Danh Ngôn

Người ta đã không bao giờ viết hay vẽ, điêu khắc, tạo mô hình, xây dựng, phát minh, nếu không phải để ra khỏi cảnh đời địa ngục.

No one has ever written or painted, sculpted, modelled, built, invented, except to get out of hell.

Antonin Artaud (1896-1948). “Van Gogh: The Man Suicided by Society,” 1947, Antonin Artaud Anthology, ed. Jack Hirschman, 1965

Cuộc phấn đấu của nhà nghệ sĩ nhằm vượt lên trên nỗi đau của chính mình có thể trở thành hạt mầm cho niềm hi vọng của nhiều người khác, biến đổi một hành trình cá nhân thành một viễn kiến cho tất cả chúng ta.

The artist’s struggle to transcend his pain can become the seed for many others’ hope, transforming an personal journey into a vision for us all.

Diane Cole. After Great Pain: A New Life Emerges, 7, 1992

Nghệ thuật thu hút chúng ta chỉ vì những gì nó tiết lộ vốn nằm trong bản ngã bí ẩn nhất của chúng ta.

Art attracts us only by what it reveals of our most secret self.

Jean Luc Godard (1930-). “What is Cinema?” Godard on Godard: Critical Writings, ed. Jean Narboni and Tom Milne, 1972

Danh hiệu người nghệ sĩ có ý nghĩa này: đấy là một người cảm thụ nhiều hơn người đồng loại và ghi lại nhiều hơn những điều anh ta đã chứng kiến.

That is what the title of artist means: one who perceives more than his fellows, and who records more than he has seen.

Edward G. Craig. “On the Art of the Theatre,” 1905

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Tiếng vọng từ Chernobyl (kỳ 19)

Svetlana Alexievich

T. Vấn dịch

Ba Mẩu Độc Thoại

Độc Thoại

_____________________________

Dàn Đồng Ca Trẻ Em

_____________________________

Alyosha Belskiy, 9 tuổi; Anya Bogush, 10 tuổi; Natasha Dvoretskaya, 16 tuổi; Lena Zhudro, 15 tuổi; Yura Zhuk, 15 tuổi; Olya Zvonak, 10 tuổi; Snezhana Zinevich, 16 tuổi; Ira Kudryacheva, 14 tuổi; Ylya Kasko, 11 tuổi; Vanya Kovarov, 12 tuổi; Vadim Karsnosolnyshko, 9 tuổi; Vasya Mikulich, 15 tuổi; Anton Nashivankin, 14 tuổi; Marat Tatartsev, 16 tuổi; Yulia Taraskina, 15 tuổi; Katya Shevchuk, 15 tuổi; Boris Shkirmankov, 16 tuổi.

nn

Lúc ấy, có một đám mây đen trên trời và mưa rất lớn. Những vũng nước đọng lại có màu vàng và xanh, giống như có ai đổ sơn vào đó. Người ta bảo đó là do bụi bay ra từ hoa. Bà cháu bắt tất cả chúng cháu phải ở dưới hầm. Rồi bà quỳ xuống, cầu nguyện. Bà cũng chỉ cho chúng cháu cầu nguyện theo bà. “Các con hãy cầu nguyện đi. Tận thế đến rồi. Chúa đang trừng phạt tội lỗi của con người.”. Anh trai cháu 8 tuổi, còn cháu được 6 tuổi. Thế là chúng cháu cố nhớ lại những tội của mình. Anh cháu có tội làm vỡ cái hũ thủy tinh đựng mứt mâm xôi. Còn cháu thì đã không nói với mẹ cháu rằng cháu đã để vướng áo đầm vào hàng rào nên nó bị rách. Cháu đã giấu nó ở trong tủ quần áo.

*

Mấy người lính đi xe hơi đến bắt chúng cháu phải tập họp lại. Cháu tưởng lại có chiến tranh nữa rồi. Họ nói những chữ như : “Giảm mức độ nhiễm xạ,” “Chất đồng vị,”. Có người lính đuổi theo một con mèo. Cái máy đo độ phóng xạ đang dùng để kiểm tra con mèo tự động phát ra những âm thanh : Click, click. Cùng lúc đó, một bé trai và một bé gái cũng đuổi theo con mèo ấy nữa. Cậu bé trai thì có vẻ bình tĩnh, nhưng bé gái cứ khóc, kêu: “Em không để cho nó bị bắt đâu!”. Rồi la lên với con mèo: “Chạy đi! Chạy đi mèo nhỏ!”. Nhưng người lính có mang theo một cái bao nhựa rất lớn.

*

Cháu có nghe – người lớn nói chuyện với nhau – bà cháu cứ tỉ tê khóc – rằng từ cái năm cháu được sinh ra (1986), trong làng không có thêm một bé trai hay gái nào ra đời nữa. Cháu là đứa duy nhất sinh ra từ ngày đó. Các bác sĩ bảo cháu không thể để cho được ra đời. Nhưng mẹ cháu bỏ chạy khỏi bệnh viện và trốn ở nhà của bà ngoại cháu. Vậy là cháu được sinh ra ở đó. Cháu nghe người lớn nói chuyện với nhau như vậy.

Cháu không có anh, chị hay em gì hết. Cháu rất muốn có một người.

Thưa bà, xin nói cho cháu biết, sao cháu lại không thể ra đời được? nếu vậy thì cháu sẽ ở đâu? Ở cao tít trên trời? hay cháu ở một hành tinh khác?

*

Ngay năm đầu tiên sau khi vụ nổ xẩy ra, không còn con chim se sẻ nào trong thành phố của chúng cháu nữa. Chúng nằm chết lăn lóc khắp nơi – trong vườn, trên mặt nền xi măng. Người ta cào gom xác chúng lại cùng với những lớp lá khô rồi bỏ vào những chiếc thùng đậy nắp kín đem đi. Năm đó, dân chúng không được phép đốt lá vì chúng đã bị nhiễm xạ, nên phải đào hố chôn.

Hai năm sau chim se sẻ lại quay về. Chúng cháu mừng quá sức, gọi nhau ơi ới : “Hôm qua tao có thấy một con chim sẻ. Chúng về rồi!”.

Đám sâu tháng 5 cũng biến mất, cho đến nay không thấy quay lại nữa. Có lẽ phải đến một trăm năm sau, hay một ngàn năm nữa chúng mới xuất hiện ở đây. Các thầy cô của chúng cháu bảo thế. Cháu sẽ không thấy con sâu nào cả.

*

Ngày mùng 1 tháng 9, ngày đầu tiên của niên học, chung quanh không có một bông hoa nào. Hoa đã bị nhiễm phóng xạ hết rồi. Trước khi năm học bắt đầu, cũng như mọi khi, có nhiều người làm việc trong mùa hè. Nhưng năm nay, không phải là thợ xây dựng mà là lính. Họ cầy bỏ hết các vườn hoa, cạo đi từng lớp đất, rồi bỏ vào xe thùng chở đi.

Trong khoảng một năm, người ta đã di tản tất cả những học sinh chúng cháu đi và chôn bỏ ngôi làng. Bố cháu là tài xế tắc xi nên đã đến đó chứng kiến và về kể lại cho chúng cháu nghe. Đầu tiên là người ta đào một cái hố thật lớn sâu xuống dưới đất, quãng độ 5 mét. Kế đó là những người lính cứu hỏa mang vòi rồng đến xịt nước rửa toàn bộ những ngôi nhà từ mái xuống cho đến nền để không còn một hạt bụi phóng xạ nào còn bám vào. Sau đó, xe cần cẩu đến kéo sập những căn nhà ấy rồi đem xác nhà về chôn ở những chiếc hố lớn đào sẵn.Vương vãi khắp nơi là những con búp bê, sách vở, lon hộp. Mấy chiếc máy xúc sẽ thu dọn hết rồi bỏ vào hố, sau đó phủ lên trên một lớp cát và đất sét. Thế là chỗ trước đây là làng mạc, bây giờ chỉ là những cánh đồng trống. Người ta gieo hạt bắp trên những cánh đồng trống ấy. Ở phía dưới, là nhà của chúng cháu, trường học của chúng cháu, phòng họp của làng chúng cháu. Có cả những cây tự tay cháu trồng, với hai tập tem cháu sưu tập được. Cháu đã hy vọng mình có thể mang theo được những thứ ấy. Và ở đó, cháu còn chiếc xe đạp nữa.

*

Cháu 12 tuổi và cháu bị tàn tật. Ông đưa thư đem đến nhà cháu hai tờ ngân phiếu trợ cấp mỗi tháng– một cái cho cháu và cái kia cho ông cháu. Khi mấy đứa con gái trong lớp cháu chúng biết cháu bị bệnh ung thư máu thì không đứa nào dám ngồi gần cháu nữa. Chúng sợ không dám chạm vào người cháu.

Các bác sĩ bảo cháu bị bệnh là do bố cháu đã từng làm việc ở Chernobyl. Rồi sau đó, bố mẹ cháu sinh cháu. Cháu thương bố cháu lắm.

*

Người ta đến tìm bố cháu vào ban đêm. Cháu đang còn ngủ nên không biết bố cháu đang thu xếp quần áo để ra đi. Buổi sáng khi cháu thức dậy, thấy mẹ cháu khóc. Mẹ cháu bảo : “Bố con hiện đang ở Chernobyl!”.

Gia đình cháu chờ bố cháu về như trông chờ người trở về từ chiến trường.

Rồi bố cháu được về và tiếp tục đi làm lại ở hãng. Bố cháu không nói cho chúng cháu biết gì cả. Ở trường, cháu khoe với bạn bè rằng bố tôi vừa từ Chernobyl trở về, ở đấy bố tôi là Thanh Lý Viên, tức là những người góp tay dọn dẹp làm sạch sẽ nơi vừa xẩy ra một tai nạn, thế nên những Thanh Lý Viên là những anh hùng dân tộc. Mấy bạn cháu đứa nào cũng tỏ vẻ ganh tị.

Một năm sau, bố cháu bị bệnh.

Hai bố con đi bách bộ trong khuôn viên bệnh viện – sau lần thứ hai bố cháu phải qua giải phẫu – và cũng là lần đầu tiên bố nói với cháu về Chernobyl.

Nhóm của bố cháu được phân công làm việc ở sát ngay bên lò phản ứng nơi phát nổ. Bố cháu nói, lúc ấy, khung cảnh ở đó rất yên tĩnh, an bình và tuyệt đẹp. Trong lúc nhóm của bố cháu làm việc, thì chung quanh có nhiều việc xẩy ra. Các khu vườn tược trong làng đang vào thời kỳ nở rộ. Mùa màng này cho ai? Dân làng đã bỏ đi hết rồi. Những thứ họ bỏ lại là những thứ nhóm của bố cháu có bổn phận phải “tẩy rửa”. Lớp đất trên mặt bị nhiễm rất nặng các chất phóng xạ được nhóm bố cháu cào đi bằng sạch, sau đó họ còn phải xịt rửa cả các mái nhà. Dù vậy, chỉ hôm sau thôi là khi đem máy đo phóng xạ ra kiểm tra lại máy nó vẫn phát ra những âm thanh click, click, chứng tỏ chất phóng xạ vẫn còn hiện hữu.

“Khi cho bọn bố trở về nhà, họ bắt tay mỗi người và trao bằng Tưởng lục ghi nhận tinh thần hy sinh quên mình cho bọn bố.”. Bố cháu còn kể đi kể lại nhiều lần nữa. Lần cuối cùng khi từ bệnh viện trở về, bố cháu nói với gia đình : “nếu bố qua khỏi, bố sẽ không bao giờ làm việc gì liên quan đến Vật lý, đến Hoá chất nữa. Bố sẽ nghỉ việc ở hãng. Bố muốn làm một người chăn cừu.”. Bây giờ thì hai mẹ con cháu sống một mình. Cháu sẽ không theo học ngành kỹ thuật, dù mẹ cháu rất muốn cháu học ngành này. Đó là ngành bố cháu trước đây đã theo học.

*

Cháu đã từng làm thơ. Hồi đó cháu đang yêu một cô gái, hồi học lớp 5 ấy mà. Thế rồi, khi lên lớp 7, cháu đã hiểu thế nào là sự chết.

Cháu đọc trong thơ của Garcia Lorca : “Cái rễ đen ngòm của những tiếng kêu khóc”. Cháu bắt đầu có ý định học bay. Cháu không thích trò chơi này lắm, nhưng mà nếu không thì làm gì cháu không biết.

Cháu có một đứa bạn. Tên nó là Andrei. Sau hai lần bị giải phẫu, nó được người ta cho về nhà, để chờ lần giải phẫu thứ ba. Sáu tháng sau, khi đến lúc phải trở lại bệnh viện để giải phẫu, nó lấy dây lưng quần treo cổ tự tử, khi các bạn của nó đang ở trong giờ học thể dục. Các bác sĩ trước đó đã dặn nó không được chạy hoặc nhẩy.

Yulia, Katya, Vadim, Oksana, Oleg, và giờ thì tới phiên Andrei.

Andrei có nói :“Bọn mình sẽ chết, và sau đó sẽ trở thành khoa học.”.

Katya cũng nói : “Chúng mình sẽ chết và mọi người sẽ không ai nhớ đến chúng mình nữa.”.

Còn Oksana thì nói : “Khi mình chết, đừng có chôn mình ngoài nghĩa địa nhé! Mình sợ nghĩa địa lắm, vì ngoài đó chỉ có người chết và lũ quạ mà thôi.”.

Yulia thì cứ khóc rồi bảo : “Chôn mình ở cánh đồng vậy!”.

Với cháu bây giờ, thì bầu trời trên cao kia là lẽ sống của cháu, vì các bạn của cháu hiện đã ở trên đó hết rồi.

Tiếng lòng

của một mảnh hồn cô độc

_____________________________

Cách đây không lâu, tôi đã là một người rất hạnh phúc. Tại sao ư? tôi đã quên mất rồi. Giờ thì tôi có cảm tưởng mình đang sống một cuộc sống khác. Thậm chí tôi còn không hiểu, không biết làm thế nào mà tôi lại có thể bắt đầu lại cuộc sống của mình một lần nữa. Lòng ham muốn được sống mà. Nhưng hãy trông tôi đây này. Tôi cười, tôi nói. Lòng tôi đang rạn vỡ từng mảnh. Toàn thân tôi dường tê liệt. Tôi rất muốn được chuyện trò với ai đó, nhưng không phải với con người. Tôi sẽ vào nhà thờ, ở đó rất yên tĩnh, giống như trên những ngọn đồi. Không gian yên tĩnh đến độ mình có thể quên hẳn cuộc sống hiện tại của chính mình. Nhưng, vào mỗi buổi sáng, thức dậy, bàn tay tôi sờ soạng quanh mình – Anh ấy đâu rồi? Cái gối của anh ấy vẫn còn đây, mùi cơ thể anh ấy vẫn còn vương vất quanh quẩn. Ngoài kia có con chim nhỏ bé đang nhẩy qua nhẩy lại trên tấm mành cửa sổ kêu ríu rít những âm thanh nhẹ nhàng như tiếng chuông làm tôi thức giấc. Tôi chưa bao giờ nghe thấy cái âm thanh ấy, tiếng kêu ấy. Anh ấy đâu rồi? Tôi không thể nhớ được gì, nói được gì về tất cả những chuyện đã xẩy ra. Tôi còn không hiểu được làm sao mà mình có thể sống sót đến hôm nay. Buổi chiều, con gái tôi bảo mẹ : “mẹ, con đã làm xong bài tập hôm nay rồi.”. Đó là lúc tôi nhớ lại mình đã có con cái. Nhưng mà anh ấy đâu rồi? “mẹ ơi, cái áo của con đứt cúc rồi. Mẹ giúp con khâu lại được không?”. Làm sao tôi có thể đi theo anh ấy, đoàn tụ với anh ấy? Tôi nhắm mắt lại, nghĩ đến anh ấy cho đến khi thiếp ngủ đi. Anh ấy hiện ra trong giấc ngủ của tôi, nhưng nhanh qúa, như những ánh chớp loé lên rồi tắt. Rồi anh biến mất hẳn. Tôi vẫn còn nghe được tiếng bước chân anh quen thuộc. Nhưng anh ấy đi đâu thế nhỉ? Đi đâu vậy? Anh ấy hoàn toàn không muốn chết. Anh nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi ngước lên nhìn bầu trời. Tôi kê một cái gối dưới đầu anh, rồi hai cái gối, rồi cái thứ ba. Để anh ấy có thể ngước cao hơn nữa. Anh ấy chết đã lâu lắm rồi. Cả năm nay rồi. Chúng tôi không thể nào sống cách xa nhau được. {Chị im lặng một lúc thật lâu}.

Ồ không, bà không phải lo lắng, tôi sẽ không khóc nữa đâu. Tôi muốn được tiếp tục trò chuyện mà. Tôi không thể tự đánh lừa mình rằng đã không thể nhớ được điều gì, như nhiều người khác đã làm. Như một người bạn của tôi đã làm. Chồng tôi và chồng chị ấy chết cùng năm. Cả hai đã ở Chernobyl với nhau. Vậy mà giờ thì chị ấy đang chuẩn bị tái giá. Tôi không hề có ý định buộc tội bạn mình - Cuộc sống thì như vậy mà. Người ta cần phải sinh tồn. Chị ấy còn con nhỏ.

Anh ấy đi Chernobyl ngay vào hôm sinh nhật của tôi. Chúng tôi có mời bạn bè đến. Tại bàn tiệc, anh ấy xin lỗi mọi người. Rồi hôn tôi từ biệt. Ngoài cửa, đã có chiếc xe nổ máy chờ anh ấy bước lên.

Hôm đó là ngày 19 tháng 10 năm 1986. Ngày sinh nhật của tôi. Anh ấy là một công nhân xây dựng, đã từng đi công tác gần như khắp các nước thuộc khối liên bang Xô Viết. Tôi ở nhà chờ chồng về. Cứ thế, chúng tôi sống qua bao nhiêu năm – như những con chim nhỏ. Chúng tôi chia tay, rồi chúng tôi lại đoàn tụ. Nhưng, lần này – một nỗi sợ hãi kỳ lạ thoáng đến với mẹ tôi, mẹ của anh ấy, và cả hai chúng tôi nữa, nhưng chúng tôi đã không để ý đến. Tại sao lúc ấy chúng tôi không để ý đến điều ấy nhỉ? Chúng tôi biết nơi anh ấy sẽ đến. Lẽ ra tôi có thể qua nhà cậu bé hàng xóm, mượn quyển sách giáo khoa Vật lý lớp 10 của cậu và lật ra coi. Anh ấy thậm chí không đội mũ. Tất cả những người đi cùng với anh ấy rụng hết tóc sau một năm, nhưng riêng anh tóc lại mọc rất rậm, như bờm của con ngựa. Giờ thì chẳng còn ai trong số những người ấy sống sót cả. Nguyên nhóm của anh ấy, cả thẩy 7 người, đều đã chết. Khi còn rất trẻ. Người này nối đuôi theo người kia. Người thứ nhất chết sau 3 năm trở về từ Chernobyl. Chúng tôi bảo: chỉ ngẫu nhiên thôi mà. Số phận ai người ấy chịu. Rồi đến người thứ hai, người thứ ba, người thứ bốn. Những người còn lại bắt đầu chờ đến lượt mình. Đấy, họ sống như thế đấy. Chồng tôi là người chết sau cùng. Anh ấy luôn làm việc ở trên cao. Nhiệm vụ của anh là tắt những công tắc điện ở những ngôi làng dân chúng đã di tản, leo lên những cột điện vắt qua những căn nhà chết, những cây chết, lúc nào anh cũng ở trên cao. Anh ấy cao gần hai mét, nặng gần 90 kí lô – liệu có ai giết nổi anh ấy? {Bỗng nhiên, chị cười mỉm}.

Ôi, lúc ấy tôi hạnh phúc biết bao – khi anh trở về. Chúng tôi mở tiệc. Chúng tôi luôn tổ chức tiệc mỗi khi anh ấy đi xa trở về. Tôi có cái áo đầm ngủ dài, rất đẹp, đêm ấy tôi mặc nó. Tôi vốn thích loại đồ lót mắc tiền, nên những thứ tôi có đều rất xinh xắn, nhưng chiếc áo đầm ngủ này thì đặc biệt – chỉ để dành cho những dịp đặc biệt. Như đêm đầu tiên mỗi khi anh ấy đi xa về. Tôi thuộc lòng từng đường nét trên cơ thể chồng tôi, không sót một chỗ nào. Chỗ nào tôi cũng đã từng hôn hít. Có khi tôi mơ thấy mình là một phần thân thể của chồng tôi, phần không thể nào tách rời được. Thế nên, mỗi lần anh ấy đi xa, tôi cảm thấy nhớ nhung, nỗi nhớ làm thân thể tôi trở nên đau đớn, khó chịu. Thế nên, mỗi lần chúng tôi chia tay, tôi phải mất một thời gian ngơ ngơ ngác ngác, thậm chí không nhớ con đường nhà mình ở, không nhớ đến cả thời gian đang trôi qua.

Khi anh ấy từ Chernobyl trở về, trên cơ thể nổi lên nhiều hạch. Chúng tuy rất nhỏ, nhưng tôi nghe được chúng qua môi của mình. Tôi bảo : “Anh sẽ phải đi bác sĩ khám xem sao anh nhỉ?”. Nhưng anh ấy trấn an tôi : “Rồi chúng sẽ biến mất thôi.” “Ở Chernobyl tình hình như thế nào?” “Chỉ là những công việc bình thường thôi.” Không ra vẻ can đảm, cũng không tỏ nét hoảng sợ. Tôi moi được chỉ duy nhất một điều từ anh ấy : “Ở đây thế nào thì ở đó cũng vậy.”. Trong nhà ăn, ở tầng một dành cho các công nhân bình thường, thì thức ăn là mì và các lọai thực phẩm đóng hộp khác. Còn ở tầng hai dành cho các quan chức và các tướng lãnh thì người ta phục vụ trái cây tươi, rượu vang đỏ, nước khoáng đóng chai. Ở tầng trên thì bàn ăn phủ khăn sạch, và mỗi người đều có một cái máy đo độ nhiễm xạ. Trong khi đó thì cả một trung đoàn công nhân bình thường cũng không được cấp một cái máy đo.

Ôi, lúc ấy tôi hạnh phúc biết bao! Chúng tôi vẫn còn cùng nhau đi tắm biển. Biển cũng như bầu trời, chỗ nào cũng có biển. Cô bạn tôi cũng đã đi biển với chồng của mình. Cô ấy bảo biển bẩn quá – “Bọn mình sợ bị dịch tả.”. Quả đúng là lúc ấy báo chí có nói về việc đó. Nhưng tôi lại chỉ nhớ những gì tốt đẹp đã xẩy ra với tôi. Tôi nhớ chỗ nào cũng có biển, như bầu trời vậy. Trên xanh, dưới cũng xanh. Và tôi luôn có anh ấy bên cạnh.

Tôi sinh ra chỉ để yêu. Ở trường tôi, bọn con gái đứa nào cũng mơ ước vào đại học, hoặc được tham dự các chuyến đi dã ngoại của đoàn thanh niên Cộng Sản. Riêng tôi, tôi chỉ mơ ước được lấy chồng. Tôi muốn được yêu thương một ai đó, yêu thương một cách mãnh liệt, giống như Natasha Rostov (1). Chỉ yêu thôi. Nhưng tôi phải giữ kín mơ ước của mình. Vì lúc ấy chúng tôi chỉ được phép mơ ước tham dự những chuyến đi công tác với đoàn thanh niên mà thôi. Người ta dạy chúng tôi thế. Mọi người xếp hàng để ghi tên đi Siberia, đi vào những khu rừng rậm chưa có người bước chân đến. Tôi còn nhớ một bài hát thông dụng hồi ấy : “Vượt qua sương mù và bay trên hương rừng taiga”. Năm thứ nhất khi vừa tốt nghiệp trung học, tôi không vào đại học được vì bài thi không đủ điểm. Tôi đi làm ở trạm thông tin. Chính ở đây tôi gặp anh ấy. Tôi tự mình đến van xin anh : “Hãy cưới em đi, em yêu anh nhiều lắm!”. Tình yêu anh ấy đã choáng ngợp cả người tôi đến tận mang tai. Đó là một chàng thanh niên vô cùng điển trai. Tôi như lâng lâng trên chín tầng trời. Tôi đã tự mình van vỉ : “hãy cưới em đi anh!”. {Mỉm cười}.

Có lúc tôi suy nghĩ đến cái chết của chồng và tìm cách để tự làm mình phấn khởi yêu đời hơn – những ý nghĩ chẳng hạn như, có thể chết không phải là chấm hết mọi chuyện, và anh ấy chỉ biến hình cách nào đó và sống trong một thế giới khác. Hiện tôi đang làm việc ở một thư viện, có dịp đọc rất nhiều sách và gặp gỡ nhiều người khác nhau. Tôi chỉ muốn bàn luận về cái chết, để có thể hiểu được nó. Tôi muốn tìm sự an ủi. Nếu những quyển sách, những bài báo, nói về cái chết, tôi sẽ đọc. Nếu một cuốn phim, một vở kịch, có đề tài về sự chết, tôi sẽ đi xem. Sống không có anh ấy, thân xác tôi dằn vặt đau đớn – Tôi không chịu được nỗi cô đơn.

Anh ấy không muốn đi khám bác sĩ. “Anh có nghe thấy gì đâu. Cũng không cảm thấy đau đớn chút nào cả!”. Nhưng những cục hạch đã lớn gần bằng quả trứng. Tôi kéo chồng tôi ra xe đến bệnh viện. Họ đề nghị chúng tôi gặp một bác sĩ chuyên khoa về ung thư. Vị bác sĩ nhìn chồng tôi, rồi gọi với qua một bác sĩ khác : “Này, mình có thêm một người về từ Chernobyl đây này.”. Sau đó, người ta không cho anh ấy về nhà. Tuần kế tiếp, họ làm giải phẫu để cắt bỏ tuyến giáp ở cổ và thanh quản rồi đút vào trong cổ anh ấy những ống nghiệm. Đúng rồi . . . {cô ta im lặng}. Phải rồi. Giờ thì tôi biết đó là những khoảng thời gian hạnh phúc. Trời ơi! tôi nhớ lại những việc tôi tự bắt mình phải làm – chạy từ cửa hàng này sang cửa hàng khác tìm mua quà cáp cho các bác sĩ, những hộp kẹo chocolate, những chai rượu nhập cảng. Tôi biếu chocolate cho các y tá nữa. Họ sẵn lòng nhận quà. Còn anh ấy thì cười nhạo tôi : “Thấy chưa, họ đâu có phải là thần thánh. Không có kẹo thì họ cũng vẫn cho chạy chemo, chiếu điện cho anh đấy!”. Nhưng tôi vẫn sục sạo sang cả phía bên kia thành phố để tìm mua bánh cake phủ kem hoặc nước hoa nhập từ Pháp. Thời buổi ấy bà không thể nào mua được những thứ đó nếu bà không quen biết một ai vì chúng không bao giờ được bầy ra trên các kệ hàng. Đó là những gì xẩy ra trước khi anh ấy được cho về.

Rồi thì họ cũng cho chồng tôi về nhà. Bác sĩ đưa cho tôi một cây kim đặc biệt và hướng dẫn cách sử dụng. Nhiệm vụ của tôi là cho anh ấy ăn uống qua cái kim đặc biệt ấy. Tôi phải học để tự tay làm mọi thứ cho chồng. Một ngày bốn lần, tôi nấu thức ăn tươi – tất cả thực phẩm phải còn tươi – xong cho vào máy xay thịt nghiền nát, rồi dùng một vật có chức năng như cái phễu để rót thứ chất lỏng thực phẩm ấy vào cây kim. Tôi cho đầu kim vào cái ống nghiệm lớn nhất, bơm thức ăn qua ống nghiệm để nó chảy xuống tới bao tử của chồng. Nhưng đến lúc ấy thì anh ấy không còn cảm giác gì gì nữa. Tôi hỏi : “Anh thấy nó ra sao?”. Chồng tôi không còn biết nó có vị gì nữa.

Chúng tôi cũng có vài lần đi xem phim chung. Trong rạp, chúng tôi hôn nhau. Hạnh phúc của vợ chồng tôi lúc ấy như được treo bằng một sợi chỉ rất mong manh, nhưng chúng tôi tưởng cuộc sống đã lại quay về như ngày xưa. Chúng tôi tránh né không nói gì về Chernobyl, cố không nhớ gì về nó. Đó là một đề tài bị nghiêm cấm. Tôi không để anh ấy trả lời điện thoại, nếu có tôi cũng tìm cách cắt ngang. Tất cả những người cùng làm việc ở Chernobyl với chồng tôi đều đã lần lượt qua đời. Đó là một đề tài bị nghiêm cấm. Thế rồi, một buổi sáng, tôi đánh thức anh ấy dậy đưa cho chiếc áo choàng mặc ngoài, nhưng anh ấy không thể tự mình ra khỏi giường được nữa. Cũng không nói được thêm lời nào. Chồng tôi đã mất khả năng nói. Đôi mắt anh ấy mở trừng trừng. Đó là dấu hiệu anh sợ hãi tột cùng. Phải rồi . . . {Cô ấy lại im lặng}.

Sau đó thì chúng tôi chỉ còn được một năm. Trong suốt năm cuối cùng ấy, chồng tôi tiến gần đến cái chết từng ngày một. Mỗi ngày qua đi, sức khỏe chồng tôi thêm suy nhược, và anh không biết rằng các bạn mình cũng đang sắp sửa ra đi như mình. Cuộc sống của chúng tôi những ngày tháng ấy là như thế, chúng tôi phải chịu đựng nó, phải chịu đựng điều không thể chịu đựng. Bởi vì chúng tôi không biết sự mình phải chịu đựng là gì. Người ta nói: “Chernobyl”, người ta viết : “Chernobyl”, nhưng không biết được nó có ý nghĩa gì. Có cái gì đó thật đáng sợ mở ra trước mặt chúng tôi. Chúng tôi khác biệt nhau về nhiều thứ : chúng tôi sinh ra không giống nhau, chết đi cũng không giống nhau. Nếu bà hỏi tôi, sau biến cố Chernobyl người ta chết như thế nào? Con người mà tôi yêu thương hơn bất cứ ai trên cõi đời này, yêu thương đến nỗi không thể nào yêu thương hơn được nữa dù cho tôi có đẻ ra người ấy – đã biến thành một con quỷ ngay trước mắt tôi. Người ta đã cắt bỏ đi những cục hạch, nên máu lưu thông trong cơ thể bị đứt đoạn. Và rồi mũi của anh ấy như bị méo đi, sưng to gấp 3 lần bình thường. Mắt anh ấy cũng khác, dường như chúng nhìn về hai hướng khác nhau, thêm một thứ ánh sáng lạ lùng chiếu trong đó, với những biểu lộ mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Như thể chồng tôi không còn là mình nữa, mà là một người khác từ trong đó nhìn ra. Rồi từ từ, một mắt đã khép lại vĩnh viễn.

Khi ấy, điều gì làm tôi sợ nhất? Tôi sợ chồng tôi nhìn thấy được chính hình hài của mình. Anh ấy yêu cầu tôi, bằng cách dùng tay ra dấu, hãy đem đến cho anh tấm gương. Tôi chỉ biết bỏ vào bếp, như thể tôi đã quên yêu cầu của chồng, hay giả vờ như không nghe, không thấy, không biết. Tôi chỉ lừa được chồng có hai ngày. Ngày thứ ba, anh ấy viết trên quyển sổ bằng nét chữ khổ lớn và ba dấu chấm than : “Đem gương đến đây!!!”.Chúng quanh anh ấy có đủ giấy, bút chì, bút mực, để chúng tôi có thể chuyện trò với nhau, vì anh ấy thậm chí không thể nói ra thành lời, dù chỉ thì thầm. Anh ấy đã hoàn toàn mất tiếng. Tôi lại chạy vào bếp, khua nồi khua chảo loảng xỏang, làm như tôi không đọc được chữ viết của anh ấy, hay không hiểu anh ấy muốn gì. Chồng tôi lại viết nữa : “Đem gương đến đây !!!”.

Với những dấu chấm than rõ ràng.

Vậy là tôi phải mang gương đến cho anh ấy, cái gương nhỏ nhất. Chồng tôi nhìn mặt mình trong gương, rồi hai tay anh ấy ôm lấy đầu, liên tục đập mạnh xuống giường. Tôi tìm cách an ủi chồng – “ngay khi anh khỏe hơn một chút, chúng mình sẽ về quê, về một nơi không còn ai ở đó. Chúng mình sẽ mua một căn nhà nhỏ để sống ở đó, nếu anh không muốn sống ở thành thị đông người. Mình chỉ sống với mình thôi anh nhé!”. Tôi nói thật đấy. Tôi sẵn sàng đi với anh ấy đến cùng trời cuối đất, bất cứ nơi nào chồng tôi muốn. Với tôi, anh ấy là tất cả. Tôi nói thật đấy.

Tôi sẽ cố để không nhớ những gì tôi không muốn nhớ. Nhưng mọi chuyện đã xẩy ra rồi. Tôi bắt đầu nhìn xa hơn thực tại này, có thể xa hơn cả sự chết. {Ngừng nói}.

Ngày ấy, khi mới gặp nhau, tôi 16 tuổi, còn anh ấy lớn hơn tôi 7 tuổi. Chúng tôi hẹn hò với nhau trong 2 năm. Tôi đã yêu vô cùng con đường Volodarkoro ở thành phố Minsk, chỗ gần nhà bưu điện, ngay phía dưới cái đồng hồ thật lớn là nơi thường xuyên gặp gỡ của chúng tôi. Nhà tôi ở sát khu kỹ nghệ tệ nhất thành phố, nên mỗi ngày tôi leo lên chiếc xe bus số 5. Xe không ngừng gần nhà bưu điện mà đi xa hơn một quãng tới chỗ tiệm bán quần áo trẻ con. Tôi luôn luôn cố ý đi trễ để khi lên xe bus, anh ấy đã có mặt ở đó rồi, với ý tưởng trong đầu là một chàng thật đẹp trai đang ngồi đợi mình. Trong hai năm trời hò hẹn ấy, tôi chẳng còn để ý thứ gì khác, không cần biết thời gian là mùa đông hay mùa hè. Chúng tôi đi xem nhạc, đi xem Edit Piekha (2), ca sĩ tôi mê nhất. Chúng tôi không bao giờ đi khiêu vũ vì anh ấy không biết nhẩy. Chúng tôi hôn nhau, chỉ hôn nhau thôi. Anh ấy gọi tôi “bé của anh”. Ngày sinh nhật tôi, chính là ở ngày sinh nhật của tôi, tuy hơi kỳ lạ, nhưng những gì quan trọng nhất đời tôi đều xẩy ra vào ngày ấy, dù tôi cố không tin rằng số phận đã định như vậy. Hôm ấy, tôi chờ anh ấy ở dưới chiếc đồng hồ lớn. Chúng tôi hẹn gặp nhau lúc 5 giờ. Đến 6 giờ, vẫn không thấy bóng dáng của anh ấy, tôi bồn chồn xao xuyến, nước mắt đoanh tròng tôi bước qua đường đi lang thang về phía trạm xe bus. Bỗng nhiên tôi cảm thấy một điều gì khiến tôi phải nhìn quanh – Kìa, anh ấy đang đuổi theo tôi, bất chấp đèn đỏ băng qua đường, trên người vẫn còn nguyên bộ quần áo và đôi ủng mặc đi làm. Tôi thích nhìn anh ấy trong bộ trang phục đi làm, hay lúc anh khoác chiếc áo ngoài của thợ săn, bên trong là áo sơ mi của thủy thủ - mà dường như anh ấy mặc gì cũng đẹp. Chúng tôi về nhà anh ấy để anh thay quần áo, và sau đó quyết định mừng sinh nhật của tôi tại một nhà hàng. Nhưng lúc ấy là buổi chiều, nhà hàng nào cũng đông, muốn có chỗ ngồi phải biết hối lộ người quản lý. Nhưng cả hai chúng tôi không ai biết phải làm như vậy.

Anh ấy bảo tôi : “Thế này nhé, mình sẽ mua chai sâm banh, cái bánh sinh nhật rồi vào công viên bày ra mừng sinh nhật em ở đó.”. Chúng tôi ngồi dưới những vì sao, dưới bầu trời mênh mông. Anh ấy là như vậy đấy. Cứ thế, chúng tôi ngồi bên nhau ở công viên Gorky cho đến sáng. Sau đó, chưa bao giờ tôi được hưởng một ngày sinh nhật như thế. Đó cũng là khi tôi nói với anh ấy : “Hãy cưới em đi anh! Em yêu anh quá đỗi!”. Anh ấy cười lớn : “Nhưng em còn nhỏ xíu mà!”. Dù vậy, ngay hôm sau, chúng tôi đi làm giấy tờ kết hôn.

Lúc ấy tôi thật hạnh phúc! Bất kể có ai bảo tôi làm khác đi, dù người ấy ở tận trên trời cao, tôi cũng sẽ không bao giờ nghe theo. Hôm lễ cưới, anh ấy không tìm thấy giấy thông hành của mình. Chúng tôi lật tung cả nhà lên để tìm. Cuối cùng, người ta tạm thời viết xác nhận hai chúng tôi lấy nhau trên một mảnh giấy. Mẹ tôi khóc : “Con gái ơi, điềm xấu đấy!”. Sau đó, chúng tôi tìm thấy giấy tờ của anh ấy để trong túi chiếc quần cũ vất trên kho chứa đồ ở mái hè. Tình yêu! Không, đó không phải là tình yêu, mà là một sự trượt ngã rất lâu trong biển tình.

Hồi đó, tôi hay nhảy múa trước gương mỗi sáng thức dậy. Tôi trẻ. Tôi đẹp. Chồng tôi yêu thương tôi. Giờ thì tôi đã quên mất khuôn mặt tươi trẻ của mình, khi còn hạnh phúc bên chồng. Khuôn mặt ấy đã không bao giờ còn được nhìn thấy trong gương nữa.

Liệu tôi có thể nói về chuyện này được không? Nói rõ ràng bằng lời nói? Đó là những điều thầm kín, cho đến giờ tôi vẫn không hiểu được. Ngay trong tháng cuối cùng của đời mình, ban đêm anh ấy vẫn gọi tôi vào. Anh ấy cảm thấy thèm khát. Anh ấy yêu tôi mãnh liệt hơn cả trước đây khi còn mạnh khỏe. Ban ngày, tôi nhìn chồng, không thể tin được những gì xẩy ra trong đêm. Chúng tôi không muốn xa nhau. Tôi ve vuốt thân thể chồng, tôi cuồng nhiệt đón nhận chồng. Vào những khoảnh khắc như vậy, tôi nhớ đến những ngày hạnh phúc nhất của chúng tôi. Chẳng hạn như lúc anh ấy trở về từ Kamchatka với bộ râu quai nón mọc rậm từ khi còn ở đó. Hoặc hôm sinh nhật của tôi trên ghế đá công viên Gorky “Hãy cưới em đi anh!”. Tôi có cần phải nhắc lại những khoảng thời gian hạnh phúc ấy không? Tôi có nên không? Tôi đã đến với anh ấy bằng phong cách của một người đàn ông đến với một người đàn bà. Liệu tôi có thể cho anh ấy được điều gì ngoài thuốc men chữa chạy? Hy vọng chăng? Chồng tôi không muốn chết mà!

Tôi không nói cho mẹ tôi biết gì về anh ấy hết. Bà sẽ không thể hiểu được. Bà sẽ trách cứ tôi, sẽ nguyền rủa chúng tôi. Bởi vì anh ấy không phải mắc một chứng ung thư bình thường vốn ai cũng đã sợ hãi, mà còn là ung thư Chernobyl, thứ ung thư còn đáng sợ hơn. Các bác sĩ bảo: Nếu những khối u tạo di căn bên trong cơ thể, anh ấy sẽ chết nhanh chóng. Nhưng ngược lại, chúng lan khắp cơ thể, lên tới mặt. Những vết nám đen xuất hiện đầy trên người chồng tôi. Rồi cái cằm đi đâu không biết, cổ cũng biến mất, lưỡi rơi ra ngoài. Các mạch máu ở cổ, ở má, ở tai phồng lên, rồi vỡ ra làm chảy máu. Chỗ nào trên cơ thể chồng tôi cũng đều có những vết nứt làm chảy máu. Tôi lấy khăn thấm nước lạnh, đắp vào những chỗ chảy máu, nhưng cũng không giúp ích được gì hơn. Gối anh ấy dùng kê đầu ướt đẫm cả máu. Tôi lấy cái chậu từ phòng tắm ra hứng, như hứng sữa người ta vắt. Âm thanh ấy sao mà an bình và đậm nét thôn dã đến như thế. Bây giờ, thỉnh thoảng vào ban đêm tôi còn nghe lại được âm thanh ấy. Những khi chồng tôi tỉnh táo, hễ nghe anh ấy vỗ tay, là tôi hiểu tín hiệu : gọi xe cứu thương. Chồng tôi không muốn chết. Anh ấy mới có 45 tuổi. Tôi gọi số cấp cứu, họ đã quá quen thuộc với chúng tôi, nên không đến. Họ bảo : “Chúng tôi không còn có thể làm gì được cho chồng của chị nữa.”. Cứ cho anh ấy một mũi chích. Một mũi thuốc giảm đau cực mạnh. Tôi đã học được cách làm công việc này, nhưng vẫn để lại trên da những vết bầm tím .

Có lần, tôi tìm cách gọi được xe cứu thương đến, đi theo có một viên bác sĩ trẻ tuổi. Anh ta đến gần, nhìn chồng tôi rồi như bị dội ngược lại, hỏi : “Xin lỗi chị nhé, anh ấy không phải đã ở Chernobyl chứ?”. Tôi nói : “Phải, chồng tôi là một trong số những người đã ở Chernobyl.”. Tôi không cường điệu thêm chút nào hết, viên bác sĩ kêu lên như khóc : “Ôi, chị ơi, nếu vậy thì hãy để cho anh ấy chết càng sớm càng tốt! Tôi đã chứng kiến những người ở Chernobyl về chết như thế nào rồi!”. Trong khi đó, chồng tôi vẫn còn tỉnh táo, anh ấy nghe hết những gì viên bác sĩ trẻ nói. Nhưng ít nhất, anh ấy không biết, không đoán được anh ấy là người duy nhất trong đội công tác Chernobyl của mình còn sống đến giờ này.

Lần khác, có chị y tá từ bệnh viện đến thăm bệnh. Cô ta chỉ đứng ngoài cửa phòng, không chịu bước vào. “Xin lỗi, tôi không thể làm gì được!”. Còn tôi thì sao? tôi làm được gì ư? Tôi có thể nghĩ được gì nào? Nghĩ ra cách để cứu chồng mình chăng? Anh ấy kêu la suốt ngày vì đau đớn. Ngày nào cũng thế. Cuối cùng tôi nghĩ ra một cách: tôi lấy ống kim chích hút đầy rượu vodka rồi chích vào cho anh ấy. Anh ấy say ngủ, quên đi cơn đau đớn thể xác. Thực ra, tôi không tự mình nghĩ ra được cách này. Mấy chị vợ bạn đã mách cho tôi. Họ cũng đã từng trải qua hoàn cảnh giống hệt như tôi.

Mẹ chồng tôi đến trách cứ : “Sao con lại để cho nó đi Chernobyl? Con có thể làm chuyện đó được ư?”. Lúc đó, tôi không hề nghĩ rằng mình có thể cản được anh ấy không đi, và với chính anh ấy, có lẽ anh ấy cũng không nghĩ rằng mình có thể từ chối. Lúc ấy không phải như bây giờ, thời chiến tranh mà. Có lần tôi hỏi chồng tôi : “Giờ thì anh có hối hận vì mình đã đi Chernobyl không?”. Chồng tôi lắc đầu, không! Anh ấy viết trong quyển sổ nhỏ : “Khi anh chết, hãy bán chiếc xe và cái vỏ dự trữ, và không được tái giá với Tolik.”. Tolik là em trai chồng tôi. Anh ta cũng thích tôi lắm.

Còn những điều này nữa – tôi ngồi bên cạnh chồng, cho đến khi anh ấy thiếp ngủ đi. Anh ấy có mái tóc rất đẹp. Tôi lấy kéo, lặng lẽ cắt một lọn tóc nhỏ của anh. Đột nhiên chồng tôi mở mắt, thấy lọn tóc trên tay tôi, anh ấy chỉ mỉm cười. Hiện tôi vẫn còn giữ lại của anh ấy chiếc đồng hồ, thẻ căn cước quân đội, và tấm huy chương từ Chernobyl. {Cô ta im lặng}. Tôi đã có những ngày thật hạnh phúc. Trong nhiều giờ liền, tôi ngồi trong phòng sản phụ, tôi nhớ, mình ngồi sát bên cửa sổ, ngóng đợi chồng mình đến thăm. Nhiều khi tôi không hiểu nối chính mình. Tôi bị cái gì ám vậy? Tôi không bao giờ cảm thấy đủ khi nhìn ngắm chồng. Tôi đã hình dung đến ngày rồi mọi việc sẽ chấm dứt. Buổi sáng, tôi sửa soạn thức ăn cho anh ấy rồi cứ ngây người ngồi nhìn chồng ăn, rồi ngắm chồng cạo râu, ngắm chồng ra khỏi nhà bước xuống đường phố. Tôi là một quản thủ thư viện giỏi, nhưng tôi không bao giờ hiểu được người ta yêu thích công việc của mình như thế nào. Riêng tôi, tôi chỉ biết yêu chồng tôi. Chỉ chồng tôi thôi. Tôi không thể sống không có anh ấy. Đêm nào tôi cũng gào thét, khóc than. Khi ấy, tôi cắn chặt gối, để các con tôi không nghe thấy.

Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng chồng tôi sẽ ra khỏi nhà mà không trở về, rằng chúng tôi sẽ vĩnh viễn cách chia. Mẹ tôi, em chồng tôi, bảo tôi, một cách bóng gió, rằng các bác sĩ, đại khái họ khuyên, bà biết không, nói chung, có một nơi gần thủ đô Minsk, một bệnh viện chuyên môn, nơi mà những trường hợp hết hy vọng như chồng tôi, nơi người ta đưa những người lính về từ Afghanistan, không chân, không tay đến đó để chăm sóc – giờ thì ở đó người ta có nhận cả người ở Chernobyl về nữa. Họ van lơn tôi : Tốt hơn nên đưa anh ấy đến đó, lúc nào cũng có các bác sĩ túc trực. Tôi không muốn làm việc đó. Không muốn cả nghe nói về việc đó nữa. Không bảo được tôi, họ quay qua thuyết phục anh ấy. Chồng tôi yêu cầu : “Đưa anh đến đó đi. Đừng tự tra tấn mình nữa em ạ!”. Trong khi đó thì tôi gọi điện thoại đến sở làm xin được sử dụng phép nghỉ ốm, hay phép nghỉ với lý do cá nhân không hưởng lương, vì nghỉ ốm chỉ được dùng để chăm sóc cho con nhỏ bị bệnh và phép cá nhân thì không quá một tháng. Còn chồng tôi thì viết đầy cuốn sổ nhỏ, bắt tôi phải hứa sẽ đưa anh ấy đến bệnh viện chuyên môn gần Minsk. Cuối cùng, tôi lên xe đi viếng địa điểm cùng với đứa em chồng. Đó là ngôi nhà gỗ rất lớn, nằm ở bìa một làng có tên Grebenka. Cạnh nhà là một cái giếng cạn. Nhà vệ sinh nằm ở bên ngoài. Chủ nhà là mấy bà cụ già mặc đồng phục tôn giáo màu đen. Tôi ngồi lì trong xe, không bước ra ngoài. Đêm hôm đó, tôi hôn anh ấy, hỏi : “Anh đừng bao giờ bắt em phải hứa đưa anh đến đó. Em nhất quyết sẽ không để anh đi đâu. Không bao giờ anh nhé!”. Tôi ôm hôn chồng tôi không chừa một chỗ nào.

Mấy tuần lễ cuối cùng là đáng sợ nhất. Phải mất hàng giờ đồng hồ để anh ấy đái vào cái thùng nửa lít. Anh ấy cứ cúi mặt xuống vì xấu hổ.Tôi nói : “Sao anh lại có ý nghĩ như vậy nhỉ?”. Tôi ôm hôn chồng. Ngày cuối cùng của đời mình, chồng tôi bỗng mở mắt ngồi dậy, mỉm cười và kêu lên : “Valyushka!”. Là tôi. Anh ấy chết một mình. Mọi người ai cũng chết một mình. Người ta gọi đến sở cho tôi. “Chúng tôi sẽ mang bằng tưởng lục màu đỏ đến cho anh ấy.”. Tôi hỏi chồng : “Mấy người bạn anh muốn đến thăm, họ sẽ trao cho anh bằng tưởng lục.”. Anh ấy lắc đầu : không, bảo họ đừng đến. Nhưng rồi họ cũng đến, mang theo ít tiền, bằng tưởng lục trong tấm bìa màu đỏ có in hình Lenin. Tôi cầm lấy và nghĩ thầm “Anh ấy chết cho cái thứ này đây sao? Báo chí viết rằng, không phải chỉ có Chernobyl, mà là toàn bộ chủ nghĩa Cộng Sản đã bị nổ tung lên rồi. Sao lại còn có bức hình này ở đây?”. Mấy người khách muốn nói đôi điều ca tụng với chồng tôi, nhưng anh ấy đã kéo chăn phủ kín người chỉ còn chừa ra mấy sợi tóc. Một lúc sau, họ cũng bỏ ra về. Anh ấy sợ gặp mọi người. Chỉ duy nhất mình tôi là anh ấy không sợ. Khi bỏ xác anh ấy vào quan tài, tôi dùng hai cái khăn tay để che mặt anh ấy lại. Ai muốn nhìn thì tôi giở khăn ra. Có một phụ nữ khi nhìn thấy suýt ngất xỉu. Đây là người đã một thời yêu anh ấy say đắm, và tôi đã từng tỏ ra rất ghen tuông với cô ấy. “Chị cho tôi được nhìn mặt anh ấy lần cuối!” “Được chứ!”. Tôi không nói cho cô ta biết rằng khi anh ấy chết, không một ai dám đến gần. Ai cũng sợ hãi nhìn mặt anh ấy. Theo phong tục của chúng tôi, thân nhân người chết không được rửa ráy hay mặc quần áo cho người chết. Nhà quàn đã phái đến hai nhân viên lo công việc này. Họ hỏi xin rượu vodka khi thi hành phần vụ của mình. Họ bảo tôi: “Chúng tôi đã từng thấy rất nhiều người chết. Kẻ thì bị đâm nát người, cắt nát mặt, hoặc trẻ em bị thiêu trong hỏa hoạn. Nhưng chưa bao giờ gặp trường hợp ghê khiếp như thế này. Cái chết của những người về từ Chernobyl quả là đáng sợ nhất!”. {Tĩnh lặng}. Anh ấy đã chết và nằm đó, thân xác nóng rực. Nóng đến độ không thể tay không chạm vào được. Tôi ngưng tất cả các đồng hồ trong nhà lại lúc chồng tôi chết. Khi ấy là 7 giờ sáng.

Những ngày đầu không có anh ấy. Tôi ngủ li bì suốt trong hai ngày, không một ai có thể đánh thức tôi dậy được. Lúc tỉnh dậy, tôi chỉ uống chút nước, không ăn bất cứ thứ gì, rồi lại ngã vật xuống giường. Giờ thì tôi lại cảm thấy kỳ quái, không thể giải thích được: Làm sao mà tôi có thể ngủ thiếp như thế được cơ chứ? Khi chồng của bạn tôi hấp hối, anh ta ném bát đĩa vào vợ, kêu lên : Sao mà cô ấy cứ trẻ, đẹp mãi như thế! Còn chồng tôi chỉ nhìn tôi, nhìn mãi. Anh ấy viết xuống cuốn sổ : “Khi anh chết, hãy đem xác anh đi hỏa thiêu. Anh không muốn em phải sợ hãi.”. Tin đồn đãi rằng, kể cả khi chết rồi, xác những người ở Chernobyl vẫn còn có thể phát ra những chất phóng xạ. Tôi có đọc được trong báo nói rằng những ngôi mộ của lính cứu hỏa Chernobyl chết tại bệnh viện Moscow và chôn ở một nơi gần Moscow là Mitino vẫn còn được coi là có khả năng phát xạ. Người ta không dám đến gần, cũng không dám chôn cất người thân chung quanh đó. Người chết rồi lại cũng vẫn sợ người chết. Bởi vì không một ai hiểu Chernobyl là gì. Họ chỉ phỏng đoán và mang cảm giác mơ hồ. Chồng tôi có mang về nhà bộ quần áo bảo hộ màu trắng anh ấy mặc khi làm việc ở Chernobyl cùng với các trang bị chống nhiễm xạ. Bộ quần áo ấy vẫn được treo trong nhà kho của chúng tôi cho đến khi anh ấy chết. Nhưng mẹ tôi bảo: “Phải vất tất cả những thứ ấy đi thôi!”. Mẹ tôi sợ. Riêng tôi muốn giữ lại. Nhưng không được, vì đó là phạm luật, vì chúng tôi có con nhỏ trong nhà. Vậy nên chúng tôi phải đem tất cả những thứ đó ra ngoài thành phố và chôn sâu dưới đất. Tôi đã từng đọc rất nhiều sách, tôi sống với sách, nhưng chưa có quyển sách nào giải thích cho tôi được điều này. Người ta đưa cho tôi hũ đựng tro cốt của chồng tôi. Tôi không cảm thấy sợ hãi. Tôi lấy tay lùa lớp tro, cảm thấy có những vật nho nhỏ, giống như vỏ sò trên bãi cát. Đó là những mảnh xương chậu của chồng tôi. Tôi đã sờ nắn những di vật của chồng, chưa bao giờ cảm thấy sự hiện diện của anh ấy, nhưng bây giờ thì tôi cảm thấy dường như anh ấy vẫn còn quanh quất đâu đây. Tôi nhớ cái đêm sau khi anh ấy chết, tôi ngồi cạnh xác chồng – bỗng nhiên tôi nhìn thấy một cụm khói bay lên – tôi còn nhìn thấy cụm khói ấy lần nữa ở lò thiêu – Đó là linh hồn của anh ấy. Không ai nhìn thấy cụm khói, ngoài tôi ra. Và tôi có cảm tưởng chúng tôi nhìn thấy nhau thêm một lần cuối cùng.

Tôi đã từng hạnh phúc biết bao! Chồng tôi đi làm việc xa. Tôi ở nhà đếm từng ngày, từng giờ cho đến khi anh ấy trở về. Thực sự, ở nghĩa cụ thể, tôi không thể không có anh ấy. Hôm chúng tôi đi thăm em gái anh ấy ở làng, buổi tối cô ấy bảo : “Em sắp xếp cho anh ngủ ở phòng này, còn chị thì vào phòng kia.”. Chúng tôi nhìn nhau rồi cười to – chưa bao giờ chúng tôi nghĩ mình có thể ngủ khác phòng. Tôi không thể thiếu anh ấy được. Chúng tôi đã từng lén nhà trốn đi với nhau. Em trai anh ấy cũng đã từng làm vậy. Họ thật giống nhau. Nhưng nếu có ai chạm vào người tôi bây giờ, hẳn là tôi sẽ chỉ biết khóc. Và khóc.

Ai đã tước anh ấy đi khỏi tôi? Họ lấy quyền gì mà làm thế? Họ đem đến nhà tôi tờ thông báo trên đầu vắt ngang một vạch đỏ hôm 19 tháng 10 năm 1986, như thể mang đến cho chồng tôi lệnh động viên trong thời chiến.

{Chúng tôi uống trà với nhau. Cô ấy cho tôi xem những bức ảnh gia đình, ảnh đám cưới. Khi tôi đứng dậy từ giã, cô ấy chận tôi lại}.

Tôi sẽ sống như thế nào đây? Tôi chưa kể hết mọi chuyện cho bà nghe, chưa kể đến lúc kết thúc mà. Tôi đã hạnh phúc, hạnh phúc một cách điên cuồng. Có thể bà không nên viết rõ tên tôi? Có những điều kín đáo – người ta thường cầu nguyện một cách kín đáo, thì thầm chỉ đủ cho chính mình nghe .{Ngưng lại}. Không, bà cứ viết tên tôi xuống, để Chúa được biết. Tôi muốn được hiểu, muốn được biết tại sao chúng ta phải chịu đau khổ. Để làm gì? Điều gì đã đưa tôi trở lại được với cuộc sống? Chính con trai tôi đấy. Tôi còn một đứa con trai nữa. Nó bị bệnh từ nhỏ. Giờ thì nó đã lớn rồi nhưng vẫn nhìn thế giới bằng cặp mắt của một đứa trẻ, một đứa trẻ 5 tuổi. Tôi muốn được ở bên cạnh con tôi. Tôi hy vọng mình có thể hoán đổi căn hộ đang ở lấy một nơi gần Novinki hơn, nơi có bệnh viện tâm thần. Con tôi ở đó. Các bác sĩ bắt buộc như vậy : Nếu nó sống, nó phải ở trong một bệnh viện tâm thần. Cứ mỗi cuối tuần tôi đến đó thăm con. Nó chào tôi : “ Bố Misha đâu hả mẹ? Khi nào thì bố đến thăm con?”. Liệu ai sẽ hỏi tôi câu hỏi đó? Nó vẫn cứ đang chờ bố đến thăm.

Chúng tôi sẽ cùng nhau chờ anh ấy. Tôi sẽ thì thầm lời cầu nguyện Chernobyl của mình. Bà thấy không, con tôi nhìn thế giới bằng con mắt của trẻ thơ.

Valentina Timofeevna Panasevich, vợ một Thanh Lý Viên

Chú Thích :

(1) Natasha Rostov : tên một nhân vật trong tác phẩm Chiến Tranh và Hòa Bình của nhà văn Nga Leo Tolstoy (1828-1910).

(2) Edit Piekha (1937 - ): Nữ ca sĩ người Nga, gốc Ba Lan.