Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

Giấc mơ Trung Hoa Tan vỡ – cải cách làm sống lại chủ nghĩa toàn trị thế nào (kỳ 2)

Tác giả: Bùi Mẫn Hân

Người dịch: Nguyễn Quang A 

NXB Princeton University Press, 2026.

 

  1. Thập kỷ quyết định

Sau khi Đặng Tiểu Bình và các đồng minh trong liên minh của ông lật đổ nhà lãnh đạo chuyển tiếp Hoa Quốc Phong vào cuối năm 1978, họ phải đối mặt với sự lựa chọn chiến lược mang tính bước ngoặt về con đường phát triển cho đảng và đất nước. Những khác biệt về tư tưởng trong liên minh của Đặng Tiểu Bình về hướng đi của cải cách kinh tế đã dẫn đến những xung đột liên tục về chính sách kinh tế và tự do hóa chính trị. Do đó, chính trị thập niên 1980 được đánh dấu bởi những căng thẳng dai dẳng và cuộc đấu tranh quyền lực ở cấp cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng Thiên An Môn vào tháng 6 năm 1989. Trên bề mặt, sự linh hoạt của chính trị tầng lớp tinh hoa trong giai đoạn này có thể ngụ ý một loạt kết quả đa dạng, bao gồm cả cải cách thị trường và tự do hóa chính trị diễn ra song song. Tuy nhiên, nhìn lại, các lực lượng chống lại kết quả đó đơn giản là quá mạnh để có thể vượt qua. Dù vậy, thập niên 1980 đã mở ra một cơ hội hẹp để Trung Quốc bước vào một con đường chính trị khác. Thực tế, trong thập niên đó, đảng đã thực hiện một loạt cải cách thể chế, một số nhằm làm cho chế độ bớt toàn trị hơn và một số khác được thiết kế để mở rộng quá trình chính trị theo hướng đa nguyên và có trách nhiệm hơn. Thật đáng tiếc, cuộc đàn áp Thiên An Môn đã chặn đứng con đường hẹp này hướng tới một tương lai thay thế – và có thể nói là tốt đẹp hơn. Việc thanh trừng các nhà cải cách khỏi ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc và thành công của Đặng Tiểu Bình trong việc hình thành sự đồng thuận của giới tinh hoa về phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới chế độ một đảng đã đưa Trung Quốc vào một con đường hoàn toàn khác biệt trong thời kỳ hậu Thiên An Môn.

Nói chung, giai đoạn này có thể được chia thành ba giai đoạn, mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng biệt về cuộc đấu tranh giành quyền lực và chính sách giữa các nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng. Trong giai đoạn đầu tiên (1979–1986), thời kỳ cải cách và mở cửa của Trung Quốc được khởi động, và những tiến bộ nhanh chóng trong cải cách kinh tế đã được thực hiện. Đây cũng là một thời kỳ tương đối cởi mở về chính trị, bất chấp một phản ứng bảo thủ ngắn ngủi vào cuối năm 1983. Được hỗ trợ bởi hai nhà cải cách tự do, Hồ Diệu Bang với tư cách là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc và Triệu Tử Dương với tư cách là Thủ tướng, Đặng Tiểu Bình đã có thể thực hiện việc phi tập thể hóa nông nghiệp, tái hòa nhập Trung Quốc vào nền kinh tế toàn cầu, và triển khai các cải cách để cho phép khu vực tư nhân hình thành và phát triển. Về mặt chính trị, ông cũng thực hiện những thay đổi khiêm tốn để thiết lập chế độ lãnh đạo tập thể, quy định nghỉ hưu bắt buộc, và các biện pháp đưa máu mới vào đảng.

Tuy nhiên, liên minh không chính thức đã lật đổ Hoa Quốc Phong, nhà lãnh đạo chuyển tiếp đã nắm quyền vào tháng 10 năm 1976 và thực chất chấm dứt Cách mạng Văn hóa, đã tan rã trong giai đoạn này do những tầm nhìn không tương thích về tương lai của Trung Quốc. Vì ông chia sẻ các giá trị chính trị bảo thủ của phe cứng rắn do Trần Vân lãnh đạo nhưng lại mâu thuẫn với họ về chính sách kinh tế, Đặng Tiểu Bình đã đóng vai trò cân bằng then chốt trong giai đoạn này. Khi cải cách giải phóng áp lực xã hội ngày càng tăng đòi hỏi tự do hóa chính trị, khoảng cách giữa Đặng và cánh tự do của đảng ngày càng rộng, cuối cùng dẫn đến việc Đặng cách chức Hồ vào tháng 1 năm 1987.

Trong giai đoạn thứ hai, 1987–1988, đà cải cách chậm lại mặc dù có một nỗ lực bất thành nhằm thực hiện cải cách chính trị toàn diện vào năm 1987. Việc Hồ bị cách chức không chỉ làm suy yếu phe tự do trong đảng mà còn làm suy yếu khả năng của chính Đặng Tiểu Bình trong việc vượt qua sự phản đối đối với cải cách kinh tế tiếp theo từ phía phe cứng rắn mới được củng cố. Sau khi Đặng Tiểu Bình bổ nhiệm Triệu thay thế Hồ, ông thực chất đã nhượng quyền kiểm soát chính sách kinh tế cho phe bảo thủ, những người đã nắm quyền kiểm soát Hội đồng Nhà nước. Ngay cả trước cuộc khủng hoảng Thiên An Môn năm 1989, giai đoạn thứ ba và cuối cùng, quá trình cải cách và mở cửa của Đặng Tiểu Bình đã bị đình trệ. Bằng việc đứng về phía phe cứng rắn trong những thời điểm quan trọng nhất của cuộc khủng hoảng, Đặng Tiểu Bình đã làm hoen ố di sản lịch sử của mình khi ra lệnh cho quân đội đàn áp phong trào dân chủ hòa bình. Tệ hơn nữa, cuộc thanh trừng toàn diện các thành viên ôn hòa trong đảng và sự rạn nứt tồi tệ nhất với phương Tây sau cuộc đàn áp đã đe dọa sự sụp đổ sớm của dự án cải cách và mở cửa mà Đặng Tiểu Bình ấp ủ. Kết quả là, thập niên 1980 bắt đầu với hy vọng và sự lạc quan về một tương lai mới nhưng lại kết thúc bằng một trong những sự kiện đen tối và đẫm máu nhất trong lịch sử Trung Quốc hiện đại.

Sự chia rẽ về tư tưởng trong Đảng

Ngày 6 tháng 10 năm 1976, một cuộc đảo chính có sự hậu thuẫn của quân đội đã dẫn đến việc bắt giữ “Bè lũ bốn tên”, một nhóm cực đoan bao gồm, trong số ba người khác, góa phụ của Mao Trạch Đông, nhà độc tài tàn bạo đã qua đời chưa đầy một tháng trước đó. Tin tức về sự sụp đổ của những người theo Mao gần gũi nhất và bị ghét bỏ nhất nhanh chóng kích hoạt những cuộc ăn mừng tự phát trên khắp Trung Quốc. Người chiến thắng trong cuộc đấu tranh kế vị, Hoa Quốc Phong, ngay lập tức được bổ nhiệm làm nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc. Ông đảm nhận các chức vụ Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân Ủy Trung ương (CMC), cũng như Thủ tướng Quốc vụ Viện (Nội các Trung Quốc).1

Khi Hoa Quốc Phong, 55 tuổi, tiếp quản đảng, vị trí của ông dường như không thể lay chuyển. Trong số 12 thành viên có quyền biểu quyết của Bộ Chính trị, không ai là mối đe dọa tiềm tàng. Nhóm có thể lật đổ Hoa vào cuối năm 1976 hoàn toàn không nằm trong trung tâm quyền lực. Nhiều người đã bị Mao thanh trừng, loại bỏ, giam giữ hoặc sát hại trong Cách mạng Văn hóa (1966–1976). Trong số những người còn sống sót về mặt thể chất, Đặng Tiểu Bình, 72 tuổi, đã bị Mao cách chức khỏi tất cả các chức vụ trong hệ thống đảng-nhà nước 6 tháng trước đó. Trần Vân, 71 tuổi, một nhà hoạch định kinh tế tài ba từng đứng thứ 5 trong hệ thống cấp bậc đảng vào năm 1956, vào thời điểm Mao qua đời chỉ là một thành viên của Ban Chấp hành Trung ương sau khi mất lòng Mao trước Cách mạng Văn hóa.

Tuy nhiên, sự cai trị của “nhà lãnh đạo khôn ngoan”, như Hoa được gọi lúc bấy giờ, chỉ kéo dài trong thời gian ngắn. Dấu hiệu đã rõ ràng khi các nhà cách mạng kỳ cựu buộc ông phải đưa những nạn nhân của Cách mạng Văn hóa trở lại các vị trí lãnh đạo. Vào tháng 7 năm 1977, Đặng Tiểu Bình đã lấy lại tất cả các vị trí lãnh đạo mà ông đã mất sau các cuộc biểu tình tại Thiên An Môn vào tháng 4 năm 1976, bao gồm tư cách thành viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị (PSC), Phó Thủ tướng và Trưởng Ban Tham mưu Tổng cục Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA).2 Tại một phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương vào tháng 12 năm 1978, Hoa đã thua trong một cuộc đấu tranh quyền lực quyết định trước liên minh giữa nhà cách mạng các kỳ cựu và những người cải cách.3 Mặc dù ông không chính thức từ chức Chủ tịch ĐCSTQ cho đến tháng 6 năm 1981, nhưng cuộc đảo chính đưa ông lên đỉnh cao quyền lực chỉ đơn thuần là mở đường cho sự trở lại của các nạn nhân của Cách mạng Văn hóa, những người ngoài mong muốn lật đổ Hoa và chấm dứt chủ nghĩa cấp tiến tự hủy hoại của Mao – vốn đã đẩy đất nước đến bờ vực sụp đổ và đe dọa sự nắm giữ quyền lực của Đảng – thì không có nhiều điểm chung nào khác.

Liên minh rộng rãi không chính thức đã lật đổ Hoa vào tháng 12 năm 1978 do Đặng và Trần đứng đầu, cả hai đều là những nhân vật trụ cột trong cuộc cách mạng cộng sản. Đặng Tiểu Bình trở thành người đứng đầu Ban Bí thư của Ban Chấp hành Trung ương vào năm 1927 khi ông mới 23 tuổi. Trong cuộc nội chiến (1945–1949), Đặng Tiểu Bình đồng chỉ huy Quân đoàn 2, đơn vị đã chiến đấu xuất sắc trong việc đánh bại phe Quốc dân đảng. Từ khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 đến khi bùng nổ Cách mạng Văn hóa năm 1966, ông đã đảm nhiệm một loạt các chức vụ cấp cao trong đảng và chính phủ. Trên thực tế, với tư cách là nhà lãnh đạo đảng đứng thứ bảy vào đêm trước Cách mạng Văn hóa, Đặng Tiểu Bình đã có “vinh dự” đáng ngờ khi bị gộp cùng với Lưu Thiếu Kỳ, người được Mao chỉ định làm người kế nhiệm, là một trong hai “kẻ đi theo con đường tư bản” hàng đầu của Trung Quốc khi Mao tung Hồng Vệ Binh ra để trấn áp các đối thủ trong đảng vào mùa hè năm 1966.

Thành tích cách mạng của Trần Vân cũng không kém phần lừng lẫy. Ông được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị khi mới 29 tuổi. Thực tế, dù trẻ hơn Đặng Tiểu Bình một tuổi, ông lại có thâm niên cao hơn. Sau khi Đảng giành chiến thắng trong cuộc nội chiến năm 1949, Trần Vân trở thành Phó Thủ tướng, đóng vai trò quan trọng trong việc soạn thảo Kế hoạch 5 Năm lần thứ nhất và xây dựng khung cơ bản cho nền kinh tế chỉ huy. Tuy nhiên, ông mất lòng Mao vào năm 1958 vì đã cảnh báo về những mục tiêu kinh tế quá tham vọng của Mao. Nhưng việc bị Mao gạt sang một bên sau này lại trở thành một phước lành bất ngờ. Trong khi hầu hết kẻ thù của Mao bị truy bức chính trị hoặc thậm chí bị thanh trừng về thể xác trong Cách mạng Văn hóa, Trần đã thoát khỏi sự truy bức và thậm chí còn giữ được ghế trong Ban Chấp hành Trung ương.

Mặc dù Đặng và Trần đã đóng vai trò quan trọng nhất trong việc đánh bại quyết định Hoa và những người ủng hộ ông vào tháng 12 năm 1978, họ đã được hỗ trợ bởi các nhà lãnh đạo có xu hướng tự do hơn nhưng có cấp bậc thấp hơn trong đảng. Hai đại diện nổi bật nhất của phe này là Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương. Trước Cách mạng Văn hóa, Hồ là Trưởng ban Đoàn Thanh niên Cộng sản (CYL), một tổ chức phụ thuộc của đảng không có trách nhiệm hành chính thực sự. Là nạn nhân của cuộc thanh trừng của Mao trong thập kỷ hỗn loạn, Hồ đã trở thành người ủng hộ Đặng khi ông này tạm thời trở lại nắm quyền vào năm 1973–1975. Trong chiến dịch lật đổ Hoa Quốc Phong khỏi vị trí lãnh đạo đảng, Hồ đã có hai đóng góp quan trọng. Sử dụng quyền hành chính của mình với tư cách là người đứng đầu Ban Tổ chức của Đảng, ông đã giúp phục hồi danh dự cho một số lượng lớn nạn nhân của các cuộc thanh trừng của Mao và tạo điều kiện cho họ trở lại các vị trí quyền lực trong hệ thống đảng-nhà nước.4 Ngoài ra, khi Hoa tiếp tục dựa vào chủ nghĩa Mao làm nguồn gốc hợp pháp chính trị của mình, Hồ Diệu Bang đã tổ chức một loạt bài viết vào năm 1978 tranh luận về “tiêu chuẩn của sự thật”. Đằng sau dự án triết học có vẻ bí truyền này là ý định làm mất uy tín của chủ nghĩa Mao như một học thuyết chính trị chỉ đạo của đảng và làm suy yếu quyền lực của Hoa.5

Triệu Tử Dương, người từng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy tại Quảng Đông, Nội Mông và Tứ Xuyên trước và trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, không đóng vai trò trực tiếp trong cuộc đấu tranh quyền lực năm 1978 khiến Đặng Tiểu Bình trở thành nhà lãnh đạo tối cao. Triệu trước đó ít có liên hệ với Đặng, nhưng vì ông đã thực hiện những cải cách nông nghiệp táo bạo và thành công tại Tứ Xuyên vào cuối thập niên 1970 khi giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, Đặng đã chọn ông để kế nhiệm Hoa làm Thủ tướng vào tháng 9 năm 1980.6

Trong một cuốn sách lịch sử sâu sắc về xung đột giữa giới tinh hoa trong thập niên 1980, Yang Jisheng lập luận thuyết phục rằng liên minh lớn sau đó đã tan rã thành ba phe phái, mỗi phe có những giá trị tư tưởng và chương trình chính trị riêng biệt. Theo quan điểm của Yang, xung đột giữa ba nhóm này định hình chính trị và định hướng con đường chính trị-kinh tế của Trung Quốc trong thập niên đó.7 Lực lượng do Trần Vân đại diện là những người bảo thủ cứng rắn, tìm cách duy trì chủ nghĩa cộng sản chính thống và chế độ một đảng theo Lenin, đồng thời quay trở lại chính sách kinh tế và chiến lược phát triển thực dụng nhưng bản chất là xã hội chủ nghĩa nhà nước của thập niên 1950. Nhóm thứ hai, do Đặng lãnh đạo, chia sẻ cùng mục tiêu chính trị là bảo vệ nhà nước đảng Leninist, nhưng khác biệt với phe bảo thủ về phương tiện kinh tế để đạt được mục tiêu này. Như Triệu Tử Dương nhận xét, mặc dù các bậc tiền bối như Đặng và Trần bất đồng về cải cách kinh tế, họ có quan điểm không thể phân biệt được về việc duy trì hệ thống chính trị hiện tại. Họ lo ngại rằng “bất kỳ cải cách thực sự nào cũng sẽ thách thức Đảng Cộng sản, làm suy yếu quyền lực của nó và làm suy yếu sự cai trị của nó.”8 Khác với Trần Vân, người say mê nền kinh tế kế hoạch hóa của Liên Xô và tự hào về vai trò của mình trong việc thiết lập nền kinh tế chỉ huy của Trung Quốc vào đầu thập niên 1950, Đặng tin rằng chỉ có một nền kinh tế thị trường hiệu quả tích hợp với phương Tây tư bản mới có thể cứu vãn đảng.

Nhóm thứ ba, đại diện bởi một thế hệ lãnh đạo trẻ hơn và cởi mở hơn, như Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, tìm kiếm cả cải cách kinh tế theo hướng thị trường và tự do hóa chính trị vì họ tin rằng cả cải cách kinh tế và chính trị đều cần thiết để thay đổi một Trung Quốc đã bị nghèo đói và tàn phá bởi chủ nghĩa Mao.9

Trong ba nhóm này, hai phe đầu tiên là mạnh nhất: phe bảo thủ do Trần lãnh đạo muốn quay trở lại thập niên 1950 và phe tân độc đoán do Đặng đại diện, những người tin rằng hiện đại hóa kinh tế Trung Quốc – phương tiện duy nhất để chế độ tồn tại – chỉ có thể thành công khi kết hợp chủ nghĩa tư bản với chế độ chuyên quyền. Sức mạnh chính trị của phe bảo thủ và phe tân độc đoán chủ yếu xuất phát từ uy tín cá nhân của các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của họ, như Đặng, Trần và các nhà cách mạng cao tuổi khác. Họ nắm giữ quyền lực tối cao trong các quyết định chính sách và nhân sự quan trọng.

Một nguồn sức mạnh chính trị khác của phe bảo thủ và phe tân độc đoán là mạng lưới ủng hộ rộng lớn của họ trong bộ máy quan liêu của đảng-nhà nước và quân đội. Vì phe bảo thủ đã nắm quyền điều hành kinh tế, tuyên truyền và tổ chức trước Cách mạng Văn hóa, họ đã đào tạo một nhóm các nhà cứng rắn trẻ tuổi mà họ đã bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng trong đảng và chính phủ. Mặc dù Đặng Tiểu Bình có ít người ủng hộ hơn trong bộ máy quan liêu của nhà nước và đảng, nhưng ông có quyền kiểm soát quân đội vô song vì ông đã thăng chức cho nhiều cựu cấp dưới của mình trong Quân đoàn 2 lên các vị trí cấp cao trong Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), chẳng hạn như Bộ Tổng tham mưu và Ban Thư ký Quân Ủy Trung ương (CMC), cơ quan giám sát các công việc hàng ngày của PLA.

Nguồn hỗ trợ chính trị cho phe tự do rất đa dạng. Trong đảng, họ có thể dựa vào một số ít nhà cách mạng các kỳ cựu (ít ảnh hưởng) ở trung tâm quyền lực, như Tập Trung Tôn (cha của Tập Cận Bình và là thành viên Ban Bí thư Trung ương đảng), Vạn Lợi (Phó Thủ tướng được ghi nhận là người khởi xướng các cải cách nông nghiệp khi ông là Bí thư Tỉnh ủy An Huy vào cuối thập niên 1970), và các Bí thư Tỉnh ủy ở Quảng Đông và Phúc Kiến. Nhóm ủng hộ viên tích cực nhất của phe tự do là tầng lớp trí thức. Nhóm này cực kỳ quan trọng đối với phe tự do vì họ có thể đưa ra ý tưởng cải cách và vạch trần sự bế tắc về tư tưởng của phe bảo thủ. Tuy nhiên, tầng lớp trí thức không có quyền lực chính trị thực sự và thỉnh thoảng có thể gây ra vấn đề cho phe tự do trong đảng khi họ đòi hỏi thay đổi chính trị quá mạnh mẽ.

Điểm yếu lớn nhất của phe tự do là họ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình để duy trì hiệu quả và sự tồn tại. Nếu Đặng Tiểu Bình ủng hộ phe tự do trong cải cách kinh tế, họ có thể vượt qua sự phản đối từ phe bảo thủ. Nhưng khi Đặng Tiểu Bình đứng về phía phe bảo thủ trong việc trấn áp “sự tự do hóa tư sản” vào năm 1987, phe tự do chắc chắn thất bại (như trong sự sụp đổ của Hồ Diệu Bang vào năm 1987 và cuộc khủng hoảng Thiên An Môn vào năm 1989). Phe tự do cũng có thể đã đánh giá thấp sự tàn nhẫn và sự không đáng tin cậy của Đặng Tiểu Bình vào những thời điểm quan trọng nhất. Đối với Đặng Tiểu Bình, các nhà cải cách tự do là hữu ích nhưng cuối cùng là có thể bỏ qua. Ông cần họ để chống lại sự phản đối của phe bảo thủ đối với các cải cách thị trường và việc mở cửa với phương Tây. Nhưng sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình dành cho họ có một giới hạn: Khi họ chống lại ông trên vấn đề quan trọng nhất là duy trì quyền lực độc quyền của đảng, ông không ngần ngại loại bỏ họ.

Sự mất cân bằng quyền lực giữa phe bảo thủ, trung dung và tự do đã định hình kết quả của các cuộc đấu tranh then chốt về cải cách kinh tế và chính trị trong thập niên 1980. Do hoàn cảnh bắt buộc, Đặng Tiểu Bình phải dựa vào cánh tự do của đảng để vượt qua sự phản đối của phe bảo thủ đối với chương trình cải cách kinh tế của mình. Kết quả là, ông có thể hình thành một liên minh chiến thắng với phe tự do trong hầu hết các cuộc đấu tranh về chính sách kinh tế. Tuy nhiên, để bảo vệ chống lại bất kỳ mối đe dọa nào đối với quyền lực của đảng, Đặng Tiểu Bình luôn liên kết với phe cứng rắn để tấn công các xu hướng tự do hóa và các lực lượng ủng hộ dân chủ. Nói cách khác, sự khác biệt giữa Đặng Tiểu Bình và Trần Vân là chiến thuật, không phải cơ bản. Cả hai đều quyết tâm duy trì chế độ một đảng, nhưng Đặng Tiểu Bình tin rằng cải cách thị trường và mở cửa với phương Tây có thể phục vụ mục tiêu cuối cùng này tốt hơn so với nền kinh tế chỉ huy đóng cửa mà Trần Vân ủng hộ. Rõ ràng, lịch sử hậu Mao đã chứng minh Đặng Tiểu Bình đúng. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa Đặng Tiểu Bình và phe tự do là cơ bản và không thể hòa giải. Mục tiêu của phe tự do là xây dựng cả một nền kinh tế thị trường và một hệ thống chính trị trong đó quyền lực của đảng sẽ bị luật trị hạn chế và được rút khỏi nhà nước. (Mặc dù giới trí thức tự do ủng hộ một nền dân chủ đa đảng, nhưng ít nhà lãnh đạo tự do, đặc biệt là Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, hình dung ra việc thay thế chế độ cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc bằng một nền dân chủ cạnh tranh.) Nhìn lại, sự đồng thuận cơ bản giữa phe cứng rắn và Đặng Tiểu Bình khiến việc phe tự do, lực lượng chính trị yếu nhất trong đảng, có thể chiến thắng trong những trận chiến quan trọng nhất về hướng đi của cải cách trong thập niên 1980 trở nên không thể tưởng tượng được, chẳng hạn như việc xử lí các phong trào dân chủ vào cuối năm 1986 và trong phong trào biểu tình Thiên An Môn vào tháng 4 và tháng 5 năm 1989.

Thể chế hóa chính trị của giới tinh hoa

Một trong những ưu tiên hàng đầu của liên minh lớn vào đầu thập niên 1980 là việc thực hiện các cải cách thể chế nhằm bảo vệ đảng khỏi sự trỗi dậy của một nhân vật tương tự Mao và khôi phục sức sống cho lãnh đạo đảng. Ban đầu, Đặng Tiểu Bình đã tóm tắt khung tổng thể cho các cải cách này trong một bài phát biểu mang tính bước ngoặt tại cuộc họp mở rộng của Bộ Chính trị vào tháng 8 năm 1980.10 Được coi là chẩn đoán cởi mở và sâu sắc nhất về các bệnh lí trong hệ thống chính trị Trung Quốc, bài phát biểu này đã vạch ra một loạt các biện pháp nhằm giảm thiểu những khuyết điểm này. Theo quan điểm của Đặng Tiểu Bình, những khuyết điểm thể chế nghiêm trọng nhất trong hệ thống đảng-nhà nước Trung Quốc và các biểu hiện của chúng bao gồm “sự tập trung quyền lực quá mức, phương pháp gia trưởng, nhiệm kỳ trọn đời ở các vị trí lãnh đạo và các đặc quyền dưới nhiều hình thức.”11 Đặng Tiểu Bình cũng lên án “chủ nghĩa phong kiến” (thực chất là tư duy chuyên chế) và hiện tượng “chủ nghĩa cha truyền con nối”, mà ông định nghĩa là một hình thức chuyên chế dẫn đến sự thống trị của cá nhân đối với tổ chức đảng. Rất có thể Đặng Tiểu Bình đang nhắm đến Mao Trạch Đông vì ông quy trách nhiệm cho “chủ nghĩa cha truyền con nối” về những tổn hại nghiêm trọng đã gây ra cho đảng.

Theo Đặng Tiểu Bình, các cải cách để khắc phục những khuyết điểm này nên bao gồm lãnh đạo tập thể, nghĩa là bí thư đảng ủy phải chia sẻ quyền ra quyết định với các đồng nghiệp. Một giải pháp khác là bãi bỏ chế độ và cải thiện quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, đánh giá, điều chuyển và cách chức cán bộ. Điều đáng chú ý là, mặc dù Đặng Tiểu Bình cho rằng cải cách hệ thống chính trị có thể cung cấp các biện pháp bảo đảm thể chế cho “dân chủ hóa” đời sống chính trị của đảng và nhà nước, ông đã không đi xa đến mức kêu gọi các cải cách dân chủ. Thay vào đó, ông chỉ nói rằng cần tiến hành nghiên cứu và điều tra để học hỏi kinh nghiệm từ các nước khác và đưa ra các kế hoạch thực tiễn. Để nhấn mạnh niềm tin của mình vào vai trò trung tâm của đảng-nhà nước, Đặng Tiểu Bình nói rằng “cải cách hệ thống lãnh đạo đảng và nhà nước chính xác là để duy trì và củng cố hơn nữa sự lãnh đạo và kỷ luật của đảng, chứ không phải để làm suy yếu hay nới lỏng chúng,” bởi vì “không có một đảng như vậy, đất nước chúng ta sẽ tan rã và không đạt được gì cả.”12

Nếu có điều gì đó, bài phát biểu này đã bộc lộ những hạn chế trong tầm nhìn của Đặng Tiểu Bình về cải cách chính trị. Chắc chắn, ông đã xác định chính xác những triệu chứng nghiêm trọng nhất của các bệnh lí trong hệ thống chính trị Trung Quốc. Nhưng các giải pháp trước mắt mà ông đề xuất — bãi bỏ chế độ tại vị suốt đời và cải thiện hệ thống quản lí cán bộ — chỉ mang tính kỹ thuật hoặc tổ chức thuần túy. Ông tập trung gần như hoàn toàn vào cách giải quyết các vấn đề trong nội bộ đảng, nhưng lại không tỏ ra quan tâm nhiều đến việc giải quyết các vấn đề giữa đảng-nhà nước và xã hội Trung Quốc do thiếu luật trị và dân chủ. Ông cũng không có ý tưởng rõ ràng về cách thiết lập các cơ chế có thể thi hành bên trong đảng để giảm bớt sự tập trung quá mức quyền lực, chế độ phong kiến và chủ nghĩa bảo hộ. Quan trọng nhất, bằng cách cảnh báo chống lại các cải cách có thể làm suy yếu sự độc quyền chính trị của đảng, Đặng Tiểu Bình thực chất đã loại trừ việc trao quyền cho xã hội Trung Quốc hoặc thiết lập luật trị như những lực lượng tự chủ có thể bảo vệ các quy tắc và chuẩn mực thể chế mới.

Mặc dù có những hạn chế và mâu thuẫn nội tại như vậy, lời kêu gọi của Đặng Tiểu Bình về việc thiết lập nguyên tắc lãnh đạo tập thể, các chuẩn mực hành vi chính trị trong đảng, và các quy định chính thức về tuổi nghỉ hưu và giới hạn nhiệm kỳ đã nhận được sự đồng thuận từ cả phe bảo thủ và phe tự do. Với tư cách là nạn nhân của chế độ độc tài của Mao, họ không có sự bất đồng về nhu cầu thực hiện các cải cách để mang lại sự ổn định và tính dự đoán cao hơn cho hoạt động nội bộ của đảng như một tổ chức.

Nhờ sự đồng thuận trong Đảng về lãnh đạo tập thể, an ninh cho giới tinh hoa và các quy định về tuổi nghỉ hưu và giới hạn nhiệm kỳ, ban lãnh đạo hậu Mao đã nhanh chóng thông qua một số văn kiện lịch sử, đánh dấu nỗ lực nghiêm túc nhất của ĐCSTQ trong việc thể chế hóa. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, các cải cách thể chế này có những hạn chế nghiêm trọng vì Đặng Tiểu Bình và các nhà cách mạng lão thành không tuân thủ chúng. Hầu hết những quy định chính đều được cố ý làm mờ nhạt để trao cho các quyền tự quyết đủ rộng. Các cải cách thể chế nhằm tách đảng khỏi nhà nước, mà Đặng Tiểu Bình đã phê chuẩn vào cuối năm 1986, đã thất bại ngay từ đầu vì ông kiên quyết phản đối bất kỳ cải cách nào có thể làm suy yếu quyền lực của đảng và dẫn đến một hình thức kiểm soát và cân bằng nào đó. Nhìn chung, các cải cách thể chế của nhà nước-đảng trong thập niên 1980 mang tính hành chính và chủ yếu là bề ngoài. Chúng không đụng chạm đến đặc trưng cơ bản của một chế độ toàn trị: đảng thống trị và kiểm soát bộ máy nhà nước. Do đó, thay vì chuyển đổi từ chế độ toàn trị sang chế độ độc đoán, các cải cách thể chế của nhà nước-đảng trong thập niên 1980 đã thành công trong việc bảo tồn cốt lõi của một chế độ toàn trị.

Đảng đã nêu rõ các nguyên tắc và chuẩn mực quan trọng nhất của mình trong một văn kiện then chốt, “Nguyên tắc Hướng dẫn về Cuộc sống Chính trị Nội bộ Đảng”, vào tháng 2 năm 1980.13 Ngoài việc tái khẳng định nguyên tắc bất khả xâm phạm về lòng trung thành với đảng, văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương này nhấn mạnh nguyên tắc lãnh đạo tập thể và lên án “việc ra quyết định tùy tiện cá nhân”, rõ ràng là một ám chỉ kín đáo đến chế độ cá nhân chủ nghĩa của Mao. Do đó, văn bản này quy định rằng tất cả các quyết định quan trọng phải được thảo luận và phê duyệt bởi ban chấp hành đảng hoặc ban thường vụ ở từng cấp, chứ không phải bởi một cá nhân — một quy định mà chính Đặng Tiểu Bình chỉ tuân thủ trên danh nghĩa. Nghị quyết này cấm rõ ràng các hoạt động hoặc nghi lễ có thể thúc đẩy “sùng bái cá nhân”.

Tài liệu khuyến khích “dân chủ trong Đảng” và kêu gọi Đảng “xử lí đúng đắn các quan điểm khác biệt”. Nó cấm rõ ràng việc phóng đại sai lầm của đảng viên hoặc bức hại họ dưới những lí do giả tạo. Đảng viên có quyền tham gia thảo luận về chính sách của Đảng (nhưng chỉ tại các cuộc họp do Đảng tổ chức hoặc trong các ấn phẩm của Đảng). Họ có thể khiếu nại và trình bày với các tổ chức Đảng cấp trên về các quyết định kỷ luật liên quan đến bản thân hoặc người khác.

Trên thực tế, có lẽ cải cách quan trọng nhất mà đảng đã áp dụng vào đầu thập niên 1980 là giới hạn tuổi bắt buộc đối với hầu hết cán bộ đảng và chính phủ, cùng với giới hạn nhiệm kỳ đối với các vị trí lãnh đạo cao nhất. Đảng có lí do cấp bách để thuyết phục một nhóm lớn nhà cách mạng các kỳ cựu già nua (khoảng 2,5 triệu người) từ bỏ các vị trí lãnh đạo để nhường chỗ cho những người trẻ tuổi và có trình độ cao hơn. Quan trọng hơn, việc thiết lập chế độ nghỉ hưu bắt buộc và giới hạn nhiệm kỳ sẽ cải thiện tính dự đoán trong việc thăng tiến và luân chuyển cán bộ cấp cao, duy trì lòng trung thành của các cán bộ trẻ có tham vọng, và đảm bảo sự năng động trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo.14 Trong quyết định tháng 2 năm 1982 của Đảng về việc thiết lập hệ thống nghỉ hưu cho “cán bộ lão thành”, độ tuổi nghỉ hưu của các bộ trưởng, bí thư tỉnh ủy và chủ tịch tỉnh, cùng các trưởng tòa án nhân dân cấp tỉnh và viện kiểm sát được quy định là 65 tuổi. Các phó của họ phải nghỉ hưu ở tuổi 60. Các quan chức cấp tổng cục trưởng (cấp cục) không được giữ chức vụ quá 60 tuổi trong điều kiện bình thường.15 Khi Hiến pháp Trung Quốc được sửa đổi vào năm 1982, nó cũng thiết lập giới hạn hai nhiệm kỳ cho chức vụ Chủ tịch (một vị trí mang tính biểu tượng chủ yếu) và cho Thủ tướng.

Mặc dù các cải cách thể chế vào đầu thập niên 1980 là một bước tiến thực sự và tích cực nhằm làm cho đời sống chính trị trong hệ thống đảng-nhà nước bớt tàn bạo và bớt tùy tiện hơn, nhưng chúng vẫn có những hạn chế nghiêm trọng. Về giới hạn tuổi tác và nhiệm kỳ, điều đáng chú ý là Đặng Tiểu Bình và các đồng sự đã cố ý miễn trừ các nhà lãnh đạo cấp cao nhất. Ví dụ, các giới hạn này không được áp dụng đối với các thành viên của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Bộ Chính trị hoặc Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Sự thiếu sót này, như chúng ta sẽ thấy sau này, đã gây ra những hậu quả sâu sắc—và tiêu cực—trong phần còn lại của giai đoạn hậu Mao. Một lỗ hổng đáng chú ý khác trong hệ thống nghỉ hưu bắt buộc là giới hạn tuổi có thể được miễn nếu việc tiếp tục phục vụ của quan chức đó là “cần thiết”.

Khuyết điểm nghiêm trọng nhất của tất cả các cải cách thể chế, dù là về các chuẩn mực chính trị trong đảng hay các giới hạn về tuổi tác và nhiệm kỳ, là sự thiếu vắng các cơ chế thi hành có tính thuyết phục. Để bất kỳ quy tắc hay chuẩn mực nào có tính ràng buộc, cơ chế thể chế hiệu quả nhất là chỉ định một bên thứ ba, trong trường hợp này là một tổ chức độc lập với ĐCSTQ, để thi hành chúng. Tuy nhiên, không có cải cách nào được thực hiện vào đầu thập niên 1980 bao gồm các quy định về việc thi hành bởi bên thứ ba. Đáng chú ý, khi Hội nghị Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội-NPC) thảo luận về việc sửa đổi lớn Hiến pháp từ tháng 9 năm 1980 đến tháng 10 năm 1982, một vấn đề then chốt là liệu có nên thành lập một cơ quan để đảm bảo tuân thủ Hiến pháp hay không. Một đề xuất là thành lập một ủy ban Hiến pháp chuyên trách trong NPC. Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình đã phủ quyết ý tưởng này. Do đó, Hiến pháp Trung Quốc không có quy định nào về việc đảm bảo tuân thủ.16 Có hai yếu tố nằm sau những hạn chế của các cải cách thể chế do ĐCSTQ thực hiện vào đầu thập niên 1980. Về mặt chính trị, Đặng Tiểu Bình và các nhà lãnh đạo già nua khác không muốn bị ràng buộc bởi bất kỳ quy tắc nào trong việc thực thi quyền lực của chính họ. Họ không chỉ nắm quyền lực đằng sau hậu trường mà còn công khai vi phạm các quy định quan trọng được nêu trong “Các nguyên tắc chỉ đạo về đời sống chính trị nội bộ Đảng”. Ví dụ, thay vì triệu tập các cuộc họp của Thường vụ BCT, Đặng Tiểu Bình đã trực tiếp nói chuyện với các nhà lãnh đạo chủ chốt để ban hành chỉ thị, qua đó bỏ qua đối thủ chính của mình là Trần Vân. Các quyết định nhân sự quan trọng được đưa ra bởi các lão thành Đảng, chứ không phải bởi Tổng Bí thư. Triệu Tử Dương tiết lộ rằng “các nhà lãnh đạo ở cấp độ của tôi không thể đưa ra các quyết định nhân sự quan trọng. Điều đó đúng ngay cả khi Diệu Bang là Tổng Bí thư. Đôi khi chúng tôi thậm chí không có cơ hội tham gia thảo luận về các quyết định đó. Chỉ một số ít các vị lão thành được tham khảo ý kiến. Các quyết định đó chỉ có thể được đưa ra khi Tiểu Bình và Trần Vân đạt được thỏa thuận giữa hai người.”17 Mặc dù các nguyên tắc chỉ đạo về mặt hình thức cho phép các đảng viên bày tỏ ý kiến khác biệt và cấm việc bức hại họ, nhưng sau khi chiến dịch chống “tự do hóa tư sản” bắt đầu vào tháng 1 năm 1987, chính Đặng đã nêu tên một số đảng viên theo khuynh hướng tự do sẽ bị trừng phạt. Chính nhờ sự trì hoãn của Triệu mà hầu hết những người trong danh sách của Đặng Tiểu Bình mới được cứu.18

Một yếu tố quan trọng hơn nữa là sự bất khả thi trong việc thi hành bất kỳ quy tắc hay chuẩn mực nào trong một chế độ độc tài. Như nhiều nhà lí luận đã chỉ ra, các thể chế chỉ hoạt động khi cam kết của những người cầm quyền trong việc duy trì chúng có thể được thi hành.19 Thông thường, các cơ chế thi hành hiệu quả nhất là những cơ chế dựa vào các bên thứ ba, như tòa án độc lập, báo chí tự do và xã hội dân sự. Những cơ quan thi hành độc lập như vậy không tồn tại trong các chế độ độc tài. Dựa vào các nhà độc tài để tự thực thi cam kết của họ là không đáng tin cậy vì cám dỗ để giành lợi thế chính trị và quyền lực bằng cách vi phạm các quy tắc và chuẩn mực thường quá lớn để có thể chống lại. Các quy tắc và chuẩn mực chỉ có thể được thực thi trong một chế độ chuyên quyền khi cán cân quyền lực được phân phối đều giữa các phe phái đối lập, khiến việc vi phạm chúng trở nên tốn kém đối với bất kỳ phe phái nào.

Trong trường hợp Trung Quốc, do quyết tâm của Đặng Tiểu Bình trong việc đàn áp các lực lượng ủng hộ dân chủ có thể làm suy yếu sự độc quyền quyền lực của Đảng, việc các bên thứ ba xuất hiện và giúp thực thi chính những quy tắc và chuẩn mực mà Đặng Tiểu Bình cho là sẽ giúp cuộc sống chính trị bên trong ĐCSTQ trở nên ổn định và dự đoán được là điều không thể. Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu thể chế hóa ĐCSTQ của Đặng Tiểu Bình và sự phản đối của ông đối với bất kỳ cải cách nào có thể làm suy yếu quyền lực của ĐCSTQ cuối cùng đã khiến các cải cách của ông trở nên không triệt để, không hiệu quả và ngắn ngủi.

Chú Thích:

Chương 1. Thập niên quyết định

  1. Andres Onate, “Hua Kuo-Feng and the Arrest of the Gang of Four,” China Quarterly, no. 75 (1978): 540–65.
  2. Leng Rong and Wang Zuoling, eds., 邓小平年谱 (1975–1997) [Niên biểu Đặng Tiểu Bình (1975–1997)] (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 2004), 156–57; Ezra Vogel, Deng Xiaoping and the Transformation of China (Cambridge, MA: Belknap Press of Harvard University Press, 2011), 190–200.
  3. 3. Roderick MacFarquhar, “The Succession to Mao and the End of Maoism,” in The Politics of China: Sixty Years of the People’s Republic of China, 3rd ed., ed. Roderick MacFarquhar (New York: Cambridge University Press, 2011), 246–336.
  4. Robert L. Suettinger, The Conscience of the Party: Hu Yaobang, China’s Communist Reformer (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2024).
  5. 5. Michael Schoenhals, “The 1978 Truth Criterion Controversy,” China Quarterly, 126 (1991): 243–68.
  6. 6. David L. Shambaugh, The Making of a Premier: Zhao Ziyang’s Provincial Career (London: Routledge, 2019).
  7. 7. Yang Jisheng, 中国改革年代的政治斗争 [Cuộc đấu tranh chính trị trong thời kỳ cải cách của Trung Quốc] (Hong Kong: Excellent Culture Press, 2004), 11–14.
  8. 8. Zhao Ziyang, 改革历程 [Tiến trình cải cách] (Hong Kong: New Century, 2009), 241; bản tiếng Việt có tiêu đề Hồi Ký Triệu Tử Dương có thể tải về từ https://tapchidantri.org/download/hoi-ky-trieu-tu-duong/ .
  9. Yang Jisheng, 中国改革年代的政治斗争, 16–17.
  10. Deng Xiaoping, “On the Reform of the System of Party and State Leadership,” August 18, 1980, in Selected Works of Deng Xiaoping (1975–1982) (Beijing: Foreign Languages Press, 1984), 302–25.
  11. 11. Deng Xiaoping, 323.
  12. Deng Xiaoping, 324.
  13. 13. “关于党内政治生活的若干准则” [Một số chỉ dẫn về đời sống chính trị bên trong đảng], 人民网 [People’s daily online], February 29, 1980, http://dangjian.people.com.cn/GB/136058/427510/428086/428088/428312/index.html.
  14. Melanie Manion, Retirement of Revolutionaries in China: Public Policies, Social Norms, Private Interests (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1993).
  15. 中共中央关于建立老干部退休制度的决定 (1982年2月20日) [Quyết định của Ban chấp hanhg trung ương của ĐCSTQ về thiết lập hệ thống hưu trí cho các cán bộ lao thành (February 20, 1982)], http://cpc.people.com.cn/BIG5/64162/71380/71387/71591/4854975.html.
  16. 中国人大制度理论研究会, “彭真在主持起草 1982 宪法的那些日子里” [Những ngày khi Bành Chân chủ trì soạn thảo hiến pháp 1982], 中国人大网 [China National People’s Congress network], June 3, 2016, http://www.npc.gov.cn/zgrdw/npc/bmzz/llyjh/2016-06/03/content1990992.htm.
  17. Yang Jisheng, 中国改革年代的政治斗争, 343.
  18. Zhao Ziyang, 改革历程, 190–91.