Danh Ngôn

Những nhà văn xuất chúng luôn luôn là những nhà phê bình nghiêm khắc nhất đối với chính tác phẩm của mình.

(The best authors are always the severest critics of their own works.)

Lord Chesterfield, chính khách, nhà văn Anh. (1694-1773). Thư gởi con trai, 6 tháng Năm 1751

Tôi có một nhà phê bình đòi hỏi quá quắt hơn các bạn: đấy là cái tôi thứ hai của tôi.

(I have a critic who is more exacting than you: it is my other self.)

Jean Meisonier, họa sĩ Pháp. Trong tuyển tập của Alice Hubbard, An American Bible, tr. 192, 1946

Hỏi một nhà văn đang sáng tác ông ta nghĩ gì về các nhà phê bình cũng giống như hỏi một cột đèn cảm thấy thế nào về các con chó.

(Asking a working writer what he thinks about critics is like asking a lamppost how it feels about dogs.)

Christopher Hampton, nhà soạn kịch sinh tại Bồ Đào Nha 1946 hiện sống tại Anh. Trong Sunday Times, (London), 16 tháng Mười 1977

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Tiếng vọng từ Chernobyl (kỳ 15)

Svetlana Alexievich

T. Vấn dịch

Ba Mẩu Độc Thoại

Độc Thoại

_____________________________

về những hồi ức

Tôi không hề muốn nói về chuyện này chút nào cả. Tôi sẽ không nói. Tôi chỉ biết có một điều. Rằng tôi sẽ không bao giờ được biết đến hạnh phúc nữa.

Anh ấy từ chỗ đó trở về sau mấy năm công tác.

Đó là những năm tháng ác mộng. Anh ấy bảo tôi: “Nina. Rất may mình đã có hai đứa con. Đó là những gì còn sót lại của chúng ta.”

Anh ấy kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện. Ở giữa một ngôi làng có cái ao nhỏ. Đám ngỗng, vịt thường tụ tập ở đó. Mấy người lính, thực ra chỉ là những cậu trai trẻ tuổi, nằm dài người trên cỏ, không áo, không giầy, phơi người cho rám nắng.

“Đứng dậy ngay! các cậu nhỏ! Điên à? Muốn chết cả nút hay sao?”. Họ trả lời : “Ôi dào! lo vớ vẩn gì thế!”.

Cái chết đã có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng không một ai coi đó là việc nghiêm trọng.

Cuộc di tản : Bà cụ già quỳ gối trước căn nhà cũ có bức tượng thánh của mình.

Bà van vỉ : “Các cậu ơi! Già này không đi đâu. Già này quyết không từ bỏ chỗ này. Các cậu muốn thì cứ lấy chút ít tiền người ta cho già. Để đền bù cho căn nhà, cho con bò của già đấy. Nhưng ai sẽ phải đền bù cho đời của già đây? Đời già giờ chỉ còn là đêm đen thôi. Hai đứa con của già đã chết trong chiến tranh, chúng vẫn còn nằm trong nghĩa địa kia kìa. Các cậu gọi đây là chiến tranh hả? Chúng ta đang sống trong thời chiến sao? Trên trời vẫn có mây trắng, dưới đất cây táo đang ra hoa. Chẳng có ai tấn công chúng ta hết. Không có ai bắn súng. Ở đây chỉ có chúng ta thôi. Chúng ta đang có chiến tranh sao?”

Vậy mà không có ai trả lời những câu hỏi của bà: Viên đại tá có mặt ở ngay đó. Ông ta là người chỉ huy cuộc di tản và cũng là người của đảng ủy Vùng. Cả mấy ông sếp của chính quyền địa phương. Không một ai biết rằng đây là một cuộc chiến tranh, rằng cuộc chiến tranh ấy có tên là Chernobyl.

Tôi chưa bao giờ hỏi chồng tôi điều gì. Tôi hiểu anh ấy bằng cả tâm hồn của mình. Cả hai chúng tôi cảm thông với nhau cùng một chiều sâu thật sâu của tình chồng vợ. Qua sự hiểu biết và nỗi cô đơn cùng cực cả hai cùng kham chịu.

Anh ấy biết rồi mình sẽ chết. Và thực ra là anh ấy đang chết dần mòn. Anh ấy bảo sở dĩ mình còn sống được đến lúc này là nhờ tình yêu và sự tử tế. Tôi phải đi làm hai công việc một lúc. Chỉ với một đầu lương và tiền hưu của anh ấy thì không đủ. Anh bảo : “Hãy bán chiếc xe đi. Tuy nó không còn mới nhưng mình vẫn có được ít tiền mua sắm gì đó. Và như vậy em có thể ở nhà nhiều hơn với anh, để anh được ngắm nhìn em.”. Anh ấy mời bạn bè đến nhà. Cha mẹ anh ấy cũng đến ở với chúng tôi một thời gian khá lâu. Anh ấy đã hiểu được một điều gì đó. Một điều gì đó về cuộc sống ở nơi ấy (Chernobyl) mà một thời gian dài anh chưa hiểu được. Anh ấy đã tìm ra được một thứ ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt.

“Nina”- anh ấy bảo tôi . “Nina. Rất may mình đã có hai đứa con. Đó là những gì còn lại của chúng ta.”

Tôi hỏi anh ấy : “Lúc đó anh có nghĩ đến em và con ở nhà không? Anh nghĩ sao về nơi đó?”

“Anh đã nhìn thấy một đứa trẻ. Nó sinh ra sau vụ nổ khoảng hai tháng. Nó tên là Anton, nhưng ai cũng gọi nó là Atomchik.”

“Anh nghĩ là . . .”

“Em phải cảm thấy thương xót cho tất cả mọi người ở đó. Kể cả con ruồi. Kể cả con chim. Mọi sinh vật phải được sống. Con ruồi phải có thể bay được, con dán phải có thể bò được. Thậm chí em không muốn giết một con dán.”

“ Anh . . .”

“Lũ trẻ con vẽ những hình ảnh về Chernobyl. Trong đó, cây mọc ngược. Nước sông thì đỏ thẫm hoặc vàng chóe. Chúng nó vẽ xong rồi ngồi khóc.”

Tôi muốn được hiểu . . . điều gì? Tôi còn không biết mình là ai nữa là .{Mỉm cười}

Bạn anh ấy đến ngỏ lời cầu hôn với tôi. Anh ta yêu tôi từ lâu lắm rồi. Từ lúc chúng tôi còn đi học chung một trường. Rồi anh ta lấy bạn tôi, và sau đó họ ly dị. Anh ta gạ gẫm : “Em sẽ sống như một bà hoàng.” Anh ta làm chủ một tiệm buôn, có một dãy chung cư lớn cho mướn, có cả nhà nghỉ ở thôn quê. Tôi suy nghĩ rất nhiều về lời đề nghị ấy. Rồi một hôm anh ta mò đến nhà tôi say khướt : “Em không thể nào quên được người anh hùng của mình phải không? Anh ta đi Chernobyl, còn anh thì thẳng tay từ chối. Bây giờ thì anh vẫn còn sống đây nhưng anh ta đã trở thành đài tưởng niệm mất rồi.”.

Vậy ư? Tôi đuổi cổ anh ta ra khỏi nhà. Ngay lập tức không một chút do dự.

Đôi khi, tôi có những ý tưởng kỳ lạ. Có lúc tôi đã nghĩ rằng chính Chernobyl đã cứu rỗi tôi, đã bắt tôi phải suy nghĩ. Và linh hồn tôi mở rộng ra.

Anh ấy thường kể nhiều lần với tôi. Tôi vẫn còn nhớ.

Những đám mây bụi. Những chiếc xe xúc trên cánh đồng. Những người phụ nữ và chiếc chỉa ba của họ. Những chiếc máy đo độ nhiễm xạ. Mọi thứ ở bên trong hàng rào kẽm gai. Khu Cấm : không người, nhưng thời gian vẫn cứ trôi. Dù ngày như dài ra, như dạo mình còn là con nít.

Những đoàn văn nghệ đến biểu diễn. Các nhà thơ đến đọc thơ. Ca sĩ Alla Pugacheva tổ chức một buổi biểu diễn ngoài cánh đồng. “Hỡi những chàng trai! Nếu các bạn không ngủ gật, tôi sẽ hát cho các bạn nghe suốt đêm”. Cô gọi họ là những anh hùng.

Ai cũng coi họ như những anh hùng {Khóc}. Làm sao có thể chịu đựng được nỗi thống khổ này nếu không có một lý lẽ nào đó để biện minh. Mà thực thế, chẳng có một lý lẽ nào cả. Cả tấm huy chương mà họ đã trao cho anh ấy cũng không thể an ủi được gì. Anh ấy đã đưa tấm huy chương ấy cho con trai chúng tôi .

Tôi chỉ biết có một điều. Rằng tôi sẽ không bao giờ được biết đến hạnh phúc nữa.

Nina Prohorovna Kovaleva, Vợ một Thanh Lý Viên.

Độc Thoại

_____________________________

về tình yêu môn Vật Lý học

Ngay từ khi còn trẻ tôi đã có thói quen luôn luôn ghi chép lại những gì vừa xẩy ra. Khi Stalin chết, tôi cũng đã ghi lại những điều tôi nhìn thấy trên đường phố, những điều tôi nghe người ta bàn tán. Với vụ nổ Chernobyl, tôi đã viết về sự kiện này từ khi nó vừa mới xẩy ra. Lúc ấy, tôi biết rằng với thời gian, sẽ có rất nhiều thứ bị quên lãng và biến mất không để lại một dấu vết gì. Thực tế chứng minh rằng điều tôi lo sợ là đúng. Bạn bè của tôi vốn là những nhà vật lý nguyên tử, họ đã ở ngay trung tâm của vụ nổ, vậy mà giờ đây họ đã không còn nhớ gì về cảm xúc của chính họ, về những gì họ đã nói cho tôi nghe. Nhưng tôi đã ghi lại tất cả, không sót một điều gì.

Hôm xẩy ra vụ nổ, như thường lệ, tôi đang có mặt tại cơ quan của mình, Viện Năng lượng Nguyên Tử của Hàn Lâm Viện Khoa Học Belarus. Tôi giữ chức vụ Trưởng phòng thí nghiệm của viện, tọa lạc ở một khu rừng ngoài thành phố. Thời tiết hôm đó thật tuyệt. Một ngày mùa xuân lý tưởng. Tôi mở toang hết các cửa sổ phòng. Không khí bên ngoài tươi mát, trong lành. Tôi ngạc nhiên khi không nhìn thấy đám chim giẻ xanh mà suốt cả mùa đông tôi đã nuôi chúng bằng những miếng xúc xích treo ngoài cửa sổ. Hay là chúng đã tìm được những thức ăn ngon hơn ở một chỗ nào đó rồi?

Trong khi đó thì tại lò phản ứng hạt nhân của Viện Khoa học một không khí hoảng loạn xẩy ra: Máy đo mức độ nhiễm xạ cho dấu hiệu nó đang hoạt động liên tục, chỉ số bẩn cao gấp 200 lần bình thường hiện rõ trên máy lọc không khí. Ở cửa ra vào, áp suất là gần 3 mili đơn vị xạ một giờ. Đó là những chỉ số nguy hiểm – chúng cho thấy mức độ phóng xạ cho phép trong khu vực đã đạt tới đỉnh điểm với thời gian tối đa là 6 giờ. Giả thuyết đầu tiên được đưa ra là do những mối hàn của bộ phận phát nhiệt của lò đã bị rò rỉ. Chúng tôi đã xem xét cẩn thận và thấy không có dấu hiệu của sự rò rỉ. Giả thuyết kế tiếp là có thể thùng chứa chất hóa xạ của phòng thí nghiệm đã bị hư hỏng trong lúc chuyển vận và đã gây nên tình trạng hoảng loạn như vừa kể. Nhưng đó cũng chỉ là một nơi nằm bên ngoài khuôn viên viện – không thể là nguyên nhân mà chúng tôi đang tìm kiếm.

Vậy thì vì cái gì đây?

Vào thời điểm này thì hệ thống loa phóng thanh của Viện thông báo mọi nhân viên không được rời khỏi nơi làm việc. Khu vực đất trống giữa các tòa nhà của viện bỗng trở nên vắng vẻ lạ thường. Không một bóng người qua lại. Không khí nhuốm đầy sự lo lắng, hoảng sợ một cách kỳ lạ.

Các chuyên viên đo phóng xạ đến kiểm tra phòng tôi. Bàn làm việc của tôi chiếu ánh sáng “lấp lánh”. Quần áo tôi đang mặc cũng lấp lánh, bốn bức tường phòng cũng lấp lánh. Tôi đứng dậy, không muốn tiếp tục ngồi trên ghế của mình nữa. Tôi bước đến bồn rửa mặt, gội đầu. Lấy máy đo phóng xạ đo lại. Thấy có vẻ khả quan hơn. Như vậy là trong viện đã xẩy ra một “sự cố”? rò rỉ chỗ nào chăng? Vậy phải làm sao chùi rửa cho sạch mấy chiếc xe bus thường đưa chúng tôi vào thành phố? Chúng tôi sẽ phải tự bửa đầu mình nghĩ ra một giải pháp nào chứ! Tôi vốn rất tự hào về lò phản ứng hạt nhân chúng tôi hiện đang làm việc. Tôi thuộc lòng đến từng mảnh nhỏ của nó.

Chúng tôi liên lạc với nhà máy hạt nhân Ignalinsk ở gần bên. Máy móc của họ bên đó cũng đang có vấn đề. Mọi người đều tỏ vẻ hoảng sợ. Chúng tôi gọi qua nhà máy Chernobyl. Không một ai trả lời. Đến giờ ăn trưa thì chúng tôi được biết toàn thành phố Minsk đang bị bao phủ bởi một lớp mây phóng xạ. Từ đó chúng tôi tin rằng trong không khí đang có phóng xạ nguyên tử xâm nhập. Như vậy nghĩa là có một tai nạn vừa xẩy ra ở lò phản ứng hạt nhân.

Sau đó, việc đầu tiên tôi làm là gọi cho vợ tôi, báo cho cô ấy hay sự việc vừa xẩy ra. Tất cả những đường dây điện thoại của viện vốn đều đã bị cài thiết bị nghe lén. Nguyên nhân phát xuất từ nỗi lo sợ cũ rích từ bao giờ. Tôi chẳng lạ gì vì chúng tôi đã lớn lên trong không khí đó hằng mấy chục năm nay. Nhưng hiện giờ ở nhà điều gì đang xẩy ra? con gái tôi có thể đang dạo chơi với bạn sau giờ học âm nhạc ở trường. Có lẽ nó đang ăn kem? Tôi có nên gọi về nhà không? Họ sẽ biết được và hẳn nhiên sẽ chẳng hay ho gì. Chắc chắn tôi sẽ không còn được giao thực hiện những dự án quan trọng nữa. Nhưng tôi bất chấp hậu quả, nhấc điện thoại lên.

“Hãy lắng tai nghe anh nói đây”

“Anh nói chuyện gì vậy?” Vợ tôi lớn tiếng hỏi.

“Nói khẽ thôi chứ. Đóng hết cửa sổ vào. Bọc kín các thức ăn bằng giấy bóng. Đeo găng tay vào, dùng khăn ướt lau sạch tất cả mọi vật trong nhà. Rồi bỏ chiếc khăn lau ấy vào một cái túi, cột lại vất bỏ đi. Quần áo đang phơi trên ban công lấy xuống, bỏ vào máy giặt lại.”

“Chuyện gì xẩy ra thế?”

“Khẽ chứ! Nhỏ hai giọt i ốt vào nước. Dùng nước đó gội đầu.”

“Cái gì?” Tôi gác máy trước khi nghe hết câu nói của vợ tôi. Cô ấy hẳn phải hiểu chuyện gì vừa xẩy ra. Vợ tôi cũng là nhân viên của viện khoa học.

Lúc 3 giờ rưỡi chiều, chúng tôi được tin lò phản ứng hạt nhân ở Chernobyl đã phát nổ.

Buổi chiều hôm đó trên chiếc xe bus của Viện chở nhân viên trở về Minsk mất khoảng nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi ngồi im lặng, không ai nói một lời nào. Hoặc nếu có chuyện cần nói thì cũng chỉ là những câu chuyện không liên quan gì đến sự việc vừa xẩy ra. Ai cũng sợ nói về chuyện đó. Và trong túi mỗi người, ai cũng sẵn sàng tấm thẻ đảng viên của mình.

Trước cửa căn hộ chung cư nhà mình, tôi thấy có miếng giẻ ướt vất ở đó. Như vậy có nghĩa là vợ tôi đã hiểu chuyện gì vừa xẩy ra. Bước vào nhà, tôi cởi áo khoác ngoài, áo sơ mi, quần dài, cho đến khi chỉ còn chiếc quần lót trên người. Hốt nhiên, một cơn giận dữ trào lên chế ngự tôi. Dẹp quách hết đi cái trò bí mật, dấu diếm! cả cái cảm giác sợ hãi chết tiệt! Tôi với tay lấy quyển niên giám điện thoại thành phố, quyển sổ ghi địa chỉ của con gái tôi, của vợ tôi. Tôi bảo mọi người : Tôi làm việc ở Viện Vật Lý Hạt Nhân. Hiện thành phố Minsk đang bị bao phủ bởi một đám mây chứa đầy phóng xạ. Tôi hướng dẫn họ những việc cần phải làm : Gội đầu ngay lập tức, đóng hết cửa sổ nhà lại, quần áo phơi ngoài ban công phải lấy xuống giặt lại, uống nước pha i ốt với liều lượng sao cho đúng. Phản ứng chung của mọi người : Cám ơn. Không ai hỏi tôi bất cứ điều gì, cũng không có ai tỏ vẻ hoảng sợ. Tôi cho rằng họ không tin những điều tôi nói, hoặc cũng có thể họ không hiểu hết được tầm quan trọng của sự việc vừa xẩy ra. Không một ai tỏ vẻ hoảng sợ. Đó là một phản ứng làm tôi kinh ngạc.

Buổi tối, một người bạn của tôi gọi đến. Anh ta cũng là một nhà vật lý học hạt nhân. Tôi không thể hiểu tại sao anh ta lại có thể bất cẩn như vậy. Chúng ta đã sống trong một niềm tin tưởng kỳ lạ! Chỉ đến bây giờ, nhìn lại, chúng ta mới thấy rõ sự tin tưởng mù quáng của mình. Anh bạn tôi gọi để báo cho tôi biết rằng anh ta và gia đình sẽ đến nhà bên vợ của anh ở gần Gomel dịp lễ mừng Chiến Thắng. Từ Chernobyl đến Gomel chỉ bằng khoảng cách ném một viên gạch. Tôi hét lên trong máy : “Quả là một ý kiến thật vĩ đại! Anh đã mất trí rồi!”. Đó là một câu chuyện của những người vốn có trình độ hiểu biết về sự việc. Và về niềm tin tưởng mù quáng của chúng ta. Tôi đã hét thẳng vào mặt bạn mình. Có lẽ, giờ này bạn tôi đã quên mất rằng chính tôi đã cứu mạng mấy đứa con của anh ấy . {Im lặng}.

Chúng tôi – ý tôi muốn nói là tất cả chúng ta – Chúng ta không quên Chernobyl. Chúng ta chỉ không bao giờ hiểu được điều đã xẩy ra ở đó. Làm sao mà những kẻ hoang dã hiểu được ánh sáng văn minh?

Trong quyển sách của Ales Adamovich (1) có một đoạn ông đối thoại với Andrei Sakharov (2) về bom nguyên tử. Sakharov, cha đẻ của bom khinh khí, hỏi : “ông có biết rằng sau một vụ nổ nguyên tử, không khí có mùi vị rất trong lành, rất sảng khoái như thế nào không?”. Trong câu hỏi của Sakharov chứa đựng nhiều sự lãng mạn. Với tôi, với thế hệ chúng tôi – Xin lỗi, tôi nhìn thấy phản ứng của bà, bà tưởng tôi đang thưởng thức một cái gì rất khủng khiếp, chứ không phải tài năng kiệt suất của con người, phải không? Chỉ đến bây giờ, người ta mới coi thường cái gọi là năng lượng nguyên tử và xấu hổ về phát minh này. Thời chúng tôi – năm 1945, khi quả bom nguyên tử đầu tiên được thả xuống đất Nhật, tôi mới có 17 tuổi. Tôi say mê khoa học giả tưởng. Tôi mơ được đi đến những hành tinh khác, và tin tưởng rằng năng lượng nguyên tử sẽ chắp cánh cho tôi bay vào vũ trụ. Tôi ghi tên theo học ở Viện Năng Lượng Moscow. Ở đây, tôi được biết rằng chuyên ngành tối mật nhất chính là chuyên ngành năng lượng nguyên tử. Vào những năm 50s và 60s, những nhà vật lý học hạt nhân là thành phần ưu tú nhất, những người sáng chói lỗi lạc nhất. Ngành khoa học nhân văn tạm gác qua một bên. Ở trường trung học, thầy giáo của tôi bảo trong 3 đồng xu đã có đủ năng lượng cho cả một trạm phát điện. Nghe xong cái đầu tôi quay mòng mòng. Tôi cũng đã đọc một tác giả người Mỹ viết về sự phát minh bom nguyên tử, tiến trình thử nghiệm và hậu quả của nó như thế nào. Trong thế giới của chúng ta, cái gì cũng là bí mật, cũng bị giấu diếm. Các nhà vật lý học được hưởng lương cao. Tính bí mật của sự việc đã làm cho nó trở nên lãng mạn. Đó chính là sự sùng bái môn vật lý học, sùng bái kỷ nguyên vật lý học. Thậm chí ngay cả khi vụ nổ ở Chernobyl xẩy ra rồi, mãi đến một thời gian rất dài sau đó người ta mới thôi sùng bái môn vật lý học.

Các nhà khoa học được gọi đến để giúp thu dọn Chernobyl. Họ đến Chernobyl bằng chuyên cơ. Có người còn không thèm mang theo những vật dụng cá nhân. Họ tưởng chỉ đến đó làm việc vài tiếng đồng hồ, mặc dù ai cũng biết rằng một lò phản ứng hạt nhân ở đó vừa phát nổ. Họ tin tưởng vào phép màu của vật lý. Họ thuộc về một thế hệ luôn đặt trọn vẹn niềm tin vào vật lý. Thế nhưng kỷ nguyên vật lý đã chấm dứt tại Chernobyl.

Thế hệ của bà hẳn đã nhìn thế giới bằng con mắt khác. Mới đây, tôi có đọc được một đoạn văn của Konstantin Leontiev (3). Ông ta viết rằng, kết quả những thực nghiệm hóa –lý của con người sẽ dẫn đến việc người ta tin tưởng có một sức mạnh cao hơn can thiệp vào các vấn đề của con người trên hành tinh này. Đối với một người lớn lên dưới chế độ Stalin, tôi không thể nào hình dung ra được một sức mạnh siêu tự nhiên nào đó. Chỉ mãi sau này tôi mới đọc Kinh Thánh. Tôi đã hai lần kết hôn với cùng một người đàn bà. Lần đầu, tôi bỏ đi, rồi quay trở về - chúng tôi gặp lại nhau ở trong cùng một thế giới. Cuộc sống quả là một nơi đầy ngạc nhiên, đầy kỳ bí. Bây giờ thì tôi tin tưởng. Tôi tin tưởng điều gì? Tôi tin rằng thế giới ba chiều đã trở nên quá chật hẹp cho nhân loại. Tại sao người ta lại chú ý đến khoa học giả tưởng? là vì con người đang cố tìm cách tách rời mình ra khỏi quả đất. Con người cố gắng tìm hiểu rõ hơn những phạm trù khác nhau của thời gian, trên những hành tinh khác nhau, chứ không phải chỉ riêng quả địa cầu mà chúng ta đang sống. Tận Thế – kết quả những ảnh hưởng về khí hậu gây ra bởi nguyên tử - trong văn chương Tây Phương đã được nói đến từ lâu, có vẻ như bây giờ người ta đang diễn tập lại mà thôi. Tương lai ấy đang được con người sửa soạn. Một lượng lớn những đầu đạn hạt nhân khi phát nổ sẽ tạo ra những đám lửa khổng lồ. Bầu khí quyển sẽ trở nên đậm đặc vì khói. Do vậy, ánh sáng mặt trời sẽ không thể nào với tới được quả đất, dẫn đến một phản ứng dây chuyền – từ lạnh đến lạnh hơn nữa, và lạnh hơn nữa. Hình ảnh ngày tận cùng của thế giới do chính con người tưởng tượng ra đã được nói đến từ cuộc cách mạng kỹ nghệ của thế kỷ 18. Nhưng những quả bom nguyên tử sẽ không biến mất kể cả khi người ta đã thiêu hủy cái đầu đạn nguyên tử cuối cùng. Vẫn còn đó, vốn hiểu biết của con người về bom nguyên tử.

Bà chỉ đặt câu hỏi, nhưng tôi lại cứ luôn tranh luận với bà. Lúc nào mà chả có những cuộc tranh luận giữa các thế hệ. Bà có để ý đến không nhỉ, lịch sử của nguyên tử - nó không chỉ là một bí mật quân sự hay một sự nguyền rủa. Nó còn là tuổi trẻ của chúng ta, thời đại của chúng ta, niềm tin tôn giáo của chúng ta. 50 năm đã qua đi, chỉ mới có 50 năm. Giờ đây, đôi lúc tôi có cảm tưởng rằng thế giới chúng ta sống đang bị cai trị bởi một ai đó, mà những khẩu đại bác, những chiếc phi thuyền chúng ta đang chiếm hữu chỉ là đồ chơi của con trẻ. Dù vậy, cảm giác này vẫn chỉ thoáng qua chứ chưa phải là điều mà tôi xác quyết..

Cuộc sống lúc nào cũng đầy ắp những điều khiến mình ngạc nhiên. Tôi đã từng yêu say đắm môn Vật Lý và có lúc đã tưởng rằng mình sẽ không thể làm cái gì khác ngoài Vật lý. Nhưng giờ thì tôi lại muốn cầm bút viết. Tôi muốn viết về những điều, chẳng hạn như, làm sao mà con người thực sự đã không thể làm vui lòng được khoa học – anh ta chỉ mới khởi sự làm quen với nó. Hoặc là về việc làm thế nào mà một vài nhà vật lý học có thể thay đổi được thế giới. Hoặc về một nền độc tài mới của vật lý và toán học. Cả một cuộc sống mới đang mở rộng trước mặt tôi.

Valentin Alekseevich Borisevich

Nguyên Trưởng Phòng Thí Nghiệm Viện Năng Lượng Nguyên Tử thuộc Hàn Lâm Viện Khoa Học Belarus

Chú thích:

(1) Ales Adamovich : Nhà văn người Belarus (1827-1944)

(2) Andrei Sakharov : Nhà vật lý học nguyên tử người Nga (1921-1989)

(3) Konstantin Leontiev: Triết gia có tư tưởng quân chủ bảo thủ người Nga (1831-1891)

Độc Thoại

_____________________________

về miếng xúc xích đắt tiền

Vào những ngày đầu tiên ấy, cảm xúc của tôi là cả một sự pha trộn. Tôi còn nhớ rõ hai thứ : Nỗi sợ hãi và cảm giác bị xúc phạm. Chúng tôi không ai được cho biết điều gì vừa xẩy ra : Chính quyền im lặng, các bác sĩ im lặng. Giới chức thẩm quyền khu vực cứ chờ lệnh từ trên Vùng (Oblast), Vùng lại chờ lệnh từ ở Trung Ương (Minsk), Trung ương lại chờ chỉ thị từ bên Moscow. Một chuỗi dài những chờ đợi từ trên xuống dưới, để cuối cùng rồi thì vận mệnh của bao con người lại được quyết định chỉ bởi một vài người. Chúng tôi trở nên những kẻ không có khả năng tự bảo vệ nữa. Đó là cái cảm giác bao trùm chúng tôi trong những ngày ấy. Chỉ có vài người thôi, mà họ lại nắm quyền quyết định số phận của chúng tôi, số phận của hàng triệu con người.

Cùng lúc, cũng chỉ với vài người mà chúng tôi có thể bị giết bởi chính họ. Những người này không phải điên cuồng, không phải tội phạm. Họ chỉ là những công nhân bình thường ở nhà máy phản ứng hạt nhân. Khi hiểu được điều này, não trạng của tôi bị chấn động nặng nề. Chernobyl mở ra một vực sâu thăm thẳm, ghê khiếp còn hơn cả Kolyma (1), Auschwitz (2), Holocaust (3). Một kẻ cầm trên tay cái rìu, cây cung, hay một kẻ sử dụng cây súng phóng lựu, một kẻ điều khiển phòng hơi ngạt, cũng không thể nào giết hết được tất cả mọi người. Nhưng với nguyên tử . . .

Tôi không phải là một triết gia và tôi cũng không hề muốn triết lý. Chỉ biết rằng tốt nhất hãy kể lại những gì tôi còn nhớ được. Những ngày đầu tiên ấy, một không khí hoảng sợ bao trùm : một số chạy vội đến nhà thuốc mua sạch những lọ i ốt. Một số khác sợ không dám mua thức ăn ở chợ, không mua sữa, không mua thịt, nhất là thịt cừu. Còn gia đình tôi thì không muốn tiết kiệm nữa. Chúng tôi mua những miếng xúc xích đắt tiền với hy vọng rằng chúng được chế biến từ những nguồn thịt không độc hại. Sau đó, chúng tôi khám phá ra là chính những loại xúc xích đắt tiền mới bị pha trộn với thịt đã bị nhiễm xạ, do bởi suy nghĩ từ người chế biến cho rằng loại đắt tiền này sẽ có rất ít người đủ khả năng mua. Thế là chúng tôi đã hòan toàn trở nên bất lực. Nhưng hẳn bà đã biết rõ chuyện này rồi, phải không? Tôi muốn được nói về một chuyện khác. Câu chuyện về một thế hệ con người Xô Viết .

Bạn bè của tôi – họ đều là bác sĩ, là thầy giáo, những trí thức ở địa phương. Chúng tôi họp lại thành một nhóm xã hội riêng, thường tụ tập ở nhà tôi uống cà phê, chuyện vãn. Hôm đó, tôi có hai người bạn đến chơi, một người là bác sĩ. Cả hai đều có con còn nhỏ.

Người bạn bác sĩ nói với chúng tôi : “Ngày mai tôi sẽ đem cả gia đình qua sống với cha mẹ tôi. Nếu lũ trẻ có mệnh hệ gì thì chắc không bao giờ tôi có thể tha thứ cho chính mình.”

Người bạn kia đáp : “Nhưng báo chí đã trấn an rằng chỉ trong vài ngày nữa tình hình sẽ ổn định. Quân đội cũng đã hiện diện. Có cả máy bay trực thăng, xe thiết giáp. Đài phát thanh thông báo như thế mà !”.

Viên bác sĩ khẳng định : “Chị cũng nên đem các con chị đi chỗ khác đi. Phải ra khỏi nơi đây thôi. Phải bỏ trốn đi thôi! Đây không phải là chiến tranh. Chúng mình vẫn không biết chuyện gì đang xẩy ra mà !”

Thế rồi bất ngờ cả hai lên giọng với nhau, kết án, buộc tội lẫn nhau.

“ Nếu ai cũng hành xử như chị thì kết quả sẽ ra sao đây? Liệu mình có thắng nổi cuộc chiến này không?”

“Chị là kẻ phản bội lại chính các con của chị! bản năng làm mẹ của chị đâu? Đúng là đồ cực đoan.”

Những người có mặt, kể cả tôi, đều có cảm giác chị chàng bác sĩ này hoảng sợ thực sự. Chúng tôi có thói quen chờ lệnh từ một ai đó, chờ nghe những thông báo bảo chúng tôi phải làm gì. Nhưng chị bạn này của tôi là một bác sĩ, hẳn chị ta biết mình nên làm gì. “Các chị bất lực, không bảo vệ được chính con cái của mình! Không có ai đe dọa chúng không có nghĩa là chúng vẫn được an toàn. Tôi biết các chị cũng đang rất sợ hãi mà!”. Sao lúc ấy chúng tôi ghét chị ta quá sức. Chị ta đã làm hỏng cả một buổi tối họp mặt của chúng tôi. Ngày hôm sau thì chị bạn bác sĩ bỏ đi. Còn chúng tôi cho con cái mình ăn mặc đẹp đẽ đi xem diễu hành ngày lễ Chiến Thắng. Chúng tôi có thể đi dự hay không đi dự, tùy ý chúng tôi. Chẳng có ai ép buộc hay yêu cầu chúng tôi phải đi dự cả. Nhưng chúng tôi nghĩ đó là bổn phận của mỗi người. Tất nhiên rồi! vào một dịp lễ như thế, thời điểm như thế, chúng ta cần phải sát cánh bên nhau. Chúng tôi thả bộ xuống đường phố, hòa nhập vào với đám đông.

Tất cả các viên bí thư các đảng ủy thuộc khu vực đều có mặt cùng với viên bí thư thứ nhất tại lễ đài danh dự. Cả cô con gái nhỏ của ông ta cũng có mặt, đứng ở chỗ cao nhất để mọi người đều có thể nhìn thấy. Cô bé mặc một chiếc áo mưa khoác ngoài và đầu đội mũ, dù trời đang nắng. Còn viên bí thư thứ nhất thì mặc chiếc áo choàng quân đội. Nhưng dù sao thì họ đã có mặt. Tôi còn nhớ rõ điều đó. Không phải chỉ vùng đất chúng tôi sống đã bị nhiễm phóng xạ. Não trạng chúng tôi cũng đã bị nhiễm xạ theo. Trong một thời gian dài hàng nhiều năm trời.

Thư của Lyudmila Dmitrievna Polenkaya, giáo viên trường làng, di dân từ khu vực Chernobyl

Chú Thích :

  1. Kolyma : Khu vực nằm ở phía Đông nước Nga, nơi tọa lạc của những trại tập trung lao động khổ sai (Gulag) thời chính quyền Stalin.
  2. Auschwitz : Trại tập trungcủa Đức Quốc Xã (1940-1945) và cũng là nơi xẩy ra những vụ thủ tiêu hàng loạt người Do Thái, tọa lạc trên phần đất Ba Lan.
  3. Holocaust : Tên gọi chung cho các cuộc thảm sát tập thể nhằm diệt chủng người Do Thái của chế độ Đức Quốc Xã kéo dài từ tháng 1/1930 đến tháng 8/1945.