Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (26)

 Mai An Nguyn Anh Tun

23.

Ngày mai, con gái Thế cùng các bạn sinh viên đi du lịch Trung Quốc, tuyến Bắc Kinh - Thượng Hải, anh viết cho nó:

Chắc con và các bạn đã có nhiều thông tin cần trước khi đi tham quan Trung Quốc, bố chỉ lưu ý các con đôi điều: Khi xem các phim lịch sử - dã sử Trung Quốc, chắc hẳn bất cứ ai cũng phải ngây người trước các phủ đệ hoành tráng dành cho các vương phi, thần phi… Nhưng, đó chỉ là trên phim hư cấu, còn sự thật, nơi ở dành cho các ái phi hàng đầu của vua chúa trong không gian khổng lồ Tử Cấm Thành Bắc Kinh lại chỉ tựa những “chuồng chim bồ câu” chật hẹp, âm u, mà ánh sáng chỉ cần đủ cho ông chủ nhận ra người đang phục vụ mình trong những cuộc “mây mưa”, bố có chụp mấy hình ảnh các “chuồng chim” đó…

Trong một bộ phim tài liệu “khủng” của Đức mang tên: Bản di chúc của một bạo chúa, các nhà điện ảnh Đức đã thể hiện rất chi tiết & quy mô cái tham vọng ngập trong biển máu và quá trình xây dựng Tử Cấm Thành của Minh Thành tổ Chu Đệ, sau là Vĩnh Lạc Hoàng đế (dưới sự chỉ đạo thiết kế - thi công của một nghệ nhân tài hoa người Việt Nam là Nguyễn An), nhưng cũng chưa đề cập tới các “chuồng chim bồ câu” tội nghiệp, đáng thương này.

Đại thi hào Nguyễn Du trong một lần “Bắc hành”, khi đi qua mộ kỳ lân đã lên án gay gắt bạo chúa Minh Thành Tổ, và bộc lộ kín đáo lòng tự hào dân tộc sâu xa của mình: Nếu bảo vì thánh nhân mà kỳ lân xuất hiện, Thì buổi ấy sao không sang dạo chơi phương Nam? (Nhược đạo năng vị thánh nhân xuất/ Đương thế hà bất nam du tường - Bắc hành tạp lục).

Có lần, trên máy bay rời Bắc Kinh, bố có viết về “Bản di chúc của một bạo chúa” đó - kinh đô của các bậc tự xưng “Con Trời”, “Cửu ngũ chí tôn” đã coi con người chỉ là vật sở hữu, kể cả những “đại mỹ nhân”, và kinh đô của các triều đại đã từng xua quân sang xâm lược Đất nước ta:

NHÌN LẠI TỬ CẤM THÀNH

Dưới cánh máy bay

Tử Cấm Thành

tựa một thứ đồ chơi con trẻ

một chuồng chim bồ câu

Nơi tôi từng mỏi gối chồn chân

giờ chỉ nằm gọn trong vài ni tấc

có phải, đấy cũng là một trò đùa tạo hoá ?

Bên dưới kia:

đất nước của những Đại hảo hán, Đại mỹ nhân, Đại gian hùng, Đại thái giám, Đại thi hào, Đại kiến trúc…

bị thu gom vào những hình hộp

giống vết triện nung lửa hằn trên da thịt người

làm vật sở hữu cho bao Đại vương triều, Đại gia tộc

làm bùa hộ mệnh, đồ trang trí, làm vật hy sinh, làm phương tiện đe doạ và trấn áp

Chúng biến thành tiếng nấc nghẹn nơi lãnh cung

thành dáng người quỳ mọp trước sân rồng

thành chút run rẩy bản năng thơ ngây thánh thiện bị nhốt trong lồng ngọc khung vàng

Còn Đại nhân ái, Đại tự do bị lùng sục khắp hoàng cung

buộc hoá thân trong tiếng thở dài,

thành bóng ma lẩn quất trong các điện thờ, trong các viên ngói lưu ly, giữa các móng rồng bờm sư tử…

Và cuối cùng, sau rất nhiều “bữa tiệc ăn thịt người”[125]

Đại nhân ái biến thành hình hoa sen, hình rùa trên gạch lát

cho khách hành hương giẫm chân qua

còn Đại tự do biến thành con Thần tài[126]

để người đời sau vuốt râu sờ mông cầu may mắn

chúng canh giữ các Đại cố cung, Đại lăng mộ, Đại chùa chiền, Đại siêu thị, Đại ngân hàng…

24.

Thế trở lại phố Núi xưa, một cô học trò cũ là giáo viên tiểu học vùng cao về nghỉ hè đưa cho anh một lá thư dày. “Bạn Thanh gửi cho thầy. Ba tuần rồi, em định gửi thư bảo đảm về cho thầy, nhưng nghe nói thầy sắp lên làm phim, nên gắng chờ để đưa tận tay” - “Thanh đâu mà nhờ em đưa thư cầu kỳ thế?” - “Bạn ấy mất rồi thầy ạ…” - ”Mất vì sao?” Thế bồn chồn hỏi với một linh cảm kỳ lạ. Cô học trò cũ im lặng, cúi nhìn xuống đất. “Thôi, thầy cứ đọc đi đã…”.

Bên dòng Liệp Nọi mùa khô cạn chảy qua thị trấn, Thế dần thấm lạnh tới xương tủy. Không phải bởi sương núi mà bởi mấy chữ “Em lạnh quá!”, tựa Từ khóa của một tiểu luận văn chương dội vào anh từ quá khứ hơn ba chục năm trước đến thực tại, trong bức thư mười trang giấy học sinh chữ nhỏ sít, vẻ vội vã mà cố gắng nắn nót, cho thấy của một người tuy có học nhưng ít viết thư, không cần viết thư để làm gì song nhất thiết phải viết bức thư này…

Thưa thầy yêu quý!

Khi thầy đọc những dòng này, cô học trò cưng của thầy đã không còn ở trên cõi tạm nữa. Nhưng nếu thầy nhận được nó và chịu đọc qua thì cuộc đời ngắn ngủi tội lỗi của em sẽ được an ủi phần nào, có chút ý nghĩa… Thầy hãy trở lại dòng suối thân quen của chúng mình, đến chỗ thầy và em từng ngồi, buổi ấy em cố tình nép sát thầy và thầm thì: “Em lạnh quá”… Giá như, lúc đó thầy ôm lấy em, chứ không cởi áo khoác ngoài ra choàng vào người em, để đón nhận tình cảm của một đứa con gái mới lớn thầm thương yêu thầy suốt mấy năm ròng, thì có lẽ, cuộc đời em sẽ không có kết cục đau đớn như bây giờ…

Hôm qua, thằng chồng khốn nạn của em bị dẫn khỏi trại lần cuối để rời bỏ thế gian, lúc đi qua phòng giam nữ nhìn thấy em dửng dưng vô hồn sau song sắt, nó bước chậm lại và rít lên: “Con kia! Sao mày không rỏ nước mắt vĩnh biệt tao, như mọi con đàn bà khác!?” Em lạnh toát người, chưa bao giờ lạnh như thế. Em nuốt vào lòng câu chửi ấy, coi như thay lời vĩnh quyết của nó, và cũng dùng thay lời tạm biệt của em với nó ngày hôm nay, để mai em cũng theo bước chân của nó ra chốn hư vô…

Vâng thầy, ngày mai em cũng theo nó, cùng đồng bọn gieo chết chóc cho đồng loại đi đến chỗ trừng phạt thích đáng, cần thiết. Có điều, em không giống chúng nó, bởi chúng nó không bao giờ được biết cái bí mật sâu thẳm của em – cái bí mật đã giúp em đôi khi hiểu cuộc sống thật sự là gì, hạnh phúc đích thực ra sao… Cái bí mật ấm áp giản dị bắt đầu từ những ngày thầy hướng dẫn tập một trích đoạn kịch Hămlét cho trường Sư phạm mình, em được thầy phân vào vai nàng Ôphêlia. Trước những lời thoại làm tổn thương người yêu của Hămlét, mới đầu em hoang mang lắm, thầy bảo: “Em cứ suy nghĩ chút đi, và tốt nhất cần đọc lại cả vở kịch”. Thế rồi em hiểu: Hămlét đã chấp nhận gây hiểu lầm cho người yêu khi miệt thị, phản bác lời nói của Ôphêlia để những kẻ xấu không tin vào lời lẽ của nàng nữa, nhằm che mắt những kẻ đang theo dõi chàng, vì người nghe lúc đó chắc còn có Clôđiút và đám tay sai… Em bắt đầu thầm yêu thầy khi nhìn thầy mồ hôi nhễ nhại hướng dẫn tỉ mỉ, làm thị phạm cho giáo sinh bọn em – những diễn viên nghiệp dư vụng dại, và em chợt nảy ý nghĩ trẻ con: Phải chăng thầy chính là một Hămlét tái thế?

Cái so sánh bất chợt đó đã lặp lại trong em, sau mấy lần thầy khéo léo từ chối ra nhà em khiến em thấy gai lạnh cả người và tủi thân phát khóc - những khi nhà em mổ lợn hay mua được thịt nai rừng có thiện chí muốn giúp thầy cải thiện đôi chút sau những bữa cơm tập thể bếp “Chị Dậu”. Em hận và buồn trĩu khi biết thầy thường vui vẻ ra thăm những gia đình cán bộ nghèo thị trấn, nhưng hầu như chẳng thèm bước chân đến nhà em cũng như những những gia đình buôn bán hay có người làm thương nghiệp, cửa hàng Bách hóa, hoặc gia đình cán bộ lãnh đạo Huyện; nếu có việc phải đến thì rất gượng ép, mấy đứa bạn ở thị trấn xác quyết thế… Giá như, thầy chỉ chấp nhận một vài bữa cơm rượu thân tình do bố em nài nỉ mời, biết đâu bố em sẽ không quyết liệt vào hùa với “rể quý” bắt em phải bỏ nghề dạy học, dù đã chạy được về trường thị trấn… Em không biết là may mắn hay bất hạnh vì đã sinh ra trong một gia đình buôn bán có “máu mặt” của Huyện. Trước nhà em, hầu như ngày nào cũng có mấy xe tải đỗ lại, dường như sáng nào em cũng phải ra chợ, vào bếp phụ mẹ làm cơm rượu đãi khách lái xe, khách buôn tứ xứ - nhiều nhất là các vùng cao biên giới, chắc chắn là có “Cơm đen” – thứ mà mấy năm sau sẽ dính vào đời em như một lời nguyền ma quỷ, một định mệnh khủng khiếp!

Em thấm lạnh... Em nhớ lần đó, trong một đêm trăng, em thấy lạnh run rẩy vì e thẹn, vì xấu hổ đến chết người khi biết rõ thầy đã tìm thấy mấy dòng vụng dại tỏ tình của em gấp trong bài văn viết nộp sau cùng, song thầy làm như không có lá thư đó, cho đến lúc đi dạo bên suối Nọi thầy hỏi bâng quơ: “Em có biết câu này của ai không: Em là em mà anh vẫn là anh. Giữa đôi ta là Vạn Lý Trường thành. Nhưng đúng ra phải là thế này cơ: Em là em, anh vẫn cứ là anh. Có thể nào qua Vạn Lý Trường thành… Người ta không muốn bị ông Hoàng thơ tình kiện đấy chứ?” Em thì chỉ muốn độn thổ. Em thấy lành lạnh toàn thân. Nhưng cái lạnh ấy sao mà dịu dàng, mỏng manh, êm dịu tựa ánh trăng đầu tháng vừa hé lộ đầu núi. Và thầy hình như cũng hiểu tâm trạng của em mà thốt nhiên đọc khe khẽ: Dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi… Em biết thơ ai không? Của nữ thi sĩ Nga Onga Bergôn, người có nhiều bài thơ tình rất hay, thầy sẽ đọc và chép cho lớp ta mấy bài thơ tình yêu của bà, do nhà thơ Bằng Việt dịch”. Như một sự gợi ý tinh tế, em đã nép mình vào người thầy. Nhưng thầy đã không đủ lòng dũng cảm để ôm chầm lấy em mà dành cho em nụ hôn đầu đời… Em chợt lạnh run lên bởi cảm nhận được nỗi xúc động của thầy trước tình cảm của em đồng thời cũng cảm nhận được khoảng cách vô hình do chính em đã tạo ra, bởi cái cuộc sống thực dụng gia đình đã vô tình vấy bùn vào em tự lúc nào em không hề biết…

Khi viết những dòng này cho thầy, em cảm thấy rõ rệt cái ớn lạnh đáng sợ của Thần chết lởn vởn… Còn đâu cái lạnh tưởng tượng, cái lạnh hờn dỗi những lúc ngồi bên thầy ở dòng suối chảy qua tuổi thơ êm đềm và thời thiếu nữ mơ mộng của em… Nếu có buổi nào se lạnh hay buốt lạnh, thì những lời thương mến chân tình của thầy đã khiến không gian đêm phố Huyện trở nên ấm áp vô cùng… Nhưng, ma xui quỷ khiến, lúc trở về cái guồng quay lời lãi tất bật của nhà em, điều thầy hằng mong mỏi ở em là hãy tìm cách thoát ra khỏi thế giới buôn gian bán lận kia đã bị đè bẹp rúm, và thực ra em cũng không biết thoát bằng cách nào, để mỗi lần đến bên thầy em lại cảm thấy ân hận, xấu hổ… Phải chăng những ân hận, xấu hổ tích tụ kia đã hóa thành nỗi lạnh cóng hồn em lúc này?

Em chợt lạnh quá, lạnh tê dại, lạnh tới đứt ruột, bởi giờ đây, hơn lúc nào hết em thấm thía rằng: em đã phản bội sự trong trắng của tâm hồn thầy – dù là sự trong trắng khờ khạo và bất lực của một ông thầy trẻ xuất thân gia giáo Hà Nội giữa một hoàn cảnh xấp ngửa tới chóng mặt bởi tiền bạc khiến em lắm khi phải ngơ ngác giận hờn, song bao giờ cũng cảm thông với thầy và trân trọng lẽ sống thầy lựa chọn... Tại sao em và thầy đã không gặp nhau trong một môi trường khác, hoặc em được sinh ra trong một gia đình cán bộ bình thường và lương thiện, để thầy không phải e dè trước đôi môi trẻ trung khao khát đón nhận tình yêu thương của em?

Em lạnh quá, thầy yêu quý! Em đã bị dìm trong bể lạnh thật sự đúng vào đêm tân hôn bởi một kẻ em không hề yêu thương, song lại là “cánh hẩu” làm ăn nhà em, hơn nữa lại là ân nhân của gia đình em vào ngày bố em đổ bể buôn bán bị một lũ ác ôn vây đến đòi “lấy tiết” trả nợ. Với lại, kẻ đó vốn là cán bộ cũ của trường ta, có vẻ cục mịch song được tiếng “sòng phẳng”, “chịu chơi”, “nghĩa hiệp” trong giới buôn bán khắp vùng Tây Bắc. Em đã tặc lưỡi đồng ý, với ý tưởng ngây ngô “bán thân cứu cha” - như nàng Kiều vậy! Thế rồi trong đêm đầu làm vợ, mặc nó giày vò thân xác, em đã chảy nước mắt thương mình và thương thầy vô hạn… Em quên sao nổi câu Kiều thầy đọc như nuốt lệ hôm giảng tiết cuối cùng về tác giả Nguyễn Du: Biết thân đến bước lạc loài/ Nhị đào thà bẻ cho người tình chung! Thầy có cảm tình rõ rệt với em, luôn quan tâm đến em, em biết chứ, nhưng thầy đã tìm cách lánh xa em – đúng hơn là cố lánh xa môi trường sống nhà em mà thầy ngầm khinh ghét, - nhất là khi nhận thấy những lời khuyên bảo chí tình chí nghĩa của mình giống nước đổ lá khoai! Biết hận thầy là vô lý, thậm vô lý, nhưng em vẫn cứ hận, hận nhiều ngày tháng, hận cho đến lúc này… Thầy tha thứ cho em nhé, em biết phận mình rồi, em không xứng với tình cảm và hy vọng mà thầy đã dành cho em. Nhưng thầy cho phép em lần đầu, và cũng là lần cuối được gọi thầy là “Anh”…

Em lạnh quá anh ạ!… Cái lạnh của nỗi sợ hãi bản năng khi nguy hiểm rình rập, cái lạnh từa tựa ở buổi lần đầu em theo lệnh bọn nó tới bản Y cách thị trấn 5 cây số, một bản lúc đó hầu như chỉ còn rặt đàn bà trẻ con. Cái thằng em định gặp bí mật để trao “hàng cấm” thì đã bị còng tay đêm hôm trước, và hóa ra là thằng đàn ông cuối cùng của bản! Nhìn vợ con nó nheo nhóc đang ôm nhau mà khóc cạn nước mắt, em xót thương quá và chợt lạnh người nghĩ đến tương lai mình… Lời thầy khuyên năm nào cùng những hạt mầm thiện thầy từng gieo cho một cô giáo sinh trẻ lắm khi cồn cào thức dậy trong em. Song những tia mắt chó sói của thằng chồng em và lũ bạn đã như thùng nước lạnh dập tắt phũ phàng chút ánh sáng thương người trong em sau nhiều ngày tháng cam phận nô lệ chỉ còn le lói qua những câu thoại của Ôphêlia dần chìm tận đáy ký ức. Hình như Hămlét có khuyên Ôphêlia hãy vào nhà tu kín, và nếu lấy chồng thì chỉ nên lấy thằng rồ dại, vì kẻ khôn ngoan sẽ tránh xa người có khả năng biến họ thành quỷ dữ. Nhưng nàng Ôphêlia là Thánh nữ, còn em thì đã ngu muội để “ma đưa lối quỷ dẫn đường” vào địa ngục lạnh giá…

Vâng, em đang lạnh quá anh ạ! Lạnh tê tái, lạnh đến tím bầm nỗi ân hận từng gặm nhấm em suốt nhiều năm qua nhưng lại hèn nhát để không tìm cách và không đủ sức để giết chết nó, hoặc vượt thoát nó rồi làm như người bên Phật giáo từng dạy bảo: Quay đầu là Bờ…

Nhưng anh ơi, anh hiểu cho em, không phải đến hôm nay, sau bao lần trái tim bị cào xước bị lạnh buốt em mới nhớ đến anh, và lần nào cũng ngẩn ngơ tựa đánh mất điều quý giá nhất trên đời: anh đã biến mất tích tận đẩu tận đâu rồi, và biết đến bao giờ anh mới xuất hiện, hở anh?… Không phải một lần em có giây phút thảng thốt tiếc nuối như lý do chính và sau cùng của sự tồn tại: Giá như, đêm ấy bên suối, anh hiểu được khát vọng của em qua lời cầu khẩn: “Em lạnh quá…”.

Vĩnh biệt anh.

Lá thư này anh sẽ cho con gái đọc, như một bài học về Tình yêu, và gợi ý cho nó về một scenario film…

25.

Đi xa về Hà Nội, Thế nghe con gái và mấy đứa bạn đang chuyện trò sôi nổi về “tiền lẻ”, “tiền tỷ”, bởi chúng mới được nghe một vị tu hành béo tốt tuyên bố với Phật tử đang cúi rạp người tựa nghe Thánh phán, rằng: “Cúng dường tiền lẻ thì sẽ mắc nghiệp nặng”…

Nếu có tham gia tranh luận với chúng, anh sẽ bảo: Nếu nói đến tiền lẻ người ta thường nghĩ ngay tới những tờ/ nắm tiền giấy nhàu nát dính nhớp mồ hôi trong tay, trong hầu bao các cô - bà bán rong có được sau cả ngày vất vưởng trên hè đường đầy bụi khói hoặc góc chợ quê đìu hiu… Nhưng nói đền tiền tỷ thì thường gắn với những tập Đô-la dày cộm đựng trong va-li hay trong bọc giấy thường cất trong ngăn kéo phòng làm việc của các quan chức đương nhiệm…”. Và ngay lúc đó, anh sực nhớ đến một chiếc ngăn kéo đựng tiền tỷ như vậy mấy chục năm trước (vào lúc mà anh cầm 01 tỷ đồng Nhà nước trong cương vị giám đốc sản xuất ép uổng thì đã đủ kinh phí thực hiện một phim điện ảnh nhựa quy mô, còn bây giờ thì phải vài chục tỷ đồng!). Có điều, đó là ngăn kéo phòng làm việc của một đại quan chức Tỉnh không may qua đời khi “vi hành” vào đám dân nghèo đương lo kiếm tiền lẻ, mà không thể quay lại lấy gói tiền tỷ kia…

Ông ấy vốn sinh ra và trưởng thành từ một làng dân khai hoang dưới xuôi lên miền núi định cư... Ông chịu khó học bổ túc hết cấp Ba (Phổ thông trung học bây giờ), rồi không hiểu có lý lịch thế nào, quan hệ ra sao, hành xử những gì mà được cử học Lý luận chính trị cao cấp, để cứ thế quan lộ thăng tiến - từ Chủ tịch xã đến Bí thư Huyện, rồi tới Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh,- và đó là chức vụ khi ông huấn thị cho Thế về bộ phim tài liệu chuẩn bị thực hiện theo đơn đặt hàng của Tỉnh về công cuộc chặt phá cây thuốc phiện & hậu cây thuốc phiện đang được triển khai toàn vùng Tây Bắc rộng lớn…

Ông thạo mấy thứ tiếng dân tộc, am hiểu sâu trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng được giao quản lý - nhất là đời sống đồng bào dân tộc vùng cao đang đứng trước cuộc vận động thế kỷ là triệt bỏ một phương thức canh tác lâu đời đem lại lợi nhuận lớn là cây thuốc phiện… Những gợi ý riêng của ông - ngoài định hướng chung của Tỉnh ủy, Ủy Ban Dân tộc Tỉnh - đã giúp anh rất nhiều điều bổ ích để có thể hoàn thành được bộ phim tài liệu phóng sự khá quy mô mang tên Trăn trở vùng cao - sau vài tháng lăn lộn ở nhiều vùng cao Tây Bắc, chủ yếu là vùng người Mông…

Lúc duyệt phim lần đầu, ông ngồi xem rất chăm chú, bắt chiếu lại thêm lần nữa rồi vỗ tay tán thưởng đầy hào hứng, sau đó là mấy nhận xét cặn kẽ, chi tiết, và chính xác để anh có thể hoàn chỉnh lúc sửa phim. Nhưng có một tình tiết trong phim anh phải tranh luận với ông: Ông bảo cần bỏ đi cảnh một người phụ nữ Mông gạt nước mắt xót xa tiếc của bên đống cây thuốc phiện vừa chặt.

Thế nói: “Anh à, bỏ thì dễ thôi, nhưng theo em sẽ mất đi một cảnh rất có ý nghĩa…”. Ông nghiêng đầu lắng nghe, vẻ tò mò. “Anh nghĩ xem: cây thuốc phiện gắn bó bao đời với tập quán canh tác của người Mông, vậy mà họ dũng cảm chặt bỏ, vận động cả làng cùng chặt bỏ! Nhưng họ đâu phải là cái máy anh ơi, họ có bao kỷ niệm với thứ cây này, vì vậy giọt nước mắt của họ em quay chộp được càng có ý nghĩa, có thể giúp người xem xúc động hơn trước sự hy sinh lớn lao, lòng dũng cảm đáng ca ngợi của đồng bào vùng cao trước sự nghiệp chung…” Ông chợt rơm rớm nước mắt, lặng im hồi lâu rồi đứng lên bắt tay Thế thật chặt: “Cám ơn… Cám ơn chú em nhà báo đạo diễn! Đúng vậy, nếu cắt bỏ những cảnh thế này, tôi cũng sẽ không thể có được cái cảm xúc thương mến, tự hào về đồng bào lúc nãy xem phim… Chú em hãy tìm thêm vài cảnh đau đớn như thế nữa đi, bộ phim sẽ thêm thấm đó…”.

Trong đời làm phim của Thế, có thể nói đó là một kỷ niệm thật đặc biệt, không thể quên nổi, và giúp anh có một ấn tượng tốt đẹp chung về tập thể lãnh đạo địa phương này… Cho tới mấy năm sau, quay trở lại, tình cờ được nghe chuyện từ người trong Ủy ban, một người bạn làm văn hóa, Thế ngỡ ngàng: Ông ấy từ khi sang làm Bí thư tỉnh đã dần trở thành con người khác, ít ra là nhờ “công lao” của bà vợ vốn là người chăn nuôi lợn gà tại gia bỗng được bầu làm Chủ tịch Hội phụ nữ. Bà ta dần dà thay mặt đức ông là “Thái thượng hoàng” tư tưởng - chính trị của một địa phương nghèo đói để làm “đại sứ” giao dịch với các doanh nghiệp lớn nhỏ tìm đến địa bàn làm ăn miền núi dân tộc ít người nhưng có nhiều tiềm năng du lịch, được Trung ương quan tâm…

Và một năm nữa, vác máy quay lên địa bàn làm phim cũ, Thế đã nghe được chuyện giật gân kinh hoàng đối với cán bộ nhân dân tỉnh này và ngậm ngùi đối với anh: Sau khi ông Bí thư Tỉnh bị đột quỵ trên đường làm việc với một Huyện xa, người ta đã tìm thấy trong ngăn kéo ở phòng làm việc của đồng chí có địa vị chót Tỉnh ấy một gói gồm tiền, vàng, nữ trang, bạc trắng hoa xòe trị giá Ba tỷ đồng…

Ba tỷ đồng lúc ấy có thể tương đương với ngót trăm tỷ đồng bây giờ, nói một cách rất khiêm tốn và chi tiêu hết sức hợp lý tiết kiệm như các “đại gia” sản xuất phim hiện nay, thì có thể thực hiện được hai bộ phim dã sử - lịch sử quy mô chiếu ở trên 900 rạp Kỹ thuật số hiện đại toàn quốc…

Thế bỗng nhớ tới những đồng tiền lẻ nhớp nháp của bà con trả lại mà anh không nỡ cầm ở một vùng cao năm ấy, khi anh mua mấy bắp ngô luộc nguội ngắt bày dọc đường núi, trên đường làm phim về Hậu cây thuốc phiện…

26.

Hằng, bạn gái Thế, là một cô giáo dạy văn, có một chuyện buồn - xảy ra trong một “đại dịch” đang bắt đầu lũng đọan tinh thần xã hội - đặc biệt là ở lớp trẻ mà có cả học sinh sinh viên cũ lẫn mới của anh, tạo nên một panorama cảnh ngộ của không ít người cha, người mẹ, người chồng, người vợ, người con, người em hoang mang đến tuyệt vọng bởi người thân bị lôi kéo theo Giáo phái - Hội Thánh X - “Tổ chức thiêng liêng” của vị “Giáo chủ” kia, gây nên bao bi kịch gia đình. Và, như một sự sắp đặt trớ trêu của Tạo hóa, giọt nước mắt cay đắng bất lực của bạn anh dường “tô điểm” thêm cho cái thông tin sốt dẻo ly kỳ làm dịu bớt căng thẳng xã hội hôm nay – đó là thông tin về viễn cảnh “Thiên đường” mà một vị “Giáo chủ” ở xứ sở các tấm thảm biết bay vẽ ra và hiện đang đến với 72 Trinh nữ đang chờ đón ông ta nơi đó…

Nói cho công bằng, cái “đại dịch” lũng đoạn tinh thần kia đã/ đang/ sẽ diễn ra nhiều nơi trên thế giới từ suốt hơn thế kỷ qua, do không ít vị “Giáo chủ” khét tiếng nói đủ thứ ngôn ngữ tạo ra, nuôi dưỡng và “hướng đạo” thần dân của mình - không chỉ “thôi miên” bằng giáo lý, tôn chỉ, khẩu hiệu, những hứa hẹn mê ly “mật ngọt chết ruồi”, mà còn bằng dùi cui, xiềng xích, súng đạn… Nhiều vị “Giáo chủ” trong đẳng cấp cao chót vót phải nói rất hiểu biết tâm lý đời thường, biết vờ vịt hòa đồng, “ba cùng” với thần dân của mình để thỏa thê trục lợi trên sự u mê dại dột của thần dân, vơ vét cho đầy túi tham của mình và thây kệ thần dân ngụp lặn trong cảnh khốn cùng. Họ tốn rất nhiều tiền của không phải của họ để buộc thần dân phải tin ở cái Thiên đường ảo mà bản thân họ cũng không biết đến bao giờ mới thành hiện thực, để họ và đại gia đình họ được sống cảnh Thiên đường vật dục ngay trên cõi thế, cùng các “Giáo chủ” đàn em tụng các loại Kinh & Thần chú chờ đón lúc được đến với những Trinh nữ tưởng tượng và sự “Giải thoát” đã được mua bảo hiểm bằng chính xương máu của thần dân họ… Nói trắng ra là họ buộc thần dân mua Thiên đường ảo và bố thí cho thần dân Địa ngục thật, còn họ và người thân và phe cánh hẩu thì giành Thiên đường thật; Địa ngục ảo là địa chỉ mua bán “Tâm linh” cho thần dân với giá trên trời! Tây - Ta - Á - Âu… đều thế cả, dù khoác loại áo màu mè gì chăng nữa!

Ban đầu, trước sự than thở của chồng Thư, một kỹ sư xây dựng về chuyện cô vợ trẻ mất quá nhiều thời gian vào việc tụ họp, đọc kinh, làm lễ mà sao nhãng chăm sóc con, cô bạn anh chỉ xuê xoa: dào, đó là chuyện sớm nắng chiều mưa! Với lại, Thư vốn là một sinh viên ngành Báo chí, chắc sẽ mau chóng nhận ra thực chất của tổ chức ấy! Hơn nữa, theo Thư, đây là một hoạt động đề cao sự trung thực, lòng nhân ái, mọi người trong Sion hòa thuận thương yêu nhau như anh em ruột thịt, bạn anh cho rằng, điều đó cũng rất tốt. Nhất là, trong hoàn cảnh cả xã hội như lên đồng trước các hoạt động tâm linh trá hình tràn ngập, không ít vị quan chức lớn cũng dường bị kẻ nào sai khiến để tranh cướp ấn đền Trần hoặc chạy theo các cuộc giải hạn hoặc các giá đồng tốn hàng trăm triệu đồng, thì cái mức độ mê muội của Thư cùng tác hại của cái tín ngưỡng đó đối với đời sống của con gái bạn anh chẳng nhằm nhò gì!

Nhưng…

Hằng kể tiếp:

Tôi đã có lần bí mật bám theo con gái, tìm đến một Sion tại Hà Đông, thì thấy đó là sinh hoạt của một hội kín, với nhiều sương khói bí ẩn. Ở đó bọn trẻ con gọi người lớn là “Anh, Chị”, mọi người cực kỳ hân hoan vui vẻ, và thành kính tự nguyện nộp tiền cho người đứng đầu; người ta coi tiền bạc chỉ là thứ tạm bợ, coi đấng sinh thành ra mình không đáng kể so với cha mẹ tinh thần đang chờ đợi ở cõi Trời…

Cho tới một lần, cách đây cũng đã hơn hai năm, có thể gọi là một cao trào trong quan hệ của vợ chồng Thư. Hôm đó, Thư gọi điện nhờ tôi báo với chồng cháu là buổi tối sẽ đi với một đạo diễn về việc chọn diễn viên cho một phim sắp làm (Thư hồi bé cũng đã từng tham gia một bộ phim của ông đó, với tư cách diễn viên phụ, ông có nhớ?), và cho cả con trai 5 tuổi đi cùng. Tôi hỏi: “Vì sao con phải dối trá chồng? Con hay dẫn Kinh Thánh, chắc phải biết sách Châm Ngôn đã dạy: “Thà làm người nghèo khổ còn hơn là kẻ nói dối”? Con gái tôi hơi giật mình, rồi tỉnh queo như đã được chuẩn bị sẵn câu trả lời: “Chúa Trời Mẹ bảo rằng, đó cũng là một điều cần thiết để đạt mục đích tốt lành. Quan trọng nhất là trung thực với Đức Mẹ…”. Chiều tối, tôi đến nhà vợ chồng Thư, nói với chồng nó sự thật, là tối nay Thư xin đi dự lễ “Vượt qua” - một lễ trọng của Hội thánh X. Theo đề nghị của con rể, tôi ngồi ở ngay cửa ra vào để trò chuyện, để giúp anh ta cản trở cuộc đi, bởi đã nghe tin tức đâu đó về Chính quyền sẽ can thiệp trong buổi này… Con bé đã như một con thú dữ lồng lộn trong suốt một giờ liền. Tôi không chịu nổi, vừa thương xót vừa bực tức, rồi bỏ cuộc, khi cay đắng thấy rõ: đối với Thư, giờ đây chẳng có gì quý giá, quan trọng, thiêng liêng nữa, ngoài Hội thánh X của nó! Sau đó, tôi nghe kể lại: chồng Thư đã ra một “tối hậu thư”: “Nếu cô ra khỏi nhà hôm nay, cô đừng quay trở lại đây nữa!” Nó vội vã đồng ý, và tức tối phóng xe vào Hà Đông để kịp làm lễ - dĩ nhiên là không thể mang con trai đi theo được. Cuộc chia tay của hai vợ chồng Thư bắt đầu từ tối hôm đó, và gần một năm sau thì đưa nhau ra tòa ly dị! Thư về nhà tôi được một thời gian ngắn, làm xáo trộn sinh họat của tôi - như đi về lúc nửa đêm, kéo theo cả bạn gái, lúc 5 giờ sáng đã dậy đọc kinh, v.v. Tôi quá mệt mỏi, đề nghị chồng cũ cho Thư về nhà anh ấy tá túc. Anh ấy đã chuẩn bị một phòng riêng cho Thư. Nhưng khi Thư đến, thấy bà nội đang lầm rầm niệm kinh Phật, trên bàn có mấy cuốn sách về đạo Phật, nên nó hình như hoảng sợ, từ chối đến nhà bố đẻ ở, với lý do đã thuê được chỗ, rồi vẫn ở lỳ nhà tôi. Bố nó bảo: hy vọng nếu Thư ở gần, anh ấy có điều kiện phân tích dần dà cho nó, bắt nó đọc sách và xem phim tử tế, may ra có cơ giúp nó tỉnh ngộ - mặc dù cũng thầm lo là Thư sẽ rủ rê hai em gái cùng cha khác mẹ vào Hội thánh, như nó đã và đang làm với nhiều người… Tất cả mọi người bên nội của Thư đều nhiều lần nhận được điện thoại, tin nhắn, Fb của nó xin được hẹn gặp ở quán cà phê, “việc rất hệ trọng”. Em gái chồng cũ tôi, là một giáo viên, sau khi gặp Thư đã trả lời thẳng thừng: “Cô không thể theo cái đạo của cháu được, vì nó bắt người ta phải bỏ bàn thờ ông bà Tổ tiên…”. Lần nào gặp tôi, Thư cũng đều tìm cách chứng tỏ nó đang lo lắng đến phát sốt cho tương lai, sự tồn vong của bố mẹ và những người thân, bởi theo nó, “Chỉ một số ít người mới được Đức Chúa Mẹ chọn lựa để thoát khỏi ngày Tận Thế, sang bên kia thế giới hưởng Bình an, Hạnh phúc vĩnh viễn!” Thư mấy lần kỳ kèo tôi xin được gặp một buổi chính thức để nói chuyện về Hội Thánh X. Tôi đã cố thu xếp được một buổi như vậy. Hôm đó, ngoài cuốn Kinh Thánh được gạch chi chít xanh đỏ lúc nào cũng cặp kè, nó còn mang theo laptop cùng nhiều tài liệu in dạng tạp chí, sách bỏ túi, sơ đồ, biểu đồ… Sau nửa tiếng chịu đựng “tra tấn” bởi những lời rao giảng ngô nghê của nó và mấy clip quảng cáo huênh hoang, tôi cố nén ngắt lời nó: “Kinh Thánh thì mẹ cũng đã đọc từ mấy chục năm trước, và hiện giờ vẫn thỉnh thoảng đọc, vẫn ghi chép về nó như một tài liệu nhân văn thú vị, bổ ích. Nhưng theo mẹ biết thì không có chỗ nào của Kinh Thánh dạy người ta báng bổ, hạ thấp các tôn giáo khác, nhất là không có chương nào, câu nào buộc người ta phải bỏ chồng bỏ con để chạy theo tôn thờ một vị thánh mang cái tên nước ngoài lạ hoắc…”. Sau đó, nó vẫn hăng hái thuyết giảng như một con vẹt mà người ta đã dày công mớm cho đến từng từ, từng cách diễn đạt và lập luận, với một một niềm tin chắc chắn rằng: đã chép trong Kinh Thánh thì đó là chân lý bất di bất dịch, cũng như, chứng cứ khảo cổ tìm được về con thuyền mang tên Nô-ê là minh chứng cho sự thật không thể bác bỏ mà sách Sáng thế ký đã ghi!... Ba tiếng đồng hồ nặng nhọc thuyết phục lẫn nhau bất thành, tôi đành “lý sự cùn” để chống lại cái kế hoạch đã được người khác bày đặt khá hoành tráng đó - thông qua người “phiên dịch” mẫn cán là Thư - như sau: “Con muốn mẹ sẽ tham gia Hội thánh X này, chứ gì? Thôi, thế này đi, coi như là một giao kèo: khi nào cuộc sống của con ổn định, làm ra tiền góp cho chồng con ít nhiều để nuôi bé Bin ăn học, biết đâu mẹ cũng sẽ tình nguyện đăng ký xin vào Hội thánh của con?”

Từ buổi đó, đã hơn một năm qua… Những ngày giỗ kỵ, tôi vẫn nhắn bảo Thư dù biết trước là nó tránh xa những ngày đó. Đôi khi Thư vẫn tới thăm bà nội, và câu trước câu sau lại tìm cách để tiếp cận với hai cô em gái… Hai đứa con gái riêng của chồng tôi đã nhắn cho tôi: “Chị Thư sao người hôi thế hở cô? Chị ấy bôi thứ mỹ phẩm gì vậy?” Không lẽ tôi phải giải thích cặn kẽ cho chúng: đó là quy định của Hội thánh X, càng ít tắm rửa càng tốt! Quy định này, gần đây tôi mới biết, cũng như một luật lệ kỳ quặc nữa, đó là đi xe trên đường không cần chú ý tránh ai, mọi người phải tránh mình (Bởi đã có Đức Chúa Mẹ che chở, bảo vệ tuyệt đối ở mọi nơi mọi lúc - như lời khẳng định đầy tin tưởng của Thư và các bạn!). Hơn một năm qua, nó chuyển hẳn về một tỉnh Trung du với các đạo hữu mới. Nó vẫn đi xe máy mỗi tuần về Hà Nội hai, ba lần, để ăn như chết đói, bao nhiêu đồ ăn thức uống thừa vét mang đi hết, “để cho các bạn trong Sion trên ấy cùng ăn”- nó ngang nhiên tuyên bố thế! Và trong những lần đi về sáng sớm, đêm hôm tất tưởi như thế, nó đã bị đụng xe tới ba lần, lần nặng nhất phải nằm viện một tuần; một lần gây thương tích cho người khác phải đền 10 triệu đồng! Trước Tết vừa rồi, nó thông báo cho tôi: bị mất cắp xe máy, cần 15 triệu để chuộc lại xe! Tôi ngờ rằng, đó lại là một cách “làm tiền” mà Hội thánh đã bày cho. Nhưng tôi vẫn khuyên không nên chuộc nữa, và đưa cho nó một chiếc xe đang đi còn tốt. Nhưng vừa đưa xe xong, nó lại vội bán rẻ ngay tức thì, và bảo: con cần xe thật tốt để đi xa! Tôi lại lo cho nó một khoản để mua xe máy mới, với hy vọng là nó được an toàn, và sẽ không “làm thịt” cái xe này để lấy tiền phục vụ Hội Thánh như lâu nay nó vẫn làm - bằng cách nhiều lần vận dụng mọi thủ thuật để moi tiền của mẹ (như: đòi đầu tư làm ăn mấy lần nhưng rồi báo là đổ bể - thực chất là bị lừa hết, hay chỉ là “diễn kịch”, như: buôn đồ mỹ phẩm ở TL, đi HQ để làm lễ cưới với người cùng Sion ở Thái Nguyên, v.v.). Thế là tôi lúc nào cũng như người bị ma ám bởi những chiêu trò thôi thúc xin tiền của con gái, toàn những khoản không nhỏ (so với lương hưu của tôi) mà tình thương con chiều con thái quá lắm khi đã làm mờ cả lý trí…

Đối với tôi, thay đổi đáng lo ngại nhất của Thư, không phải là nó đã tiêu phí một số tiền lớn (không do nó làm ra) một cách vô ích, nếu không muốn nói là bị lừa đảo, và hiện chơi vơi trong nghề nghiệp & mưu sinh, mà là nó đã lún quá sâu trong cái “ma trận” của Hội thánh X kỳ dị này khiến những suy nghĩ, lương tri, lẫn tập quán sinh hoạt của một con người bình thường ở xã hội văn minh đang dần bị biến dạng một cách đáng kinh ngạc! Tôi bất lực đau đớn trước sự tha hóa về tâm hồn, nhân cách, lối sống của con gái, mà lẽ ra nó đã là một phóng viên có năng lực, hoặc một người dẫn chương trình có duyên chứ không phải là một cái máy vô hồn hàng ngày đi truyền bá hộ kẻ khác những điều xa lạ, ngớ ngẩn, và độc hại. Xét cho cùng, con bé ngây thơ dại dột của tôi cũng là một trong nhiều nạn nhân đáng thương của một nhóm người vì quyền lợi ích kỷ sẵn sàng đầu độc lôi kéo lớp trẻ ít kinh nghiệm sống làm phương tiện, làm bình phong cho dã tâm của họ! Chỉ vì thiếu nền tảng tri thức khoa học đúng đắn cho Niềm tin mà nó và rất nhiều sinh viên hiện đang như con thiêu thân lao theo những ảo ảnh của Thiên đường mà người ta vẽ ra, vô tình làm vật thí nghiệm cho trò lừa bịp khoác vỏ tín ngưỡng của họ! Biết đâu, tổ chức kia còn âm mưu một ý đồ chính trị thâm độc gì đó, nhằm phá hoại xã hội chúng ta ở tận gốc - đó là Gia đình và các Giá trị Nhân bản? Và tôi chợt nhớ có lần, cô bạn của Thư - đang là bậc thầy dẫn dắt nó, sau khi lên tiếng mạt sát các tôn giáo khác, đã úp mở bảo tôi: “Cô hãy đọc sách Châm Ngôn của Kinh Thánh, đoạn 28, câu 2, sẽ hiểu thêm về Hội thánh chúng cháu…”. Và cô ta còn lấy giấy bút ra ghi lại giúp. Về nhà, tôi đã mở cuốn Kinh Thánh, bản truyền thống hiệu đính, Liên hiệp Thánh Kinh Hội ấn hành, Nxb Tôn giáo 2011, đọc theo chỉ dẫn, thấy những dòng này: Khi xứ sở loạn lạc/ Thì có nhiều lãnh tụ;/ Nhưng nhờ một người hiểu biết/ sáng suốt,/ Đất nước sẽ bền vững lâu dài.

Tôi thầm nghĩ, phải chăng cô gái đó muốn ám chỉ: một người hiểu biết sáng suốt như vậy chính là vị “Giáo chủ” - lãnh tụ của Hội Thánh X mà con gái mình đang mê muội tôn thờ? Tôi đã thực sự mất nó, trong cuộc giành giật tâm hồn - lương tri của một con bé ngây thơ ngu dại với một kẻ khoác áo “Giáo chủ” thực hiện sứ mệnh “Thiêng liêng” của họ bằng mọi giá!

Bố nó bảo: Đang làm việc với một hãng phim tư nhân, ngoài những dự án phim điện ảnh thuyết phục nhà đầu tư, anh ấy còn níu theo một điều kiện với họ, và nói với Thư: “Bố sẽ dành cho con một vị trí xứng đáng, một công việc phù hợp với năng lực và nghề nghiệp vốn có của con…”. Nhưng nó đã lờ đi, coi như không có lời đề nghị trên, bằng câu chuyện về một tập đoàn truyền thông tưởng tượng nào đó phía Nam đang mời nó làm MC, lúc nó vào Sài Gòn tìm địa bàn hoạt động truyền bá mới cho Hội Thánh! Bố nó giơ hai tay thốt lên: “Đến nước ấy, cũng buộc tôi phải bất chợt nghĩ đến một phép mầu nào đó tự trên trời xanh… Nhưng để tìm được một Giáo chủ có thể tin cậy được, biết đến hết thế kỷ này liệu có thấy?”.

Trước gương mặt bơ phờ mệt mỏi dường không thể chắt nổi giọt nước mắt nào nữa của Hằng, anh ngậm ngùi, và chỉ biết cố gắng an ủi bạn bằng điều này:

“Bà bạn quý mến! Dù sao thì cháu Thư cũng đã tìm được một ý nghĩa nào đó cho đời sống của cháu, ở một “Giáo chủ” không/ chưa dính máu người lương thiện, và cháu thấy vui vẻ, tự nguyện, tạm thời thế đã… Và cháu may mắn hơn số phận của đứa con gái ông bạn tôi… Chắc bà còn nhớ chuyện người thi sĩ Việt đầu bạc trắng trên nước Nga mấy chục năm ròng đi tìm con gái bị thất lạc… Hai vợ chồng làm luận án Tiến sĩ ở Mascơva, gửi cô con gái 12 tuổi cho đôi vợ chồng mới cưới nghỉ ở bãi biển Sôchi. Đôi tình nhân dưới biển, thấy cô bé ngồi trò chuyện thân mật với một người đàn bà tóc vàng to béo hiền lành thì hết sức yên tâm. Rồi lát sau nhìn lên thì không thấy con bé và người đàn bà kia đâu nữa. Hóa ra, họ đã “gửi trứng cho ác”, người đàn bà đó chắc chắn là “sứ giả” – đúng hơn là”mẹ mìn” của một vị “Giáo chủ” nào đó được cử đi khắp nơi truy tìm Con chiên - Vật thế mạng cho Đức tin ma quái của Giáo phái họ tôn thờ… Cô bé đáng thương đó biệt tăm trên trái đất này ngót ba chục năm rồi, không ai có thể biết em ở Thiên đường hay Địa ngục nào – kể cả bà Tiên tri Vanga mà ông bố đã lặn lội tìm hỏi, để lại trái tim rớm máu không bao giờ lành cho bố mẹ… Nhắc lại chuyện xót thương này là một điều nhẫn tâm với vợ chồng ông bạn tôi, nhưng may ra giúp được bà đỡ buồn đau. Và biết đâu có thể giúp được nhiều bậc cha mẹ ở thế gian cõi tạm này thêm tỉnh táo trước những miếng bánh ngọt Thiên đường vốn chỉ dành bẫy chuột mà các vị “Giáo chủ” cũ - mới đã/ đang giăng ra cho con cháu mình… Đó cũng là bài học xương máu dành cho đứa con gái ngờ nghệch của tôi trước những cạm bẫy ngoài đời khi nó chuẩn bị rời học đường…”

27.

Con gái à, tại Lễ trao Giải thưởng Cánh Diều năm nay của Hội Điện ảnh, nơi chan hòa gió biển, khi sống giữa cảm xúc tràn ngập niềm hứng khởi của các thế hệ khán giả và các thế hệ làm phim ở Nhà hát Đó Nha Trang, bỗng dưng bố chợt nhớ đến nỗi buồn tê tái của mình 10 năm trước, khi may mắn lạc vào vài địa điểm văn hóa của xứ Kim Chi… Cuối năm 2014, trong dịp tham dự Hội thảo khoa học quốc tế Việt - Hàn chủ đề “Nguyễn Du và Truyện Kiều” do Hội giao lưu văn hóa Việt Hàn & Hội Việt Nam Korea chủ trì tại Câu lạc bộ Mudeungsan của trường Đại học Chosun, thành phố Gwangju (mà trong đó có nội dung quan trọng là “So sánh Truyện Kiều và Truyện Xuân Hương”), bố đã cố gắng mò đến Bảo tàng Xuân Hương gắn với Công viên chủ đề Xuân Hương (Chunhyang Culture & Art Center) ở thành phố Namwon, tỉnh Jeollabuk-do nhằm tìm hiểu thêm về kinh nghiệm khai thác di sản văn học nghệ thuật cho một trung tâm Du lịch lớn của Hàn quốc: Từ tác phẩm Xuân Hương truyện, cuốn tiểu thuyết cổ điển dân gian có chủ đề tài tử giai nhân của Hàn quốc, đất nước họ đã xây dựng nên một địa điểm du lịch văn học nghệ thuật nổi tiếng nhất xứ Hàn, đó là Công viên chủ đề Xuân Hương (Chunhyang Theme Park) với nhiều không gian kiến trúc và khung cảnh thiên nhiên độc đáo (Bảo tàng, Phòng tưởng niệm Xuân Hương, Quảng hàn lâu, sân khấu ngoài trời, những cây cầu Tình yêu, rồi các bối cảnh quan trọng gắn với năm giai đoạn của nhân vật chính Xuân Hương như “Gặp gỡ”, “Thề nguyền”, “Biệt ly”, “Khổ ải”, “Đoàn viên”… Và từ Công viên này như một trung tâm, Thành phố Namwon đã được xây dựng thành “Thành phố Tình yêu” nổi tiếng - giống như Verona bên Italy có những bối cảnh của câu chuyện Romeo & Juliet thu hút đông đảo du khách toàn thế giới và nhiều đoàn làm phim lớn! Cũng từ ý tưởng về Công viên này, bộ phim Xuân Hương truyện (Chunhyang) của đạo diễn Im Kwon-taek được xây dựng, sau đó được chọn tham dự Liên hoan Phim Cannes năm 2000 - tạo nền tảng cho điện ảnh xứ Hàn đoạt giải Oscar danh giá vào năm 2019: phim Parasite (Ký sinh trùng) đã giành được bốn giải thưởng quan trọng tại giải Oscar lần thứ 92, trở thành bộ phim không nói tiếng Anh đầu tiên giành được giải Oscar cho Phim truyện hay nhất… Sau đó, bố đã cố gắng tìm đến đảo Jeju - được mệnh danh là “đảo tình yêu”, là phim trường (studio film) của rất nhiều bộ phim Hàn nổi tiếng làm say lòng khán giả khắp thế giới, như: Our Blues (2022), Something In The Rain (2018), Love Alarm (2019), Crash Landing On You (2019), When I Was The Most Beautiful (2020), More Than Friends (2020), Warm And Cozy (2015), Doom At Your Service (2021), v.v. Từ một hòn đảo hoang vu, sau khi biến thành một phim trường lớn, đảo Jeju đã trở thành “thương hiệu” về du lịch độc đáo, được du khách tứ xứ biết đến là nơi có cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp và thơ mộng. Sự kỳ diệu của tạo hóa trên đảo Jeju thật sự đã được nghệ thuật điện ảnh - truyền hình tô điểm, chắp cánh, giúp chúng bay cao trong nền công nghiệp văn hóa ngày một lớn mạnh của xứ Hàn!… Trong suốt thời gian tham quan mang tính “khảo sát chui” của bố tại “Thành phố Tình yêu” và “Đảo Tình yêu” nọ, không chỉ một lần bố đã ngậm ngùi nghĩ tới mơ ước của nhiều thế hệ người Việt về những Bảo tàng & Công viên văn hóa mang tên Tuệ Tĩnh, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Văn Cao…, cùng mơ ước của nhiều thế hệ người làm phim Việt về những phim trường cần phải có nhưng bao năm nay vẫn “biệt tăm tích” trong nền công nghiệp điện ảnh - truyền hình nước ta! Trên thế giới lâu nay, các Bảo tàng gắn với các Công viên lấy cảm hứng, hoặc khai thác theo chủ đề từ một tác giả, hay một tác phẩm văn học, đã trở nên quen thuộc với công chúng và du khách, như Bảo tàng & Công viên Puskin (Nga), Bảo tàng & Công viên Don Quixote (Tây Ban Nha, dựa trên tác phẩm cùng tên của Miguel de Cervantes), Bảo tàng & Công viên Hồng Lâu Mộng (Trung Quốc, dựa trên tác phẩm cùng tên của Tào Tuyết Cần), Bảo tàng & Công viên Tây Du Ký (Trung Quốc, dựa trên tác phẩm cùng tên của Ngô Thừa Ân), Bảo tàng & Công viên Chiến tranh và hòa bình (Nga, dựa trên tiểu thuyết cùng tên của Lev Tolstoy), Bảo tàng & Công viên Hoàng Tử Bé (Nhật Bản, dựa trên tác phẩm cùng tên của nhà văn Pháp A. Saint Exupery), Bảo tàng & Công viên Ngây thơ (Thổ Nhĩ Kỳ, dựa trên tác phẩm cùng tên của Orhan Pamuk), v.v. Nhà nghiên cứu văn hóa Randy Malamud có nói: “Du lịch văn học là du lịch đặt trọng tâm trên những địa điểm lịch sử gắn với những nhà văn nổi tiếng” (Sách Biên niên sử Giáo dục đại học), hay một nhà kinh doanh du lịch nước ngoài khẳng định: “Du lịch văn học là một hình thức du lịch văn hóa tới những địa điểm gắn với những sự kiện hoặc nhân vật hư cấu trong tác phẩm cũng như tới thăm những nơi liên quan tới tác giả” (Tạp chí Trái tim Anh quốc mới).

Tại xứ sở Trầm Hương tuyệt đẹp, nỗi buồn của bố 10 năm trước trở lại, thêm day dứt… Nha Trang đang có nguyện vọng trở thành Thành phố Điện ảnh, song nếu chỉ có mơ ước của người làm phim tâm huyết và người dân Thành phố biển yêu điện ảnh thì cái nguyện vọng đáng yêu và chính đáng kia sẽ chỉ là Mây bay Gió thoảng thôi con!...

28.

TRÒ CHUYỆN VỚI CON GÁI BÊN MỘT TẤM ẢNH NGÀY GIÁP TẾT

Mấy tiếng nữa tới Giao thừa

dù đã là sinh viên năm thứ hai con vẫn như một cô bé háo hức về kế hoạch đưa em gái út xem đón pháo hoa Bờ Hồ

bố xen vào kế hoạch nhỏ của các con bằng tấm hình bé gái ngồi ngủ gục bên mẹt hàng chưa bán hết giữa không gian sắm Tết quạnh hiu

cùng nỗi lo lắng mơ hồ nếu con dửng dưng thì coi như bố không có Tết nữa…

may mắn thay con đã sững người nhìn ngắm rồi nước mắt rưng rưng: “em bé này bằng tuổi út nhà mình và bằng tuổi Cô bé bán diêm của Andersen…”

bố thêm vào: bằng tuổi Anna Frank viết nhật ký trước khi chết lúc trốn trong hốc bí mật sau tủ sách

con gật gù: và bạn ấy đã không có Búp bê mang theo - con nhớ vậy…

“và con cần nhớ thêm: cô bé trong tấm hình kia không những chẳng có Búp bê mà chẳng có bộ quần áo mới đón Xuân và chờ tiền mừng tuổi khi không bán hết hàng đương chờ đợi cơn thịnh nộ của ông bố nát rượu lẫn giọt nước mắt bất lực của người mẹ xót thương con gái nhỏ…”

“nhưng em bé kia biết đâu đang mơ giấc mơ đẹp của nàng công chúa ngủ trong rừng có hoàng tử dũng cảm diệt xà tinh tới hôn để nàng thức dậy sau giấc ngủ dài…”

“nếu con là sinh viên của bố thì bố sẽ cho điểm Mười nhưng hiện những ông thầy có ý tưởng mơ mộng như vậy đang phải sống trong tâm thế của anh bạn đồng nghiệp bố: “Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi…”

“nếu vì thương cho cô bé kia mà bị nghi kỵ đến vậy thì những điều con đã học và sẽ học để làm gì hở bố? Và mấy đứa bạn trường con mơ làm nhà văn làm đạo diễn điện ảnh đoạt giải Nobel giải Oscar sẽ phải nì nèo bố mẹ tìm cách cho ra nước ngoài để hành nghề hay sao?…”

“điều con nói xa xôi viễn tưởng quá vượt khỏi trí nhớ mệt mỏi của bố, bố chỉ mong con nói với các bạn con mang mơ ước vĩ đại: Trước khi nghĩ đến Nobel, Oscar, Pulitzer… hãy làm theo cụ Nguyễn Du nhà mình trên một đường cái Trung Hoa nhìn vào tận đáy giỏ của người mẹ nghèo ăn xin dắt ba đứa con nhỏ để thấy vài mớ rau nát lẫn cám… Và cho các bạn ấy xem cái hình em bé Việt ngày giáp Tết này nếu không chút mảy may thương cảm thì hẵng chúc mừng: các bạn chắc chắn sẽ toại nguyện sang trời Tây để sung sướng giàu có và đoạt mọi ước vọng - trừ ước vọng đoạt giải Nobel, Oscar, Pulitzer…”

“cám ơn bố nhiều, bố làm con nhớ tới mấy câu của bài cảm ngôn “Dũng cảm lên con” bố viết hồi con 6 tuổi:

Lòng dũng cảm cũng chính là tình yêu của con trước mọi điều trong lành chỉ có trong thần thoại cổ tích giúp bố vượt qua cái thời buổi mà sự đểu giả đốn mạt thường không bị trừng trị nhưng lòng dũng cảm nhỏ bé của con sẽ là đốm lửa nhỏ góp vào đống lửa của Lương tri đang phẫn uất cần được thổi bùng”.

“cám ơn con gái đã giúp bố thêm lòng dũng cảm giữa cái thời buổi như cụ Bạch Vân cư sĩ từng thốt lên: “thời nay Nhân Nghĩa tựa vàng mười”, thời buổi mà kẻ rơi giọt lệ xót thương cho bé gái nọ gục ngủ bên mẹt hàng rong ngày giáp Tết trở nên xa lạ thậm chí đáng nghi ngờ và bị thù ghét…”

29.

Thế đi làm về, nhìn ngôi nhà to sụ đang trong giai đoạn hoàn thiện, ngay cái nơi từng in dấu một kỷ niệm buồn của cả ngõ, hồi con gái anh học lớp 9, hiện đang là sinh viên năm thứ hai, anh bỗng dưng thầm thốt lên: “Vậy đẹp thế thì để làm gì?”.

Cũng bên dưới công trình đang “làm đẹp” lộng lẫy cả dáng vẻ bên ngoài lẫn bên trong này, cách đây không lâu đã có một cuộc “biểu tình” của mấy chục bác thương binh bằng xe ba bánh quây kín ngôi nhà (khi chưa bị phá bỏ để xây lại, cũng “đẹp” không kém bây giờ), suốt năm ngày ròng rã, có thay ca trực! Những ngày đó, lúc khuya vắng, con bé đã bí mật giấu bố mẹ mon men đến hóng chuyện, sau đó kể lại: đấy là những con nợ tới đòi nợ gia chủ đã quỵt họ theo kiểu hòng nuốt trắng đến cả chục tỷ đồng tiền thuê mướn, hứa hẹn công việc, đất đai…

Sau đó, anh tình cờ được chứng kiến sự tức tối của một bác thương binh: “Nhà nó đẹp thế kia mà nỡ lừa đảo, ăn chặn, ăn quỵt mấy thằng giẻ rách từng đổ máu cho vợ con nó ăn sung mặc sướng…” - Một bác nhổ nước bọt đế theo: “Để chúng nó buôn gian bán lận được bảo kê!” Anh thấy xót xa quá, định chêm vào: “Vậy đẹp thế thì để làm gì?”, nhưng không nỡ lửa đổ thêm dầu, chỉ ngậm ngùi.

Và cái ngậm ngùi đó hôm nay chợt thức dậy, cùng ý nghĩ ám ảnh suốt mấy năm ròng: “Vậy đẹp thế thì để làm gì?” Chúng xâm chiếm anh, giữa buổi trưa nắng có mấy người thợ trèo dàn giáo chăm chút cho từng chi tiết trang trí ngôi nhà… Anh nghĩ đến bao lâu đài biệt phủ lộng lẫy đã/ đang hoàn thiện tràn ngập nóng rẫy MXH suốt những ngày tháng qua như một sự tố cáo hùng hồn bản chất bóc lột, ăn cướp của nhiều kẻ có chức quyền. Và anh nhớ đến một một bài cảm ngôn viết cho người bạn thân là cố nhà giáo nhà thơ nhà báo Bình, như lời tâm sự cay đắng với bạn dưới suối vàng: Giờ đây, nếu như bạn vẫn còn vương chút máu mê nghề nghiệp/ cái nghề nghiệp không được bảo hiểm/ bạn sẽ hơn hẳn chúng tôi/ vì có thể tự do ra vào những ngôi nhà bí hiểm được làm ra bằng những đồng tiền bí hiểm cũng không kém/ những ngôi nhà thật to thật đẹp chứa đựng những hình nhân/ đang hoá thân thành những con bọ khổng lồ theo nguyên mẫu của Kafka

Năm ngoái, khi Mai, con bé đầu của anh trở thành sinh viên năm nhất, anh có kể nó nghe lần “vinh dự” được một chủ nhà xuất thân là một thầy giáo mời tới “ăn tân gia” - ngôi nhà của một nguyên trưởng phòng tài vụ một trường Đại học. Khi gia chủ khoe những bức tranh khổ lớn trang trí khắp phòng khách sang trọng lẫn cả ba tầng lầu thì anh suýt “ngất”: toàn là những bức tranh “Bờ Hồ” rẻ tiền, mô-ve gu không chịu nổi mà đắt tiền nhất lại là những chiếc khung mạ vàng cầu kỳ! Song điều khiến anh “ngất lịm” thật sự là những câu chuyện quanh việc áp-phe, những âm mưu nhằm hợp pháp hóa các khoản kinh phí ăn chặn từ sinh viên - nhất là các sinh viên nghèo vùng sâu vùng xa đang trọ học trong trường - dĩ nhiên là dưới hình thức khôn khéo, lịch sự, mà họ tưởng có thể qua mặt được tay nhà báo hạng dưới đáy là anh - kẻ họ cho là vô tích sự nhưng có thể lôi kéo vào cùng phe cánh được! Một năm sau đó, anh được tin: chủ nhà đã bị bắt cùng Hiệu trưởng trong một vụ án tham nhũng; ông ta bị 5 năm bóc lịch, còn Hiệu trưởng được hưởng hai năm án treo! Vợ con ông ta không dám đến nhà ai nữa, đi ngoài đường chỉ toàn cúi mặt, bước vội. Anh thấy ái ngại cho gia cảnh của ông ta, dự định có dịp sẽ vào trại giam thăm, và sẽ nói với ông ta như sau: “Anh ạ, bởi anh không thuộc lũ tham quan quyền to chức lớn nên tôi mới nói điều gan ruột này: Những cái đẹp, cái sang trọng anh vun vén cho gia đình - dù chỉ là “hớt váng”, là “cặn bã” của bọn quan tham kia, song đều mang những yếu tố nguy hiểm, có khả năng kéo anh rơi xuống đáy số phận. Anh cũng từng đứng trên bục giảng, từng dạy bảo học trò những điều hết sức quen thuộc song cốt tử đối với đời sống về CHÂN (thực), THIỆN (tốt), MỸ (đẹp). Nhưng thú thực, những điều anh đã làm cùng bè lũ tham lam trong Ban giám hiệu đều đã phản lại cái cái Thực, cái Tốt, cái Đẹp! Trong khi đó, chỉ cần anh vi phạm vào một trong ba quy luật lớn này, nói như một nhà tâm lý học phát triển người Mỹ là ”Ba dây xích vĩ đại của hiện hữu” - thì sẽ xảy ra một hiện tượng khủng khiếp: đó là sự hủy hoại nhân tính, tiêu diệt cuộc sống với tư cách Con người của anh!”

Khi con gái vào Đại học, anh đã chọn cho nó một loạt sách tham khảo, trong đó có sách của nhà tâm lý học, giáo sư Howard Gardner, người được coi là một trong những nhà khoa học xã hội hàng đầu của thời đại, và ý tưởng về “ba dây xích” nọ nằm trong công trình nổi tiếng của ông: Chân, Thiện, Mỹ trong tầm nhìn đương đại.[127] Còn đây là nguyên văn câu trích đó từ cuốn sách trên: “Một lịch sử tư tưởng loài người có thể tổng kết dưới dạng những phương diện bất biến và thay đổi của Chân - Thiện - Mỹ, mượn câu của những nhà nhân văn: “ba dây xích vĩ đại của hiện hữu”. Thế còn định nói thêm với ông bạn nọ: “Tôi hy vọng sẽ có lúc anh tìm lại được cái cội nguồn xứng đáng vốn có của một nhà giáo trong anh, và trước những ngôi biệt phủ lộng lẫy được tạo ra bằng nước mắt và máu của dân lành, anh sẽ chân thực thốt lên: “Vậy đẹp thế thì để làm gì?”. Nhưng có lẽ vì tin ở lòng tự trọng còn lại chắc không ít của ông bạn, tất cả những ý định của anh đã không thực hiện được! Nhưng giờ đây, anh cho rằng, đã đến lúc cần phải nói to lên giữa thanh thiên bạch nhật điều trăn trở của anh đã lây sang con gái mình: “Vậy đẹp thế thì để làm gì?”

Lúc đó, cũng vào giáp Tết, thiên hạ chưa hết choáng váng mặt mày trước hàng loạt tin chấn động về các quan chức “ngã ngựa” bởi dính đến mấy đại án thế kỷ, Thế lững thững ra khu chợ cóc gần nhà - khu chợ giờ đây nhiều người bán ít người mua, hoa quả ế xưng xỉa, buồn thiu…

Khi đi qua nhà của một ông lãnh đạo lớn Thủ đô đã bị “bóc lịch”, anh thoáng thấy một người đàn bà dáng vẻ tiều tụy, hốt hoảng, che kín mặt đi như chạy về nhà… Một người hàng xóm lớn tuổi cũng vừa tới đó, thấy anh vẻ quan sát dò hỏi, liền ghé tai thì thầm: “Quan bà ấy đấy! Tội nghiệp… Vậy mà mấy năm trước là giám đốc siêu thị khủng thì vênh váo thế”. Nói xong, ông vội vã bước đi, như sợ sẽ bị bắt quả tang đã “phạm húy”, đã xúc phạm tới “oai linh” của vợ chồng quan chức nọ.

Bỗng dưng, Thế cảm thấy chính anh và ông hàng xóm mới là người bị xúc phạm ghê gớm. Hóa ra, với thói quen tâm lý gần như nô lệ ăn sâu trong tiềm thức người công chức già, vị quan chức bị tước quyền Công dân kia vẫn có uy quyền vô hình, chẳng khác thời thét ra lửa thường cao giọng dạy đạo đức cho dân chúng và bày đặt ra đủ chiêu thức cao siêu để cùng vợ con & lâu la vơ vét tiền thuế của dân, đục khoét công quỹ & tài nguyên quốc gia sao cho hợp pháp nhất… Ai, và cái gì đã khiến ông trở nên hèn như thế, góp phần tạo ra thứ Dân trí hiện tại làm ta buồn đến phát khóc?

Còn ông quan chức, Tết này là cái Tết thứ hai ngắm nhìn và nghe thiên hạ đón Xuân từ sau song sắt, ông ta đã nghĩ gì? Ông ta có thật sự ân hận gì không, như lời ông ta nói lời sau cùng trước Tòa? Ông có nghĩ đến nỗi nhục của vợ con trước cái nhìn thương hại hoặc khinh miệt cùng bao lời xì xầm bàn tán của hàng xóm láng giềng, của bạn bè cơ quan, của thầy trò ở các ngôi trường mà các con cháu ông đang theo học…?

Thế bỗng nhớ đến người bạn diễn viên đã mất, và tự hỏi: ông này có khi nào nhớ đến hai câu thơ ngang tàng của Nguyễn Công Trứ: Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo mà ông phải học thuộc lòng từ thời mài đũng quần trường phổ thông?

Làm gì không nhớ! Song chắc là chúng chẳng có nghĩa lý gì đối với ông và vợ con – so với những chương trình chọc cười đầy rẫy trên tivi nhằm giúp gia đình ông giải trí thỏa thê sau những “phi vụ” ăn cắp & ăn cướp căng thẳng dù được bảo kê chắc chắn. Và thứ thơ “ngôn chí” cổ lỗ ấy thực vô nghĩa so với lời dạy đời hoặc giọng lên án tham nhũng hùng hồn thời thượng hay hớm tuôn ra từ những hình nhân đóng vai Thượng đế, Táo nọ Táo kia khiến ông cười nôn ruột và tiêu bớt mỡ sau những bữa tiệc chiêu đãi quan lớn hoặc đối tác làm ăn…

Anh nghĩ, sau những ngày ân hận vì đã thiếu thủ đoạn mưu mô đặng giúp ông ta có thể lọt lưới và hạ cánh an toàn, chắc thể nào ông ta cũng sẽ phải nghĩ đến hai câu thơ kia của cụ Uy Viễn tướng công. Và với phần liêm sỉ, tự trọng còn sót lại, với những thành tích ít nhiều đã cống hiến cho đời, biết đâu ông cũng phải xót xa vì đã tự làm vấy bẩn cái Danh chân chính, cần thiết mà người lương thiện nào sống trên cõi đời này cũng nên có…

Kiếp sau, làm Người chắc đã có bài học xương máu nhỡn tiền. Nếu có được/ phải Làm Quan, dù cấp to hay nhỏ, hãy làm quan Thanh Liêm. Dù không đủ tiền cho con cái du học các xứ sở Tư Bản “dãy chết”, cũng thừa lòng kiêu hãnh “gõ kiếm trước mây trắng” như Đại thi hào Nguyễn Du ngay giữa lúc cùng đồ (cùng đường), và có thể ngạo nghễ: “Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”…

30.

Ngày đạo diễn Huy mất, Thế vào từ đường họ Nguyễn ở làng Lủ - Đại Kim, anh nhớ lại bài thơ Nến khóc[128] của Thần Siêu do người cháu bốn đời của cụ từng đọc cho nghe trong thời hai anh em bàn bạc với nhau những ý tưởng điện ảnh mà biết rõ không bao giờ lọt nổi qua cửa kiểm duyệt của phòng Biên tập Hãng… Anh thắp nén nhang cho người đồng nghiệp đàn anh đã phải tức tưởi ôm bao ý tưởng điện ảnh chưa kịp biến thành Âm bản đó xuống mộ sâu:

KHÓC CÙNG THẦN SIÊU

Nơi quyền quý ấm áp, cụ ngồi thu mình trong một góc

Cười nửa miệng để vờ vui vờ tán thưởng, những câu đùa thâm thuý hay vô duyên và chợt thấy mình vô duyên giữa cuộc vui

Đành nhìn những ngọn nến nhỏ to sáng tựa sao trời, để hình dung ra chúng đang khóc

Khóc cho sự vô vị của người đời trong cuộc truy hoan dù những câu khen tặng nhau chẳng thua gì ngọc ngà gấm vóc

Khóc cho sự bất lực của một người muốn thoát ra khỏi sự vô vị ấy, sự vô vị có bao thứ ngọt ngào đáng yêu làm bình phong, khóc vì cái mơ tưởng "ánh sáng Phương Đông" sao mà xa vời,

Khóc bởi trong thế gian này ánh sao băng của Cao Chu Thần thực hiếm hoi, và ánh nến đặt cạnh chỉ là đốm ma trơi

Khóc cho chính mình chảy tan ra như ngọc trai trong suốt mà chỉ để mua vui cho thiên hạ rỗi việc cười đùa, tán tụng và kê kích lẫn nhau, dò hỏi nhau vơ vét được những gì sau mỗi đại sự của quốc gia

Nến chảy làm bỏng ruột bỏng gan người này nhưng lại làm vui mắt kẻ khác

Nến cháy lụi tàn rồi cái vỏ hào nhoáng mà nó phơi ra trong ánh sáng cưỡng bức cũng chợt biến mất để lại tiếng khóc cho đêm

Tiếng khóc còn nấc nghẹn đến tận giờ…


[125] Chữ dùng của văn hào Lỗ Tấn.

[126] Con vật sau cùng trong hệ thống Rồng của tâm linh Trung Quốc cổ đại.

[127] Truth, Beauty, and Goodness Reframed.

[128] Bài thơ "Sáp lệ" (蠟淚 - Nước mắt nến) của Nguyễn Văn Siêu (1799–1872):

Điểm tích lưu hồng bất tự cấm/ Dư cam ưng dữ ám tư lâm/ Phần thân vị tất khinh thiên hạ/ Nhẫn lệ do lai khổ tự tâm

(Từng giọt hồng rơi chảy chẳng kìm được/ Phần dư thừa ngọt ngào hẳn ngấm ngầm tuôn chảy/ Đốt cháy thân mình, đâu phải vì khinh thường thiên hạ/ Mà vì nhẫn nhịn lệ rơi vốn từ nỗi khổ trong tâm).