Danh Ngôn

Tất cả nghệ thuật cao quí… không mang lại cho người thưởng ngoạn cảm giác tự mãn, mà là một sự ngỡ ngàng và kinh phục. Chức năng giải phóng to lớn của mỹ thuật là nhấc bổng chúng ta ra khỏi chính mình.

All great art … creates in the holder not self-satisfaction but wonder and awe. Its great liberation is to lift us out of ourselves.

Dorothy Thompson(1894-1961). “The Twelve-Foot Ceiling,” The Courage to Be Happy, 1957

Nghệ thuật cao quí không dừng lại ở cảm giác khoan khoái nhất thời. Nó là một cái gì làm gia tăng sự phong phú trường cửu của sự toại nguyện trong tâm hồn. Nó tự biện minh vừa bằng sự thưởng thức trực tiếp, vừa bằng sự tôi luyện cái hiện thể thâm sâu nhất. Sự tôi luyện không tách rời sự thưởng thức mà vì sự thưởng thức. Nghệ thuật cao quí chuyển hóa tâm hồn thành sự nhận chân trường trực các giá trị vượt ra ngoài bản thể trước đây của chính tâm hồn.

Great art is more than a transient refreshment. It is something which adds to the permanent richness of the soul’s self-attainment. It justifies itself both by its immediate enjoyment, and also by its discipline of the inmost being. Its discipline is not distinct from enjoyment but by reason of it. It transforms the soul into the permanent realization of values extending beyond its former self.

Afred North Whitehead(1861-1947). Science and the Modern World, 13, 1925

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

ngày xuân, gõ cửa thiên đường

Truyện

Lê Thị Thấm Vân

Cách đây không lâu, một sáng đẹp trời. Vicki, cô bạn làm cùng sở mang vào xấp hình chụp đám cưới của Ron, (Ron là đồng nghiệp). Cả phòng nháo nhào, chuyền tay coi, kèm theo lời khen nhiều hơn chê cùng tiếng cười to, nhỏ. Lẫn trong xấp hình, có tấm chụp riêng tôi (Vicki bảo chồng nó chụp lúc tôi không biết). Tấm hình chụp nửa người trên, đứng tựa bờ tường, một tay khoanh và một tay cầm ly rượu. Người hơi nghiêng, mắt đang ngước nhìn... (tôi chẳng nhớ mình đang nhìn gì?). Tấm hình trông lạc điệu giữa 36 tấm hình khác vì ai cũng tươi cười.

Lúc Vicki trao tôi tấm hình, nó nói:

“Của mày, mày giữ lấy. Chồng tao bảo mày đẹp nhưng…”.

“hơi buồn”. Tôi điền vào chỗ trống hộ nó.

“Ừ, hơi buồn. Phải chi mày chịu khó nhe răng một tí chắc đỡ hơn.”. Vicki thành thật.

“Ừ, tao cũng nghĩ thế”. Tôi nhỏ giọng.

Trở về phòng với tấm hình trong tay. Tôi ngồi ngó tôi, nghĩ khuôn mắt mình lúc bình thường, không làm điệu trông héo hắt đến thế sao? Tôi nhớ những người thân quen vẫn thường ý kiến sau lưng.

“Mặt con Tường Quyên đẹp nhưng buồn quá!”.

Hoặc nói thẳng cho tôi nghe.

“Tường Quyên có đôi mắt ướt như sắp khóc”.

Nhưng câu mà tôi nghe quen tai nhất.

“Tươi lên chút có được không nào!”.

Chung quanh ai cũng nói sao tôi cứ buồn buồn, ngay cả khi cười. Nhưng không ai phủ nhận một điều là tôi đẹp, và tôi biết tôi đẹp.

“Nét đẹp của chị hợp với… thời chiến hơn!”. Thằng Phước, một lần ngắm tôi rồi phê bình nhan sắc chị nó như thế. Ở tôi, nét mỏng manh, nhẹ nhàng pha chút chịu đựng, tuy nhiên, nét buồn vẫn hiện rõ nhất trên khuôn mặt, nghĩa là không còn hợp với thời này nữa. Thời mà vui tươi, trẻ trung, khỏe mạnh là nét đầu tiên lôi cuốn sự chú ý của người khác. Thời mà dọc đường, từ nhà đến sở hầu như góc nào cũng có health club. Giở tạp chí thời trang, các cô đào, siêu mẫu chụp hình hở ngực, đùi, mông ai nấy đều rắn chắc, hấp dẫn bởi những múi muscle do khổ công tập luyện.

Tôi nhớ người tình cũ, có lần nhìn tấm hình hai đứa chụp chung, anh nói: “Đầu em sát đầu anh. Vai em kề vai anh. Tay em trong tay anh. Em vui chỉ ở cái miệng mà đôi mắt buồn thiu. Em không hạnh phúc bên anh sao?”.

Tôi cười cười, rúc đầu vào ngực anh.Những lúc bối rối, tôi chỉ biết làm thế.

-----------------------------

1973, hai năm trước ngày rời Việt Nam tôi vừa tròn mười tuổi. Cái tuổi thích được cột tóc cao bằng những cái nơ càng to, màu càng sặc sỡ thì lòng càng rộn ràng, sung sướng. Cái tuổi dễ yêu là không còn quá nhỏ để làm phiền bố mẹ trông chừng tắm rửa, đút cơm. Cũng chưa lớn đủ để tập tành xây một thế giới riêng tư ở tuổi vị thành niên rất ư dễ ghét. Ngoài giờ học ở trường, về đến nhà tôi thường luẩn quẩn quanh mẹ để được sai vặt, hoặc chờ bố đi làm về, vội cất giày cho bố. Ngày nghỉ, bố sai nhổ tóc bạc, hoặc chạy ra đầu ngõ mua chai bia. Bố thưởng mấy đồng bạc lẻ mua kẹo. Ngậm viên kẹo trong miệng mà thấy đời ngọt ngào biết bao!

Chiều 29 tết năm đó. Trời bắt đầu tối, tôi và thằng Phước ngồi trước thềm nhà đợi bố mẹ về. Thường vào giờ này ở xóm tôi, bọn trẻ con chạy loăng quăng ngoài đường chưa đứa nào muốn về, nán lại chơi ném lon, nhảy dây, ô làng… Hiệp cuối bao giờ cũng gay cấn nhất. Từ đầu ngõ đến cuối ngõ, người đi tới kẻ đi lui, tay bồng bế, tay xách cặp táp. Tiếng xe nổ lẫn tiếng nói cười gọi nhau ơi ới, cùng tiếng nhạc hoặc tin chiến sự phát xuất từ radio của căn nhà quen thuộc. Nhịp sống bình thường diễn ra hằng ngày trong xóm tôi ở, đã nghe quen tai nhìn quen mắt bỗng dưng hôm nay biến mất. Chiều 29 tết, lòng ai cũng chộn rộn ở trong nhà sửa soạn đón năm mới.

Căn nhà tôi quạnh vắng, mẹ đi Huế  thăm ông ngoại bệnh nặng cả tuần chưa về. Trước khi đi mẹ hứa thế nào cũng về trước tết, ở nhà ngoan, hai đứa sẽ có quà. Cả bố nữa, đúng ra giờ này bố cũng đã đi làm về. Nhìn vào trong nhà thấy tối om, hai chị em không đứa nào dám bước vào. Vừa sợ, vừa đói, vừa mệt.

Khi tôi mở mắt, thấy mình đang nằm trên giường bố mẹ. Cạnh tôi, thằng Phước đang ngủ say, nước miếng nhễu một khoảnh trên gối, mặt nó lem luốc, đêm qua đi ngủ chưa rửa mặt, rồi chợt nhớ mình cũng thế. Tôi ngóc đầu kiếm mẹ, nhưng không thấy mẹ, chỉ thấy bố đang ngồi quay lưng ở cuối chân giường. Hai tay bố ôm mặt, trên người vẫn còn bận bộ đồ lính. Tôi nằm yên nhìn bố từ phía sau. Màu nắng chưa rõ đầu ngày hắt lên một mảng trên tóc bố. Tôi bỗng thấy vai bố rung rung, cùng tiếng nấc nghẹn. Tôi ngả người xuống nằm im, nghe như tim mình bị tay ai đè nặng. Lần đầu tiên tôi linh cảm có chuyện gì không lành xảy ra.

Tôi gọi “bố”. Bố quay  nhanh người lại. Mắt bố đỏ hoe, màu đỏ như màu máu. Bố nhào tới ôm lấy tôi. Tôi nghe tiếng bố khóc lẫn tiếng tim đập thình thịch trong ngực bố. Nước mắt bố nhoè thấm trên tóc, má và mặt tôi: “Bố đây, bố đây con”. Tôi khóc oà theo bố, mặc dầu không biết tại sao bố khóc nhiều như thế.

Hừng sáng 30 tết, tôi nhận được tin mẹ tử nạn trên đường từ Huế vô lại Qui Nhơn. Cầu bị Việt Cộng đặt mìn giật sập, trên xe đò cả thảy bảy mươi người không ai thoát, kể cả mẹ, người mà tôi nghĩ  sẽ sống vĩnh cữu cạnh bố con tôi. Tôi mất mẹ ở tuổi chưa có khái niệm rõ rệt hai chữ tử sinh.

Mẹ ra đi, để lại lỗ hổng lớn trong đời sống ba bố con.

Bố ở trong quân đội. Cấp bậc trung uý. Người bố cao lớn dềnh dàng, hay đùa giỡn và kể chuyện cho chị em tôi nghe nhiều hơn mẹ. Giờ giấc bố đi làm bất thường, bởi thế, hôm nào bố trực đêm là hai chị em được ngủ chung giường với mẹ. Có những đêm khuya chợt thức giấc, qua khoảng cách của người thằng Phước, tôi thấy nhấp nhô cái bóng in trên vách mùng. Tôi lờ mờ… không hiểu rồi ngủ thiếp lại. Mãi sau này, khi lớn, biết mùi vị hương lửa tình yêu, tôi thương bố vô vàn.

Vài năm sau, tụi tôi lớn hơn chút xíu, bố tuyệt đối cấm không cho hai đứa nằm chung giường bố mẹ. Có hôm chợt thức giấc, chạy vào buồng không thấy mẹ đâu, chạy ra vườn thấy mẹ và  bố đang ngồi trên xích đu, cạnh cây ngọc lan thơm ngát. Mẹ ngồi sát vào người bố, dáng bố to cao che chở mẹ. Tay bố vuốt dọc tóc mẹ nhẹ nhàng theo nhịp xích đu. Bộ đồ lụa trắng mẹ mặc nổi bật trong đêm khuya thanh vắng. Ở tuổi lên mười, tôi đã biết đó là hình ảnh đẹp tuyệt trần.

Tôi lớn hẳn sau ngày mất mẹ, như “bị” mang đôi hia bảy dặm. Đoạn đường đi, về từ nhà và trường tôi phải rút ngắn. Bước chân cố sải để mau đến lớp không bị trễ và mau về nhà để lo coi sóc trong ngoài. Tay tôi đã biết nắm giữ đồng tiền giao cho bà Năm hàng xóm đi chợ mua thức ăn giùm. Tôi tập tành nội trợ, ráng giữ nhà cửa sạch sẽ để được bố thương.

Tôi cũng biết oán giận quá sớm. Như lần thằng Phước và bạn nó lén qua vườn nhà bà Hảo bẻ trộm đu đủ. Lúc bà Hảo đi chợ về, thằng Phước đang còn trên thân cây, trái đu đủ chưa chín đã bị nó hái thảy xuống cho thằng Huy đứng chực hứng. Vừa thoáng thấy bóng bà Hảo, thằng Phước sợ quá vội tụt xuống, nhảy từ giữa thân cây, chân nó bị bong gân, dậy không nỗi, cùng lúc tôi đi kiếm em về ăn cơm. Tôi vội chạy lại đỡ, mặt nó mếu máo khóc vì đau. Tôi dìu nó về nhà. Tiếng bà Hảo chửi vọng theo: “Đồ con nhà mất dạy, quân ăn trộm, thứ không cha không mẹ không ai dạy dỗ…”. Tôi giận run người. Hai chị em vừa đi vừa khóc. Nó khóc vì chân đau, tôi khóc vì tiếng chửi rủa độc miệng của bà hàng xóm. Đêm đó tôi nằm trằn trọc và mong mau sáng để qua nói với bà Hảo đừng chửi như thế nữa. “Người nào chẳng có bố mẹ. Chị em tôi không may bị mẹ mất sớm”. Nhưng sáng hôm sau, vừa thấy mặt bà Hảo là tôi hận quá đỗi. Từ đó, mỗi khi đi ngang qua nhà bà, tôi thề không bao giờ nhìn vào.

Sau ngày mẹ mất tôi lại nảy ra tính “ganh tị” với mấy đứa bạn cùng lớp. Mỗi lần đến nhà chúng chơi, thấy cảnh mẹ con họ âu yếm thương yêu tôi thấy tủi thân, ước chi mẹ còn sống. Nhớ trước kia mỗi chiều đi học về, mẹ luôn đợi sẵn ở cổng, thấy hai chị em, mẹ vội đỡ lấy cặp, vuốt tóc từng đứa, hỏi han chuyện ở trường, lớp. Hai chị em ríu rít như hai con chim non.  Giờ đây, có những buổi chiều đi học về, căn nhà vắng tanh. Đi ngang phòng bố, thấy bố ngồi yên chống cằm bên cửa sổ nhìn ra cây ngọc lan. Trông bố cô đơn tận cùng. Tôi đứng lặng yên nhìn, lòng đau theo bố, nghĩ chắc là bố đang nhớ mẹ ghê lắm.

Có những đêm trở mình thức giấc, thấy bố đang lúi cúi đắp mền hoặc sửa lại thế nằm cho hai đứa. Việc làm mà lúc mẹ còn sống hầu như bố chẳng bận tâm. Những lúc như thế tôi nhắm mắt vờ như ngủ, để được bố săn sóc, âu yếm kéo người lại cho thẳng, kê gối ở dưới đầu, được bố hôn nhẹ trên trán, và nằm yên nghe tiếng chân nhẹ nhàng của bố lần ra khỏi cửa.

Những lúc rảnh, bố ngồi vẽ tranh mẹ. Vẽ dáng mẹ đang vén tóc, tựa cửa ngó vu vơ, hoặc lúc mẹ mỉm cười. Những tấm tranh bố vẽ từ trí nhớ thương yêu mẹ. Tranh nào bố vẽ mẹ tôi đều thấy đẹp. Ngồi nhìn bố vẽ, tay cầm cọ, áo quần xốc xếch nhưng mặt sáng rỡ lạ kỳ. Tôi chợt có ý nghĩ lớn lên tôi sẽ học vẽ, và vẽ cả bố lẫn mẹ.

-----------------------------

Tết 1975 là cái tết sau cùng của ba bố con tôi ở Việt Nam. Cái tết tôi không biết trước là sẽ chia tay bạn bè từ đó và rời bỏ thành phố Qui Nhơn, nơi tôi sinh ra và trải qua những năm thơ ấu, cùng những ngày vui còn mẹ và những ngày buồn mất mẹ.

Đầu năm 1975, ba bố con dắt díu nhau chạy loạn. Từ Qui Nhơn xuôi vô Nha Trang, Cam Ranh, rồi Vũng Tàu, Phước Tỉnh. Những đêm ngủ vùi trên khoang thuyền, mở mắt ngó bầu trời đêm. Trăng sao vằng vặc trên cao. Con thuyền nhỏ lướt sóng trong đêm. Tịch lặng chỉ còn lại giữa dòng biển khơi. Những ngày chạy loạn, bố con tôi ngủ tạm nhà thờ, nhà trường hoặc những căn nhà chủ nhân đã bỏ chạy. Ba bố con cứ đi trước lính Việt Cộng một thành phố. Vai bố đeo ba lô, hai tay dắt hai con gà con đi theo đoàn người vô định hướng. Cứ đi mặc dầu chẳng biết đi đâu và biết nơi nào là chốn bình yên còn lại của miền Nam Việt Nam.

Cuối cùng ba bố con vào Sài Gòn, ở tạm nhà người cô xa bên mẹ. Trong nhà ai cũng bàn chuyện xuất ngoại. Kẻ đi người ở. Đúng ngày Sài Gòn thất thủ, ba bố con nhảy đại lên tàu Trường Xuân ở bến Bạch Đằng. Vai bố vẫn đeo ba lô, trong ba lô có vài bịch cơm cháy, bi đông nước, vài bộ đồ ngắn cho hai đứa và tấm tranh cuộn tròn bố vẽ mẹ.

Ở trong trại Fort Chaffee được hai tháng thì ba bố con được gia đình người Mỹ bảo lãnh. Thành phố đầu tiên trên xứ Mỹ chúng tôi đặt chân mang tên Willard. Thành phố nhỏ, nhiều bụi, rất quạnh hiu thuộc tiểu bang Utah.

Người bảo lãnh là ông bà Kaye (tên họ). Chồng là Henry và vợ là Helen. Hai vợ chồng làm chủ tiệm chuyên đóng water beds, một loại business đang thịnh hành trong thời kỳ đó.

Ở với gia đình bảo trợ được vài ngày thì tôi và thằng Phước được bà Helen chở đi ghi danh học. Trên đường về, bà dừng xe cách nhà khoảng hai block, chỉ góc đường và dặn: “Sáng thứ hai tuần tới, đúng 7:25, Tường Quyên ra đây đứng đợi xe buýt trường đến đón”. Nghe bà nói, tôi cố nhớ nằm lòng, ngả tư có cây mimosa cao to, vàng rực cả góc đường vì đang độ trổ bông. Thằng Phước vào lớp sáu, năm cuối tiểu học. Trường nó cách nhà khoảng mười phút đi bộ. Bà Helen sẽ đưa nó đi tuần đầu nhập học.

Sáng thứ hai, đúng 7:15, tôi có mặt ở trạm buýt. Ở đấy đã có mấy đứa đứng đợi. Ngày đầu khai giảng mặt mày, tóc tai, áo quần đứa nào cũng gọn gàng sạch sẽ. Tôi là đứa tóc đen duy nhất trong đám. Lần đầu tiên, cảm giác lạc lõng đến với tôi.

Độ mười phút sau xe buýt trường màu vàng trờ tới. Cả đám hò hét leo lên. Tôi là đứa cuối cùng leo lên, chân vừa bước vừa tìm chỗ ngồi mà biết là tất cả những con mắt trên xe, kể cả ông tài xế, đang dõi chăm chăm nhìn mình. Hai ống chân tôi như đeo hai tảng đá, đầu cứ lùng bùng.

Suốt quãng đường đến trường, tôi ngồi yên, mắt đăm đăm cúi nhìn hai bàn tay lo sợ nghĩ, kể từ hôm nay, mình thật sự rẽ sang con đường mới. Con đường hoàn toàn xa lạ. Ở đó, ngôn ngữ với danh từ, động từ, ngữ vựng tôi chỉ mới được biết đếm trên đầu ngón tay.

Xe buýt dừng, đám Mỹ con lại nhốn nháo như đàn ong. Khuôn mặt đứa nào cũng hăm hở. Ông tài xế luôn miệng nhắc chừng phải từ từ, cẩn thận.

Tôi là người cuối cùng bước xuống khỏi xe. Ông tài xế nhìn tôi kèm theo câu nói. Tôi cúi đầu im lặng. Phần không hiểu ông nói gì, phần cũng muốn ra khỏi xe buýt nhanh như những đứa trẻ khác.

Tôi nhìn một vòng quanh trường, bỗng thấy trường sao lạ. Tuần trước bà Helen đưa tôi đến, nhớ phía trước trường có hàng rào gỗ màu nâu sao bây giờ không thấy. Tim tôi bắt đầu đập mạnh. Hai tay nắm chặt vào nhau sợ hãi. Hay mình leo lộn xe buýt?

Tôi muốn gọi điện cho bà Helen nhưng không nhớ số điện thoại nhà.Và cũng chẳng biết điện thoại ở đâu và phải gọi thế nào.Ngày đầu nhập học cũng là ngày thứ mười tôi sống thực sự trên đất Mỹ.

Nách tôi ôm cái cặp, cái cặp nhẹ tênh. Tôi đi lần vào bờ tường, đứng dưới gốc cây có tàng lá phủ rậm. Tôi sợ vì không biết hỏi ai, nên làm gì. Trước mặt tôi tất cả cao ốc giống nhau. Đám trẻ chung quanh mặt đứa nào cũng giống nhau. Tóc màu vàng da màu trắng miệng cười tươi. Chúng chơi đùa gọi nhau ơi ới. Có đứa ôm nhau mừng rỡ vì sau ba tháng hè xa cách nay gặp lại, biết bao chuyện vui kể nhau nghe. Bỗng dưng tôi tủi thân muốn khóc. Hình ảnh từng con bạn cũ: Liên, Thanh Mai, Thu Hằng, Thuỷ Trang… nối đuôi nhau hiện ra. Giờ này tụi nó đang làm gì? Ở đâu? Còn tôi sao đứng đây một mình như người đi lộn hành tinh? Mắt tôi bắt đầu cay.

Thỉnh thoảng có vài cặp mắt đang đi bỗng dừng chân tò mò nhìn tôi. Chúng hỏi gì đó nhưng tôi không trả lời liền bỏ đi. Có đứa nhìn tôi cười cười. Tôi nghĩ tới bố, tới thằng Phước. Phải chi có nó bên cạnh chắc tôi đỡ sợ. Rồi thấy thương em, chắc ở ngôi trường khác, nó đang đứng đâu đó, cũng rối bời như tôi.

Một hồi chuông vang lên, kèm theo câu nói dài. Đám trẻ chung quanh tán loạn. Đứa ngược đứa xuôi. Trong vòng mười phút, sân trường trống trơn, lác đác vài đứa di chuyển chậm chạp. Tôi lại sợ hơn nữa. Tụi nó đã vào hết trong lớp. Tôi bỗng thắc mắc sao không xếp hàng chào cờ. Lần này thì tôi không ngăn được tiếng khóc, tôi đứng khóc oà. Một người đàn ông tiến tới, hay tay chắp phía sau (sau này biết tên ông là Stanley, làm giám thị trường, người giúp tôi tận tình nhất).  Ông lại gần đặt nhẹ tay lên vai tôi hỏi câu gì đó, tôi không trả lời mà cứ rung vai nức nở khóc. Cuối cùng ông dẫn tôi tới văn phòng, khi đến trước cửa văn phòng, nhìn hai chậu xương rồng cạnh lối ra vào tôi mới biết chắc là mình không đi lộn trường. Xe buýt thả tôi ở cổng sau, bà Helen đưa tôi đến cổng trước.

Phải mất tuần lễ tôi mới thuộc hết những lối đi đến sáu cao ốc của sáu lớp học và tên tất cả thầy cô.

Ba bố con vẫn ở căn nhà nhỏ hai phòng ở góc vườn ông bà bảo trợ. Mỗi ngày bố rời nhà đến nơi làm từ sáng sớm và trở về chập choạng tối. Nhiều hôm đi làm về mệt, đêm ngủ bố rên hừ hừ, tôi nghĩ ban ngày chắc bố đóng giường mệt lắm. Có hôm đi làm về, bố không ăn uống gì (thời gian này, bố con tôi rất thèm cơm Việt Nam). Còn tôi, mỗi chiều sau giờ học, làm xong bài tập, lên nhà trên, phụ chăm sóc hai đứa con gái sinh đôi ba tuổi của ông bà. Thằng Phước, cuối tuần phụ ông Henry cắt cỏ làm vườn. Ba bố con, người nào cũng có công việc để làm trong thời gian ở trọ nhà người bảo trợ.

Một buổi chiều bố cùng ông Henry đi làm về, trong bữa ăn tôi nghe ông phàn nàn, khuyên bố đừng mặc chiếc áo lính cũ đi làm nữa thì thằng David sẽ không có lý do gì gây chuyện với bố. Bố bảo bố thích chiếc áo lính của bố bởi bố mang nó theo từ Việt Nam. Lúc nói, tôi thấy mặt bố buồn buồn. Tối hôm đó, tôi theo gặng hỏi bà Helen chuyện gì đã xảy ra, bà nói tại bố hay mặc áo lính mà thằng David không thích, nó nói: “Mày muốn đời mày khá lên thì nên quẳng cái áo lính của mày đi. Xứ tao đang hoà bình, không muốn thấy bóng dáng chiến tranh”. Bố nghe giận run, định lại cho nó bợp tai, nhưng mấy người chung quanh cản kịp. Rồi bà tiếp, thằng David làm cho ông bà hơn năm năm, không siêng năng như bố, nhưng những việc nặng phải có nó phụ một tay thì mới xong. Trong thời gian này, tôi thấy nụ cười tắt ngấm trên môi bố.

Sau sáu tháng ở Mỹ, tôi nhớ một sáng nghỉ học, bố cũng được nghỉ làm. Bố rủ tôi đi xuống phố. Bố chở tôi trên chiếc xe đạp cũ của ông Henry. Đến trước cửa tiệm chuyên sản xuất cà chua chín đóng hộp, có tấm bảng nhỏ ghi hai chữ “Help wanted” bố dừng xe. Trước khi vào bố dặn tôi đứng ngoài này coi chiếc xe, đợi bố vào interview. Trời buổi sáng mùa đông Willard lạnh không thể tả. Hai tay và răng tôi đánh nhau lập cập. Cứ một chốc, bố sốt ruột đi ra xem chừng tôi. Cuối cùng, bố bảo tôi lại ngồi cạnh thùng rác lớn, khuất gió cho đỡ lạnh. Tôi ngồi mà lòng cũng hồi hộp như bố trong kia, bởi không biết người ta có mướn bố không?

Bố trở ra, hai tay đút túi quần, miệng cười cười. Nhìn mặt bố tôi biết bố đã… trượt vỏ chuối. Lúc ngồi sau xe, áp mặt mình vào lưng bố, hai tay ôm chặt người bố. Tôi cười nói: “Người ta bảo với bố cà chua chưa chín phải không?”. Bố nghe rồi cười to. Ngay từ nhỏ, tôi đã có chung ngôn ngữ với bố.

Một sáng ngủ dậy thấy bố không đi làm như mọi ngày. Tôi đến gần hỏi tại sao. Bố vuốt nhẹ tóc tôi, im lặng một lát, rồi nói: “Bố nghỉ làm luôn rồi”. “Why?”. Tôi hỏi. Bố trả lời hôm qua bố “thụi” thằng David một cái tại nó chê bố thi rớt bằng lái xe hai lần vì lý do bố đến từ xứ sở không có xe hơi, lạc hậu, kém văn minh, chỉ thích chiến tranh. Nó còn nói bố phải ở Mỹ thêm mười năm nữa thì may ra mới lấy được bằng lái xe.

Sau gần một năm sống cùng ông bà bảo trợ, bố quyết định dọn ra riêng, bố không muốn vì mình mà gây rắc rối cho ông bà.  Mấy năm đầu sống ở Mỹ, bố làm đủ thứ nghề, toàn nghề lao động. Từ đóng giường, nhồi bột bánh pizza, chuyển hàng hoá ban đêm ở siêu thị… Giữa năm 1977, bố liên lạc được với người bạn cũ cùng đơn vị ngày trước, hiện đang định cư tiểu bang California, rủ bố qua đó làm nghề điện tử, một nghề đang lên, hãng mướn không cần kinh nghiệm, lương cao, cộng thêm khí hậu Cali. mát mẻ, lại gần bạn bè… Một ngày mùa hè, ba bố con thẳng đường từ Utah lái xe qua California, dừng chân thành phố Oakland, cách San Francisco cái cầu có tên Bay Bridge. Cầu to, dài, mới nhưng không đẹp bằng cầu Golden Gate.

Chưa đầy một tháng, bố kiếm được việc. Việc ráp nối những cái chip điện tử qua kính hiển vi. Ban đêm bố học thêm Anh văn ở college gần nhà. Lương tăng nhanh, đời sống kinh tế ba bố con thoải mái hơn trước.  Nhớ sinh nhật mười sáu tuổi, bố đưa tôi vào K-Mart (thời gian đó, tiệm này đối với ba bố con tôi là sang lắm!). Lần đầu bố nói: “Tường Quyên thích áo lạnh nào cứ chọn, hôm nay bố mới được tăng lương”. Lúc ôm và ngửi được mùi jacket nỉ vàng mới toanh trong tay, tôi bồi hồi nhớ đến ngăn tủ ở nhà, trong đó phần nhiều những bộ áo quần phát xuất từ họ đạo nhà thờ, tiệm bán đồ cũ, hoặc garage sale.

Cũng khoảng trong thời gian này, một hôm bố đưa người đàn bà lạ về nhà giới thiệu cùng tôi và thằng Phước, tên cô là Lan, làm chung hãng điện với bố. Dáng cô Lan đẫy đà, tóc cắt ngắn hợp với khuôn mặt tròn và trắng. Miệng cười chúm chím lộ lúm đồng tiền ở má trái thật xinh. Mắt cô một mí, thoạt nhìn tưởng cô người Đại Hàn hay Nhật Bản. Tôi thấy bố vui hẳn từ ngày quen cô Lan. Bố chịu khó chải chuốt hơn trước. Tôi vui theo bố. Đi tới đi lui trong nhà bố huýt gió hoặc hát những câu nhạc tình nghe da diết lắm.

Sau vài tháng, cô Lan từ từ dọn vào ở chung. Ban đầu chỉ cuối tuần, rồi vài ngày, cuối cùng cô ở hẳn như nhân vật thứ tư trong nhà. Từ ngày có cô Lan, tôi mừng là khỏi lo phần cơm nước. Apartment có hai phòng ngủ nhưng chỉ một phòng tắm. Nhiều hôm từ phòng tắm ra, trên người cô chỉ quấn ngang chiếc khăn lông lớn, da cô trắng nõn, tay chân đầy đặn, mùa hè trông cô tôi thấy mát mắt, huống chi là bố.

Có những tối, cô bận chiếc áo ngủ màu hồng nhạt mỏng manh phủ dài gót chân. Khi cô đứng nghiêng người trước tủ lạnh kiếm đồ ăn vặt, trông thật hấp dẫn. Gò ngực vun cao lồ lộ, mềm mại, rất đàn bà. Cô được cái tính hay cười, chưa nói đã cười, sống cạnh cô không ai có thể bực mình hoặc giận cô được.

Nhiều đêm khó ngủ, tôi nằm nghĩ tới bố cùng cô Lan trên chiếc giường ở phòng bên cạnh, vọng vang tiếng nói cười khúc khích. Hình ảnh lung linh mờ nhạt của mẹ, khuôn mặt xương, nói nhiều bằng mắt, cùng cái bóng nhấp nhô trên vách mùng, tiếng kẽo kẹt của cái giường lẫn hơi thở mạnh, dồn dập trong đêm năm xưa trở về.

Niềm vui cô Lan mang đến cho bố thật ngắn ngủi, chưa đầy năm. Một chiều tôi đi học về, ngang qua phòng bố, thấy cánh cửa hé mở, bố ngồi trên giường hút thuốc liên miên, dưới chân mấy chai bia cạn nằm lăn lóc. Tôi linh cảm có điều gì không lành xảy ra. Sao hôm nay bố ở nhà? Cô Lan đâu? Tôi thắc mắc.  Hay bố và cô Lan giận nhau? Tôi chợt nhớ cả tuần nay bố ít ăn cơm nhà và cô Lan ít nói cười hơn mọi ngày.

Tôi vào phòng bố, ngồi xuống nhẹ nhàng đặt tay trên vai bố: “Bố sao vậy? Cô Lan đâu?”. Bố im lặng một lát, rồi nói nhỏ: “Cô Lan đã dọn đi”. “Why?”. Tôi hỏi. “Chồng cô Lan đã vượt biên đến được bên đảo. Cô Lan phải…”. Đó là lần đầu tiên hai bố con ngồi nói chuyện yêu đương phức tạp của người lớn. Tôi ôm cổ bố, ước ao mong sao bố hết buồn, và hy vọng cái tin chồng cô Lan vừa đến đảo là cái tin “vịt”.

Rồi thời gian trôi. Tôi xong trung học, lên thẳng đại học ở thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California, cách Oakland khoảng hai tiếng lái xe. Ngày được tin trường nhận, bố mừng lắm. Bố nghỉ làm một ngày dẫn hai chị em đi San Francisco chơi. Ba bố con dung dăng dung dẻ quanh China Town, ăn hải sản ở Pier 39. Lần đầu tiên ý niệm hai chữ “báo hiếu” đến với tôi. Tôi bước được một bước trên bậc thang chữ hiếu.

Những ngày đầu xa nhà, tôi nhớ bố và thằng Phước quá thể, mong chín giờ tối bố gọi điện thoại. Bố dặn đủ điều, từ ăn uống, nghỉ ngơi, đừng ham chơi chểnh mảng học hành, cần gì cứ cho bố biết. Bao nhiêu năm bố đóng vai người bố lẫn người mẹ, dạy dỗ lo lắng hai chị em. Tôi nhớ lần đầu có kinh, mặc dầu trong trường đã chỉ dạy, nhưng khi có tôi cũng lúng túng, lo sợ. Và không qua nỗi cặp mắt tinh ý của bố. Tối đó bố vào phòng tôi, trên tay cầm hộp băng vệ sinh, loại dành cho teenager nữa chứ!

Đi chợ, bố chọn loại yaourt tôi thích, hiệu xà phòng gội đầu tôi ưa, ngay cả size cũng như 100% cotton quần lót tôi hay mặc. Ở bố, cuộc đời có khi mang đến mật đắng, có khi mật ngọt, tuy nhiên, bố bao giờ cũng tận tuỵ với cuộc đời.

Mấy năm sau, thằng Phước cũng vào đại học. Nó chọn trường xa hơn tôi gấp bội, mãi tận Boston. Con lớn, đủ lông đủ cánh lìa xa bố.

Lên năm thứ ba, tôi chọn ngành xã hội học, ít về thăm bố hơn trước vì bận học, bận yêu, bận làm part-time cuối tuần ở tiệm bán records kiếm thêm tiền tiêu vặt.

Một ngày thứ bảy bố lái xe lên nơi tôi ở, đi cùng bố là bà Tâm, nhỏ hơn bố vài tuổi. Bố cho biết hai người sẽ sống chính thức như vợ chồng. Bà Tâm là người bình thường về mọi phương diện, từ nhan sắc đến cá tính, nhưng bù lại, bà rất chiều chuộng, nhẹ nhàng với bố. Cạnh bà, bố tìm được sự thoải mái ở lứa tuổi không còn thanh xuân nữa. Mỗi lần gặp bố, tôi hay đùa: “Ngày trước con nhổ tóc bạc bây giờ con nhổ tóc đen cho bố nhé!”.  Hoặc vừa đưa tay xoa xoa cái bụng bắt đầu phát tướng của bố vừa giở giọng người lớn: “Mỗi ngày bố phải ráng chạy bộ nửa tiếng, bớt hút thuốc, bớt uống bia...”. Bố nghe, cười tủm tỉm. Tôi thấy trong mắt bố bóng dáng hạnh phúc long lanh.

Thằng Phước và tôi, hai chị em nay kẻ ở miền đông người ở miền tây, thỉnh thoảng  có chuyện gì mới gọi điện thoại thăm hỏi. Ba bố con, mỗi người nay có đời sống riêng, ai cũng có việc để lo. Hai chị em, tương lai dệt gấm trước mắt, còn bố, bao nhiêu năm tận tuỵ với cuộc đời, tưởng chừng đã yên, nào ngờ, một tối mùa đông, đêm khuya  đang ngủ, chuông điện thoại reng tôi giật mình tỉnh giấc. Bên kia giọng hốt hoảng của bà Tâm báo tin bố bị ngất phải đưa vào bệnh viện. Tôi thay vội quần áo, lái xe thẳng xuống Oakland, vào thẳng nhà thương. Lúc thấy bố nằm yên trên giường bệnh, bao quanh trang bị máy móc, lần đầu tiên, hình ảnh bất lực, tuyệt vọng hiện rõ trên mặt bố. Tôi gạt nước mắt ngồi xuống, vuốt nhẹ những sợi tóc loà xoà trên trán bố, linh cảm những điều không may lại tìm đến ba bố con tôi.

Suốt đêm đó tôi thức trắng ngồi ở phòng đợi.  Chụp hình  thấy trong đầu bố có tumor, phải mổ. Sau khi mổ, bác sĩ báo tin bố bị ung thư màng óc, last stage, sống không qua một năm. Lúc ngồi đối diện nghe ông bác sĩ trình bày, tôi không ngờ mình bình tĩnh đến thế. Tôi còn nhớ rõ khuôn mặt ông bác sĩ, nếu là hoạ sĩ, tôi sẽ vẽ mặt ông không sai một nét. Tôi ngó quanh phòng ông làm việc, bảng tên Allan R, Bernstein MD mạ vàng đặt ngay ngắn trên bàn. Tôi đoán ông gốc Do Thái. Trên tường, ông treo nhiều tấm hình chụp vợ và hai đứa con. Cũng con gái đầu và con trai kế như gia đình tôi, nhưng chỉ khác, gia đình ông vẫn còn đầy đủ. Một gia đình giàu có, may mắn, hạnh phúc.

Rời phòng ông bác sĩ, tôi ra hành lang đứng ngó xuống bãi đậu xe bên kia đường. Tôi thấy buổi chiều dài mênh mông bất tận. Tôi đứng yên một hồi lâu rồi bỗng bật khóc nức nở. Tôi khóc to không gì ngăn cản được. Ông y tá đến dìu tôi vào phòng, lấy giấy lau nước mắt cho tôi, vỗ vễ an ủi. Tôi bỗng nhớ thứ năm tới sẽ là sinh nhật thứ hai mươi mốt của mình.

Tôi nghỉ luôn khoá học đó, dọn về nhà để chăm sóc bố. Bà Tâm bình thường là người dễ mến nếu được che chở, có bờ vai cho bà tựa. Giờ đây bố bệnh, trông bà như cái lá héo, buồn và than thở tối ngày. Tôi không trách, chỉ tội bà.

Dưới mắt tôi, bố giờ đây như đứa bé, tôi là mẹ, có bổn phận chăm sóc con. Tôi báo tin thằng Phước biết, nó bay qua ở gần bố vài ngày, tôi bảo nó trở lại trường, tôi lo được. Hai chị em không nói nhiều, thỉnh thoảng nó ôm vai tôi, xoa nhè nhẹ như thể dỗ dành an ủi tôi. Trước ngày đi, nó vào phòng chào bố, lúc bước ra, tôi thấy nó ngồi ôm mặt khóc. Trong đời tôi, hai lần chứng kiến đàn ông khóc. Lần đầu là bố của hơn mười năm trước, rạng sáng ba mươi tết ngồi khóc vợ. Và giờ đây thằng em tôi, cao to như tay chơi football nhà nghề, cũng đang ngồi khóc vì thấy mình hoàn toàn bất lực.

Mỗi tuần tôi chở bố vào nhà thương hai lần khám và mỗi chiều đưa bố ra công viên cạnh nhà ngồi hóng gió. Sáng trưa chiều tối tôi luôn túc trực cạnh bố. Những sinh hoạt riêng của tôi hoãn lại. Càng ngày, thời gian tỉnh táo của bố rút ngắn, thay thời gian hôn mê kéo dài. Thỉnh thoảng lúc tỉnh, bố yếu ớt cầm tay tôi bóp nhẹ, những lúc như thế, tôi biết bố yêu tôi ghê lắm. Phần thấy mình bất lực trước định mệnh, phần thương đứa con gái, từ nhỏ đã long đong bất hạnh về đường mẹ cha.

Tôi đứng ra xốc vác mọi chuyện từ trong ra ngoài. Khuôn mặt bà Tâm ngày càng héo rũ thảm hại. Tôi tránh ở cạnh bà, bởi thấy bà tôi thấy khó thở.

Những ngày cuối cùng của bố, bố hôn mê hẳn. Đứng nhìn bố, tôi nghĩ đó chỉ là cái xác, hồn đã lìa xa. Bác sĩ giữ bố luôn trong nhà thương. Sinh hoạt trong phạm vi nhà thương tôi dần dà quen thuộc. Y tá, nhân công lui tới săn sóc bố, tôi nắm giữ thời khoá biểu không thua họ. Căn phòng bố nằm, tường sơn trắng toát. Tượng Chúa gục  đầu trên thập tự giá treo đối diện mặt bố. Mỗi khi nhìn, tôi không khỏi thắc mắc, Chúa còn bị người ta đóng đinh đau đớn thế kia, chưa tự cứu được mình thì cứu được ai.

Cũng từ khung cửa sổ phòng này, mỗi chiều tôi đứng đợi đêm xuống. Mặt đường xe cộ ngược xuôi, cây dâu tây ngày một rụng lá, bãi đậu xe người tới người đi. Ngày tàn của đất trời bên ngoài lẫn ngày tàn của bố bên trong phòng bệnh. Tôi đứng yên, tính chuyện ra đi của bố phải thực hiện như thế nào, tìm hiểu nghi lễ đám tang, làm sao cho đúng nghi thức đưa tiễn một người về bên kia thế giới. Như người con gái chuẩn bị đám cưới. Từ áo, nhẫn, thiệp mời, tiệc nhà hàng, loại hoa cầm tay… đến honeymoon cùng người bạn đời. Còn tôi đây, một mình lo toan cái đám tang thật chu đáo cho bố. Tôi đọc báo, vào thư viện mượn sách tìm hiểu, coi quảng cáo đặt hoa đâu thì rẻ. Nên đốt hay chôn? Nhà quàn nào tiện đường nhất? Danh sách bạn của bố cần phải báo tin. Tôi thản nhiên thi hành công việc như công nhân làm việc cần mẫn, tinh thần trách nhiệm cao.

Một tối tôi vừa tắm xong, thân xác mỏi nhừ, bụng đau vì có kinh, uống hai viên midol, vào phòng nằm nghỉ rồi ngủ thiếp đi. Giữa đêm điện thoại reng, giọng bên kia điện thoại báo tin bố đã mất. Hai người sinh thành ra tôi, lúc chết không có tôi bên cạnh để vuốt mắt.

Đám tang bố cử hành chu đáo, đâu vào đấy. Những người bạn cũ, mới của bố hầu hết đều đến chào bố lần cuối. Những lẳng hoa, lời chia buồn, vỗ vai, hoặc vòng tay ôm. Hôm đấy tôi bận váy đen, cổ viền lace trắng rất đẹp. Tôi biết chung quanh có người nhìn tôi với ánh mắt thương hại lẫn thán phục bởi ít phần “tang gia bối rối xin được niệm tình tha thứ”. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết mình có khả năng tổ chức.

Lúc làm lễ hạ huyệt, tôi đứng lặng yên. Những hình ảnh nối đuôi đến với tôi như cuốn phim quay chậm. Từ cây ngọc lan thơm ngát bên hiên nhà cũ ở Qui Nhơn, khuôn mặt xương thuôn nhỏ của mẹ, những ngày cuối cùng chạy loạn rời Việt Nam, năm tháng đầu ở Mỹ, ngày đầu tiên đi học, đi làm ở McDonald… Những ngày vui cạnh bố. Những khuôn mặt người đàn bà đi qua đời bố. Ngày thằng Phước đánh lộn trong trường bị phạt tôi phải tìm cách giấu vì sợ bố buồn. Rồi những ngày bố bệnh nằm trong nhà thương đợi chết, cùng khung cửa sổ quen thuộc… Bố ra đi, để lại hai chị em tôi còn ở tuổi chưa chính thức bước chân ra với đời, còn chân trong chân ngoài.

Nhìn ụ đất trước mặt, tôi khẽ nói: “Thế là xong, bố đi thanh thản nhé!”

“… chìm dưới đất kia/ bàn chân nhỏ bé/ năm xưa, năm xưa/ cũng vui hội hè

chìm dưới đất kia/ bàn chân nhỏ bé/ năm nay, năm nay/ đã quên hội hè…”

-------------------------------

Thời gian ngắn sau ngày bố mất, bà Tâm dọn về ở với người con lớn. Thằng Phước trở qua Boston học tiếp. Căn nhà trả lại chủ. Tôi phải lo lấy đời tôi. Bố dặn trong hoàn cảnh nào cũng phải thương em, gắng học cho xong, và sống tận tình với cuộc đời dẫu vui tươi hay ngậm ngùi.

Tôi trở lại trường, mượn tiền và làm part-time tiếp tục việc học. Ngày ra trường tôi không khăn mũ áo quần xênh xang như những bạn cùng khoá. Với số tiền sắm sửa những thứ đó, tôi mua vé máy bay, qua chơi với thằng Phước một chuyến. Trước tự thưởng cho mình, kế đến muốn biết đời sống hư thực thằng em ra sao. Ngày còn bé, mẹ mất, tôi tủi thân khi nhìn những đứa bạn còn mẹ để được vỗ về nũng nịu. Ngày nay, tôi đã lớn, ngày ra trường tiếc không còn có bố mẹ để vui như là báo hiếu.

***

Bảy năm sau, tôi lập gia đình với người bản xứ. Anh tên Bill, dạy môn văn chương ở đại học. Anh hơn tôi đúng con giáp, đã một lần ly dị, chưa có con. Tôi quen Bill trong dịp đi phụ Tina tham dự buổi triển lãm hoa. Tina nhờ tôi trông hộ một lát để đi restroom. Tina vừa đi thì Bill đến mua bình hoa, và hỏi cách thức giữ hoa tươi lâu. Tôi trả lời không biết, phải đợi “chủ nó” trở lại. Trong khi chờ đợi, Bill và tôi trao đổi vài mẫu chuyện chẳng liên quan gì đến hoa. Bill nói tôi có đôi mắt đẹp và nụ cười dễ gây thiện cảm người đối diện (sau này đã thành vợ chồng, tôi khám phá đó là lần đầu anh khen người con gái lạ mới gặp). Giữa trời tháng tám nắng chang chang, Bill mặc t-shirt, quần đùi khaki phủ qua đầu gối, chân mang đôi dép da để lộ những ngón chân xương, trắng, dài, chụm với nhau… Những ngón chân, mới nhìn thoáng, tôi đã thấy Bill có những ngón chân giống hệt bố mình.

Bill đi nhiều, đọc nhiều. Anh hiểu, quý văn hoá Á đông. Tôi yêu anh một phần anh có cái nhìn bén nhạy và sâu sắc với những vấn đề xảy ra chung quanh với con tim rung động chân thật và kiến thức như hành trang cần thiết. Đồng thời, tôi gặp anh đúng thời điểm đang nghĩ mình nên settle down để có con.

Trước khi gật đầu làm vợ Bill, trong những năm dài con gái, tôi cũng có những tình nhân đến rồi đi. Steve, người Đài Loan qua Mỹ du học, tôi quen trong lớp Anh văn. Thân hơn một tí, tôi chịu không nổi “born again Christian” nơi Steve. Hai đứa chia tay. Mậu, dược sĩ, yêu tiền hơn yêu nghề, luôn than phiền đã chọn lầm nghề, phải chi hồi đó làm business, có tiền mua bất động sản, giờ giàu to. Gần anh, lắm lúc tôi nghĩ nếu anh “bị” đưa tiền và tình lên bàn cân, tôi nghĩ không chừng, độ nặng sẽ lệch bên tiền. Peter, kỹ sư điện tử, cao to đẹp trai, cặp mắt xanh sáng ngời. Ngoài tôi computer là bạn chí thân của anh. Nhiều giờ ngồi cạnh anh, tôi không hiểu anh nghĩ gì, muốn gì. Thằng Phước gặp Peter một lần, nó bảo nerd quá, em không hiểu sao chị chịu được!

Người mà thỉnh thoảng nằm cạnh chồng tôi còn chút vương vấn là Tuyên. Anh cao, gầy. Lúc trò chuyện, anh nói bằng miệng, mắt, đồng thời tay luôn nắm chặt, rồi xoè ra từng ngón, một, hai, ba… rất rõ ràng như muốn mình nói có sách mách có chứng. Tuyên rời Việt Nam năm hai mươi hai tuổi. Sau năm năm kinh nghiệm sống với cộng sản. Với anh, cộng sản không đội trời chung, vì đã đưa đất nước xuống tận cùng vực thẳm. Ở anh như có nam châm cuốn hút lấy tôi. Tuyên có lý tưởng, hăng say nồng nhiệt với trái tim tuổi trẻ chân thật. Tôi tôn trọng con đường anh lựa chọn. Nghĩ anh là người ưa bơi ngược dòng. Tuy nhiên, Tuyên yêu tôi và cũng quá yêu lý tưởng của anh. Anh nghĩ phải có bổn phận và trách nhiệm với quê hương, đồng bào. Rất nhiều lần, tôi “ganh tị” với lý tưởng của anh, bởi trong tim anh tôi chỉ là nhân vật phụ.  Giấc mơ đội đá vá trời quá ư mãnh liệt, “em thà như hơi rượu cay”. Có những hôm Tuyên đi vắng mấy ngày, tôi mù mịt chẳng biết anh đi đâu, tham dự biểu tình hay lo báo chí, hội họp… Tôi giận dỗi, anh năn nỉ. Tôi làm nư, anh để mặc. Có lúc hai đứa nằm cạnh nhau, anh vuốt dọc lưng tôi, giọng chắc nịch: “Mất một cái áo phải làm mấy tiếng để mua lại. Mất một cái xe phải làm ba năm để trả nợ. Mất một căn nhà phải làm ba mươi năm, huống chi mất cả đất nước”. Giáng sinh, bạn bè tổ chức party, tôi rủ anh đi, chẳng những không đi, anh còn nói: “Trong tiếng nhạc disco (nhạc thịnh hành thời đó) anh nghe có tiếng rên xiết của hơn sáu mươi triệu đồng bào đang đói khổ bên quê nhà”.

Tôi nghĩ anh là người đại lãng mạn, bởi luôn đi tìm cái đẹp, cái hay, cái tuyệt đối, cái không tưởng trong cuộc đời. Mà cuộc đời, tôi nghĩ, được tương đối cũng đã quá khó.

Nhưng có một điều sau khi xa Tuyên, mảnh đất hình cong chữ S bên kia bờ đại dương đậm nét trong tôi hơn. Nơi tôi đã ra đời, trải qua những năm thơ ấu, chỉ còn mù mờ con đường nhỏ đầy bụi từ nhà đến trường, căn nhà mái ngói đỏ có hàng dâm bụt phía trước, bên hiên nhà có cây ngọc lan đến mùa hoa nở thơm ngát, cùng dăm ba khuôn mặt con bạn tóc cắt ngắn hay bày trò chơi ô làng, nhảy dây, u mọi…

----------------------------------

Hè năm rồi thằng Phước về thăm Việt Nam cùng bạn gái. Trước khi đi, nó gọi điện thoại hỏi tôi muốn quà gì ở Việt Nam và cho biết sẽ đi Huế, sẵn dịp ghé Qui Nhơn. Tôi nói, nếu ghé Qui Nhơn nhớ chụp cái hình căn nhà cũ và nếu được, chụp luôn ngôi trường tiểu học.

Hơn tháng sau thằng Phước trở về, thay vì chụp hình như tôi dặn, nó gửi cuốn video quay cả hai nơi. Căn nhà tôi đã ở, bây giờ trông khác lạ. Hàng dâm bụt phía trước không còn nữa, thay vào đó là những hàng dây phơi áo quần. Nó nói chỉ được đứng ngoài coi thôi, chủ mới không cho vào. Kế đến là ngôi trường tiểu học, giờ trông thật tiêu điều thảm hại. Sân xi măng phía trước tụi tôi hay ngồi vẽ chơi ô làng, nhảy dây, lò cò… nay đã bị xoi mòn, cát đá lởm chởm. Hàng dương liễu bên hông trường cây gãy cây còn. Đám con nít ốm yếu, áo quần tả tơi chạy chơi vòng quanh sân. Nét thơ ngây mờ nhạt trên từng khuôn mắt. Thằng Phước đi lần ra phía sau trường, tôi nghe tiếng kêu thất thanh của nó cùng cái chao nghiêng của máy quay. Hình ảnh bãi cát vàng lốm đốm những chấm đen. Sân sau giờ biến thành cầu tiêu công cộng của đám học trò và dân cư quanh vùng ban đêm lén vào. Ông cai ngày trước vẫn còn, ông già quá tôi không nhận ra nếu không nghe lại giọng “nẫu” thân tình. Ông than với thằng Phước là dãy cầu tiêu bốn cái bên hông trường bị sụp cách đây hai năm, trường đang đợi tiền nhà nước sửa lại, nhưng không biết đến bao giờ, bọn nhỏ đành đi đỡ ở sân sau. Hôm nào không mệt thì ông đi lòng vòng xúc cứt đem chôn, mấy hôm nay mệt, ông để mặc.

Cuốn phim thằng Phước mang về làm tôi thức trắng đêm. Tôi tìm cách liên lạc người chú họ, trước kia dạy ở trường sư phạm Qui Nhơn. Tôi gửi chú số tiền nhờ chú đứng ra liên lạc với nhà trường sửa lại mấy cái cầu tiêu, và tráng lại sân xi măng cho mấy em chơi. Số tiền Bill và tôi dự trù đi nghỉ hè ở Âu Châu. Nhưng giờ đây, thay vì đi Âu Châu, chúng tôi đi cắm trại ở Yosemity park, cách Oakland bốn tiếng lái xe. Khi “thuyết phục” chồng điều tôi muốn sửa lại ngôi trường tiểu học cũ, tôi nói: “Con trai các anh, đứng đâu đái cũng được. Con gái bọn em, vừa nắng vừa nóng, lỡ bị nhiễm trùng thì rát, xót, đau lắm anh ạ”.

Chiều hôm nay là 30 tết. Tôi nhận được cuốn phim chú tôi gửi từ Việt Nam. Bill dạy chưa về. Tôi mở cuốn phim, ngồi coi một mình.

Phía trước trường đã có cái nền xi măng mới. Bên hông trường, bốn cái cầu tiêu vừa được sửa xong. Lòng tôi rộn ràng như nở hoa. Tôi gọi phone kể cho thằng Phước mà tự nghe giọng mình ríu rít nhưng tiếng chim kêu. Tuần tới, cộng đồng Việt Nam ở San José  sẽ tổ chức hội chợ tết, khá qui mô. Hàng chục ngàn người tham dự. Tôi định bụng sẽ mang áo dài gấm đỏ, đeo kiềng vàng đi hội chợ tết đầu năm cùng Bill.

Mùa xuân năm nay, mùa xuân đẹp và ý nghĩa nhất đời tôi, ở lứa tuổi ba mươi. Tôi bỗng thấy mình nhẹ như mây khói, cuộn bay cùng gió tận trời xanh. Lúc đưa tay gõ cửa thiên đường, lòng run vì hồi hộp, sung sướng bởi sắp gặp lại hình ảnh mẹ và bố đang ấu yếm ngồi cạnh nhau. Thấy tôi, cả hai nở nụ cười. Ôi! Nụ cười như tia nắng ấm của ngày đầu xuân.