Danh Ngôn

Trong một xã hội ngục tù, văn học tự do chỉ có thể hiện hữu để tố cáo và nuôi hi vọng.

In an incarcerated society, free literature can exist only as denunciation and hope.

Eduardo Galeano (1940-2015). “In Defense of the Word” (7) tr. Bobbye S. Ortiz, Days and Nights of Love and War, 1977, tr. Judith Brister, 1983

Văn học suy tàn chỉ vì con người càng ngày càng trở nên thối nát.

Literature decays only as men become more and more corrupt.

Goethe (1749-1832). The Maxims and Reflections of Goethe, 466, tr. T. Bailey Saunders, 1892

Văn học chịu số phận bi đát nếu tự do tư tưởng biến mất.

Literature is doomed if liberty of thought perishes.

George Orwell (1903-1950). “The Prevention of Literature,” January 1946, The Collected Essays, Journalism, and Letters of George Orwell, vol. 4, ed. Sonia Orwell and Ian Angus, 1968

Trong ý nghĩa toàn diện nhất, văn học là tự truyện của nhân loại.

Literature in its most comprehensive sense is the autobiography of humanity.

Bernard Beranson (1865-1959). Notebook, 11 December 1892. Trong cuốn The Bernard Beranson Treasury, ed. Hanna Kiel, 1962

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Nguyễn Duy trở lại

(Bài phát biểu của Phương Nam ngày ra mắt 3 cuosn sách mới của Nguyễn Duy)

Print

Nguyễn Duy, thi sĩ thảo dân, tác giả của bài thơ nổi tiếng “Tre Việt Nam”, trong suốt đời thơ của mình ông đã rong ruổi nhiều nơi, đi và viết. Những cảnh những người ông gặp trở thành tài sản văn chương đồ sộ của ông. Từ những chuyến đi ấy mà tác phẩm Ghi và Nhớ ra đời, tập hợp các bài viết vốn đã đăng rải rác trên các báo nhiều năm nay.

Với kết cấu ba phần rõ rệt “Đông Âu du kí”, “Vừa đi vừa đếm bước…”, “Gập ghềnh giấy”, Nguyễn Duy đã tái hiện sinh động đời sống xã hội, đặc biệt là xã hội các nước XHCN Đông Âu trong buổi giao thời, với những hoàn cảnh trớ trêu trước những biến động lịch sử. Ở đây, ta có thể bắt gặp khuôn mặt của những người Việt xa xứ trên đất khách quê người, cùng những khuôn mặt người Việt lập nghiệp và thành công trên chính quê hương của mình. Nguyễn Duy dù thử sức mình ở thể loại nào vẫn giữ cho mình tâm thế của một thi sĩ thảo dân, gắn bó với đời sống người dân, những con người bình thường mà cũng thật đặc biệt dưới ngòi bút tài hoa.

Ta có thể bắt gặp một Nguyễn Duy ít mơ mộng, cố giữ giọng bình tĩnh của một ngòi bút ký sự cần phải có. Nhưng ẩn trong đó, có thể thấy một tâm trạng hoài hương sâu sắc của một hồn thơ nặng nợ với quê hương, khi dù ở phương trời Âu - Mỹ vẫn đau đáu nhớ quê, ta như gặp những dòng sông cứ thế hiện lên một cách vô thức chảy xuyên qua tâm hồn thi sĩ, gần như trở thành nỗi ám ảnh.

Nguyễn Duy dành phần cuối của sách để khắc họa chân dung những bạn văn, những vị tiền bối từng là nguồn cảm hứng khích lệ ông trên con đường văn chương như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Đoàn Văn Cừ, Hoàng Cầm… Nguyễn Duy đã quan sát họ trong khoảng cách gần, góp thêm những nét mới vào bức chân dung của những văn nghệ sĩ mà ta ngỡ rằng đã quen thuộc nhưng vẫn còn nhiều góc khuất chúng ta chưa nhìn ra.

Đó là khi cái hữu hạn của chi tiết đời thường gặp cái vô hạn của suy tưởng nghệ sĩ, không chỉ là những người sáng tạo nghệ thuật mà còn là những người làm công việc bình thường đã nâng kí ức lên thành nghệ thuật.

Ghi và Nhớ còn có một đoản thiên sử kí trong dòng chảy lịch sử xuyên suốt, được cắt ra, giữ lại vài khoảnh khắc, mà khoảnh khắc nào cũng đáng quý, đáng nhớ. Đó là cuộc hành trình đi tìm lại dấu xưa của những vị vua yêu nước như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, khắc họa một thời đoạn bi ai của lịch sử dân tộc.

Văn của Nguyễn Duy cũng như thơ ông, không màu mè mà chân thật như chính từ cuộc sống lẩy ra, chính vì thế mà sức mạnh của sự thật ở thể loại ký được tăng thêm. Văn chương đó không quá dụng công để tạo ra những hiệu ứng nghệ thuật khác lạ, nó như là chính nó, chân thật, không cầu kỳ, bộc trực, nhắm thẳng vào cảm xúc người đọc.

Như để bổ sung cho phần cảm xúc còn chưa bộc lộ hết trong tập kí “Ghi và Nhớ”, hai tập thơ “Quê nhà ở phía ngôi sao” và “Tuyển thơ lục bát” tập hợp những vần thơ gây dựng tên tuổi Nguyễn Duy trong lòng công chúng.

Ta có thể bắt gặp những vần thơ quen thuộc đến mức nhiều lúc chúng ta tưởng chừng là ca dao:

bần thần hương huệ thơm đêm

khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn

chân nhang lấm láp tro tàn

xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Lục bát Nguyễn Duy nối tiếp con đường lục bát được vạch ra kể từ thời Nguyễn Du, đó là mạch nguồn tâm thức Việt, là tâm hồn Việt lắng đọng trong nhạc điệu con chữ:

Dịu dàng vang tiếng mắt cười

bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm

Tuy Nguyễn Duy không chỉ làm thơ lục bát, nhưng chính lục bát định hình nên một Nguyễn Duy hiện hữu trong thơ ca Việt Nam như hôm nay. Có những lúc ông thoát khỏi địa hạt lục bát, thơ ông vẫn có một chiều sâu khiến cho cái khung “lục bát Nguyễn Duy” không còn là giới hạn nữa.

Anh vặt trăng sao rịt lành vết thương

thấm giọng giọt sương nước mắt em long lanh mảnh vỡ

và bắt chước lá cây bình thản hát mỗi lúc gặp gióPrint

Thơ ca Nguyễn Duy bắt nhịp từng khoảnh khắc bình dị giữa dòng đời đang hối hả trôi tuột đi không níu giữ được. Ông lắng nghe từng rung động bình dị của cuộc sống, mà ở đó những vần thơ của ông được sinh ra, như chính con người ông, sinh ra từ nhân dân, được nhân dân nuôi lớn, vì thế thơ ca ông lúc nào cũng có vẻ đẹp của sự trường cửu./.