Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (4)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

3.

Rời ngôi trường cấp Ba ngoại thành với công văn chuyển vào Lâm Đồng, việc đầu tiên là Thế tìm tới nhà riêng một bậc “Thủ lĩnh” ngành Điện ảnh, một “Bố già biên kịch“ - theo cách gọi vui của vài người trong Xí nghiệp phim truyện mà Thế nghe lỏm ngoài quán nước trong những ngày lê la tìm đường vào nghề. Đây là lần thứ hai, còn lần thứ nhất là do một nhà báo lớn tuổi dẫn tới…

Ông nhà báo từng công tác ở miền núi Tây Bắc nhiều năm, chuyển về Thủ đô làm Tổng biên tập một tờ báo lớn mà Thế có gửi bài tới nhiều lần những chưa hề được sử dụng, song ông tỏ ra rất quý Thế - bởi “cậu thuộc ‘Quân khu Tây Bắc’ của dân làm văn nghệ và giáo dục mà bọn tôi tin tưởng đó” - ông vỗ vai Thế buổi đầu tiếp kiến; ông đã khuyên bảo Thế như một người cha, người anh. Khi Thế bày tỏ ước vọng điện ảnh, muốn ông giới thiệu cho người nào đó có thể học hỏi và dẫn dắt vào nghề, ông nhà báo nhìn Thế vẻ kính nể rồi mau chóng chuyển sang e ngại thực lòng: “Viết kịch bản điện ảnh cũng là một tham vọng của tớ, tớ đã xin nhà văn Mạc Phi cho phép chuyển thể tiểu thuyết Rừng Động, ông ấy mừng lắm, hy vọng lắm, song tớ bắt tay vào thì như gà mắc tóc, rồi bị sa lầy trong hàng đống đề cương vứt xó cả chục năm nay. Mấy ông bạn biên kịch tên tuổi, có người đi Nga đi Tàu về cho mượn cả đống sách vở tài liệu về biên kịch thế giới để tham khảo, nhưng mấy tháng sau, khi mấy ông ấy hỏi, cậu có biết tớ bảo gì không - Ông cười vui lắc đầu, vỗ vai Thế - Tớ bảo: chưa đọc sách của các ngài, tôi có thể tự tin dù chậm như rùa cũng viết được ít nhiều xê căng[14] xem ra có thể quay tạm được, nhưng đọc xong mớ lý luận này, tớ giống như con cuốn chiếu ấy: từ khi nghe bạn hỏi là khi đi đã đưa chân nào ra trước, chân nào ra sau, thì ba mươi sáu chân của nó cứ loạn cả lên, nó không thể đi được như mọi khi nữa… Hóa ra kịch bản điện ảnh hay kịch nói là một lĩnh vực khác biệt với văn xuôi, báo chí - chúng gắn với diễn viên và công nghệ… - Thế nói chen ông - Vâng, hồi sinh viên em cũng có đọc ông Gorki bảo kịch là khó nhất trong các thể loại, còn điện ảnh lại có gốc của Kịch nghệ… Trước khi thử sức viết kịch bản điện ảnh, em đã viết gần chục kịch bản sân khấu dài, ngắn… Em xin gửi đại ca thẩm định cho ạ! - Ông Tổng biên tập báo xua tay - Khỏi cần! Tớ mà nhận đọc của ai thì đọc rất kỹ, rất lâu, với trách nhiệm của người Biên tập, còn bây giờ thì tớ rất bận… Nhưng cậu quyết tâm vậy thì tớ ủng hộ hai tay. Tớ sẽ dẫn cậu tới ông bạn thân là nhà biên kịch nổi tiếng nhất hiện giờ, đang làm Phó Giám đốc của Xí nghiệp phim truyện… Phó nhưng quyền hành vượt sếp trưởng!

Trong một khu nhà cổ kính làm toàn bằng gỗ quý nằm giữa vùng đất Thập Tam trại xưa[15], đầu tiên, Thế kể cho “Bố già Biên kịch” nghe đề cương chi tiết kịch bản phim về một liệt sĩ chống xâm lược Trung Quốc, xuất thân là một thầy giáo dạy văn miền núi mà anh biết được qua nhà văn Mã Lềnh ở Đài PTTH tỉnh Lào Cai trong giai đoạn ông bắt đầu thu thập tư liệu để biên soạn cuốn sách về người bạn chí thiết của ông: Bùi Nguyên Khiết - Bóng dáng thân yêu. Cuộc đời anh Khiết khiến cho sự đồng cảm của kẻ vốn là một “giáo khổ” Tây Bắc đối với người anh chưa biết mặt ấy trở nên rất đặc biệt: Người thầy giáo đó khi rời bục giảng đã là một nhà báo năng nổ, có nhiều bài viết về cuộc đời lam lũ, đau thương, anh dũng của nhân dân vùng Biên giới trong công cuộc chinh phục nghèo đói, hủ tục, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự phá hoại của bọn thổ phỉ, sự đe dọa biên cương của lũ bá quyền Đại Hán; và khi lũ bành trướng khốn nạn xả súng vào dân thường ở biên giới phía Bắc, anh là người tiên phong đi vào điểm “nóng” chiến sự, đã cầm súng tiêu diệt nhiều tên địch trước khi hy sinh trên điểm cao 1378 chốt biên giới Lao Páo Chải đúng ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra: 17/2/1979. Chắc chắn là cho tới tận giây phút cuối đời, trong tâm hồn nhà giáo-nhà văn đó vẫn đang chất chứa bao số phận, bao câu chuyện xúc động về con người vùng Biên giới…

Sau đó, Thế kể ông nghe về ý tưởng kịch bản “Chuyện tình dưới chân Thập vạn đại sơn”: Hồi trên Tây Bắc, anh được người bạn giáo viên trường Quân chính huyện cho đọc tập nhật ký của ông bác, một phóng viên mặt trận. Ông đang tham gia Chiến dịch Biên giới thì được trên điều động vào đoàn quân tình nguyện Việt Nam giúp Hồng quân Trung Hoa phá quân Tưởng. Ông xuất thân là một thầy giáo tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, sau khi vợ con bị bom giặc giết hại ở vùng tản cư, đã gác bút nghiên theo tiếng gọi của Kháng chiến. Ông am hiểu văn học Pháp và văn học cổ Trung Hoa, giàu tình cảm, mơ mộng, một thời trong quân ngũ từng bị đồng đội phê phán là “có tâm lý tiểu tư sản”… Thế kể tóm tắt truyện phim: Cụ Sì Láng 90 tuổi ở chân núi Pò Luông, Bằng Tường dẫn cháu tới thăm mộ của một bộ đội Việt Nam vào dịp Thanh minh. Cụ giở ra một cuốn sổ cũ nhàu nát - đó là nhật ký của một chiến sĩ tình nguyện quân Việt Nam năm xưa tại chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn… Câu chuyện phim diễn ra theo lời kể của cuốn nhật ký, và lời của cụ già người Hoa về thời cụ 15 tuổi, làm giao liên cho bộ đội Việt Nam và dân quân xã Trung Quốc; chú bé Sì Láng có cô chị thầm yêu người chiến sĩ tình nguyện Việt Nam. Anh đã phải đóng giả là người họ hàng của cô, và từng phải thi viết thơ chữ Hán với đối phương đang tấn công cô gái, nhưng không che dấu nổi thân phận mình lúc chiếc mũ lá mõm trâu đã giấu kín bị phát hiện… Khi anh ngã xuống vì bảo vệ dân làng, cô đã ôm xác anh khóc ngất cuối phim, thầm đọc lại bài thơ do anh dạy, trong nước mắt nghẹn ngào: Quan quan thư cưu/ Tại hà chi châu/ Yểu điệu thục nữ/ Quân tử hảo cầu[16]

“Bố già Biên kịch” nghe xong gật gù một hồi, sau đó, ông nói từ tốn, nhẫn nại và nghiêm nghị như một Giám mục giảng đạo cho con chiên:

- Chú đã nhìn thấy trong những ý tưởng phác thảo này các bộ phim rất xúc động, rất có giá trị - nhất là về thầy giáo-nhà văn-liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết, và về mối tình chiến đấu hai nước Việt - Trung qua một mối tình nam nữ vượt Biên giới. Có điều, cháu nên nhớ: hiện tại, sau cuộc xâm lược của Trung Quốc trên Biên giới phía Bắc, quan hệ hai nước đang rất căng thẳng, việc ca ngợi giải phóng quân Trung Quốc hay lên án họ vào lúc này sẽ không lợi… Xí nghiệp phim truyện đã thực hiện mấy bộ phim về đề tài chống xâm lược biên giới phía Bắc lên án chủ nghĩa Đại Hán, khắc họa sự khốc liệt của chiến tranh, tinh thần quả cảm của quân dân ta như Đất mẹ, Thị xã trong tầm tay, Cha và con, Người bạn ấy… - Ông hạ giọng tâm sự như Thế đã là nhân viên thuộc ông quản lý - Hội đồng nghệ thuật đã nghiên cứu mấy kịch bản đề tài này để chuẩn bị đưa vào sản xuất tiếp, như Cỏ thiêng, Chân dung người hàng xóm…, nhưng rồi phải tạm đừng lại. Người làm nghệ thuật chúng ta buộc phải có cần ăng ten chính trị nhạy cảm để đoán trước rằng: đề tài này sẽ trở thành cấm kỵ khi quan hệ hai nước cần nối lại như xưa - núi liền núi sông liền sông vì quyền lợi kinh tế - xã hội của dân chúng hai nước… Cháu nên đi vào những đề tài chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng cuộc sống mới sau chiến tranh, đặc biệt là xây dựng con người mới thời đại hôm nay - thời đại của Chủ nghĩa xã hội vĩ đại với ba dòng thác cách mạng mà nước ta là ngọn cờ tiên phong…

Sau bài giảng này của“Bố già Biên kịch”, ý định “xi nê mồm” mấy đề cương kịch bản nữa của Thế cho ông chợt tắt ngóm; và anh tỉnh táo quyết định “hãm phanh” lại máu mê của kẻ xuất thân nghề dạy văn, không kể cho ông nghe về mấy thông tin anh mới biết về chiến dịch tẩy xóa lịch sử đáng buồn bắt đầu diễn ra, như chuyện đục thơ đục bia ở chiến trường cũ: Bia Khánh Khê ở Lạng Sơn ghi nhận sự hi sinh của 650 chiến sĩ thuộc sư đoàn 337 năm 1979 mới đây được báo chí phát hiện là đã bị đục bỏ dòng chữ: “quân Trung Quốc xâm lược”. Và người ta không chỉ đục bia, mà còn “đục” cả thơ của một tác giả địa phương, khiến bài thơ rất hay trở nên khập khiễng và ngớ ngẩn![17]

Thế đã kìm hãm được cảm hứng thơ ca lẫn cảm hứng sự thật về ”vụ án” văn chương - lịch sử nói trên, bởi anh chợt nhận thấy rõ: ông đang tự tin coi bản thân mình là một “Tiền đồn tư tưởng” vững chắc đồ sộ của Mặt trận Văn hóa - Văn nghệ trong thế giới điện ảnh nội địa, là “Thiên sứ” đầy uy quyền dẫn dắt các nghệ sĩ của “Nàng Tiên Út” tránh khỏi các cạm bẫy của chủ nghĩa tư sản, tiểu tư sản cùng một lô một lốc những tư tưởng - cảm xúc xa lạ thù địch với chế độ. Và chắc ông rất tự hào khi biết rằng: “vũ khí” tư tưởng ông đưa ra mới có một mẩu thôi cũng đã trấn áp được một kẻ chữ nghĩa và bản lĩnh nghệ thuật có thể hơn ông, bởi có điều kiện ăn học hơn những kẻ trưởng thành trong khói lửa chiến tranh như ông, song sự ngây thơ về Chính trị sẽ khiến hắn vô tình biến nghệ thuật thành viên đạn bọc đường bắn phá tệ hại nền tảng của một chế độ - cái chế độ mà ông và bao chiến hữu đã đổ xương máu ra mới có được. Quả thực ông cũng đã phần nào áp đảo được Thế, khiến anh thoáng ngẩn ngơ về những hoài nghi đã nảy sinh và bắt đầu bén rễ trong anh từ những năm ở Tây Bắc - trước nhiệt thành cảm động của ông, và trước cái mục tiêu anh phải chinh phục được lòng tin của người “gác cổng” ngành… Khát vọng điện ảnh đã lấn át đi cái cảm giác thoáng qua là anh đã trở nên hèn hạ, giả dối để được “thêm điểm về chính trị”, mong lọt được vào cổng Xí nghiệp phim bằng mọi giá…

Trong lần “ra mắt” thứ nhất đó, Thế đã có một “thắng lợi” đáng kể: Trước mặt người bạn chiến đấu cũ là nhà báo Tổng Biên tập, ông Biên kịch tên tuổi lẫy lừng đã vui vẻ công khai và công bằng đánh giá: Thế có tiềm năng tốt để phát triển nghề biên kịch điện ảnh, và hứa sẽ tuyển anh vào ngành khi có dịp. Ông mong đợi một, hai kịch bản của Thế sẽ hoàn thành sớm nhất gửi cho ông để giám định, và biết đâu có thể lọt được vào guồng sản xuất… Mặc dù Thế biết lời hứa đó ông đã nói với khá nhiều người để làm “quà”, là một kiểu “lịch sự nghệ sĩ” tầm thủ lĩnh, song cũng khiến anh mừng mất ăn mất ngủ, trở thành động lực mạnh mẽ giúp anh vượt qua dễ dàng bao níu kéo của “cơm áo không đùa với khách Thơ” để bắt tay vào hoàn chỉnh mấy kịch bản văn học đã ấp ủ nhiều năm - trong đó có kịch bản Xòe trinh nữ, kịch bản tâm huyết nhất của anh: Vua xứ Thái tự trị Đèo Văn Long có niềm say mê kỳ lạ với nghệ thuật xoè Thái cổ truyền, đã thành lập những Ban xoè bằng cách tuyển chọn những cô gái đẹp, còn trinh trắng, có giọng hát hay trên khắp xứ Thái từ lúc các cô còn nhỏ, huấn luyện để họ trở thành những nghệ nhân múa xoè giỏi giang. Trong số đó, nổi bật nhất là Lò Thị Mây. Đèo Văn Ún mê Mây, mong lấy Mây làm vợ, nhưng ông bố chúa đất phản đối. Trong lần trình diễn xoè đầu tiên của Mây cho các quan Tây, cô đã lọt vào con mắt xanh của thiếu uý (quan hai) Pháp Cornaul đồng thời là nhà dân tộc học (Ethnologue). Hai người dần hiểu nhau, và trở nên kính trọng nhau qua những bài dân ca Thái, những phong tục tập quán Thái mà Cornaul đang háo hức tìm hiểu... Nhưng Mây trốn chạy khỏi vương quốc họ Đèo cùng với một cô xoè và anh lính hầu cận của vua Đèo; và họ đã không thoát… Vua Đèo, ngay đêm đó ra lệnh cho xoè Mây phải múa xoè phục vụ quan khách, khi thân hình xơ xác, máu tươi toé ra từ đôi chân, và cô ngã gục xuống sàn. Cornaul đã đưa cô vào phòng riêng săn sóc. Từ nỗi thương xót, cảm thông, Cornaul đã nảy nở tình yêu thương với cô xoè bất hạnh. Khi Mây chưa lành vết thương, vua Đèo lại buộc cô ra phục vụ xoè cho các quan Tây trước khi lên máy bay về Điện Biên tử thủ. Đó cũng là lúc quân đội Việt Minh tràn tới khu dinh thự. Đèo Văn Long hạ lệnh rút lui, mang theo tất cả các cô xoè về Điện Biên. Một cuộc chạm trán nảy lửa, dẫn tới nổ súng giữa Cornaul và tri châu Ún, Ún bị thương tức tối chạy đi. Còn Cornaul và Mây bắt đầu cuộc trốn chạy thực sự khỏi vương quốc họ Đèo...

Họ chạy ra phía sông Đà theo lối hầm bí mật trong dinh thự. Rồi họ tìm tới khu rừng ma để lẩn trốn, ôm nhau chịu đói chịu rét trong nhà mồ tối tăm. Tình yêu đã đến với họ trong cảnh tuyệt vọng ấy. Hai người lang thang trong rừng vào mùa hoa ban nở… Rồi họ bị bộ đội Việt Minh bắt, giải về doanh trại. Cornaul kể về lai lịch và thân phận của mình, anh tìm được sự cảm thông sâu sắc của người chỉ huy Việt Minh. Nhưng đôi tình nhân vẫn phải chia tay nhau. Cornaul lên xe cùng các hàng binh, tù binh Pháp trở về Hà Nội. Còn Mây thì vượt rừng tìm về quê cũ... Anh lính lệ Mười sau khi thoát được sự phục kích của tri châu Ún, đã bắt gặp Mây trong tình cảnh kiệt sức, anh cõng Mây tìm về quê của cô. Sau nhiều năm chờ đợi và bặt tin Cornaul, Mây đồng ý làm vợ Mười...

Nhiều năm sau, nhà khoa học già Cornaul trở lại Tây Bắc, tìm lại hình bóng xưa cũ. Qua nhiều mường bản Thái Tây Bắc, cuối cùng ông đã tìm lại được bà Mây và ông Mười. Họ cùng sống trong kỷ niệm đau đớn và ngọt ngào...

Lần thứ hai đến nhà “Người giữ Đền” một cơ sở làm phim truyện lớn nhất nước, Thế đã “xi-nê mồm” cho ông nghe kịch bản này trong nửa giờ đồng hồ. Ông lim dim mắt lắng nghe - y như lần trước nghe hai ý tưởng kịch bản về người thầy giáo-liệt sĩ và mối tình Việt - Trung. Ông pha trà rồi trịnh trọng rót cho Thế, lâu sau mới thủng thẳng những lời phán quyết tựa dao cắt đối với “đứa con tinh thần” được sinh ra bằng máu mắt của anh:

- Câu chuyện phim rất xúc động… Xúc động thấm thía, cháu ạ. Nhưng chú chân tình nói điều này với nhà biên kịch tương lai: Đề tài này sẽ không thể lọt qua cửa duyệt đầu tư của Bộ văn hóa đâu cháu - dù có nói khá thú vị về bộ đội ta ở Điện Biên Phủ… Bởi, thứ nhất, điện ảnh chúng ta đang cần những phim trực tiếp đề cập tới thắng lợi và ca ngợi trực diện người anh hùng Cách mạng xuất thân từ nông dân công nhân; còn cháu lại đi vun vén cho mối tình vượt biên giới bất chấp giai cấp của một cô xòe Thái với một sĩ quan Pháp - dù ông ta còn là một nhà dân tộc học, dù câu chuyện tình này có nguyên mẫu trong thực tế, điều này có nghĩa là tuyên truyền cho một thứ chủ nghĩa nhân đạo chung chung xóa nhòa giai cấp, như vậy khác gì sự tuyên chiến với đường lối văn nghệ của Đảng ta! Thứ hai, dễ thấy ngay là phim ca ngợi công lao bảo tồn, duy trì nghệ thuật xòe Thái cổ truyền của một tên chúa đất Thái, kẻ tàn ác chuyên bóc lột dân nghèo và đày đọa các cô xòe của ông ta như một sở hữu độc quyền trong dinh thự lãnh chúa! Chớ có dại dột đem cái Đẹp ra thử lửa với những nguyên tắc Mỹ học Mac-xít, cháu hãy ghi nhớ nằm lòng bài học đầu tiên và sinh tử này nếu có cơ bước vào ngành điện ảnh nước nhà… Sao cháu không chịu khó bắt đầu sự nghiệp làm phim cháu mơ ước bằng một kịch bản về đề tài chiến tranh Nhân dân Thần thánh; nếu không được may mắn cầm súng ngày nào thì qua ký ức còn sống động của người thân, qua sách vở rất nhiều, bằng trí tưởng tượng của nghệ sĩ điện ảnh và lòng Ái quốc mà chú tin đậm đặc trong cháu, để sáng tạo? - Những lời này ông nói nghiêm trang, thành kính tựa Thánh phán hoặc Tổ nghề dạy bảo.

Thế cũng cố tạo ra sự thành kính long trọng để tương xứng với không khí và tâm thế đối thoại giàu tính điện ảnh viễn tưởng chuyên nghiệp mà ông đã tạo ra giữa hai người:

- Cám ơn chú đã bớt thì giờ quý báu để thân tình nói những điều này với cháu, kẻ không máu mủ ruột rà với chú, một anh giáo nghèo từ miền núi về, thân cô thế cô đương tìm cách len chân vào làng điện ảnh mà chưa biết có được chấp nhận hay không… - Ông không lim dim mắt nữa mà mở to mắt nhìn vẻ dò xét của một Thám tử. Thế hít một hơi dài lấy thêm dũng khí rồi tiếp - Cháu tin rằng nỗi xúc động của chú với truyện phim của cháu là có thực, cháu rất biết ơn, và đó mới là con người nghệ sĩ đích thực của chú, một nhà biên kịch tầm quốc gia mà lâu nay cháu kính nể, mong được theo chú làm đệ tử trung thành để được truyền nghề… Nhưng cháu xin lỗi chú, sự thẩm định tổng thể có ý nghĩa quyết định sinh tử đối với kịch bản của cháu vừa rồi… xin lỗi, không phải là của chú…

Đang nằm ngả trên ghế mây dài, ông gần như bật dậy nhanh tựa mèo, rồi ông mau chóng trở lại bình thản, lấy điếu cày ra hút một hơi rõ sâu, mắt lim dim khi thả khói.

- Cháu nói cũng phải. Nhưng đúng ra là thế này: những ý nghĩ, những cảm nhận và những tác phẩm của chú, lâu nay đã hòa nhập vào Lý tưởng chung của dân tộc mình… Những đòi hỏi cao cả về nội dung tư tưởng trong mỗi trang kịch bản của chú là đòi hỏi của bao đồng đội đã hy sinh ngoài mặt trận, của những người dân thường đã tháo dỡ nhà làm cầu phao cho xe qua, làm hầm trú ẩn cho bộ đội… Đúng đấy, góp ý kịch bản của chú đâu phải của riêng chú nữa, khi cái riêng của chú đã hòa vào sự nghiệp chung của toàn Đảng toàn Dân?…

Thoáng nhìn gương mặt nghiêm trang, ánh mắt chợt long lanh ngời sáng của ông, Thế hiểu là ông hết sức chân thực - kể cả chân thực với những điều ông ngờ vực nhưng vì sự an toàn tối đa đã bắt bản thân và người khác phải tin tưởng, dù có trở thành tín điều mù quáng: Tâm hồn nghệ sĩ và bản năng chính trị suốt nhiều năm đã tạo thành bản hợp ca dịu dàng của nghệ thuật ứng xử giúp ông chinh phục được mọi tầng lớp lãnh đạo về cả Hồng lẫn Chuyên, và giờ đây tuy không đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng ủy nữa, ông vẫn được coi là “Thủ lĩnh” tinh thần - tư tưởng cho cả Xí nghiệp phim lớn! Những ý nghĩ này của Thế tuy không nói ra nhưng đã tự dựng thêm bức trường thành giữa anh và cái thế giới anh đang rắp ranh lẻn vào, bởi chính đáng thì sẽ bằng cách nào và đợi đến bao giờ? Anh tạm thời thất bại rồi! Những điều Thế tự nói về kịch bản của mình sau “lời phán xử” kia giống như một sự vuốt đuôi, “nước chảy lá khoai”, một kiểu “tạ sự” vô duyên, chúng vô nghĩa đối với ông lẫn cái thế lực trấn giữ cả ngành văn hóa nói chung, ngành điện ảnh nói riêng vào thời đó: “Thưa chú, cháu cho rằng đề tài chiến tranh Cách mạng đã và sẽ có nhiều cách tiếp cận, khai thác, góp phần làm phong phú điện ảnh dân tộc, và có thể ra với khán giả nước ngoài đễ dàng hơn… Còn bộ phim tương lai này, trước hết cháu mong muốn tôn vinh một kho tàng văn hoá dân gian đặc sắc của miền Tây Bắc Việt Nam mà không nơi nào có: nghệ thuật múa xoè Thái - đã được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia và đang đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại[18]. Nền nghệ thuật dân gian đó đã tồn tại, được duy trì và phát triển ngay cả trong nỗi thống khổ của thân phận người vũ nữ Thái... Qua câu chuyện tình đẹp và buồn thảm giữa một cô gái xoè thuộc ban xoè của vua Thái Đèo Văn Long với một nhà dân tộc học Pháp khoác áo nhà binh, khán giả có thể hiểu được thân phận chung của cái Đẹp và Tri thức mọi thời: chúng thường bị xua đuổi, bị truy bức, bị lợi dụng... Thế nhưng cái Đẹp và Tri thức lại luôn cứu giúp con người, tạo ra sự cảm thông sâu sắc, chỉ chúng mới có thể hun đúc nên Tình yêu vĩnh cửu... Và đó cũng là giá trị trường tồn của cái Đẹp và Tri thức trong cõi đời này…

Thế ngậm ngùi chào ông ra về, sau khi xin phép ông để lại hai chai mật ong rừng do học trò cũ đương làm lãnh đạo một huyện vùng cao vừa gửi xuống kịp thời để anh làm “lễ vật” ban đầu trên đường tìm đến cánh cửa Nghệ thuật thứ Bảy…

4.

Sắp tới ngày Thế lên đường vào Lâm Đồng theo quyết định của Cơ quan chủ quản đương trả lương cho anh, thì Lưu, một người bạn thân thời học phổ thông tìm đến. Lưu học đại học xây dựng ở Liên Xô, về nước được vài năm. Lưu thông báo ngắn gọn, và như ra một quyết định thay bạn: “Anh Minh cùng học xây dựng ở Kiev với mình, hiện đang làm Giám đốc nhà máy Bê tông đúc sẵn Vinh Quang, anh ấy nhờ tớ tìm một người phụ trách văn hóa văn nghệ của nhà máy. Tớ nghĩ ngay đến cậu! Qua thằng Toan “giáo khổ Việt Bắc” tớ được biết cậu đã chuyển vùng từ Tây Bắc về, và giờ đang bị chuyển vào miền Trung làm “giáo khổ Tây Nguyên”… Cậu vứt mẹ tất cả đi, nghĩa vụ tuổi trẻ với miền núi thế đủ rồi, chắc gian khổ không kém đời lính tráng ngoài mặt trận!…

Thế định nói: “Chẳng biết gian khổ hơn kém thế nào, chỉ biết tớ sau mấy năm miền núi đã hỏng gần hết bộ phận tiêu hóa bởi mì ngô bo bo sắn độn xuất ăn tập thể”, nhưng anh chỉ hỏi thăm dò: “Ông Minh ấy là người thế nào?”

- Mê văn chương, âm nhạc, hội họa… Nói chung là ông giám đốc khá đặc biệt của một ngành khô cằn nhưng lại có tâm hồn nghệ sĩ! Tớ mới kể qua là cậu con nhà gốc hội họa, âm nhạc, lại ôm mộng viết kịch, ông ấy mê liền, bắt tớ đi tìm cậu ngay, lệnh phải làm thuyết khách cho bằng đươc…

- Không cần đến tài của Trương Nghi, Tô Tần đâu, tớ cũng sẽ gật đầu sái cổ! Có điều, Bộ chủ quản của tớ đâu có dễ nhả người ra - dù là loại tốt đen!

- Yên chí lớn! Tớ vừa nói ra băn khoăn này, anh Minh liền bảo: “Tao là bạn nối khố của một ông lãnh đạo Sở Giáo dục Thủ đô, lại đang thiết kế xây dựng cho gia đình ông ta một biệt thự chưa từng có ở ngoại thành - bằng bê tông tấm lợp nhẹ, dĩ nhiên vật liệu mới mẻ này này là do tao sáng chế và trực tiếp sản xuất thí điểm tại Việt Nam! Lo gì nữa, hở mấy thằng thi sĩ tâm hồn treo ngược trên cành cây! Bạn mày về đây với tao, tha hồ mà ngụp lặn trong nguyên liệu đời sống dữ dội không kém gì tiểu thuyết Xi măng[19] của Fedor Gladkov!”

Cái “dữ dội” ấy chỉ hai tháng sau Thế sẽ được trải nghiệm. Đơn xin chuyển ngành của anh được ký tắp lự mà anh không mất một xu một khắc chạy chọt lên xuống các phòng ban từ Sở tới Bộ - cái việc khó như lên trời mà không ít người kể lại với Thế từ những năm ở Tây Bắc.

Thế chuyển về một nhà máy chuyên sản xuất bê tông đúc sẵn các loại, hưởng nguyên lương với chức danh nghe khá oách: “Trưởng phòng Văn hóa Thông tin”, nhưng chẳng mấy lúc anh đã thấm thía sự trái khoáy nghề nghiệp - cái nghề nghiệp bất đắc dĩ mà trước đây dù có phong phú trí tưởng tượng đến đâu anh cũng không thể nghĩ ra nổi! Thế chân thật tâm sự điều này với Giám đốc Minh, sau buổi anh trang trí đám cưới và chụp bộ ảnh cưới kỷ niệm cho con trai đầu của ông. Minh nhìn Thế vẻ dịu dàng, thương cảm. Tuổi trẻ của ông may mắn hơn Thế nhiều, ông không phải đi lính vì là con một, lại có lý lịch “Gia đình Cách mạng” đỏ chót nên tốt nghiệp cấp Ba là được cử sang Liên Xô học. Dù có “trợ cấp” đều đặn từ gia đình có người làm quan chức cao, Minh không phải làm “bộ đội”[20] nhục nhằn đánh hàng tiêu hàng như hầu hết lưu học sinh Việt thời “hậu Xô Viết” bắt đầu hoành hành “Luật rừng” toàn xã hội, nhưng cảnh ngộ Ngửa mặt kêu trời[21] của các sĩ tử đồng bào cũng ảnh hưởng tới tinh thần ông không ít - nhất là ở một nhà khoa học tương lai ẩn dấu tâm hồn nghệ sĩ… Nghe kể qua về Thế và sau đôi ba lần tiếp xúc ban đầu, ông đã hiểu rõ khát vọng văn chương điện ảnh ở chàng trai gầy gò bị mắc bệnh đường ruột kinh niên, ông thêm quý mến Thế và lặng lẽ tạo điều kiện cho anh được “thâm nhập thực tế sản xuất công nghiệp cho sáng tạo nghệ thuật” - như ông tuyên bố với cán bộ phòng của Nhà máy trong một buổi giao ban.

Xúc động với mối Tri ân nặng tình nặng nghĩa của người “bạn vong niên” - như Minh đề nghị - Thế đã chịu khó tìm đọc nhiều sách báo, tài liệu về nghề xây dựng, về công nghệ sản xuất bê tông trong nước và nước ngoài, thường hỏi han các cán bộ kỹ thuật, theo dõi sát sao các phong trào thi đua, và đặc biệt nhất, đúng với chức năng của anh nhất, là tìm hiểu tâm tư - đời sống của công nhân một ngành nghề cực kỳ nặng nhọc vất vả để có những bài báo tường, báo ngành xây dựng, và một số báo chí các loại… Thấy cán bộ văn hóa dùng máy ảnh Zênhít của Liên Xô chụp tư liệu, Minh gọi Thế vào và bảo: “Tớ là dân đi Nga về mà không kịp mua bộ Zênhít này làm kỷ niệm, ân hận lắm. Tớ mạnh dạn đề nghị: tớ đổi cho cậu cái máy Nikon này của tớ lấy máy Zênhit của cậu! Chịu không?” - Ông lấy chiếc máy ảnh hầm hố trong tủ ra đưa Thế xem. “Trời ạ! Nikomat! Em được nghe kể: đây là những máy Nikon đặc biệt do Mỹ đặt Nhật sản xuất riêng cho phóng viên mặt trận đây mà, nồi đồng cối đá, được sản xuất đâu chỉ vài chục chiếc, bằng thép của máy bay rơi” - Minh cười: “Cậu đúng là ma xó của dân chơi ảnh! Phải đấy, một cựu chiến binh bạn phổ thông với tớ nhặt được “chiến lợi phẩm” này ở chiến trường Khu 5, mới tặng lại tớ làm quà gặp mặt sau 20 năm đều sống nhăn răng!’ - “Sao anh lại đem cái máy quý đủ kiểu này đổi cho thằng em lấy cái máy rẻ tiền nhất trong các dòng máy viseur flex?[22] - “Thứ nhất là chiếc máy Nga mà lâu nay tớ vẫn đi tìm kia sẽ giúp tớ nhớ lại một thời “lưu vong” khó quên ở miền Bạch dương, thứ hai, chiếc máy Nhật - Mỹ này có ích hơn đối với cậu, người mơ ước làm điện ảnh và đang giúp nhà máy của tớ xây dựng lịch sử bằng hình ảnh! Ngoài ra, vì cậu là người hiểu được giá trị của máy, nên xứng đáng sở hữu nó; còn cuộc trao đổi này hai bên đều có lợi, và cậu thì có thêm sự trao gửi tin cậy của tớ về công việc trong nhà máy của tớ - à không, của chúng ta chứ!”.

Minh mở chai rượu gửi từ Nga sang có mác con cá sấu bằng đồng nổi hằn ở lưng chai, rót vào hai chén tống. Rồi hai người cụng chén.

- Chúc mừng nghệ sĩ nhiếp ảnh có đồ chơi nhà nghề mới!

- Chúc mừng Giám đốc chịu chơi có được Kỷ vật mới và chịu thiệt bởi Kỹ nghệ nhiếp ảnh thụt lùi…

- Này, cho cậu sửa sai ngay! Chịu chơi thì không cãi được rồi, nhưng chịu thiệt thì, đợi đấy nhé, còn lâu…

- Đúng vậy, anh không chịu thiệt với em về Kỹ nghệ nhiếp ảnh đâu… - Minh có ý hỏi, Thế tìm cách chống chế - Anh có biết bức ảnh cụ Võ An Ninh chụp sương và mây Sapa không? Bức ảnh tuyệt đẹp, chưa ai chụp được cảnh này bằng cụ, chủ yếu nhờ cái nhìn và sự săn cảnh vất vả, chỉ bằng loại máy Retina gập lên gập xuống cũ kỹ của Đức, thua xa về kỹ thuật so với các lại máy ảnh hiện đại - kể cả với máy Zênhit này! Vì vậy theo em, chỉ nên nói về thẩm mỹ thụt lùi, thẩm mỹ thoái hóa…

Đáp lại lời Thế, Minh cười to và bất chợt cất tiếng hát bài Triệu Bông hồng[23]. Thế hát hòa theo một đoạn, rồi mở túi lấy ra cuộn phim Đức lắp vào máy Nikomat, chọn góc chụp bấm liên tiếp cả chục kiểu ông Giám đốc - Ân nhân của anh trong cảm hứng âm nhạc từng sống suốt tuổi thơ anh… Có lần, Thế đã kể Minh nghe về người chú của anh, cũng tên Minh: thời chú từ Liên Xô trở về rạng rỡ như một hiện thân của Paven Corsaghin và làm tràn ngập tuổi thơ anh em Thế trong âm nhạc của Tsaicovsky, Rachmaninov, Alla Pugasova, Robertino Loreti, trong hội họa của I. Levitan, V. Serov, I. Kramskoy, I. Aivazovsky… Gia đình nhà giáo nghệ sĩ nghèo của anh như được bừng sáng thêm bởi những giá trị văn học - nghệ thuật Nga và phương Tây mà chú mang về. Anh không sao quên cái ấn tượng trẻ thơ háo hức lúc hóng chuyện của chú với bố anh, một họa sĩ và một bác sĩ “Tây học” mới về nước quanh chuyện âm nhạc, hội họa, thế sự, ấn tượng đó còn theo anh cho tới hôm nay…

Trong những bức ảnh chân dung chụp ông Minh hôm ấy, có một tấm mà Thế ưng ý nhất, mà Minh cũng gật gù thừa nhận: Bức ảnh ngược sáng ông đang hát trong phòng giám đốc, hơi bị nhòe vì ống kính normal chụp trung cảnh lại tốc độ chậm 30’’, song, “như thế này mới nói được nỗi nhớ đến run rẩy của tớ về một thời tuyết trắng nước Nga” - Minh nhận xét trong bữa chiêu đãi Thế món salad cá hồi Nga mấy hôm sau vì “Những tấm ảnh chân dung đẹp nhất trong đời tớ” - Minh trịnh trọng và chân thành tuyên bố. Thế rụt rè thêm: “Theo em, không phải đẹp nhất… Mà là thực nhất về anh, một nhà khoa học mơ mộng làm quản lý sản xuất giữa cái thời kinh tế thị trường lộn xộn, các chính sách vĩ mô lẫn chủ trương thực hiện xộc xẹo chẳng đến đầu đến đũa…”, Minh tròn xoe mắt nhìn cái kẻ mà ông vẫn cho rằng chỉ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. “Vodka Nga của anh ngon lắm, và giúp em thêm dũng cảm để nói điều này: mấy tháng qua em không chỉ kẻ vẽ pano, khẩu hiệu lớn nhỏ, làm trang trí cho các hội nghị hội thảo nhà máy, em còn lân la tìm hiểu đời sống, tâm tư các công nhân, và nhận ra không ít điều bất cập thậm chí rất lạc hậu trong guồng máy sản xuất không chỉ của nhà máy ta và của cả nền sản xuất nước mình…” - “Cái thằng này khá đấy! - Minh thốt lên hơi ngạc nhiên có phần thán phục xen lẫn nghi hoặc - Nào, cậu trưởng phòng văn hóa thông tin kiêm nghệ sĩ điện ảnh ẩn dật, cố vấn cho tớ đi nào!” - “Ấy chết, em đâu dám cố vấn, tham vấn gì cho Giám đốc! Anh làm em tổn thọ đấy! - Nốc cạn chén Vodka, Thế quay ra nhìn ngoài của sổ văn phòng thấy các tấm - thanh bê tông ngổn ngang như làm tiền cảnh lẫn hậu cảnh cho một phông màn sân khấu, rồi chậm rãi nói tựa tâm sự với chính mình - Anh à, em biết ơn thằng bạn nối khố đã cho em biết anh và nhà máy ta… Anh có biết: sau lần nghe anh nói về mơ ước kiến tạo ra bê tông tấm nhẹ bằng rơm rạ, em quan sát việc làm bê tông của công nhân với con mắt khác, cảm nghĩ khác trước… - Minh nhìn Thế vẻ háo hức chờ đợi, khuyến khích - Thằng em mơ mộng của anh có mấy vần thơ vụng, đúng hơn chỉ là cảm ngôn thôi: CÔ THỢ ĐỔ BÊ TÔNG. Tôi gặp em giữa một trưa bỏng lửa/ Nắng dội khắp người, khuôn thép nóng rang/ Nắng lẩn vào màu áo xanh bình dị/ Nổi bật dáng em nơi sân bãi thênh thang// Xao động nỗi gì, nắng cứ chói chang/ Mồ hôi trên áo em ướt đẫm/ Anh như thấy ở trong cồn vữa xám/ Nỗi lòng em da diết những công trình…// Dưới tay em những cấu kiện thành hình/ Vật chất tự nhiên hoá thành vĩnh cửu/ Có cốt thép và hồn người xuyên thấu/ Bê tông nhẹ bay như mơ ước xa xăm// Đầm chặt rồi, lại nhẹ nhàng dưỡng chăm/ Nước bay hơi giữa mịt mù bụi khói/ Nắng chưa hả lại bất ngờ mưa xối/ Tấm bạt vội ra che kín cả dáng người// Giữa ngổn ngang bê tông chợt thấy một nụ cười/ Ai bảo những sản phẩm nặng nề và khắc khổ?/ Anh bỗng hiểu thế nào là niềm vui lặng lẽ/ Khi những tấm bê tông được nhấc bổng dưới trục cầu// Em chưa kịp hỏi những tấm cấu kiện sẽ về đâu/ Khuôn cốp pha lại sạch bong dưới bàn tay người thợ/ Ngày mai, những ngôi nhà cao tầng sinh nở/ Bắt đầu từ tình yêu của cô gái bê tông…

- Hay lắm! Có cốt thép và hồn người xuyên thấu. Bê tông nhẹ bay như mơ ước xa xăm - Minh vỗ tay nhè nhẹ - Cậu đã nói được ý nghĩ thầm kín và mong ước sâu xa của tớ… Vậy cậu đã yêu được cô bê tông nào của tớ chưa đấy?

- Chưa đâu ạ!… Nhưng anh ơi, đó chỉ là những cảm nghĩ hời hợt bên ngoài thôi… Em đang viết một vở kịch về nghề bê tông nói riêng, nghề xây dựng nói chung, mà trong đó, em xin phép trước, nhân vật chính lấy anh làm prototype

- Chắc chắn nguyên mẫu đó phải là tích cực? - Minh nheo mắt lại nhìn Thế.

- Dĩ nhiên là vậy, anh, song đó là tích cực của bi kịch - Bi kịch lạc quan…

- Cậu vừa nhắc tới một vở kịch Liên Xô, có phải không… Để tớ nhớ lại nào…

- Vâng, vở Bi kịch lạc quan của tác giả Visnhevsky…

- Theo tớ, nói về Bi kịch trong văn nghệ lúc này là một thứ ‘sa xỉ phẩm’, thậm chí là ‘phạm húy’… Được, cậu thử kể về Bi kịch lạc quan tại Nhà máy của chúng ta đi nào?

Thế tóm tắt cho Minh nghe nội dung chính của kịch bản đang nung nấu, ông bắt tay anh nồng nhiệt kiểu “Paven Corsaghin” và yêu cầu anh phải viết ngay. “Tớ sẽ mời một đạo diễn sân khấu bạn tớ từ hồi ở Liên Xô tới dựng vở này, ngay tại nhà máy, với toàn bộ diễn viên của nhà máy” - “Tốt quá, em xin làm trợ lý đạo diễn cho anh ấy! Nếu anh ấy bận hoặc đòi thù lao quá cao, thì chính em sẽ làm đạo diễn! Em cũng từng làm đạo diễn kịch dài hồi dạy học ở Tây Bắc… Em đã dự kiến các diễn viên rồi - trừ anh, bởi anh không thể lên sân khấu đóng vai giám đốc…”

Sau một tuần, Thế viết xong lần đầu, đưa Minh đọc, ông rất thích thú, góp ý cho từng chi tiết, từng lời thoại. Ông thích nhất cái ý tưởng: Những tầng cao trong xây dựng cũng như mọi tầng cao trong các lĩnh vực đời sống vật chất lẫn tinh thần đểu là những tầng cao “nghiệt ngã” cả, đòi hỏi người tạo ra chúng phải tận tâm đổ mồ hôi, nước mắt, trí tuệ, sự lương thiện, thậm chí cả máu nữa… Anh kể ông nghe câu chuyện bi thảm về nghề xây dựng xưa ở Hunggari đọc được trong cuốn sách dịch: Xây dựng xưa và nay ở thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc: Những người thợ đốt lò nung gạch xây không sao xây nổi lò cho tới khi biết được một lời nguyền nghiệt ngã của truyền thuyết: phải ném người đầu tiên bước tới lò đang xây vào lửa… Họ đã buộc phải làm theo lời nguyền đó trong máu mắt của mình… Tuần sau nữa, Thế đã hoàn chỉnh kịch bản lần cuối, và chủ động thành lập “Đội kịch lâm thời của những người thợ Bê tông”, tuyển chọn diễn viên và lên lịch tập kịch; mọi kế hoạch đều được Ban Giám đốc và Đảng ủy hoan hỷ, ủng hộ hết lòng, tạo mọi điều kiện để anh có thể cho trình diễn đúng vào dịp 30 năm thành lập ngành Xây dựng[24].

Thời kỳ Thế âm thầm tích lũy kiến thức về nghề xây dựng - sản xuất bê tông và đời sống công nhân, anh làm thân với Thảo - một cô kỹ sư học ở Cộng hòa Dân chủ Đức, chủ yếu là trên đường đạp xe đạp từ nhà máy về Hà Nội… Tốt nghiệp về nước, Thảo được Giám đốc Minh tuyển ngay vào nhà máy, bởi theo lời ông từng nói với Thế khi anh hỏi về cô: “Con bé tốt nghiệp bằng đỏ, lại có tâm hồn nghệ sĩ, sẽ cùng cậu xây dựng và phát triển phong trào văn nghệ quần chúng rầm rộ ở cơ ngơi khô cứng đầy bụi này! Tớ giao cho cậu đấy!” Những tuần đầu, cô tỏ ra khinh khỉnh, phớt lờ cái thằng cha mặt mũi lúc nào cũng đăm chiêu, lầm lũi đến các phòng ban, cơ sở sản xuất với chiếc máy ảnh lủng lẳng trước ngực và cuốn sổ trên tay, hỏi han công nhân và cán bộ kỹ thuật mà chưa hề liếc mắt chú ý đến cô - một kỹ sư trẻ được cả Ban Giám đốc coi trọng, trong giờ làm cũng ăn vận lịch sự và mô đec như một nữ chuyên gia nước ngoài. Lúc tuyển chọn diễn viên cho vở kịch, tên tuổi cô lẫn hình dáng thanh tú, khuôn mặt photogénique (ăn ảnh) của cô đã không vào tầm ngắm lẫn bộ nhớ của tay đạo diễn nghiệp dư kiêu căng này! Mà có năn nỉ mời chưa chắc người ta đã thèm ngó mắt vào cái kịch bản vớ vẩn chứ đừng nói vào vai!

Cho tới một lần… Thảo đạp xe rời khỏi nhà máy được dăm cây số thì bị tuột xích. Cô đang ngồi xổm loay hoay với cái xích xe bằng đôi bàn tay lấm đầy dầu mỡ thì Thế đạp xe tới. Chẳng nói chẳng rằng, anh ngả luôn xe mình ở vệ đê chạy đến giúp cô. Xe của Thảo là xe cực sang cô mang về từ Đức, có bộ líp tầng, khi tuột xích mà không biết cách, và không gặp được Thế lúc đó thì chỉ có ngồi khóc trên con đường liên tỉnh vắng tanh! Sửa xong xích xe, Thế lấy giấy báo trong cặp ra lau tay, rồi rút khăn mù xoa đưa cho Thảo, và chỉ tay vào bên má có dính vệt dầu đen lẫn mồ hôi, anh mỉm cười. Thảo chợt sửng sốt, bởi đó là lần đầu tiên cô nhìn thấy anh chàng có “cái mặt không chơi được” này cười, mà lại cười với cô một cách thân thiện, làm như đã quen thân từ lâu, làm như không có nhiều lần cô cố tình lảng xa anh mà chắc chắn là anh biết… Cô lúng túng ngượng nghịu:

- Cám ơn… Em cám ơn anh…

Thế bật cười nhẹ:

- Em nên cám ơn cái khăn này đi đã, nó sẽ giúp em bước đầu lấy lại phong độ của bà chuyên gia kỹ thuật Đức dạo nọ đến nhà máy…

Thảo cười, vừa lau má vừa liếc khẽ Thế:

- Em mà anh ví với bà chuyên gia đó ư, em đâu có chút gì giống và làm sao có thể so sánh với bà ấy được…

- Ừ, đâu có già và soi mói như bà ta - Thế nói ngay. Cả hai chợt cười vang, phá tan mọi nghi kỵ dò xét giữa đôi trẻ từng bao quanh họ mấy tháng trời bên những chồng bê tông im lặng.

Lau má xong, Thảo đưa chiếc khăn lại cho Thế. Anh xua tay:

- Em để dành đôi tay mang dấu vết kỹ thuật hỏng kia về nhà à? Lau nốt đi chứ, đừng thương cái khăn này nữa, coi như anh bỏ đi rồi!

Thảo ngần ngừ một lúc rồi cầm khăn lau hai tay cẩn thận kỹ lưỡng. Thế chăm chú theo dõi từng cử chỉ của Thảo. Cô chợt ngẩng lên, tỏ ra xấu hổ:

- Sao anh lại nhìn em thế? Em có gì hợp với các nhân vật kịch của anh đâu…

Thế chống chế:

- Anh nhìn đôi tay lấm lem của em đấy chứ, và hình dung: nếu em cứ để vậy về nhà, mẹ em sẽ hỏi gì, và em sẽ trả lời ra sao?…

- Anh thực giàu trí tưởng tượng. Chú Minh Giám đốc giới thiệu anh là nhà viết kịch, em không tin… Nhưng bây giờ thì… Có thể bắt đầu tin rồi! Thế cái đoạn đối thoại kia giữa hai mẹ con em sẽ là gì, hở anh?

- Em cứ như Giám khảo của một cuộc thử tay nghề tuyển dụng ấy! Được rồi, lên xe đi, anh sẽ thoại cho mà xem!

Lúc ra vệ đê dựng xe lên, Thế thoáng nghĩ: Cô bé này đáo để đây, nhưng bõ công mình bay nhảy trí tưởng tượng, chứ không như em Liên tài vụ của thế giới câu lạc bộ Thơ ca và văn nghệ quần chúng mình chia tay nửa năm trước… Trên đường vắng đạp xe thong dong hàng đôi, Thế đã vượt qua cuộc “thử lửa” đầu tiên của cô kỹ sư xinh đẹp nổi tiếng kiêu kỳ khắp nhà máy và trai phố trai làng có máu mặt ở địa phương:

- Bố mẹ em là cán bộ nhà nước, phải không?

- Anh tra hỏi lý lịch em đấy à? - Thảo bất ngờ độp luôn, theo thói quen.

- Cứ tạm coi như em nghĩ đi, nhưng với mục đích là anh cần xác định nội dung - tính chất lời thoại kịch mà em yêu cầu lúc nãy… Và cũng tính xem là em có thể vào vai nào cho xứng…

Thảo thoáng ân hận đã vội vàng để nói hớ một câu hỏi khá vớ vẩn:

- Em biết rồi…

Thế lựa lời “chữa cháy” giúp cô:

- Còn anh biết là… em đã từng dị ứng với không ít đối tượng săn đón em…

- Anh đừng nói nữa… Em khóc đây này! - Thảo vội ngắt lời Thế.

Hai người lặng lẽ đạp xe chậm rãi bên nhau, cái im lặng hòa vào bóng chiều bắt đầu tràn ngập vùng trung du như một “đồng minh” giúp họ khỏi làm tổn thương nhau bởi dễ chạm đến thói đời dung tục của thời hậu “Giá - Lương - Tiền” chuyển sang thời “Bù giá vào lương, bù xương vào da” khiến cả xã hội cứ loạn lên, mờ mắt trước thế lực “Tiền là Tiên là Phật” lên ngôi trong bảng giá trị làm Người… Suốt mấy hôm sau đi về cùng nhau, hai người cố tình né tránh cái điều đã trót gợi ra hôm trước, vì vậy Thế không có dịp “trình diễn” mấy câu thoại kịch mà Thảo yêu cầu… Nhưng anh đã thuyết phục được Thảo nhận một vai thứ chính trong vở diễn của anh. Và khi đã có sự tin cậy, Thảo kể với Thế: cô về nước, chỉ mang theo mấy hòm gồm sách kỹ thuật, đĩa hát, tranh ảnh, một bộ sưu tập búp bê, và đồ dùng có giá trị vật chất cao nhất chỉ là chiếc xe đạp Mifa Thảo đang đi, khiến cả nhà ngao ngán thất vọng và cả khu phố xôn xao bàn tán suốt năm ròng về sự “chơi ngông”, “khác đời” đến kinh ngạc của cô kỹ sư. Bố Thảo là Thứ trưởng của một Bộ, từng làm Chính trị viên tiểu đoàn thời chống Mỹ, có nhiều quan hệ tốt, lại có lý lịch Cách mạng nòi từ ông nội Thảo là tù chính trị thời Tiền khởi nghĩa, nên Thảo và anh trai đã mặc nhiên thuộc giới tinh hoa, cả hai có danh sách được chọn học đại học nước ngoài ngay từ đầu cấp Ba. Mẹ Thảo chỉ là một nhân viên văn thư sớm về hưu để toàn tâm toàn ý làm nội trợ - nội tướng cho toàn gia được “thăng quan tiến chức”… Bù đắp cho sự thiếu hụt học vấn của bà là lòng yêu các bài hát nhạc đỏ, mê xem phim ướt át, ham đọc các loại tiểu thuyết có chất “ngôn tình”, và bà có ảnh hưởng nhiều tới cô con gái út thường được cưng chiều như Công chúa. Trước khi Thảo về nước, ông bố đã “lót ổ” sẵn cho con gái một chỗ làm thơm tho ngay tại Bộ nhà, nơi đương kim Thứ trưởng là ông đang có quan hệ đặc biệt với nhiều doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài. Nhưng Thảo đã tuyên bố hồn nhiên - cũng hồn nhiên như việc cô mang về cả một thùng Búp bê trong lúc thiên hạ tính toán dung tích của thùng theo “Cây - Chỉ”: “Con không muốn sau khi thoát khỏi các thư viện, phòng thí nghiệm học đường lại chui ngay vào văn phòng để gậm nhấm công văn, tài liệu… Con muốn được đem kiến thức lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, nhất là những cơ sở đang sản xuất ra các vật liệu rẻ tiền, cho những ngôi nhà giá thành thấp phục vụ đông đảo dân chúng…”. Sau khi đi tham quan vài cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, tới nhà máy Bê tông đúc sẵn Vinh Quang, cô bắt gặp mơ ước làm ra các tấm Bê tông bằng rơm rạ của Minh, cô mê ngay và xin đầu quân về Nhà máy, được Minh phân luôn là Phó Trưởng phòng Kỹ thuật - điều này khiến ông bị mấy kỹ sư thâm niên kỳ kèo, phản đối, và ông còn bị mang tiếng là “bao cấp cho bồ nhí” một thời gian… Rồi xuất hiện một ấn tượng thiên về châm biếm, dè bỉu về cái gọi là “Hội Mơ Mộng Mây Gió” với hy vọng hão huyền là làm cho Bê tông bớt nặng nề…

Lúc nghỉ chân ở một quán nước vối dọc đường, Thế nói với Thảo:

- Hóa ra, anh là kẻ sau cùng được gia nhập vào “Hội Mơ Mộng” của nhà máy, dĩ nhiên là Hội viên miễn cưỡng, được chiếu cố, vì là dân “ngoại đạo” với mọi thứ kỹ thuật, mọi quy luật sản xuất kinh doanh xây dựng…

- Chú Minh là thủ lĩnh, anh là phó thủ lĩnh, còn em là nhân viên - Thảo cười duyên dáng - Em sẽ thu hút thêm mấy người trong đội văn nghệ Nhà máy, trong đó có chị bạn học ở Liên Xô về trước em tham gia Hội này cho đông đúc…

- Em dùng chữ “Thủ lĩnh” với Hội này Hội nọ dễ khiến bị nghi ngờ là Hội kín, nguy hiểm lắm!

- Không lo! Em đang là đối tượng cảm tình Đảng số một rồi nhé! Anh biết không: Hôm kia, có người biết là anh em mình hay về với nhau liền tung tin là: Hạt giống Đỏ của Nhà máy đang liên hệ thân thiết với một tay “Bạch Vệ” dưới vỏ làm văn hóa văn nghệ tìm cách chui vào Nhà máy phá hoại đoàn kết… Em biết ngay là ai, và đã làm anh ta bẽ mặt hôm qua buổi giao ban: Này anh, về cả tư cách lẫn tài năng thì anh không so được với người mà anh gọi sau lưng là “Bạch vệ” đó đâu! Còn nếu như phải “đoàn kết” trong nhà máy theo tinh thần nghị quyết Đảng ủy, thì đối với loại như anh tôi không thể đoàn kết được, nhé!

Thế cười rũ:

- Không ngờ em đáo để thế… Anh nào muốn “nâng khăn sửa túi” cho em, có là ba đầu sáu tay chắc cũng phải chạy mất dép!

Thảo giơ ngón tay dí dí vào mũi Thế:

- Em cảnh cáo anh đó!

Tới lần này đi về Hà Nội cùng nhau, Thế và Thảo đã thực sự trở thành đôi bạn tri âm tri kỷ về văn chương - sân khấu - điện ảnh. Thời học sinh cuối cấp, Thảo đã vùi đầu trong những cuốn tiểu thuyết dịch dày cộp của Nga, Pháp như Chiến tranh và Hòa Bình, Anna Karenina, Phục sinh, Con đường đau khổ, Đỏ và Đen, Giăng Kristôp… Sang Đức du học, cô cũng ôm theo một va ly sách truyện, “Phục Sinh là sách gối đầu giường của em bên đó, anh ạ”… Thế hỏi Thảo đã xem các phim Nga chuyển thể tác phẩm của Lev Tolstoy chưa, cô lắc đầu.

- Vậy em đã xem phim bãi bao giờ chưa? - Thảo lại lắc đầu - Phim bãi tức là một loại rạp chiếu bóng ngoài trời, bây giờ đã vào Bảo tàng điện ảnh rồi. Em chưa biết loại rạp này thì quả là thiệt thòi… Mấy năm trước, trong các phim bãi được xem ở một phố Huyện miền núi, anh ấn tượng nhất là phim Thợ cạo Sibiri, bộ phim Nga này mang dấu ấn của tinh túy văn học cổ điển Nga rất đậm, đặc biệt là kiệt tác Phục sinh của Lev Tolstoy - trong đó, khát vọng về Tình yêu trong sạch, cao cả cùng những giá trị tinh thần vươn tới đỉnh cao của Thượng đế là âm hưởng lớn nhất… Em hãy nhớ lại sự sám hối của nhân vật luật sư Nêkhliudov quyết tâm đi theo dấu tù đày ở Siberi cùng cô gái điếm Maxlôva, đề nghị cô làm vợ mình như một sự đền đáp cho tội lỗi của mình đã gây ra cho cô lúc còn trẻ, sẽ hiểu thêm tình cảm của nhân vật nữ Jane trong phim Thợ cạo Sibiri đối với nhân vật chàng học viên sĩ quan Tolstoy - sự trùng tên này chắc không phải vô tình trong sáng tạo của người làm phim - cũng trong bối cảnh nước Nga thời Sa hoàng cuối thế kỷ XIX. Người phụ nữ ấy trong suốt mười năm đã lê bước trên khắp miền Siberi mênh mông lạnh giá để kiếm tìm người tình, đồng thời cũng tìm ra chính con người mình ở phần sâu thẳm, thiêng liêng nhất, đó là Tình Yêu…

Một đồng nghiệp cũ ở phía Nam có kể cho anh nội dung một truyện ngắn viết về cuộc đời khá kỳ lạ của ông bố vợ, một người Kinh lên Tây Bắc làm nghề thợ cạo. Anh thích quá, đề nghị anh ấy gửi ngay cái truyện đó, bởi cái tên đã gợi đến bộ phim Nga này và vở kịch Người thợ cạo thành Xêvin của nhà văn Pháp Bômacse. Anh đã hình dung ra kịch bản mang tên: Người thợ cạo vùng sông Đen - sông Đen là Sông Đà, Rivier Noir - nếu lên màn ảnh sẽ là một bộ phim chưa từng có về đời sống tâm hồn của người Thái Tây Bắc với chằng chịt mối quan hệ xã hội, tập tục địa phương, mà mới chỉ có tiểu thuyết Rừng động của nhà văn Mạc Phi và tiểu thuyết Đất bản quê cha của nhà văn Vương Trung phác họa. Phim sẽ dựng lên cái thế giới của người sống, của hồn ma và ở các mường Trời - Mường Then, thông qua những lời "khắp" sử thi và lời cúng mo bay bổng huyền ảo nhưng lại thấm đẫm sự sống, giữa bao thử thách và tai nạn do cả lòng tham, thói đố kỵ, sự ngu muội của chính đồng bào mình gây ra… Phim sẽ có những tâm trạng đang yêu "mãnh liệt như sóng tung, thác dội", với tâm lý cổ "Mười bản không bằng bản rụng rốn/ Mười mường không bằng mường treo nhau", với cảnh chìm nổi theo sóng cuộn, vật vã theo sóng tung" khắp các vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc, dù không ít đận "gặp hổ sói”, nhưng các nhân vật của phim cũng luôn sống hiên ngang, không bao giờ dùng tới những thủ đoạn hiểm ác – như một tay thầy cúng xấu sẽ có trong phim lợi dụng mê tín của dân để bịa ra hồn ma khủng bố tinh thần người lương thiện... Phim sẽ giàu chất điện ảnh dữ dội, không kém phim Những đứa con của Gấu mẹ vĩ đại[25] của Đức năm nào đâu em!

Thảo lặng đi rất lâu. Trong câu chuyện phim do anh chàng phụ trách văn hóa có vẻ ngoài khờ khạo này vừa kể lại, lần đầu tiên cô khám phá ra cả một kho năng lượng tinh thần chứa đựng khát vọng nồng nàn của anh với cuộc đời và điện ảnh, cái khát vọng có khả năng thiêu cháy tâm hồn cô. Sau đó, trong những ngày tập kịch, đôi lúc nhìn anh thị phạm cho diễn viên quần chúng, Thảo chợt thấy anh có gì từa tựa các nhân vật Ruồi Trâu, Paven, Andrây Bolkonsky đã từng in sâu trong tâm tưởng thiếu nữ đầy mơ mộng của mình… Anh đã kể cho Thảo nghe thời là “giáo khổ” Tây Bắc, anh và người bạn dạy văn tên là Phúc vào một dịp nghỉ hè đã rủ nhau lang thang xuống cao nguyên Mộc Châu, rồi lên vùng thượng nguồn sông Mã để thâm nhập thực tế mấy tuần liền, rồi sau đó cùng dựng viết và dựng một vở kịch dài về Nguyễn Trãi cho Trường Cao đẳng sư phạm Tây Bắc, bụng đói chỉ được bồi dưỡng bằng bát súp sắn nhưng tâm hồn bừng cháy nguồn cảm hứng của Stanilavski, Arbuzov, Kornêytruc, Vampilov, Ghenman, v.v. – những tác giả sân khấu Xô Viết mà anh và Phúc đã say mê từ hồi sinh viên… Anh còn kể cho toàn đội kịch nghe chuyện: thời sinh viên văn khoa năm nhất, anh tự viết và dựng cho khoa vở kịch Đêm Ức Trai, các thầy khen là được hình ảnh bó đuốc tượng trưng cho ánh sáng thời trung cổ; còn các nhân vật thì ăn nói như trong kịch Shakespeare… Thảo nói luôn: Có nghĩa là chê một cách thâm thúy, lịch sự, chứ gì? Mọi người cười vui, thêm tình gắn bó với nhau, và từ lúc đó, Thế bắt đầu thấy kiềng nể cô gái thông minh này…

Dần dà, cô đã được anh tâm sự hết về gia đình anh. Bố anh là họa sĩ, mẹ anh là một cô giáo dạy nhạc phổ thông, cũng yêu phim ảnh sách truyện và quen sống nhẫn nhịn y như mẹ cô. Hai em trai kế anh cũng là họa sĩ. Cô đã chảy nước mắt sau khi anh kể về chuyện người em trai anh: “Hôm ấy, trèo lên tường cao Hội trường nhà máy để kẻ khẩu hiệu chuẩn bị cho một hội nghị, anh bỗng nhớ Lăng, em trai anh, một họa sĩ phải đi xuất khẩu lao động ở Bun, cũng làm xây dựng, hiện đang méo mặt lo vé về nước theo con đường chính thống… Cậu ấy tốt nghiệp loại ưu Đại học Mỹ thuật mà mấy năm trời phải làm công việc kẻ vẽ đơn điệu như thế này ở một trường Đại học…

Qua thư Lăng và một người bạn thân cậu ta mới về nước, anh đã hình thành được mấy truyện phim ngắn về những chặng Trên từng cây số[26] cuối cùng của con đường khổ ải thấm nước mắt và máu này mà cậu em anh trải qua…”. Anh đã “xi nê mồm” cho Thảo nghe một trong số mấy truyện đó: Âm bản Đóa hồng trên ngọn núi Vitôsa; đây là đoạn cuối, tâm sự của chàng họa sĩ lưu vong trước cô giáo trẻ dạy tiếng người Bun:

- Anh có thường hay vẽ phong cảnh không?

Tôi giật mình quay lại. Một tia sáng chợt soi thẳng vào cõi lòng bối rối, không hình thù rõ rệt mà tôi đang hướng về cõi vô định. Sự khắc khoải cuối cùng để tự nâng đôi cánh xúc cảm lên ngang với tia nắng dập dờn trên rặng thông non mới nhú kia giờ đã biến thành nỗi lo âu vô cớ về một sự yếm thế, cô độc khó lòng tránh khỏi. Cô mở to đôi mắt chuyển sang màu hạt dẻ, nhìn tôi như nhìn một con chim bay lạc bị trúng tên. “Sao, anh không có màu và giấy bút ư?”. Tôi im lặng, chưa biết trả lời sao. Cô lại nói tiếp, như trong hơi thở của sự thương cảm dịu dàng: ”Mà sao anh lại chọn nghề xây dựng vất vả này ở Bun? Nghề họa ở nước anh chẳng lẽ không được dùng đến ư?” - “Tôi muốn đi du lịch. Chuyến đi Bun này của tôi coi như là một chuyến đi thực tế”. Tôi trả lời thành thực, nhưng rồi ngay sau đó chợt ý thức được hết về thân phận của mình. Tôi đã hiện nguyên hình trước mắt cô: một công nhân tương lai, đúng hơn là một kẻ đi bán sức lao động giản đơn. Liệu tôi có đủ thời gian để giải thích: tôi đã cầm cọ từ lúc còn bé tí, được khá nhiều giải thưởng vẽ thiếu nhi trong nước và quốc tế; khi đi lính hải quân vẫn vẽ nhiều. Xuất ngũ, thi vào Cao đẳng Mỹ thuật. Nhưng tốt nghiệp xong được phân về một trường đại học thì thời gian sáng tác không còn nữa, chỉ vùi đầu vào chuyện kẻ chữ, vẽ pa nô, trang trí phông màn phục vụ cho các cuộc hội nghị, họp hành liên miên từ đầu năm tới cuối năm. Có lần vẽ giấu diếm được vài bức tranh thì bị tổ chức phát hiện, phải kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, thậm chí còn bị chụp cho cái “mũ” là vẽ tranh theo trường phái suy đồi (!) gây ảnh hưởng tác hại tới sinh viên! Ngán ngẩm với đồng lương bố thí trả cho những công việc khổ sai thì ít mà chán nản với cuộc sống vô vị của mình thì nhiều, tôi đã liều đăng ký xin đi xuất khẩu lao động khi có dịp. May mắn là tổ chức đã sáng suốt ghi nhận rằng tôi có một quá trình phấn đấu tốt – từ trong quân đội tới cơ quan, nên việc đi nước ngoài được xét duyệt nhanh chóng. Hơn nữa, công việc của tôi đang làm ở cơ quan cũng đã được “nhấm nháy” dành cho con cháu mấy vị lãnh đạo. Thế là, như một giấc mơ, tôi đã có mặt ở xứ sở này… Dải đất Ban-căng có thung lũng hoa hồng, văng vẳng tiếng vó ngựa tiếng sừng dê, có điệu nhảy xoay tròn tay nắm tay hân hoan trong men rượu nồng say, có mùa đông cũng ngập tràn ánh nắng cho những trò đua tài trên tuyết, có đàn hải âu lượn lờ quanh những chiếc phao bơi, có thuyền buồm nhọn mũi lướt nghiêng và bãi cát hoàng hôn trần truồng nâu bóng… Biết bao điều hấp dẫn du khách từ mọi miền tới đây dể tìm lạc thú và để sống cho ra con người… Tôi nhớn nhác, rối bời trong mớ hành trang tinh thần tuy cọc còi, bé nhỏ nhưng làm lòng tôi trĩu nặng. Những điều đó đối với tôi giờ chỉ là những mụn vá xinh xẻo trên một tấm áo phong sương và mục nát. Cô giáo ơi, em chỉ là một cô gái hoàn toàn khác biệt về ngôn ngữ, tập quán, và cả đẳng cấp đối với những kẻ như tôi… Chính ý nghĩ này chợt đến với tôi như những tàn lửa bốc lên, bay vào đêm tối không trăng sao.

Cô giáo dành cả mấy tiết cuối để trò chuyện cùng lớp và sinh hoạt văn nghệ. Lúc này, ở lớp bên cạnh vẳng sang một giọng hát dân ca luyến láy nghiệp dư cất lên trước sự ngạc nhiên và cảm phục của cô giáo… Đến lượt tôi. Cô giáo và cả lớp chờ đợi. Tôi lưỡng lự. Biết hát gì? Trong tôi lúc này tràn ngập một nỗi niềm thầm kín và vô vọng. Bất giác, tôi quay ra nhìn mỏm đồi thoai thoải, có con đường dẫn lên đỉnh núi Vitôsa nổi tiếng. Một đàn cừu mải mê gặm cỏ, không có người chăn thả. Đâu rồi chàng chăn cừu Ac-lơ-canh? Có phải chàng đang vượt qua dãy núi cao vời kia để tìm vùng đất mới, hay đương khua mái chèo đưa cô chủ sang sông? Giai điệu bị lãng quên của thời thơ ấu nghèo nàn và đắng cay chợt hiện về trong tiếng đàn cùng giọng hát của mẹ tôi, một cô giáo dạy nhạc - bài dân ca Ý “Giấc mơ triệu phú”. Và tôi hát tặng cô giáo: “Đến bao giờ em mới sang sông tìm anh. Đến bao giờ cây lá bên sông lại xanh…”. Trong khi hát, tôi thoáng nhìn thấy cặp mắt cô trở nên xa vắng, buồn rượi, ướt lấp loáng và thẫm màu của hoàng hôn trên Biển Đen…

…Trong lúc nhích dần tới chỗ cửa lấy đồ ăn, tôi nhìn lên phía rặng mận um tùm, nơi có ki-ốt bán đồ giải khát. Cô giáo trẻ của tôi đứng tựa lưng vào quầy hàng, nhìn quanh như có ý tìm kiếm một ai đó, những món tóc mềm của cô bay bay. Cô không thể nhìn thấy tôi trong biển áo sọc – biển áo của những người sẽ hoàn thiện cho Tổ quốc của cô vô vàn những căn hộ mới xây… Phải, thế là chúng ta đã xa nhau rồi. Những ngày sắp tới là mùa đông tuyết phủ. Tôi sẽ cố gắng tìm gặp lại em, với vốn từ chắc sẽ nhiều hơn, để giúp em hiểu thêm về Tổ quốc tôi, về con người Việt Nam, về nỗi lòng của một “kẻ sĩ” nghèo phải tha hương làm thuê kiếm sống, về tất cả mọi điều, nếu cần sẽ dùng thêm cả bảng màu, cây cọ – thứ “ngôn ngữ mẹ đẻ” của loài người – nếu như điều đó đem thêm cho em niềm vui và sự yên lành.

Nghe xong, Thảo rơm rớm nước mắt bảo Thế:

- Anh Lăng thực đáng thương… Anh dạy em bài hát “Giấc mơ triệu phú” nhé? Em thấy mê mẹ anh quá… Hôm nào anh đưa em tới thăm mẹ, và được nghe mẹ chơi đàn… - Cô nói chữ “Mẹ” một cách tự nhiên, như tiến độ tình cảm giữa hai người đã tới lúc cần phải thế, khiến anh xúc động, nếu cô thổ lộ “Em yêu anh” thì có lẽ anh không xúc động đến vậy. Sau khi vở kịch đã chạy dượt lần cuối và lên lịch diễn cho Đảng ủy nhà máy duyệt, Thế đưa cô tới thăm nhà anh theo đề nghị nhắc lại của Thảo.

Cô xuất hiện trong ngôi nhà cấp bốn cũ kỹ của Thế như Bà chúa Tuyết lộng lẫy lạc vào căn lều rách nát của chàng Thợ săn, song cô lại mang dáng vẻ của một nàng tiên bé nhỏ hiền dịu, hòa nhập ngay được với tâm tính của bà giáo dạy nhạc - cái tâm tính đã tạo nên không khí chung của một gia đình tuy đương lay lắt trong cơn sóng mưu sinh dữ dằn cả xã hội song vẫn cố giữ lấy căn cốt gia phong như một thành lũy cuối cùng… Nhà có mỗi mình bà giáo. Ông họa sĩ chủ nhà vào Sài Gòn tổ chức triển lãm tranh và thăm vợ chồng cô con út, cậu thứ họa sĩ sống ở nhà vợ, cô thứ tư dạy học ở ngoại thành, cũng đã lập gia đình. Thấy trưởng nam lần đầu tiên dẫn một cô gái về nhà, linh cảm của người mẹ nhà giáo - nghệ sĩ mách bảo điều tốt lành, như đáp ứng được kịp thời mong ước mấy năm nay của bà về thằng con vất vả long đong nhất nhà. Bà tiếp đón Thảo như người bạn lâu năm của Thế và của gia đình, như học trò cũ thân thiết gặp lại cô giáo yêu quý từ thời thơ ấu… Khi Thảo nhắc đến người con thứ ba sống ở Bun đương chạy vạy tiền nong và thủ tục để quay về nước, bà thoáng buồn rồi bước tới cây đàn organ loại lớn: Vậy chắc Thế có kể cho cháu nghe về bài hát gắn với tuổi thơ của anh em Thế, cháu nghe thử nhé? - Thảo mừng rơn: Vâng ạ, anh Thế hứa dạy cháu bài dân ca Ý ‘Giấc mơ triệu phú’ đấy ạ… Cô dạy cháu nhé? Bà giáo ngồi xuống đàn và vừa đệm nhạc vừa cất giọng hát: Đến bao giờ em mới sang sông tìm anh. Đến bao giờ cây lá bên sông lại xanh… Thảo bất giác bước tới gần đàn, khi mẹ Thế hát xong cô rụt trè đề nghị: Cô ơi, cô cho phép cháu thử đệm bài hát này nhé? Bà giáo thoáng ngạc nhiên, chưa kịp hỏi thì Thảo vội giải thích: Hồi cháu vào cấp Hai, bố mẹ cháu đã mua cho hai anh em cháu một chiếc đàn Ancơ đẹp lắm, thuê gia sư về dạy, nhưng chỉ có cháu thích học thôi... - Thế cháu đã học đến trình độ nào rồi? - Dạ, cháu đã tập gần hết các tác phẩm piano cơ bản trong giáo trình Alfred's Basic Piano Library Level, và có tham khảo cả John Thompson's Modern. Bà giáo thốt lên: Tuyệt quá! Thế sao cháu không tiếp tục con đường âm nhạc, mà lại thành kỹ sư xây dựng? - Mấy năm cấp Ba cháu bận bài vở, rồi thi tốt nghiệp, nên học đàn bập bõm, có khi cả tháng không mó tới đàn. Cháu đăng ký học đại học văn, nhưng bố cháu lại xin cho cháu học xây dựng bên Đức… Sang đó, thi thoảng cháu cũng tìm đến các câu lạc bộ, các gia đình có đàn để nghịch chơi cho đỡ nhớ… - Trước đây, nhà cô cũng có piano Yamaha, cô trực tiếp dạy hai em gái của Thế… Rồi vào thời buổi khó khăn, cô phải bán piano đi để mua cái organ này dùng tạm, đã được mấy năm… - Cô dạy cháu đàn nhé? Nghe cô đàn, cháu muốn trở lại học piano quá! Đàn Ancơ nhà cháu để không gần chục năm nay, chỉ chờ mong một gia sư như cô thôi… Cháu sẽ là học trò không để cô thất vọng đâu ạ.

Bà giáo và Thế bất giác thoáng nhìn nhau. Bà đứng lên nhường chỗ cho Thảo, và Thảo bắt đầu gõ phím thử, mới đầu hơi bỡ ngỡ, rồi cô tự tin rải nhạc đệm. Cô giáo dạy nhạc cất tiếng hát theo tiếng nhạc… Thế im lặng suốt từ đầu cuộc trò chuyện giữa hai người, và lúc này như ngây người ra trước tiếng đàn tiếng hát của họ…

Mẹ Thế giữ Thảo ở lại ăn cơm chiều, Thảo đồng ý ngay, và chủ động vào bếp làm cơm cùng bà như người thân quen từ lâu của ngôi nhà… Mình Thế ngồi lại trong căn phòng chất đầy sách vở một bức tường và treo tranh các cỡ khung to nhỏ ở ba bức tường kia, chúng được tô điểm thêm bằng những lời ríu rít của cô gái đã tìm thêm được con đường đến với sâu thẳm tâm hồn anh bằng âm nhạc - thứ “gia bảo” của mấy anh em Thế, giữa những ngày anh đi tìm lẽ tồn tại thực sự của đời mình, khi mọi thứ còn mông lung xa vời…

Thế sẽ kể cho cô gái này nghe: mẹ từng là cô giáo dạy nhạc của mấy anh em Thế, và nếu cô thực lòng yêu anh, sẽ kể thêm một điều khá buồn liên quan tới đề nghị chân thành của Thảo lúc nãy, cũng có nghĩa gắn với một “sự kiện” khá đặc biệt trong đời học trò của Thế: Anh đã “rơi” vào một lớp cấp hai toàn con ông cháu cha loại chót đỉnh, trong khi Thế chỉ là con của một ông “Lưu Bị” - tức cán bộ lưu dung[27]; chắc bởi mẹ là giáo viên hiền lành của trường, có anh trai là nhạc sĩ tên tuổi đã đóng góp một số bài hát cách mạng được đánh giá tốt, nên Thế mới được “đặc cách” chiếu cố vào một lớp “con cưng”, “hạt giống đỏ” của trường? Không bao giờ Thế biết được điều này. Nhưng có chuyện anh còn nhớ như in: trong lớp, anh kết thân với cô con gái một ông tướng, được cô ta mời đến nhà chơi. Cô ta quý Thế, trước hết bởi Thế là con cô giáo dạy nhạc, và đó cũng là động lực của lòng dũng cảm để anh bước vào ngôi biệt thự thâm nghiêm có cổng sắt lớn phủ hoa tigôn quanh năm đóng im ỉm, và tự tin thưởng thức những đồ ăn đãi bạn mua ở Tôn Đản mà mẹ con anh nằm mơ cũng không bao giờ biết tới. Thế cũng liều mạng mời cô ta đến nhà. Cô đến thật, và một tuần sau, bản năng trong sáng của tuổi quàng khăn đỏ đã thú thực: “Tớ rất mê tiếng đàn của cô. Tớ đã đề nghị bố mẹ tớ mời cô dạy thêm đàn cho tớ tại nhà… Nhưng… Bố mẹ và các cô các bác tớ bảo: Con phải có gia sư dạy thêm đàn là giảng viên học nước ngoài về, mà phải là Đảng viên cơ… Cậu đừng buồn cho tớ nhé!” Lúc ấy Thế chỉ thấy chạnh buồn cho thân phận mẹ con anh… Thế đã kể lại cho mẹ nghe nguyện vọng đáng yêu của bạn, song chẳng đề cập vế thứ hai, bà vui lắm, và tới nhờ anh trai ở Nhạc viện tìm hộ mấy giáo trình piano nước ngoài in rô-nê-ô, chuẩn bị đón cô học trò yêu tiếng đàn của bà… Sau đó, vì sự ngây thơ, hồn nhiên, và bận bịu chuyện gia đình, bà chẳng nhớ tới chuyện này nữa, và Thế thì thoát được một lần bất đắc dĩ phải nói dối. Thế cứ định tới một lúc nào đó, vui chuyện sẽ kể lại hết cho mẹ. Nhưng năm tháng trôi qua, rồi Thế gần như bị đi đày biệt xứ ngót chín năm ròng, biết đâu đã tới lúc thuận lợi thực hiện việc này, khi anh có Thảo gắn bó với đời mình?

Thế tốt nghiệp phổ thông, vào cái thời “Nhất Y nhì Dược tạm được Bách khoa, Sư phạm bỏ qua”, xét lý lịch bố chỉ là dân hội họa ngây thơ có vẽ tranh vui “ăn theo” mấy ông Nhân văn Giai phẩm, anh may mắn được xếp vào Đại học Sư phạm Hà Nội. Đọc được nỗi buồn thất vọng của trai trưởng vì thừa điểm đi học nước ngoài mà bị “bỏ qua” một cách bất công như thế, mẹ đã nói với Thế những điều có sức mạnh hơn mọi lời động viên an ủi, bằng tiếng đàn và lời hát của bà từng tràn ngập tuổi thơ anh em Thế vừa mới ngân lên trong ngôi nhà này: Đến bao giờ em mới sang sông tìm anh. Đến bao giờ cây mới bên sông lại xanh… Tiếng đàn và giọng hát ấy theo các em Thế cùng mẹ trải qua bao nỗi vất vả mưu sinh, và theo anh lên chốn rừng xanh núi đỏ trong thân phận “giáo khổ Tây Bắc”. Những năm sống ở “Thị trấn buồn ngủ quên trong mây núi”, hai loại thư Thế mong nhất là thư cô học trò vừa bay khỏi trường cấp ba mà anh không dạy buổi nào song nhất quyết gọi anh là “thầy”, và thư mẹ. Song thư mẹ mới là thế giới bình yên, ấm áp thật sự của anh lúc xa nhà, giữa bao khổ cực, đói khát, nhọc nhằn. Tiền lương trích ra dành dụm mang về, đưa mẹ thì mẹ cầm vui vẻ, song khi Thế đi, mẹ lại dúi nguyên vẹn vào ba lô cho anh… Chuyển vùng về Thủ đô, với tấm thân tàn tạ và đặc biệt là cái bộ tiêu hóa gần thành “phế phẩm” bởi nhiều năm ăn độn bo bo, ngô, sắn, người chăm lo trực tiếp cho Thế chỉ có mẹ - “nội tướng” của một gia đình nhà giáo-nghệ sĩ nghèo chỉ trông vào tem phiếu bình dân… Thế chợt lo lắng mơ hồ. Đã rõ ràng là hai người thuộc hai đẳng cấp khác nhau, càng nổi bật sự xa cách vào thời cảm hứng dân gian thế này mặc nhiên trở thành chân lý sống của đa số người: Nhà mặt phố, bố làm to - Yêu anh chẳng quản khó nghèo/ Tiền nhà tiền điện anh leo một mình… Thế mới đi cùng đường dài với Thảo có vài ba lần, cả nhà máy đã đồn ầm lên rằng anh là “kẻ đào mỏ”, “chuột sa chĩnh gạo”… Bố cô ấy có tiêu chuẩn Nhà thờ nhiều năm qua, và đã có kế hoạch chắc chắn về nhân sự để thăng hạng lên tiêu chuẩn Tôn Đản (theo giám đốc Minh bật mí cho Thế) - trong cái chế độ đãi ngộ lâu nay đi vào Từ điển dân dã, nguồn dữ liệu ngôn ngữ - dân tộc học - sử học ngoài luồng quý giá cho các bộ Bách khoa toàn thư thế kỷ sau: Tôn Đản là chợ vua quan/ Đặng Dung là chợ trung gian nịnh thần/ Đồng Xuân là chợ thương nhân/ Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng

Thế bỗng ngậm ngùi nghĩ tới những năm qua mẹ anh đã sống trong cái “ma trận” tem phiếu, như là “nguồn sống” chủ yếu của người dân thời bao cấp do Bộ Nội thương sáng tạo ra, và bây giờ vẫn tiếp tục sống như thế... Phiếu vải, phiếu đường, phiếu đậu, phiếu thịt, phiếu rau, phiếu củi, phiếu dầu… - những mẩu giấy nhỏ bé lại có sức mạnh “thần linh” cứ hàng này đè nén tấm thân mảnh mai và đôi tay chơi đàn xanh xao của cô nữ sinh Hà thành duyên dáng một thưở xuống đất đen nhớp nháp của nơi đặt gạch ghi tên xí chỗ mua gạo mua rau, nơi hứng nước sạch phân phối ở vòi công cộng đầu phố, chen chúc tranh giành với bọn thiếu niên mà trong đó có cả học trò của bà… Ngày đầu tiên chính thức trở về Thủ đô, khi đến thăm thầy dạy văn cuối cấp cũ, Thế đã tận mắt chứng kiến cảnh cảnh xếp thùng lấy nước từ mờ sáng hôm trước đến nửa đêm hôm sau, còn vòi nước công cộng đông nghịt người ấy là nơi vo gạo, rửa rau của các bà, đồng thời là nơi tắm của đàn ông và trẻ con. Nhà thầy có 8 người, chen chúc ở căn phòng 14 m2, sống trong một ngõ 12 hộ dân mà chung một khu bếp, nhà đun bằng dầu, nhà nấu bằng mùn cưa, người quạt, người thổi, khói bốc mù mịt, những gương mặt ám đầy muội than và ôm ngực ho sù sụ…

Khu phố nhà Thế đỡ nhộn nhạo hơn, đỡ chật chội hơn, may mắn không có những “bếp tập thể” kiểu ấy, vòi nước công cộng không đến nỗi “đa năng” như thế, song mẹ anh chắc chắn đã sống trong “địa ngục” xếp hàng mua từng cân gạo, từng lít dầu hỏa, từng chai nước mắm để giúp bố anh được toàn tâm toàn ý sống trong cảm hứng sáng tạo chỉ chìm trong mây, nắng và tình yêu con người ở nhiều vùng đất ông đi qua… Thế từng kể cho Thảo nghe về bố anh: có lần, sau vài tuần ở Đồng Mỏ - Lạng Sơn về, ông hớn hở khoe đã kết nghĩa anh em với một ông người dân tộc Tày, và đem cất trang trọng một bọc to lên xà nhà, sau này cả nhà mới biết đó là sợi thuốc lá, thuốc lào được biếu và được trả công vẽ chân dung cho các cụ trong bản, chúng đã mốc xanh tự bao giờ! Không chỉ một lần ông được trả công vẽ chân dung bằng hiện vật như thế… Ông đã cho anh chiếc đồng hồ bấm giây thể thao cũ kỹ - một thứ được trả công sau lần đi thực tế ở Phú Thọ, anh giữ nó cẩn thận dành cho việc làm phim sau này… Nhưng thu hoạch lớn nhất của ông sau những lần đi thực tế “tự do” ấy là tình người ở những vùng đất nghèo khó mà ông thường say sưa kể lại cho vợ con và bè bạn, cùng hàng loạt phác thảo, ký hoạ chân dung, phong cảnh, đồ vật… làm chất liệu giúp ông nghiền ngẫm xây dựng tác phẩm. Ông vẽ rất nhiều, có những bức đã hoàn chỉnh, có không ít bức còn ở dạng phác thảo, tìm kiếm bút pháp - nhưng tất cả đều rung động một tình yêu thuần khiết, mộc mạc đối với thiên nhiên và con người. Ông vẽ về những kỷ niệm xưa bập bềnh trong sương khói, về những lễ hội dân gian ngây ngất lòng người ở miền núi và đồng bằng Bắc Bộ, về những cảnh lao động lầm lụi trong các bản làng người dân tộc… Ông vẽ trên lụa, trên giấy, trên toan vải… Dù bằng chất liệu gì cũng cho thấy một tâm hồn say đắm muốn lắng nghe thâu nhận để không bỏ sót một sắc thái nhỏ nào của đời… Nhưng cuộc vật lộn giữa mưu sinh với những mục tiêu về nghệ thuật thực gay gắt, chúng luôn thường trực trong ông; đó là sự xung đột giữa tính chất sú-vơ-nia[28] của tranh và phẩm chất đích thực của nghệ thuật - và xót xa thay, không phải lúc nào mục tiêu nghệ thuật cũng thắng! Ông vẽ để tìm kiếm một bản sắc riêng của mình, để giải toả những ẩn ức thẩm mỹ mà một nghệ sĩ đau đáu trong mình, nhưng ông cũng phải vẽ để bán tranh cho các gallery, các nhà sưu tập tranh để nuôi sống một gia đình 5 con qua thời Bao cấp! Có lần, ông giao vài chục bức tranh lụa cho một người hoạ sĩ (nhưng thực chất là một người buôn tranh), sau một thời gian, người ấy thông báo chưa bán hết, và đưa trước cho ông một chiếc tivi đen trắng (sau đó thì “lặn” luôn). Khi ấy trông ông có vẻ vui lắm, vì ông cũng đang muốn mua cho vợ con một chiếc tivi. Nhưng rồi sau đó, ông lặng buồn rất lâu, ai gặng hỏi cũng không được. Thế không thể quên câu chuyện bố từng kể về danh hoạ Uytrilô[29]: ông này chỉ ngồi trong nhà, vẽ tranh theo những carpostal phong cảnh vợ đem về, kèm theo một cốc rượu đặt trước mặt; nhưng mỗi khi bà vợ thông báo đã bán được một bức tranh phong cảnh không một bóng người của ông, ông thở dài lắc đầu buồn bã: “ Ôi chao! Loài người thật ngu xuẩn!”

Như vậy là đã có thừa đủ các tiêu chuẩn để xếp gia đình anh vào tầng lớp “Dưới đáy” - như tên một vở kịch của M. Gorki. Nếu bố mẹ Thảo cũng từng sống qua cảnh này, chắc chắn sẽ tìm cách ngăn cản con gái họ tránh xa gia đình anh như tránh hủi, còn họ vốn đã thuộc thế giới khác, đẳng cấp khác, khi được trực tiếp “mục sở thị” chốn này và biết được những “thông gia tương lai” đã từng sống ra sao, đã là hạng nhà giáo - nghệ sĩ điển hình của tầng lớp “vô sản” thì chắc chắn họ sẽ phải nôn ọe vì ghê tởm… Anh phải nói thật với cô thôi, đừng để cô phải ê chề nhục nhã thay cho anh khi bố mẹ họ hàng cô phản đối anh, từ chối anh bằng đủ thứ lý do từ tế nhị nhất đến trần trụi nhất. Anh cần tự đặt mình vào cương vị bố mẹ cô mà ngẫm và tìm lối thoát cho danh dự của một kẻ sĩ “chỉ giàu có nỗi buồn và trăn trở” - như một câu cảm ngôn của anh, tránh khỏi một sự lăng nhục tất yếu một khi anh dám cả gan “đũa mốc trèo mâm son”!

Quả nhiên, những lo xa của Thế là có “cơ sở lịch sử - xã hội” - y như đòi hỏi đầu tiên của bất kỳ Dự án nào về kinh tế hoặc văn hóa, và trùng hợp một cách lạ lùng quái quỷ với không ít tình huống văn chương - nghệ thuật cổ điển mà Thế quen thuộc sau nhiều năm hóa “mọt sách” để giết thời gian và quên đói quên rét: Ba hôm sau, Thảo tức tưởi chạy tìm Thế khắp nhà máy với đôi mắt đỏ hoe, sưng vù vì khóc nhiều. Cô kéo anh từ chỗ tập kịch mới kết thúc ra đống bê tông hỏng chất chồng ngổn ngang cuối Nhà máy, vừa vào chỗ khuất, cô ôm chầm lấy anh mà khóc nấc lên như một đứa trẻ quen được chiều chuộng luôn đạt mọi mong muốn bằng cách đó. Thế vỗ về cô, đợi cô vơi đi chút ít rồi khẽ hỏi cái điều nhằm khẳng định thêm nội dung trả lời:

- Bố mẹ em phản đối chứ gì?… Anh đã đoán trước…

Thảo vừa kể lau nước mắt. Cô gái nào đang yêu mà tuyệt vọng cũng nhiều nước mắt cả, Tây và Ta, Xưa và Nay đều thế, có điều, Thảo từng đi Tây, đọc nhiều sách văn học Cổ - Kim, nên Thế không bị nhấn chìm trong bể bi lụy sướt mướt cải lương để mau chóng bình thản tìm ra lối thoát bi kịch cho cả hai một cách dễ chịu nhất… Sau khi từ nhà Thế về, cô đã hớn hở khoe với bố mẹ là tìm được một bà gia sư dạy nhạc giỏi, em gái của một nhạc sĩ tên tuổi, bà đã vui vẻ nhận lời dạy thêm đàn cho cô bằng chính chiếc đàn dương cầm giá trị nhất thế giới suốt một thế kỷ để không trong nhà nhiều năm nay… Thấy bố mẹ phấn khởi, cô liền thừa cơ công bố luôn về người cô quyết định chọn làm bạn trăm năm, “một nửa” của cô. Cô chân thật kể về lai lịch, thân nhân, mơ ước, khát vọng của Thế, cả về vở kịch anh viết và đang dựng cho Nhà máy mà cô đảm nhiệm vai thứ chính… Đợi cô nói xong hết, bậc song thân im lặng rất lâu, rồi bố cô tâm sự với con gái, vừa thân tình thuyết phục vừa lạnh lùng như bạo chúa tuyên án: Về nước chưa được một năm, con chưa kịp đem kiến thức khoa học kỹ thuật tiên tiến ra để thi thố, kiểm nghiệm, như mong mỏi của chính con khi nằng nặc đòi về Nhà máy chú Minh, thì đã vội vàng bập vào chuyện yêu đương, hôn nhân, thứ mà cần có thời gian tìm hiểu kỹ lưỡng để “dò cho đến ngọn nguồn lạch sông” mới có thể đảm bảo hạnh phúc dài lâu vững bền! Con vẫn còn mơ mộng, trên mây trên gió quá, vừa ở xứ sở văn minh về, đâu có biết thực tế trần trụi trong nước những năm qua… Cả nước đói, con ơi! Cả nước đương gồng mình tới kiệt sức để cố thoát đại nạn Bao cấp và hậu Bao cấp khốn khổ tròng lên số phận hàng chục triệu người, nhà ta thuộc bộ phận thiểu số đã may mắn không bị cái đại nạn đó uy hiếp, song cũng bấp bênh lắm con, thời cuộc trắng đen sấp ngửa chưa biết thế nào… Bố đã cầy cục cho con suất đào tạo Tiến sĩ khoa học ở một nước Tây Âu; quen thân đấy, thế lực của bố có thừa đấy, thế mà cũng mất khoản chi phí gấp đôi giá trị chiếc đàn kia kìa - Ông nghiến răng lại - Thế mà con nhởn nhơ như con bướm, sa đà vào chuyện kịch cọt vớ vẩn, lại dính vào cái thằng giáo khổ miền núi thân tàn ma dại trở về, về đâu chứ, về cái ngôi nhà bố tin là rách nát hơn của lũ bần cố nông mà chủ nhân không giữ nổi cây đàn Piano hành nghề! Còn con, con có may mắn hơn rất nhiều người, nhưng lại không may là không sống cảnh của hàng ngàn lưu học sinh phải chạy hàng gom hàng đến hộc máu ra để kiếm thêm chút gì mong cứu gia đình đang ngắc ngoải ở nhà, bởi vậy con trở về chỉ toàn sách và búp bê làm trò cười cho thiên hạ… Nhưng thôi, con ngông nghênh coi thường vật chất thế đủ rồi! Bố đâu có ngồi tới già ở chức vị này, lại nơm nớp lo hạ cánh an toàn - an toàn không phải cho bố mà cho cả nhà mình, giữa thời mà bất kỳ kẻ nào đang cười cợt nịnh nọt bố cũng có thể đâm trộm bố chí tử bên sườn, sau lưng, tình đồng chí đồng bào bây giờ chỉ là đầu lưỡi thôi con! Vậy mà con cứ nhởn nhơ ngông nghênh mãi thế này, bố mẹ tổn thọ mất! - Mẹ cô chêm vào - Còn mẹ thì phát ốm, phát rồ, mẹ sắp ngã quỵ rồi đây… Con quên rồi sao, hồi con còn ở bên kia, ông Bộ trưởng đã có ý nhắm con cho cậu con trai ông ta đang tu nghiệp bên Mỹ… - Ông bố cướp lời - Phải đấy, cậu ta ngoan ngoãn, đẹp trai, đang được Tổ chức nhắm vào chân Thứ trưởng khi về nước với bằng Tiến sĩ… - Mẹ cô kết bằng một scene[30] kinh điển vốn thuộc bản năng của mọi người mẹ thương con: Nghe lời bố một lần đi con! Con chưa báo hiếu bố mẹ được một ngày, thế mà… Bố mẹ đặt bao hy vọng về con… Rồi sau đó ôm mặt khóc um lên hơn cha chết, và Thảo cũng ôm mẹ khóc theo, thề thốt đủ kiểu mới làm bà ta nguôi dần.

Giữa mớ thông tin lộn xộn thấm đẫm nước mắt mà cái nào cũng có khả năng tàn phá trái tim đa cảm của Thế, không hiểu sao lại lắng đọng, kết tủa trong lòng anh cái điều hết sức hiển nhiên theo lẽ đời song lại trái khoáy đối với anh: sự hứa hôn của hai gia đình quý tộc An Nam thời mới theo kiểu nhìn nhau chỉ bụng định nhời thông gia thời xưa…[31] Tức thì, phản ứng bản năng của một gia đình trí thức nhú lên tựa măng nhọn: À, các vị dám nói tới đẳng cấp ư, dám vỗ ngực tự coi là thượng tầng cao quý là tinh hoa xã hội ư? Cả một lũ các vị may mắn nhảy vào tranh cướp được cái thẻ vàng “Công Nông”, mua được thẻ bài “Có công với Cách mạng” bằng máu xương kẻ khác để thay phiên nhau đi các xứ sở Tư Bản giãy chết vơ vét của cải mang về, còn bao tinh hoa tri thức nhân loại ở thế giới văn minh đâu có đáng xu rỉ nào với các vị! Ôi, cái đẳng cấp của bọn ăn mày khoác áo trí thức… Ta đâu có vinh dự đứng chung với thứ đẳng cấp đáng vứt sọt rác tinh thần thế gian từ lâu và hiện đang bốc mùi làm ô uế tâm hồn các thế hệ ngơ ngác đáng thương… Thế bỗng ứa nước mắt nghĩ tới cái chết thảm thương đẫm máu của bạn Lăng - cậu em trai họa sĩ của anh, và tình cảnh Lăng chỉ còn mấy đồng lê-va cuối cùng chạy chọt vé về nước theo giá quy định từ một dây “Mafia” ở Đại sứ quán và ở Ban quản lý lao động, và tiếng than của cậu ta mà anh đã tả lại trong mấy Âm bản mang tên chung: Trên từng cây số cuối cùng của máu và nước mắt[32]: “Trời ơi! Ta đã phải nếm trải bao nhục nhã, phải vất vả ngược xuôi để được ‘đi Tây’, cốt để sơ tán khỏi những kẻ như vậy nhung nhúc ở trong nước. Vậy mà ở đây, tận bên này quả đất… Chỉ khác một điều là sự đểu cáng và thô bỉ không cần được che giấu kỹ lưỡng…”.

Thế chợt ân hận là chưa kịp đọc cho Thảo nghe cảm ngôn: Viết cho con gái năm con 19 tuổi, xuất phát từ câu văn: “Khi người ta 19 tuổi, người ta là bà Hoàng” của A. Tolstoy[33] thời anh lang thang trên một đoạn đường núi Tây Bắc thương cảm ngắm nhìn những đứa trẻ dân tộc cởi trần da cháy nắng và nghĩ về đứa con gái đầu lòng của anh sau này… Nhưng chưa kịp kể cũng là may…

Hai tuần trước, trong một đêm cuối hè. Hai người nghỉ chân ở cánh rừng thông cằn cỗi trên đường về, Thảo chủ động kéo tay anh lên tận đỉnh đồi và ôm chặt lấy anh lúc hai người còn thở hổn hển vì chạy lên dốc. Họ trao cho nhau cái hôn đầu tiên, đắm đuối mê man như sự giải tỏa bao kìm nén tích tụ. Sau đó, Thảo rải tấm nilon màu ngọc bích ra khoảng đất bằng phẳng, cô ngồi xuống rồi giơ tay ra kéo anh ngồi xuống cạnh mình. Lại một cái hôn dài nữa, cũng do Thảo chủ động. “Anh có biết em yêu anh vì cái gì không? - Thế tìm cách trả lời thì cô tiếp - Bởi vì lúc bao thanh niên trong và ngoài nhà máy săn đón em tựa những con công xòe hết lông cánh khoe khoang, thì anh dửng dưng như lẩn tránh em - Đâu nào, vì anh mặc cảm thôi, một thằng giáo khổ… - Thảo giơ tay bịt miệng anh - Em cấm anh không bao giờ được nói thế nữa! Từ hôm anh trót cho em xem tấm ảnh anh trên Tây Bắc, mặc chiếc măng tô Nga do bạn anh gửi tặng, em thấy anh giống một nhà quý tộc Nga chống lại Sa hoàng ý. Nhưng quý tộc Nga mang khí phách của Ruồi Trâu… - Thì họ đều cùng một lò của Thế kỷ Ánh sáng bước ra mà lại… - À, hôm nọ anh kể trong kịch bản mới nhất của anh có một nhân vật quý tộc như thế người Pháp, một quan hai kiêm nhà dân tộc học yêu cô gái đẹp nhất của ban xòe vua xứ Thái họ Đèo. Kể em nghe chuyện tình yêu của họ đi anh? - Thế đành “xi-nê mồm” một trường đoạn của cái scenario film chưa biết đến lúc nào mới có cơ hội trở thành Dương bản:

Một chiếc máy bay Dacota tiếp viện cho Điện Biên Phủ đang bay trên đầu hai người chạy trốn chợt bị đạn pháo bắn trúng, khói phun đen kịt, rú lên và lao xuống. Mây sợ hãi chúi cả người vào nhà dân tộc học Pháp. Anh ôm chặt lấy cô, vỗ về.

- Đừng sợ... đừng sợ.

Một tiếng nổ lớn vang động. Một cột khói lửa bốc lên phía xa, sáng rực cả một khoảng rừng đêm. Cornaul ghì sát thân hình cô gái trong lòng mình, thì thầm.

- Em là thiên thần hộ mệnh của anh... Anh yêu em...

- Ông yêu em, hay yêu những bước xoè của em, hay chỉ yêu những điệu xoè của người Thái? Ông chọn dao hay chọn vỏ dao?

- Anh yêu từng hơi thở của em, yêu cả những lời vô nghĩa như vừa rồi... Anh thèm nghe em nói quá!

Cornaul hôn lên mái tóc dài xoã tả tơi của cô. Mây nói khẽ trong khi chúi đầu vào lòng anh:

- Ông yêu em làm gì cho cả hai đều khổ?

Cornaul nâng đầu Mây lên, nhìn cặp má ướt của cô.

- Em có yêu anh không?

Mây lặng lẽ gật đầu tin cậy. Cornaul khẽ khàng đặt cô nằm xuống mặt đất còn ngổn ngang hoa ban rụng. Hai người ôm nhau ngủ say trên mặt đất. Mặt trời ló lên sau rặng núi. Trên người Mây được đắp chiếc áo nhà binh. Mây mở mắt, ngỡ ngàng nhìn sang người đàn ông nằm cạnh, rồi ánh mắt cô trở nên lấp lánh một tình yêu thương tràn ngập. Cô lấy áo đắp lên người Cornaul, anh cũng thức giấc. Việc đầu tiên là anh ôm chầm lấy Mây.

- Chúng mình đi đi, anh.

Cornaul ngồi hẳn lên:

- Chào buổi sáng! Em ngon giấc không?

- Em ngủ chẳng biết trời đất là gì nữa.

- Và quên cả có anh ở bên cạnh.

- Không phải thế! Anh cứ trêu em!…

Thế dừng lại. Thảo sốt ruột:

- Sau thì thế nào, anh?

- Lúc họ lần tới một chiếc máy bay Đa cô ta bị rơi để tìm thức ăn thì bị bộ đội ta bắt, giải về doanh trại. Trong lán chỉ huy Việt Minh, Cornaul kể về lai lịch và thân phận của mình, anh tìm được sự cảm thông sâu sắc của viên sĩ quan Việt Minh. Nhưng rồi họ vẫn phải chia tay nhau…

Một cánh rừng vắng Một anh bộ đội trẻ đeo súng đi cùng Cornaul tới đầu cánh rừng thì dừng bước. Anh bộ đội: “Ông hãy đến chia tay cô ấy đi”.

Cornaul nhìn thấy Mây đang đứng bồn chồn phía xa xa. Anh chạy nhanh lại, vấp ngã, rồi lại vội đứng lên chạy tiếp. Vừa sát tới Mây, Cornaul ôm chầm lấy Mây.

Anh bộ đội trẻ nhìn thấy cảnh đó, anh mỉm cười lắc đầu nhẹ rồi quay gót rảo bước.

Mây thảng thốt trong vòng tay người yêu, bỗng cô gỡ anh ra.

- Ngượng lắm, có người kìa...

- Anh nghĩ rằng không có một ai đâu.

Mây nhìn quanh. Cornaul cũng nhìn theo cô. Quả không một bóng người, cánh rừng vắng ngắt.

Mây như quỵ người trong vòng tay và cái hôn say đắm của Cornau.

Lán chỉ huy VM, anh bộ đội bước vào, đứng nghiêm: Báo cáo chỉ huy ! Đã đưa họ tới chỗ tập kết. Xin chờ lệnh tiếp theo của đồng chí.

Chỉ huy: Tốt. Đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ, hãy về lán nghỉ.

Anh bộ đội ngỡ ngàng: Thế là sao ạ? Còn họ ? Em chưa hiểu?

Chỉ huy thân tình: Cậu đã yêu bao giờ chưa?

Anh bộ đội gãi tai: Dạ, chưa có điều kiện ạ...

Chỉ huy mỉm cười: Chẳng trách cậu được... Thôi, chiến tranh sắp kết thúc rồi, tôi chỉ khuyên cậu một điều... – im lặng.

Anh bộ đội: Thưa chỉ huy, em nghe đây ạ.

Chỉ huy: Nếu được trở về nhà, cậu hãy tìm ngay một cô gái nào đó để yêu. Sau đó, phải tìm đọc bằng được, dù chỉ một cuốn truyện dịch có đề tên tác giả Vichto Huygô! Đó cũng là một người Pháp.

Anh bộ đội lớ ngớ, bất giác gật đầu lia lịa: Tuân lệnh ! Tuân lệnh thủ trưởng ạ.

Viên chỉ huy quay mặt đi. Trên gương mặt khắc khổ của ông là đôi mắt dịu dàng ươn ướt lệ.

Một cánh rừng vắng Nước mắt Mây tuôn đầm đìa.

- Anh ơi! Em không muốn xa anh đâu !

Cornaul cũng gạt lệ sắp tuôn ra, anh lại ôm chặt lấy cô:

- Anh cũng vậy... Em phải cứng cỏi lên nào... Chúng ta sẽ xa nhau không lâu đâu.

Mây tức tưởi:

- Vì sao em phải xa anh nữa, hết đánh nhau rồi kia mà?

Cornaul vuốt mái tóc cô:

- Có giải thích, em cũng không hiểu nổi. Em chỉ cần biết rằng: Anh sẽ quay lại tìm em... Giờ đây, em là nguồn hy vọng duy nhất, là niềm hạnh phúc duy nhất của anh…

- Em thương anh...

Cornaul giở túi dết ra, đưa cho Mây, giọng nghẹn ngào

- Em hãy tìm đường trở về quê. Trong này có bật lửa và mấy viên đá lửa, con dao, bông băng, thuốc sát trùng, chúng cần thiết cho người đi rừng dài ngày. Em hãy tự bảo vệ mình...

Cornaul ôm chầm lấy Mây. Anh thì thầm:

- Hãy tin vào những điều kỳ diệu... Tạm biệt, thiên thần bé nhỏ của anh...

Mây đi lang thang trong rừng, lúc đó ban vẫn đang nở rộ. Quần áo rách toác, mặt mũi xạm đen, gai cào xước, cô kiệt sức ngồi dựa vào một gốc ban rồi nhìn những cánh ban rụng xung quanh. Mây mở túi dết, lấy ra con dao dă chiến, chặt một gốc vầu tươi múc nước suối, kê mấy hòn đá, vun những chiếc lá khô. Cô nhặt những cánh ban rụng cho vào gốc vầu rồi rút bật lửa. Một ngọn lửa nhỏ bùng lên. Nhìn ngọn lửa liếm quanh ống vầu, Mây chợt bật khóc rưng rức. Mây kêu lên khe khẽ:

- Giờ này anh đang ở đâu? anh ơi !

Trên con đường quốc lộ chiến lược số 6 đầy bụi, hai chiếc xe Cam nhông chở tù binh, hàng binh Pháp phóng nhanh về phía Hà Nội. Trên xe, Cornaul ngồi dựa vào thành xe, anh hình dung lại gương mặt người yêu dấu đang chập chờn ẩn hiện cùng những cánh ban có vệt tím bầm ở giữa, những bước chân đẫm máu tươi đêm xoè ấy... Cornaul rưng rưng khóc, bên cạnh, những người tù binh Pháp lặng lẽ, mỗi người theo đuổi một tâm trạng riêng...

Thảo ngắm nhìn Thế như cô bị thôi miên và cô thôi miên lại anh. “Chúng mình sẽ không bao giờ phải chia tay nhau buồn phát khóc như hai người đó, phải không anh?” Cô chủ động ôm và hôn anh đắm đuối hồi lâu. Bất giác cô cởi dần áo quần mình để “lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe” trước cái nhìn ngỡ ngàng làm bật lên một câu thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử ẩn sâu trong tâm trí anh… Theo bản năng, Thế chợt vùi đầu vào lồng ngực non tơ căng mọng thấp thoáng màu ngà trong ánh trăng cuối tháng, còn Thảo chỉ đợi có vậy, giơ hai cánh tay ôm lấy đầu anh ghì sát thêm vào ngực mình. Họ không nói gì hồi lâu, chỉ lắng nghe tiếng nhịp đập trái tim đang loạn xạ hòa với nhau. Giữa lúc Thế run cả người tựa kẻ bị bùa mê trước tấm thân ngọc ngà và tấm tình trong sạch Thảo dâng hiến cho anh lần đầu, cô lúi húi mở túi xách rồi cầm bàn tay anh đặt vào một chiếc bao cao su. Gì thế em? - Thảo phì cười nhẹ - Ôi, chàng ngốc! Anh không biết thực à? Đồ an toàn cho sinh hoạt nam nữ đó, ở các nước văn minh, bọn trẻ vào cấp ba đã phải học cách xử dụng rồi… Đây là lần thứ hai em dùng đến… Nhưng lần này mới thực sự vì yêu… vì muốn chiều người em yêu… “Cái mặt không chơi được” của Thế có bóng đêm che dấu như bỗng đỏ bừng vì một nỗi xấu hổ kỳ quặc lẫn tự ái, kèm theo một nỗi hoang mang khó tả, thất vọng ngấm ngầm… Như đoán được cảm nghĩ của anh, Thảo giơ bàn tay mát lạnh vuốt má anh như một người chị an ủi cậu em trai bé nhỏ - Anh đừng nghĩ ngợi xa xôi quá làm gì cho mệt óc… Tình yêu thật sự hiếm có lắm anh ơi, vì thế nếu may mắn có được, dù chỉ chốc lát, chúng ta hãy gắng chiếm giữ lấy nó như kỷ vật quý báu một đời… - Thế sửng sốt - Em nói cứ như sắp chia tay anh để đi lấy chồng vậy? - Anh là người thông minh, nhạy cảm. Không nói chắc anh cũng đoán được là bố mẹ em đã “dấm” cho em mấy đám to vật rồi, từ khi em học năm nhất bên kia. Nhưng đời nào em chịu chui vào rọ của ông Bô bà Bô, nhất là khi em đã gặp được người như anh… Tuy thế… Cuộc đời vô thường lắm, chẳng đằng nào mà lần… Cứ biết là lúc này chúng ta yêu nhau, cái gì đến sẽ đến… - Không ngờ em hiện sinh không kém các nhà đẻ ra chủ nghĩa Hiện sinh[34] - Thế cười buồn, và chợt đọc khẽ: Bây giờ gặp mặt đôi ta/ Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao… - Hay thế anh? Thơ ai đấy ạ? - Thơ Kiều của cụ Nguyễn Du đó - Thôi, chiêm bao thì mặc chiêm bao, hiện thực thì kệ hiện thực, chỉ biết là lúc này hai ta có nhau, sống cho nhau, hòa vào nhau, có cụ Nguyễn Du và mảnh trăng kia chứng kiến… - Thảo nói như mê sảng, rồi cô nằm ra tấm nilon, kéo anh nằm theo và ôm riết lấy anh, hai người - một lõa thể toàn phần, một còn “nguyên hộp” - cứ thế lăn lộn một hồi trên tấm nilon, có lúc trật ra bãi cỏ… Khi hai người cùng nằm ngửa song song nhìn lên trời, Thảo hỏi nhẹ: Anh có coi thường em không, anh? - Sao em hỏi vô lý vậy? - Em cứ phòng xa… Về đất nước mình còn nặng nề phong kiến cổ hủ quá, nam nữ bất bình đẳng, người nữ mà chủ động trong chuyện đó sẽ bị coi chẳng ra gì… - Thế bật cười: Vậy thì em cũng cổ hủ không kém - Em cổ hủ cái gì nào? - Vì cứ tranh chủ động, không dành cho anh chút nào…- Em giúp anh chủ động nhé? Đừng sợ, em không ăn thịt anh đâu mà sợ, Thảo nói xong liền ngồi dậy kiên quyết cởi khuy áo của Thế, anh hơi ngượng nghịu một chút rồi tiếp tục làm công việc mà người con trai cần làm, với sự trợ giúp chân thật và tận tình của người con gái thực lòng yêu anh…

Nhưng cũng chính sự thực lòng đó của Thảo đã là một rào cản, là cái “hãm phanh” hiệu nghiệm của Thế giúp anh không bước vào thế giới của bọn Đông Joăng, Sở Khanh - dù chỉ ở vòng ngoài hành động hay chi tiết hành động: Trong lần chia tay vĩnh biệt, cũng ở khu rừng thông nọ, suýt nữa Thế đã bí mật tháo bao cao su ra lúc Thảo đang mê mệt dâng hiến toàn bộ tâm hồn và thể xác cho anh. Song một tình thương bỗng cồn cào trong anh: Nếu cô có thai, cùng với áp lực và những mưu mô lúc cần có sẽ có của anh, cô gái này sẽ thuộc về anh mãi mãi… Nhưng anh có khả năng mang lại cho cô hạnh phúc không, khi anh cướp cô khỏi cái gia đình quyền quý đã đảm bảo cho cô cuộc sống đầy đủ, giữa lúc tương lai của anh mù mịt, chỉ riêng chuyện đỡ đần cho bố mẹ đã vào tuổi về hưu thời vật giá leo thang cũng đủ làm anh hết hơi? Sau nữa, va đập vào thực tế, nếu cô không thay lòng đổi dạ thì có thể sẽ phải âm thầm chịu đựng sự gian khổ mà cô không đáng phải chịu đựng, rồi đi tới “vỡ mộng” cay đắng về một kẻ chỉ giàu khát vọng mà không hề có tiền tài, thế lực, và ít nhiều sự lưu manh có thể bảo vệ, che chắn, nâng đỡ cho hắn ta… Được rồi, anh sẽ từ từ thuyết phục cô, ở cái giai đoạn mà một cô gái chưa hề nếm mùi đói khát túng thiếu nợ nần còn biết quý sách hơn xe đạp, yêu Búp bê hơn Sô cô la, sẽ khó khăn lắm đây, nhưng sau này cô sẽ biết ơn anh… Anh sẽ vỗ về an ủi cô, có thể bắt đầu bằng câu chuyện về cái chết bi thảm của đôi lứa yêu nhau tha thiết trong vở kịch Âm mưu và Tình yêu[35] của nhà soạn kịch Đức vĩ đại Friedrich Schiller: cô con gái một nhạc sĩ nghèo và chàng thiếu tá con Tể tướng phải chết bên nhau bằng thuốc độc vì họ quá ngây thơ trong sạch, giữa một môi trường độc ác, và kết luận rằng: Thời đại của những Âm mưu đẫm máu khủng khiếp kiểu đó qua lâu lắm rồi, và bây giờ, trên thế giới chắc chẳng có nơi nào còn loại người như chàng tình nhân xuất thân tầng lớp quý tộc ấy có thể nói được điều này: “Chỉ tình yêu mới đủ sức làm linh hồn ta trở nên toàn vẹn”…

Còn với mẹ, Thế sẽ giải thích cho mẹ thế nào đây, lẽ nào “con quay búng sẵn trên trời” của cụ Ôn Như Hầu lại rơi trúng vào bà giáo dạy nhạc để lặp lại vòng quay về một lời hứa dạy đàn cho hai công nương thời đại đều đã trở thành trò vui đùa khiến trưởng nam của bà phải cay đắng khóc thầm? Mẹ không thể biết được nguyên cớ của chuyện này, nhưng khi thấy con trai ngừng quan hệ với cô gái mà bà hy vọng sẽ là dâu trưởng, chắc bà sẽ lại tìm cách an ủi con như nhiều năm trước bằng bài hát dân ca Ý cùng đàn đệm của chính bà: Đến bao giờ em mới sang sông tìm anh

Hàng ngày, Thế và Thảo vẫn trò chuyện bình thường về công việc - nhất là chuyện tập kịch, như không có chuyện gì xảy ra giữa hai người; những lời xì xào đàm tiếu về quan hệ của hai người bắt đầu chìm đi trong những buổi tập kịch sau giờ làm chung và sau ca, rồi chạy vở đến ba lần… Nhưng tới lúc đem duyệt chính thức để ra công diễn, vở kịch đã không lọt qua cửa kiểm duyệt của Đảng ủy Nhà máy, dù Minh là Đảng ủy viên! Ông Linh - Bí thư Đảng ủy, một cựu chiến binh hiền lành vốn thực lòng yêu quý Thế đã gãi đầu gãi tai bảo anh: “Nội dung vở diễn rất hay, rất có ý nghĩa em à! Trước đó, anh đã nhiều lần bênh vực em về nội dung kịch bản, dù có người ấm ức, song đa số cho qua… Nhưng tới khi lên sàn diễn thì thành to chuyện! Nhiều câu thoại lúc đọc thì bình thường, chẳng thấy gì, song diễn viên nói ra thì tác động ghê quá, mạnh mẽ quá, gây sợ hãi, lo lắng! Theo ý kiến của nhiều Đảng viên kỳ cựu, vở kịch khá nhạy cảm, đụng chạm đến chính sách quản lý của Nhà nước, vô tình bôi xấu và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, lại có ý tôn sùng cá nhân, không có lợi trong hoàn cảnh chính trị phức tạp tại hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa hiện giờ… Em cứ bình tĩnh chờ đợi để sửa chữa, nâng cao tác phẩm, anh tin là tâm huyết của em đối với công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội sẽ có lúc đến được với đông đảo công chúng…”. Ông nói điều này như lời tiên tri về sự sụp đổ của Liên Bang Xô viết và hầu hết các nước Xã hội chủ nghĩa vào đúng hai năm sau[36]! Còn vở kịch bị nhét vào kho “Âm bản” bần tiện của Thế mà phải hơn chục năm sau mới biến thành “Dương bản” trong hình thức bộ phim truyện truyền hình hai tập Tầng cao nghiệt ngã - dĩ nhiên đã bị “cắt gọt” cẩn thận và sáng suốt, qua lưỡi kéo kiểm duyệt nghiệt ngã.


[14] Trong điện ảnh, sequence là thuật ngữ chỉ cảnh phim.

[15] Thập tam trại (13 làng trại) là quần thể các làng nghề nông nghiệp và làng nghề truyền thống được khai phá ở phía Tây kinh thành Thăng Long vào thời Lý.

[16] Bốn câu mở đầu bài “Quan Thư” trong Kinh Thi: Tiếng chim thư cưu hót họa nhau bên sông, người con gái thục nữ hiền dịu là đôi lứa xứng đôi của bậc quân tử.

[17] https://vanviet.info/tren-facebook/phuc-hoi-chu-bi-duc-o-bia-v-tho/

[18] Ngày 15/12/2021, UNESCO đã chính thức ghi danh Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

[19] Цемент (1925) - tác phẩm nổi tiếng nhất của F. Gladkov, tác phẩm đầu tiên của văn học HTXHCN Liên Xô, viết về một nhà máy xi măng.

[20] Tiếng lóng chỉ những người Việt chạy hàng, đánh hàng buôn bán đủ loại tại các nước Đông Âu, Liên Xô.

[21] Tên một cuốn tiểu thuyết của nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng từng học ở VGIK (Đại học Điện ảnh Liên ban Xô viết).

[22] Máy ảnh có bộ phận ngắm trực tiếp qua gương lật ở giữa thân máy, phân biệt với máy ảnh có bộ phận ngắm lệch ở thân máy và không qua gương (viseur klaire).

[23] Ca khúc của Raimonds Pauls trở nên nổi tiếng qua tiếng hát của danh ca Nga Alla Pugacheva (được mệnh danh là “Người đàn bà hát” đã lên phim vào năm 1978, và phim “Người đàn bà hát” được phát hành tại Việt Nam đầu những năm 80).

[24] Bộ Xây dựng (tiền thân là Bộ Kiến trúc) được thành lập vào ngày 29/4/1958.

[25] Phim Viễn Tây Đỏ (Ostern) chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của một nữ văn sĩ Đức do hãng phim DEFA Đông Đức thực hiện năm 1966, phát hành tại Việt Nam đầu những năm 80 thế kỷ trước.

[26] Trên từng cây số là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bungari vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 thế kỷ trước. Nhưng chỉ tới thập niên sau, Trên từng cây số của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu.

[27] "Cán bộ lưu dung" (hoặc lưu dụng) là thuật ngữ hành chính tại Việt Nam, chỉ những người làm việc trong bộ máy chính quyền cũ được chính quyền mới giữ lại để tiếp tục làm việc.

[28] Souvenir – đồ lưu niệm.

[29] Maurice Utrillo (1883-1955): Họa sĩ người Pháp nổi tiếng với các bức tranh phong cảnh Montmartre.

[30] Cảnh phim, lớp kịch.

[31] Câu trong Trẩy chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp (và trong truyện thơ Nôm khuyết danh Tống Trân Cúc Hoa).

[32] https://cvdvn.net/2016/02/19/tren-tung-cay-so-cua-mau-va-nuoc-mat/

[33] Trong tiểu thuyết bộ ba Con đường đau khổ (Хождение по мукам).

[34] Chủ nghĩa Hiện sinh (Existentialism): trào lưu triết học bùng nổ mạnh sau Thế chiến II, đề cao sự tồn tại cá nhân, quyền tự do quyết định số phận của chính mình trong một thế giới phi lý. Các đại diện tiêu biểu: F. Nietzsche, S. Kierkegaard, J. Sartre, A. Camus.

[35] Kabale und Liebe.

[36] Liên Xô sụp đổ vào ngày 31/12/1991 sau 74 năm tồn tại.