụi Hai Chí vậy mà chắc ăn hơn. Nó đưa tay rờ thêm lần nữa túi tiền. Vẫn còn đó. Không suy suyển. Yên bụng. Nó quên buồn, đánh đòng đưa cái giỏ trái cây trên tay. Hai trái dừa còn rộng chỗ xích qua xích lại cấn lên trái mãn cầu thiếu điều giập ra nước nó cũng không thèm để ý. Chùm trái sung làm tài khôn cộ về giờ coi cũng tanh bành té bẹ, không còn hình thù đẹp đẽ như lúc mới mua nữa.

Nó la cà ở chỗ sập bán bánh mứt mới được cất lên từ tuần trước. Một thằng nhỏ trạc tuổi nó liếc mau ngang mặt nó một cái rồi tiếp tục lớn họng rao hàng mời khách, miệng kê vô tấm giấy cạt–tông uốn tròn làm ống loa, đứng gần dội muốn điếc con ráy. “Mua vô. Mua vô. Bán đổ bán tháo. Bán rước ông táo về nhà. Thèo lèo cứt chuột ba đồng một ký nè mua vô mua vô. Lẹ tay thì hết, chậm tay thì còn nè mua vô mua vô”. Nó nheo mắt với thằng nhỏ rao hàng – cách nó học từ cậu Năm khi muốn cầu thân hay nhờ vả ai điều gì – ra cái điều bồ giễu hay lắm, tui chịu bồ. Thằng kia tủm tỉm cười như xác nhận hai đứa cùng phe.

Nó bóc một miếng thèo lèo cắn nghe cái cốc. Đậu phọng thơm bùi bùi với đường thắng tới mát lịm lưỡi, dòn rụm. Tiếng rạo rạo trong miệng chỉ nghe không thôi đã cảm thấy ngon rồi. Mấy miếng mè đen mè trắng coi bộ cũng hấp dẫn mời mọc nhưng giữ ý tứ nó không thử thêm nữa. Nó ra lịnh sau khi dòm qua chỗ mứt bí mứt gừng thấy giá hơi cao, quá túi tiền riêng:

“Cho hai trăm cà-ram thèo lèo cứt chuột.”

Nó nhớ tới con Cúc. Cái con quỷ đó lúc nầy coi bộ học đòi làm tốt dữ rồi. Đi bán bông mà chải đầu dầu dừa láng mướt, áo quần ủi thẳng thớm còn hơn thiên hạ đi ăn tiệc. Thấy đàn ông con trai đã biết mắc cỡ rồi. Miệng hay bô bô là kiểu gợi ý cho người ta chú ý. Thấy bắt ghét.

Tối nay rủ nó với mấy tụi bạn ra sau chỗ mấy chậu bông vạn thọ ăn thèo lèo uống nước trà thì hết xẩy. Cái cười má lún đồng tiền hiện ra trong trí làm ấm lòng nó. Con nhỏ trổ mã cả năm nay tay chưn tròn trịa, vú dậy đội lớp áo lên cao nghệu dòm ngang thấy trơn láng mềm mềm ra vẻ con gái quá chừng. Đi ra chợ bông thiên hạ kêu nó bằng cô lia chia, không còn kêu em nhỏ nầy con nhỏ nọ như năm ngoái nữa.

Thằng nhỏ bán hàng gói thèo lèo đưa cho thằng Thìn rồi bóc một trái chà là mời mọc:

“Đâu cậu thử trái chà là nầy coi. Chà là Nam Dương ngọt lịm. Mới về hôm qua đó. Mấy bữa nay thiên hạ kiếm rùm trời mà đâu có.”

Nó có biết Nam Dương với Bắc Địa là cái khỉ gì đâu nhưng cũng lủm vô họng, liếm mép rồi gật gà gật gù:

“Ngon chớ hả?”

“Dạ cậu rành quá mà. Cậu thử một trái nữa coi, trái nào như trái nấy, không lép, không sống, tươm mật thấy bắt thèm. Phải không? Không thôi cậu nói tôi xạo lựa trái ngon đưa cho cậu thử.”

“Thôi được, cân cho nửa ký coi. Cân cho đủ nha.”

Nó hào sảng vì vừa được kêu bằng cậu vừa được mời mọc quý trọng. Thằng nầy mà gặp mình ở sòng bầu cua chém chết nó cũng mầy tao, cãi cọ, còn khuya mới kêu mình bằng cậu. Ông già mình ổng ưa chà là lắm. Đem về thế nào ổng cũng vui. Nó cảm thấy rát rát ở dưới mông, chỗ bị cho ăn bánh tét nhưn mây tuần lễ trước. Phải dè, tiền lời bán “cò bay ngựa chạy” bữa đưa ông táo về trời bỏ ra mua một ký chà là cho ổng trước khi thua hết thì đâu có bị trần thân với ổng bữa đó. Tiếc quá. Quên lửng. Bữa đó con quỷ cái Cúc lại còn đứng ở ngạch cửa ngó vô coi mình ăn đòn nữa chứ. Sướng không?

Nó bỏ hai gói hàng vừa mới mua vô giỏ bước đi.

Chợ trưa tan từ từ như lớp sương mai tan biến khi gặp ánh dương. “Chợ ba mươi tết kỳ lắm, đông như họp chợ âm phủ mà chừng trời đứng bóng thì tan gần hết, lác đác còn lại vắng còn hơn chợ ngày thường nữa. Tao nói mầy để ý coi. Trật mầy lấy cây khện lên đầu tao đi.” “Ông già có kinh nghiệm thiệt”. Nó nói một mình.

Nó đi ra đường cái, băng tắt về nhà, mặt trời đã hơi hơi đứng bóng, chợ chỉ còn lèo tèo một vài người nghèo khổ cố nán bán vớt vát với lại mấy sòng bầu cua, bông vụ, bu đầy lũ con nít khoái ăn Tết sớm đem tiền cho chúng ăn, đương cãi lẩy nho nhe như bầy ruồi xanh bu mấy cái hột xoài ai đó cạp rồi quăng giữa đường.

***

Tôi đi xăn xái qua nhà thằng Hai Lé, băng ngang ngã giếng nước. Khu trồng bông vạn thọ có ánh sáng leo lét, chắc là tụi nhỏ tụ tập bài bạc gì đây.

Giọng con Cúc, từ đây tới đó cũng xa xa, tôi nghe tiếng được tiếng mất:

“Ai đi coi cà bơi như thằng cha cậu Năm.”

Yên lặng một lúc. Nếu tôi đi thẳng con đường mình đương đi thì không đụng tụi nó nhưng tiếng xầm xì kế tiếp làm tôi tẽ về phía đó.

“ Che đèn đi. Thậm cấp, thậm cấp, chí nguy, chí nguy!”

“ Đừng có mời thằng chả lại à nghe. Của đâu!”

“Cha! Tao thấy mầy ưa cười duyên với thằng chả lắm mà.”

“ Xì! Thằng chả đảo nhãn tao chứ bộ.”

“Im!”

Vậy là dưới mắt tụi nó tôi không đáng một đồng xu ten. Tụi nó kêu tôi bằng thằng cha, thằng chả. Tôi đi cà bơ cà bơi, thất tha thất thểu. Chắc là kết quả của mấy trận bài trắng đêm mệt mỏi thêm buồn sạch túi. Tụi nó không muốn nói chuyện với tôi. Tôi để ý con Cúc. Con nhỏ nầy cũng biết. Mấy thằng bạn nhỏ xíu mà cũng biết muốn vợ của nó cũng biết. Con Cúc nói tới tôi bằng một giọng khi dễ như mắc cỡ vì chuyện tôi thấy nó nhỏ thó lại có duyên ngầm nên phải lòng thầm hơn mấy tháng nay.

Điều khiến tôi sượng trân muốn chết đứng là nó hay nói huỵch tẹt tôi đảo nhãn nó. Con của người ăn người làm mà trổ mòi thì coi sao được. Nó lại mới có mười sáu tuổi chớ mấy. Ba bốn năm trước còn bận quần xà lỏn đeo chưn đeo tay tôi chớ đâu. Giờ nó trổ mã mình đem về làm vợ cũng được. Cho bận quần áo đẹp đẽ lụa là thì ăn đứt mấy cô ở chợ nữa là khác. Không chùi để vậy lưu ly. Chùi ra tỏ rạng khác gì thủy tinh. Cái môi vảnh vảnh, cặp mắt ướt ướt đó đem về cầu một ngày đo rún ba bốn lần mới đã. Nhưng mà phải có bỏ trầu cau đàng hoàng, cưới hỏi chớ không thể lửa rơm, mèo chuột.

Tôi còn tính là con số đề nuôi mười ngày nay mà trúng thì tôi đưa cho ông Bảy để ông uốn ba tấc lưỡi Tô Tần giùm. Gì chứ chuyện nói ra nói vô để dựng vợ gả chồng cho thiên hạ, ông này ổng thích lắm. Thấy hai đàng hợp nồi hợp ơ là ổng đốc vô liền. Thêm nữa, tình thầy trò mà. Hồi nhỏ tôi theo ổng để học mót mấy câu ca giờ nầy cũng còn xài được khi có tiệc tùng. Con nhỏ mới lớn, nhà nghèo, chắc cũng không có gì khó khăn. Cưới rồi lo tu tỉnh làm ăn, không theo đường cũ “đùng đùng ngựa chạy qua truông, mãn mê cờ bạc luông tuồng bỏ em”. Vậy mà coi bộ nó chê. Cái thằng Thìn nhỏ hơn nó hai ba tuổi, cứt mũi đầy, đầu cổ lúc nào cũng chôm bôm như ổ quạ, tay chưn dơ hầy, cái mình dài sọc mà còn bị đòn liền xì vậy mà coi bộ khắn khít với nó. Cha! Thèo lèo cứt chuột! Cha! Trà quế nữa. Mấy thằng khác có mặt cho rậm đám, chỉ lo ăn thôi đâu biết bí ẩn bên trong, vô tình làm nhưng làm nhị cho tụi nó liếc qua liếc lại, nỉ non đêm vắng tình dài, cười cợt, mùi mẫn. “Bụi cỏ lau khô sầu ai dã dượi, thỏ non núp lùm nầy chờ đợi bóng trăng non.”

Vậy là tôi đã thua thằng nhỏ nầy. Thua đau đớn trước khi xáp trận. Tưởng là tiếng cậu thiên hạ kêu ngọt sớt mỗi ngày là ngon. Tưởng là con ông chủ vườn có riêng hai cái xe ngựa với bốn con ngựa là ngon. Ai dè tôi bị xô chỏng gọng. Tụi nó tình tang trước mặt mình mà mình không dám hó hé.

Tôi bước tới, sửa giọng tỉnh rụi:

“Chào mấy đứa! Ăn Tết sớm vui hé!”

Hết cả bọn làm thinh, một lúc sau con Cúc lên tiếng:

“ Tụi nầy tính ăn thèo lèo cứt chuột tán dóc chờ năm mới.”

Tôi giễu để làm thân:

“Nói chuyện đời cho vui chớ tán dóc khỉ khô gì.”

“Con Cúc nói chuyện đời còn tụi tôi hết thảy đều tán dóc cho vui chớ biết gì chuyện đời mà nói cậu Năm?”

Tôi vừa làm người lớn vừa làm thân:

“ Mấy đứa tiếp tục ăn uống đi. Cứ tự nhiên.”

Đêm 29, đèn trứng vịt của bác Bảy ở ngoài trời coi bộ không kham, tôi nói:

“ Đèn lu quá he! Thìn sao mầy không vô lấy cái đèn dầu trong phòng tao đó cho nó sáng?”

Thằng Thìn câu mâu xa gần theo kiểu ông già tía nó:

“ Có trăng kia đèn nầy mới lu vậy chớ. Cậu cho trăng luồn đám mây thì đèn nầy cũng tỏ ác.”

Thằng lừng quá, nói kiểu lưỡng ước khó bắt bẻ nhưng mà tôi hiểu, đêm hăm chín làm gì có trăng? Con Cúc lớn họng chọt ngang như để cứu bồ:

“Sao tụi bây tham ăn quá vậy, không đứa nào mời cậu Năm hết? Ê hề nè đâu sợ hết.”

Hai ba đứa cùng nhao nhao:

“Cậu Năm là người lớn đâu thèm ăn mấy món nầy của tụi mình. Khỏi mời.”

“ Cúc, mầy ‘tội nghiệp’ thì mời đi.”

Tôi ngó con Cúc làm thinh, ‘dầu đói giả no, dầu không giả dại đặng dò ý em’. Con nhỏ xí dài, không biết bất bình vì nguyên câu nói hay vì không thèm mời. Tôi tự nhiên rót cho mình một ly nước.

“ Uống ly nước rồi tôi đi, không ăn ngọt đâu.”

Tôi lần khân vì muốn ngó mặt con Cúc cho đã. Dưới ánh đèn chao chao cặp má bánh bầu của nó càng thêm mờ ảo. Môi nó tươi ướt thấy muốn cắn. Vậy mà nó cứ bơ bơ cười nói với mấy đứa kia coi như không có tôi ở đây. Phải nó cười với tôi một cái chắc thế nào đêm nay tôi cũng gom sòng. Vậy mà… ‘Tiếc công se chỉ uốn cần, chỉ se chưa đặng cá lần ra khơi.’ Tôi hớp đại đùa ly nước để xuống, tính nói lời từ giã.

Một đứa nào đó hình như là em thằng Hai Chí, lúc sau nầy tụi lóc cóc tấn lên tôi biết mặt mà không nhớ hết tên, lên tiếng:

“ Ê Cúc! Bữa hổm mầy đi mua thuốc dưỡng thai Nhành Mai chi vậy, bộ má mầy sắp có em hả?”

Con nhỏ xảnh xẹ:

“ Mua cho chị mầy. Chị mầy lùi tôm thịt, có con chuột Tàu trong bụng.”

Thằng kia coi mòi không ngán, nó dương Đông kích Tây:

“ Hay là mầy mua cho bà Tư Lé (bà già nầy thường phụ với con Cúc cắt cỏ cho tôi để kiếm tiền thêm).”

“Đừng nói xàm, bả già rồi, mua ba thứ đó để tế tổ mầy chứ làm gì?”

“Vậy thì mua cho mầy rồi. Có cậu Năm đây luôn nè, chịu thiệt đi tụi tao tha.”

Tôi xây xẩm thiệt tình, tụi nhỏ leo lên đầu cha tôi ỉa xuống khi nói câu đó. Tôi lạnh lùng:

“Tôi không phải là người để mấy em giỡn nha, đừng được mợi làm tới.”

Tôi buồn thiu luồn trong mấy luống bông lài băng qua đường. Mình mẩy không rêm mà nghe bần thần khó chịu như muốn bịnh ngang xương. Rõ ràng. Mít đặc cách mấy cũng biết huống gì tôi, tôi rành sáu câu tụi nó quá. Tụi nó nói mò mà ám chỉ tôi khoái hay tằng tịu với con Cúc. Chưa ăn mà chịu tiếng oan rồi. Cái con quỷ đó biết đâu được. Thứ đồ con gái mới lớn rượn đực dàng trời. Bộ xà nẹo của nó với thằng Thìn mà không có “lang vân” thì cũng như lên võng không đưa lên đu không nhún. Thôi bỏ, kiếm mối khác, xa xa vậy mà khỏi bị biết tẩy khó lòng. Thìn tao nhường mầy đó. Chén kiểu ai thèm giành chỗ với chén đá. Cúc ơi, “bần gie đơm đớm đậu sáng ngời, lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên”. Nhà thằng Hai Chí treo đèn măng-xông sáng trưng đằng xa ngó cũng thấy, khác với ngày không có tay nhà nó đốt đèn con cóc lù mù lờ mờ như ma trơi. Chắc thế nào đêm nay cũng thua không còn tấm da mẹ đẻ. Ra ngõ gặp gái là một. Người tình ngó lơ là hai. Thiên hạ xỏ xiên là ba. Vậy mà sao tôi cũng vẫn xâm xâm đi tới vựa củi chớ? Thần cờ bạc linh thiệt. Lậm vô rồi không biết có ngõ bước ra. Đó là câu nói tôi nói với mình không biết bao nhiêu lần sau mỗi trận bạc bài.

***

Cô Út nhẹ nhàng giũ mấy giọt nước sau cùng còn sót lại trên từng trái cây khi từ tốn xếp thứ tự trên cái dĩa quả tử. Cái dĩa lớn xộn gần bằng cái mâm thau mà cũng còn coi bộ chật. Ba nải chuối sứ còn xanh mởn để dưới chót quây vòng gần hết dĩa, còn chỗ trống cho trái dừa… Rồi mấy thứ khác chất chồng lên theo: cam, quít, mận, bưởi…

Cô chăm chú, cân nhắc kỹ từng chỗ cho mỗi trái như khi cầm vòi tưới nước mỗi sớm mai. Nặng tay, bông rụng, ẩu tả gập ghềnh, cây trái đổ lăn cù từ trên bàn thờ xuống. Nhà không có con nít mặ dầu, nhưng mà cô biết tánh anh mình, ngang tàng, ăn đồ trên bàn thờ là thường. Ảnh bóc một trái quít hay một trái cam lủng một lỗ trên dĩa quả tử thì cũng được đi, có khi cả đống cây trái theo nhau lăn xuống.

Cô nói với má con Cúc đương đứng xớ rớ đợi chủ sai biểu sau khi đã quét láng bộ ngựa.

“Dì Tám coi được không? Nhờ thằng Thìn hồi sáng đi chợ mua về hai chùm sung nên màu sắc cũng nhịp nhàng mà lại thêm ý nghĩa. Hai cái dĩa bàn thang đựng trái cây còn không hết. Tôi tính chiết ra một mớ đựng đỡ trên cái dĩa chưng để tối nay cúng trời ở ngoài bàn ông thiên. Ba mươi rồi. Dì thấy tôi tính có phải không, nải chuối sứ nầy cuối quài nên nhỏ để cúng bàn ông thiên cho rộng chỗ.”

“Năm nay chắc xóm Vườn Lài mình làm ăn khá. Cây sung chỗ hẻm đâm ra miệt trường mù trổ trái quá sá cỡ, che hết thân cây, phủ kín gốc cây. Dòng sung trái trổ trên thân, biết là vậy rồi mà dòm cũng còn thấy lạ.”

“Cô Út nói tôi mới nhớ, tháng trước đi qua đó, dòm sung rụng đầy sân, ước phải chi gần Tết xin ông chủ mấy chùm về chưng ba ngày Tết.”

Cô đưa trái dừa cho người giúp việc.

“Dì Tám đem ra sau vạt mặt giùm tôi trái dừa nầy. Để nguyên vậy cúng ông bà không hưởng được. Anh Năm giống hịt như ông già tôi. Nhờ chút mà ảnh cứ cãi nói là cúng thì cúng vậy chứ ông bà nào ăn. Vạt lớp vỏ cứng chừa lại lớp cái để che không thôi để trên bàn thờ ngã đổ.”

Cô cười nhẹ:

“Sự vong như sự tồn. Người chết cũng như người sống, mình ăn uống được thì ông bà mình ăn uống được.”

Dì Tám cười cười đi ra nhà sau. Tánh đơn giản dì không thể quả quyết ai đúng ai sai, vạt mặt thì vạt, không vạt thì thôi, chưa bao giờ dì nghĩ tới chuyện ông bà có hưởng hay không hưởng. Đưa trái dừa đã vạt xong xuôi cho cô chủ dì nói như một nhận xét:

“Nhà chỉ còn có cô với cậu Năm mà coi bộ ý kiến anh em chỏi như mặt trời mặt trăng.”

Cô Út chùi chùi trái quít đương cầm trên tay lay vô cái khăn lông, trả lời hiền từ:

“Ừ! Tánh ảnh vậy đó. Nói lấy được, bất kể. Ai mà không biết thì tức chết. Mà biết tánh ảnh thì thôi bỏ qua. Cãi lẫy ích lợi gì đâu? Chín bỏ làm mười cho êm. Máu huyết không, ai vô đó?”

“Cô được nết quá nên mới nói vậy chớ cậu nói nhiều câu tôi là kẻ ăn người làm mà nghe còn muốn nổi máu sản hậu lên”. Dì ngó chung quanh, lấm lét: “Đàn ông con trai gì mà… Hỏng bằng cái móng chưn cậu Tốt. Người ta nho nhã, biết phải quấy. Tiếng Tây tiếng u bật rót rót…”

Cô Út để trái quít chót lên dĩa, bước thụt lui một bước ngắm nghía xâm xoi công trình của mình rồi chuyển đề tài:

“Dì Tám nghĩ sao? Hay là tôi để mấy trái quít phía bên nầy đẹp hơn?”

Người đàn bà cười cười bối rối:

“Cô Út nhè tôi người mù mà hỏi đường. Tôi thấy xếp sao cũng đẹp hết. Cô có hoa tay chớ đưa tôi, tôi rị mọ cầu tới mai mới rồi mà còn dị hợm lắm. Tôi có thử làm rồi.”

Dì Tám ra sau nhà bếp, lấy cây chổi trở ra phía ngạch cửa quét nhà. Quét ngược từ ngoài cửa vô trong, gom rác lại thành đống ở khạp gạo, khi nghe tiếng cô Út kêu nhờ giúp một tay.

“Biết tánh cô kiêng cữ tôi đâu dám quét nhà ra ngoài. Phải quét trở vô.”

“Có kiêng có lành. Cãi ông bà đâu ích lợi gì. Cô đổi giọng vui vui, “Dì Tám coi nè, thằng Thìn bị bà nào ngoài chợ gạt bán cho hai trái mãn cầu Xiêm tháp bình bát mà bả nói ngọt thanh. Thứ nầy tốt mã nhưng rã đám. Lạt nhách, rẻ mạt.”

Người đàn bà mỉm cười không ý kiến. Hai người hè hụi khiêng dĩa trái cây bự xộn để lên bàn thờ. Cậu Năm ngoài cửa xăm xăm bước vô.

“Ha! Đẹp dữ ha. Hai người có hoa tay dữ. Để trên bàn thờ dầu ông bà không muốn ăn cũng bắt thèm.”

Cậu bóc một trái quít ngon nhứt. Hai ba trái để gá ngỡi lên trên lăn đùn xuống. Cậu chụp lượm lia lịa rồi đưa lại cho em, cười cầu tài:

“Xin lỗi nhe. Bóc rồi mới nhớ nhà chưa cúng. Thôi coi như khi đi chợ không có mua trái nầy đi.”

Dì Tám Sanh dọn lẹ xung quanh gọn ghẽ rồi bưng mớ dĩa dư ra ngoài sau bếp, thúc thúc làm chuyện gì đó rồi ở dưới đó luôn. Thấy cô Út làm thinh, cậu Năm đánh tan không khí đông đặc giận hờn.

“Cúng kiếng là để tỏ bày lòng thành với người đã khuất mặt. Cúng kiếng giỗ quảy là để nói với bà con chòm xóm chung quanh là mình cũng không đến nỗi bỏ phế hương tàn khói lạnh bàn thờ ông bà chớ ông bà nào bắt mình phải cúng mấy trái quít, mấy trái cam đâu. Cô Út thấy phải không?”

Cô Út cười gượng:

“Mấy chuyện đó thì khó nói lắm, làm sao biết trúng thật. Mà bữa nay sao anh về sớm quá vậy. Bộ ba mươi chạy không có khách sao?”

“Trời chưa đứng bóng thiên hạ đã rút vô nhà hết. Đâu có ai mua bán gì nữa. Út… cho tao mượn 500 ăn Tết coi. Năm nay tao không có cắc nào hết. Xe cộ ế quá. Lại phải đóng 2, 3 cái hụi chết.”

“Anh giỡn hoài. Tiền đâu em có. Bán hết lứa bông rằm tháng chạp, bán luôn lứa bông Tết mới được 800 trả tiền công, tiền phân, tiền chạy thuốc cho tía, tiền nợ tía mượn hồi đó, còn chút xây xài trong nhà. Tiền đâu mà đưa cho anh 500?”

“Tao mượn rồi tao trả chớ bộ.”

“Anh trả. Hồi đó tới giờ anh trả mưa mứa, đồng lặn đồng mọc, đưa anh bao nhiêu tiền nát bét hết trơn lấy lại nguyên được đâu. Hai năm nay đâu để dành được cắc nào. Nhiều khi tới tháng còn không có tiền trả cho ông Bảy với dì Tám. Người ta kẻ ăn người làm mà mình thiếu, mắc cỡ thấy mồ.”

“Mầy dài dòng quá. Bỏ cái chuyện người ăn người làm qua một bên đi. Có, đưa tao mượn đỡ 300 ra ngoài ngày tao rán chạy xe thêm tao trả góp. Một tháng thì hết chớ gì. Tao nói danh dự đó.”

“Còn có trăm rưởi. Anh lấy thì lấy. Không thì thôi. Anh đem bán tui cũng không có xu nào nữa đâu.”

Im lặng ngột ngạt đâu chừng mấy tíc tắc đồng hồ. Rồi có tiếng cười nịnh cà-hệch, cà hạc, giả lả, tiếng thở ra, tiếng đếm tiền nho nhỏ giọng nghẹt mũi, tiếng tiền mới xột xoạt. Khuôn hình người đàn bà ngồi thẳng lưng trên cái ghế bành tượng, hai bàn tay để trên chỗ gác tay, xòe đủ mười ngón với ba cái cà rá cẩm thạch, mấy sợi dây chuyền dài phủ gần hết bờ ngực, có khuôn mặt thiệt phước hậu ở giữa bàn thờ dường như nhăn mặt khó chịu và hình như có nước mắt long lanh hoen mi.

***

Ở đời có nhiều chuyện tức trào máu họng, bởi vậy tôi hiểu như đi guốc trong bụng mấy ông tướng trong truyện Tàu tại sao lại tức ói máu ra cả chậu rồi ngủm củ tỏi. Nhiều khi tôi cũng muốn được như ông Châu Do thiên sanh Do hà sanh Lượng ọc ra một thau rồi thẳng cẳng đi luôn cho khỏe. Khỏi khổ. Khỏi lo. Khỏi nhục. Ai đời rớ đâu thua đó, làm gì cũng hư cũng trật. Ông già tía ổng la ổng khi dễ thì cũng được đi. Con em gái nó làm ăn chắt mót củi lục nên có nhắm mớ để dành khi túng ngặt tôi mượn phần nhiều là hổng cần trả đúng ngày, cũng không cần trả đủ, nên nó cằn nhắn cửi nhửi thì cũng được đi. Tới mấy người ở đợ là kẻ ăn người làm trong nhà mà nhiều khi họ cũng khi dễ ra mặt. Thứ đồ ở đợ, lọt vô nhà khác chủ địt một cái cũng phải dạ vậy mà họ gặp tôi họ bét bét ra cái chỗ khác. Biểu cái gì cũng dạ dạ, không thèm cãi, nhưng mà nhiều khi “đấm đách” làm. Hỏi tới thì đổ thừa ông, đổ thừa cô. Hỏng hỏi tới thì làm thinh cho qua hôm.

Đời nghèo nó chó vậy đó. Biết vậy muốn sửa mà trời cũng hỏng cho sửa. tính trong bụng ngày Tết này cho họ mỗi người chừng độ 5 đồng để lấy tình cảm mà hồi tối thua hết tiền dành dụm cả tháng chạy xe ngựa. Đã vậy còn thua thêm để phải ký chồng vô giấy nợ. Cho tới bây giờ thì để đó cho có nhưng mà nhiều quá cũng ngại. Biết đâu chừng họ trở quẻ. Với lại, thiếu nợ đánh hết sướng nhiều khi ăn bao nhiêu họ trừ mẹ vô tiền nợ. Đánh buồn ngủ như đánh bài ăn ừ. Mà bỏ thì hổng được. Ngứa tay ngứa chưn phải tới sòng. Sâu cờ bạc còn hơn sâu rượu, còn hơn ghiền á phiện. Sòng mở mà mình không tới thì sâu nó cũng hành khó chịu. Làm gì cũng không yên bụng. Bồi hồi bối rối trong lòng như đánh cờ vây, như đàn bà bị mắc đàng dưới. Ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Thêm ý muốn gỡ cũng thúc kéo mình tới sòng bài nữa. Như hồi chiều hôm qua, mới đánh xe ngựa về. Tháo ách ngựa ra chưa kịp làm gì hết con của thằng Hai Lé chủ sòng “cu-di” ở vựa củi kế bên chùa Hưng Long đã nháy nhó là tối nay có mấy người ở Chợ Rẫy tới gầy sòng. Vậy là khỏi quần ngựa, cứ bỏ lúng ngựa vô chuồng, vậy là khỏi kiểm soát coi con Cúc cắt cỏ đủ không, nước nó đổ đầy không, tôi chạy đi xối mình mẩy ba gáo cho có tiếng là tắm rồi lên nhà trên tính và ba hột mau mau, uống nước ào ào rồi chạy đi chơi.

Vậy mà trong lúc ăn tôi như mất hồn. Ông Bảy nói gì tôi cũng không biết. Con Út nó hỏi gì tôi đâu có nghe. Dường như nó nhờ tôi ăn xong vạt mặt mấy trái dừa cho nó để chừng nào rảnh nó sắp lên hai cái dĩa bàn thang để trên bàn thờ cúng ông bà đêm ba mươi. Tôi từ chối bằng lý lẽ gì đó nói vậy cho có vậy mà. Để ăn xong ba hột là vọt liền. Thời giờ là vàng bạc mà.

Dòm cái bàn tay có ba cọng gân nổi lên tròn như ba sợi đậu đũa của ông Bảy đưa đưa chậm chậm gắp mấy cái bông bí luộc, tôi mường tượng thấy ngón tay trỏ của thằng Hai Lé đưa chầm chậm run run lâu lâu lại ngừng lên một con nào đó của dãi tướng sĩ tượng, xe pháo ngựa xanh, đỏ. Nhớ tới chuyện đánh cu-di tôi như mở cờ trong bụng. Muốn đánh ăn thì phải biết bắt tẩy cái thằng xổ. Tôi thì tôi biết thóp của thằng Hai Lé. Tay nó run run trên con nào chém cha tôi cũng không đặt trên đó mà đặt con cách đằng xa. Nó mà lướt qua mau con nào thì bắn súng cái đùng tôi cũng đặt con đó. Tôi bắt nét mặt nó tài lắm. Khi một chút thịt trên mặt dưới mắt trái nó giựt giựt thường là nó xổ lại con mới xổ cách đó một hai bàn trước.

Biết tẩy nó, tôi ăn nhiều trận quá xá thợ mộc. Đặt một trúng mười mà tôi cứ trúng lia chia. Vậy mà cuối cùng tôi thường bị cháy túi vì gần sáng tụi nó đổi qua “đánh me”. Me của nhà thằng nầy nhiều khi kỳ nghĩ không ra. Dám đi một mạch tới cả chục lần liền. Hồi hôm tôi cháy túi là vì nó đi 4 lần rền. Lần đầu cửa yêu đi 5 lần, độ vài bàn nó sang túc 6 lần rồi trở lại yêu 11 lần. Cái điệu nầy có đứa tán gia bại sản chớ hỏng phải chơi. Gần sáng nó đi cửa lượng 10 lần. Nhà cái gom hết, ai cũng thua đậm không còn một  xu dính túi. Cay quá tôi ỉ ôi mượn thêm 300 cũng hết. lúc kiểng nhà thờ Chợ Quán đổ thì rã sòng ai nấy thất thểu ra về.

Sao mai đã mọc sáng ở hướng Đông, tôi lội trong đám bông của con Út mà đi xiểng niểng, cặp chưn như làm bằng giấy, yếu thiếu điều muốn ngã trên đống phân ngựa nó ủ rơm trên mặt để dành. Phải ngủ một giấc rồi tới đâu tới. Mệt quá rồi. Thức trọn đêm tim đập thình thình. Sương đêm giáp Tết lạnh thiệt. tôi rùng mình mấy cái, nhảy mũi liên tu trước khi kịp chui mình vô mền trùm tấn đầu cổ kín mít. Phải ngủ một giấc thiệt lâu mới được. Thức đêm kiểu này mình đồng da sắt cũng ngã… nằm xuống vun vai một cái thì mí mắt kéo xuống không còn biết gì nữa. Đâu đó một giấc, ngó ra thấy trưa trờ trưa trật nên tung mền thức dậy. Qua bên nhà giữa coi chuyện Tết nhứt tới đâu rồi. Nếu thấy thuận tiện khảo con Út một mớ để gỡ. Cậu không có tiền cậu nằm nhà làm sao chịu được. Cả hai năm nay ông già bịnh nằm trong nhà trong, mọi chuyện con Út lo hết. Tôi về cơm nước có sẵn, quần áo bỏ ra cho dì Tám hay con Cúc giặt giùm, tới tháng cho thêm nhắm mớ, lúc nào thua quá thì làm lơ. Họ thì không mở miệng kêu rêu gì nhưng trong bụng chắc cũng không ưa gì.

Chuyện đó càng rõ ràng hơn khi qua nhà thấy dì Tám Sang má con Cúc đương dương môi múa mỏ nói xấu tôi đủ điều nào là nhiều khi nghe tôi nói dì muốn nổi máu hậu sản. Tôi chọc giận thiên hạ dữ vậy sao? Hay là tại tôi không có tiền cho? Dì khen con Út được nết, ý muốn nói tôi mất nết, tầm bậy, tầm bạ cờ bạc thâu đêm suốt sáng, tiền vô cửa trước ra cửa sau, không biết giữ, không lo tu tỉnh làm ăn… Vậy mới biết thiên hạ sợ trước mặt, đấm c. sau lưng, làm bộ nể nể, cậu cậu, nói vuốt đuôi theo mình, chứ để họ tự do nói điều họ nghĩ thì còn lâu! Vậy mới biết lòng người. Nghe dì nói vậy là tôi biết chuyện tình duyên của tôi trắc trở rồi. Bà già vợ nói xấu chàng rể ghe tàu chở không hết kiểu này thì còn lâu bả mới chịu gả con. Dầu cho con Cúc đành mà bả không đành thì cũng như gáo nước nhỏ tưới lửa thành đâu tan. Thôi chuyện con Cúc để qua một bên. Không có kí lô cờ-ram nào với bả thì rán chịu, mình làm chứ ai vô đó. Mà nó có sắc nước hương trời gì đâu. Nước da bánh ích. Tại nó mới lớn nên coi ngồ ngộ vậy chớ cỡ nó ngoài chợ hằng hà. Thiếu gì. Muốn cao hơn, trắng trẻo lịch sự đứa hơn thì không có chớ cỡ nó, ghe tàu!

Chuyện cần bây giờ là có tiền để đi gỡ trận hồi hôm. Mấy chuyện khác để qua một bên. Tính sau. Phải khôn mới được. Phải nhịn nhục. Bất bình cũng cứ dửng dưng, cũng đừng liếc xéo cũng đừng cười khi. Tôi nói trong bụng như vậy nên nghe hết mà tôi làm bộ giả đò như không nghe, tính tuồng bóc một trái quít ăn.

Tôi biết thế nào nó cũng la vì chưa cúng ăn vậy không nên. Vậy mà trật lất, nó làm thinh, tỉnh rụi. Bà già vợ Tám Sang rút dù ra ngoài sau. Tôi nói bậy bạ câu gì đó cho có lần nữa. Nó cũng làm thinh như câm. Tôi thất vọng, điệu này làm sao mình mở miệng mượn tiền. May quá nó hỏi sao tôi đi xe về sớm.

Tôi nói láo trơn như mỡ là bữa ba mươi thiên hạ tan chợ sớm, chạy đâu có tiền. Rồi tôi mượn tiền nó. Phải nói gãy lưỡng tiền mới lòi. Khi đưa tiền, cái bộ mặt của nó như bún thiu, tôi thấy cũng bất nhẫn. Mà ký quá, cái hình của bà già tôi trên bàn thờ thường ngày tôi đi đâu bả cũng ngó theo, tôi quen rồi không có gì đáng chú ý. Dân xe ngựa mà đâu có yếu tim, nhưng bữa nay hồi tôi cầm tới số tiền, tôi nghe như ai đổ nước đá vô sóng lưng, tôi rùng mình ớn lạnh ngó lên bàn thờ, như là bả nhăn mặt rầy tôi hồi nhỏ, một giây thôi, tôi mọc ốc cùng mình, hai cặp mắt tấm hình bả rướm nước mắt như mấy người đàn bà bị chồng bỏ, gặp tai nạn dàng trời, hay có con hoang đàng hư hỏng, chửi cha mắng mẹ gì đó. Tôi còn mài mại nghe như có tiếng thở dài. Quen lắm. Không thể lầm được. Tiếng thở dài nhẹ, nghe buồn thúi ruột. Tiếng thở dài 5 năm trước mỗi khi nghe là bả biểu gì tôi cũng làm. Năm năm nay không còn được nghe nữa. vậy mà lúc đó tôi nghe phát ra từ trên bàn thờ, sau tấm khuôn hình, tôi cảm thấy mình tội lỗi ngút đầu. Thua thiếu tứ giăng đến lúc nào đó không còn vùg vẫy nổi tôi sẽ làm bậy, sẽ lụn bại, không ra gì, lết bằng mo, bò bằng mủng, đầu đường xó chợ ăn mày ăn xin. Má tôi rầy đó… Tôi móc tiền ra tính trả lại con Út rồi tu tỉnh làm ăn nhưng nghĩ sao đó tôi bỏ vô túi lại. Chơi cho đã cái ngày Tết này rồi nghỉ cũng được. Tôi đi thẳng qua nhà thằng Hai Lé.

***

Cô Út cặp mắt sâu quắm, đầu chụp cái khăn rằn sọc đỏ đã xuống màu lợt lạt, để ló ra ngoài trước lúa túa mấy sợi tóc con coi bộ cũng đã bớt đen, từ tờ mờ sáng tới giờ thẫn thờ đi xuống đi lên khu vườn cũ. Sao mà lạ quắc lạ quơ. Sao mà nghe lạnh lẽo không còn cái ấm cúng ngày xưa mỗi sáng tưới bông. Không còn nghe cái thân thiện nao nao của những ngày lội trong vườn thơm, tước lá hay chặt thơm với chú Bảy đếm cho thiên hạ chở đầy xe cá này sang xe cá kia ra chợ Bình Tây.

Khác cảnh đã đành, còn nghe khác không khí nữa. Nghe ngộp ngộp như không đủ không khí để thở. Mắt đỏ hoe như muốn khóc. Cô lạ lùng ngó con đường bây giờ đã tráng nhựa thẳng thớm hơn, bóng láng hơn ngày trước bội phần. Hồi nào hàng dầu bên đường còn nhỏ xíu, trồng ở trong lồng, được cột dựa vô một miếng ván nhỏ mới đứng vững được, bây giờ cây đã lớn xộn, bự tròm trèm bằng thân hình một người lớn đương ngóng ngọn lên trời như giỡn hớt với không trung. Chỗ vườn thơm, nhà cửa chen lấn thiếu điều cỡi lên lưng nhau, lại có một con đường trải đá đỏ xuyên ngang, đi thẳng vô chỗ đám mà hồi trước thằng Thìn ưa quần lội bắt dế sau những buổi mưa tạnh hột.

Khu vườn lại còn khó định chỗ hơn. Mấy cái nhà lụp xụp thì còn đó, cái nhà lầu cây tiệm may của vợ chồng ông người Bắc thì cũng còn nguyên, chỉ khác là tấm bảng tiệm may đã hạ xuống, mà cái vườn kế bên thì biến mất tăm mất tích. Bù vô là một dải nhà lầu ba từng dài dọc có tường cao bao bọc chung quanh. Cái cửa sắt chềnh dềnh khép kín mà hình như là có lính gác nữa. Nói chung, nhà cửa ở đây coi vừa phảng phất hồi đó vừa coi bộ khá khẳm hơn. Người đi đường như đông đúc hơn mà ngóng mỏi mắt không thấy mặt nào quen. Biết chắc như một với một là hai đi từ Ngã Sáu đi qua khỏi chùa độ năm trăm thước, bên kia đường là khu vườn lài cũ của mình, còn bên này đường là khu vườn thơm mà sao cứ ngại ngại nghi nghi không dám đề quyết. Cô ngó chăm chăm dãi nhà lầu một đỗi hèn lâu như để trả lời mấy câu hỏi có thể nhảy ra trong đầu rồi ngó xuống đất thở dài.

Dãi nhà lầu tấp nập khách ra vô ồn ào náo nhiệt tiếng cười thương nữ ngó xuống người chủ đất cũ như thở dài như chọc tức. Kế bên cửa sắt, giơ đầu dưới trời nắng chang chang một người đàn ông một mắt ngồi trước một thùng thuốc lá lẻ, trên mặt thùng mấy bao thuốc không làm mẫu chịu đựng nắng lâu ngày đã đổi màu nhợt nhạt nhăn nhó, coi cũ mèm nghèo nàn.

Người đàn ông tật nguyền ngó cô Út chăm bẳm một hồi như ngờ ngợ, như muốn kêu nói một điều gì nhưng rồi nuốt nước miếng ngó xuống cái chưn mặt của mình, đưa tay gãi gãi một mụt ghẻ hòm lớn đại được đắp bằng hột lịch đã khô đang đổi sang màu đỏ sậm.

Văng vẳng trong một căn phòng nào đó cao tuốt trên lầu một giọng đàn bà trẻ, ca bài ca cải cách kiểu giang hồ, giọng ca bà chả bà chẹt thiệt nhà quê khó cảm.

Cô mười cô chín hai cô anh muốn cô nào,

Có muốn dắt đi đừng cho má cổ hay.

Hai người đàn ông cặp kè vai nghiêng ngả bước ra, người nầy lầu bầu với người kia:

“Mẹ! Tao đâu thèm dắt một, tao dắt hết, có tiền mua tiên cũng được, nhưng mà hồi đó kìa. Bây giờ vô đây thiếu gì con ngon. Họ tuyển ở đâu mà gái chiếng không, lần nào vô đây hú hí rồi về cũng muốn thôi vợ. Hèn chi hồi đó nghe tin mở Bình Khang thiên hạ ngóng cổ cò chờ hoài…”

Ai đó giọng sành sỏi:

“Hồi đó chỗ nầy là xóm Vườn Lài. Đi ngang qua mùi lài thơm phức. Bên kia đường là cái vườn thơm. Thơm còn ngọt hơn thơm Bến Lức. Của một chủ. Họ ngu bỏ mẹ, trồng mấy thứ mắc dịch đó huê lợi đâu có bao nhiêu. Chủ mới khôn hơn nhiều. Làm ăn ba cái vụ nầy tiền vô như nước. Thời buổi nào lại không có người muốn nghe tiếng đàn réo rắt của ca kỹ bến Tầm Dương?”

“Anh dân chơi mà nói nghe bất thông. Chủ mới là trùm anh chị đó. Công An Xung Phong gát cửa lềnh đó không thấy sao? Yên bụng chuyện nầy chuyện kia cũng là nhờ ông ta đó. Thế thần lắm mới mua được đất tống chủ cũ đi. Mạnh ngang trời mới chạy được cái giấy phép hái ra tiền nầy.”

Cô Út kéo mí khăn lau mắt. Chuyện đời sao như có ai lấy trấu xát tới xát lui vô dạ. Cảnh tung tăng chạy giỡn ngày trước luồn trong mấy luống bông, cảnh giơ cao bình tưới tiếp nhựa sống cho những đóa hoa mơn mởn, cảnh dàn bông thơm ngát ngút ngàn, cảnh tấm thảm dát bạch ngọc lúc đầu ngày bay nhảy chập chờn trước mắt. Cảnh anh Hai bỏ mạng vì con rắn hổ lửa cắn thầy thuốc rắn đem thuốc giải với lá lưỡi cọp tới trễ nên xùi bọt mép. Cảnh anh Ba xớ rớ sao mà đạp đinh hàng rào chỗ chuồng ngựa mấy bữa sau bị phong đòn gánh vật, tất cả như những bức họa trên nền xám từ từ chạy lại như thể sẵn sàng úp vô mặt cô. Cô như lên cơn, nói lảm nhảm một mình:

“Anh Năm thấy chưa, tại anh làm bậy nên gia đình mình tan nát hết. Cái vườn của ông bà mồ hôi nước mắt bốn chục năm nay, sanh mạng hai anh mình trong đó. Một đời cha mình đổ mồ hôi dựng nhà dựng cửa, bây giờ anh làm cho vô tay người khác để họ làm chuyện trời thần.”

Một chiếc xe autobus treo bảng Chợ Lớn-Bình Tây ngừng lại bên kia đường. Cô lụi xụi bước qua lộ, leo lên xe, dáo dác kiếm chỗ ngồi. Mấy năm ở rẫy bái bây giờ cô như ngại ngùng văn minh thị thiềng. Người đàn  ông bán thuốc lẻ dòm chăm bẳm theo cô Út lần nữa, mắt nháy nháy, nhỏm đít lên ý như muốn chạy theo kêu nhưng rồi lại ngồi xuống khi bóng cô khuất bên trong xe.

“Không biết rồi mình còn về thăm lại cuộc đất nầy bao nhiêu lần nữa. Buồn thúi ruột. Nhớ quá nên lặn lội, nhưng về thấy tang thương biến đổi càng đau.”

Một đứa học trò nhỏ, áo bà ba trắng, tóc kẹp ngồi cùng băng lõ mắt ngó sững người đàn bà đi cùng chuyến xe đương ngồi láp dáp một mình.

***

Bao nhiêu năm nay tôi thường chiêm bao thấy mình đương ở trong căn nhà cũ. Tôi thấy mình tưới nước bông lài buổi sáng sớm mai. Tôi cảm nhận được rõ ràng mùi bông lài thơm nhè nhẹ trong không khí, một mùi quen thuộc mà tôi không thể nào gặp được bất cứ chỗ nào. Tôi thấy mình rửa cẳng, kỳ cọ chỗ đất có trùng đùn. Thấy ba má anh Hai anh Ba đủ hết mà không thấy anh Năm. Thấy tôi khom khom sới phân ủ để ra luống mới. Vía tôi nói với tôi: Ủa, vườn nầy anh Năm ảnh làm giấy tờ giả ký tên ông già để lại trọn gia tài cho một mình ảnh rồi ảnh bán cho thiên hạ lâu rồi mà. Cả mười mấy năm rồi. Vía tôi cũng nói tôi đương ở Mỹ Tho chớ đâu còn ở xóm Vườn Lài nữa. Vậy mà tôi vẫn vui vẻ tưới nước, xới phân từng luống từng luống, chăm chỉ và sung sướng với công việc của mình.

Ba tôi kêu mấy đứa con lại đứng xung quanh rồi ông rờ đầu tôi nói vườn nầy là của chung anh em tụi bây. Giữ thì anh em đoàn tụ, không giữ thì trôi sông lạc chợ chia lìa mỗi đứa một nơi, có khi còn không bao giờ thấy mặt nhau…

Cứ ba cái chuyện cũ như vậy của lúc ở Vườn Xoài mà tôi thấy đi thấy lại hoài, chuyện tôi với con Cúc đi bán bông, chuyện phơi bông, chuyện bẻ thơm đếm cho bạn hàng, chuyện thằng Thìn bắt được con dế cơm bự xộn nó hí hửng đem khoe bị tôi biểu thả nó buồn thỉu buồn thiu… Bữa nào thấy chiêm bao kiểu đó thì sáng thức dậy lòng buồn dã dượi cả ngày, ước sức muốn chạy ngay lên Sài Gòn thăm lại miếng vườn cũ.

Cái thằng cha bán thuốc điếu sao coi giống anh Năm. Nhưng sao lại có một mắt hà? Không lẽ ảnh bị tai nạn gì đó? Mà thôi phải – không gì mặc kệ. Nhìn làm khỉ gì cho mất công, tình nghĩa gì nữa. Ủa sao bao nhiêu năm nay mà chỗ nầy vẫn còn bay mùi thơm bông lài? Bộ cái mùi nó núp sẵn trên hàng cây dầu chờ tôi về bu lại mừng sao chớ? Dám lắm à. Thơm như hồi đó, có khác gì đâu. Cái mùi thoang thoảng nhẹ khi tảng sáng sương còn chưa tan.

Thấy thiên hạ tấp nập nhớ tới lúc còn đi bán bông. Ai mà hỏi chọc chớ bông lài nầy có cặm bãi cứt trâu không thì in như rằng con Cúc sẽ liếc háy người ta nói móc họng hay xỏ xiên gì xa gần. Lúc đó tôi chỉ cười cười phân trần rằng đừng coi là cứt trâu thuần túy mà nên coi là phân đi. Phân đem sức sống lại bông lài. Bông lài cần được cắm vô phân trâu đó. Bây giờ đây kiếm đỏ mắt một người chọc gái kiểu đó cũng không có. Tôi là nhánh bông lài không những bị tước bỏ phân cứt trâu mà còn bị rứt ra khỏi chậu đất tôi bén rễ đâm cành từ ngày mới lú lên cặp lá đầu tiên. Tôi nhớ đất nhớ phân nên héo hon gầy guộc tàn tạ chờ ngày nằm xuống như một cây khô không hương. Bây giờ tôi là thứ không còn ai ngó tới huống gì người buông lời ghẹo ngọc trêu huê?

***

Xe rồ máy thổi vọt một cuộn khói đen xì đằng sau đít rồi từ từ nhích bước trước khi vô tốc độ, giống như một con heo bị đuổi, đủn đa đủn đỉn bước đi không tỏ chút gì vội vàng. Trận mưa chiều đổ ụp xuống nhạt nhòa cảnh vật. Qua lớp kiếng đục trầy trụa, cô Út ráng hết sức bình sanh thâu vô mắt lần chót hàng cây dầu đương độ lớn – dãi nhà lầu có tường bao xung quanh – rue Pierre Pasquier – Hưng Long tự - rue Frédéric Drouhet – nhà máy đá với hãng rượu la-de con cọp…

Mưa càng lúc càng lớn. Như cầm tỉnh mà đổ.

Cái chéo khăn rằn sọc đỏ nhích lên lướt nhè nhẹ qua lại trên mắt người đàn bà luống tuổi, thân ái.

Nguồn: https://sites.google.com/site/nkltnguyenvansam/tuyen-tap/truyen-ngan/tinh-dat