Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Bảy ghi chú về nỗi cô đơn trong Thơ Phan Đan

Đoàn Công Lê Huy

Tặng nhà thơ Phan Đan, và để tạ ân những sáng tác của ông.

Tôi có thói quen ghi chú bên lề những trang sách tôi đọc. Dưới đây là bảy ghi chú xung quanh từ “cô đơn” trong tập Thơ PHAN ĐAN, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2023.

1. Nỗi cô đơn và thân phận con người

Trong bài thơ đầu tập, có câu: “Giếng sâu quá/ chiếc gầu rơi/không sao lấy lên được,/ Ai ngồi suốt đời bên miệng giếng/ chờ tiếng nước xô run rẩy?” (Giếng). Giếng ở đây có thể là “một giếng buồn sâu thẳm” như tác giả đã viết ở bài thơ Đêm khép cửa. Hoặc là “giếng cô độc”, như ông từng nhắc đến ở một bài khác: “tiếng hót câm/ tận đáy giếng cô độc” (Những ghi chú trên tường phòng giam). Phải chăng, giao cảm thi ca nói với ta rằng, toàn bộ con người nhà thơ, thể hiện qua thơ, với thân-tâm-cảnh, là thông điệp của “bản hợp xướng câm lặng” thầm thì “tận đáy giếng” sâu? (Từ một hạt giống mà con chim đêm đánh rơi trong mùa di cư tình ái)

Từ cô đơn và tổ hợp từ mang nghĩa cô đơn xuất hiện rất nhiều trong tập này. Từ bài đầu tiên cho đến bài cuối cùng, xuyên suốt tập thơ, cô đơn luôn ẩn hiện. Nó dày đặc và dằng dặc, như sau này trong một câu thơ, tác giả nhìn lại: “Anh nào biết mình chịu nỗi cô đơn dầy đặc thế/ Khi thời gian đã như muối đổ trên đầu”. (Nơi em bỏ lại). Giờ đây đã gần cạn một đời người, một đời sáng tác, có khi nào ông chờ nghe tiếng gàu khua nước vọng lên từ tận đáy sâu câm lặng không?

Phan Đan tức cảnh trước cuộc đời mà ông cho là “kinh dị”: “Kẻ lặn lội cành tre, eo sèo mặt nước/ Kẻ ngã xuống ao sâu của tiếng thở dài nặng nhọc/ Có lòng nào bơi thoát tăm tối và cô đơn?” (Ngày nước đục). Rồi trong một bài thơ năm 1985, ông viết: “Bằng bàn tay cô đơn bất lực/ tôi bỏ phiếu không phải cho nụ cười mà cho tiếng khóc.” (Trên vùng trí nhớ bỏ hoang). Vì lá phiếu đó mà ông tự nguyện đến với sự cô độc, khi con người bị xé ra khỏi các nhóm xã hội, đơn độc đối diện với thế gian: “Tôi đi tìm sự cô độc trong đám đông câm điếc/ sự ồn ào trong vũ trụ tối tăm/ Tôi đi tìm tình yêu không chết/ trong những phiên toà xét xử /vụ ly dị giữa xã hội và con người…” (Bàn tay trái).

2. Cô đơn như một trạng thái cảm xúc…

Từ tuổi hoa niên, nhà thơ đã trải nghiệm nỗi cô đơn trong tâm trạng thất vọng, nhưng có lẽ, chỉ một lần, ông ghi lại cảm xúc cô đơn dạng này, khi nỗi cô đơn được định nghĩa là ‘quạnh’: “Trời hôm nay sâu quá,/ Xanh xao đến quặn lòng/ Nắng mờ như lệ nhỏ/ Có ai đâu mà mong?/ Thôi cũng đành chậm bước/ Nhìn trời để thương thân/ Lá xa về xào xạc/ Từng chiếc vàng gót chân/ Bóng ai thầm thấp thoáng/ Kéo nhạt lời hiu hiu/ Ừ, ra mình khóc lặng/ Cô đơn, chiều ôi chiều!” (Quạnh). Quạnh cũng là bài thơ mà tác giả dành trọn cả bài cho một chủ đề duy nhất: Cô đơn. Chỉ một mình với trời đất, không có ai mà mong. Trong thực tế không một bóng người, mà trong tâm tưởng cũng không có ai. Bên ngoài, bên trong đều chỉ có ta với trời. Có chiếc lá từ nơi xa, mà cũng chỉ “từng chiếc”. Đến khổ thơ cuối thì bóng người tưởng có, dù thoáng qua hư ảo với ba âm “th” liền nhau (thầm-thấp-thoáng), vẫn là trong tưởng tượng, trong tiếng khóc lặng bị kéo nhạt đi vẫn còn nghe thấy. Nỗi cô đơn tận cùng, cô đơn tuyệt đối, bật lên thành tiếng than: “Cô đơn, chiều ôi chiều!” Ngôn ngữ thơ ca ở đây như nét bút thuỷ mặc. Kiệm lời, gợi nhiều hơn tả. Chữ quạnh xuất hiện 16 lần trong tập thơ, nhưng thường đi cùng âm tiết khác tạo thành từ láy hoặc từ ghép (quạnh hiu, cô quạnh, quạnh quẽ, vũng quạnh, trang quạnh, mặt quạnh...). Ở bài thơ này, nhà thơ dùng từ quạnh như một sự tỉnh lược tối đa, để diễn tả hoàn cảnh tuyệt đối cô độc.

Có thể thấy, cô đơn là cảnh ngộ thường nhật của nhà thơ từ thời “đầu xanh tuổi trẻ”. Biến cố xảy ra năm 1970, thời điểm ông viết liên tục một số bài thơ quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của mình, đó là những bài thơ dài, có dung lượng như trường ca: Đêm khép cửa, Những cánh hoa màu đen, Nghìn cây số bóng tối, Bàn tay trái... Bài thơ Quạnh cũng ra đời vào thời điểm này. Về sau, những hoàn cảnh mà ông phải đối mặt còn khốc hại hơn nhiều, như ta đọc sau các rãnh chữ thơ ông, nhưng đến lúc đó thì nghiệm sinh của ông đã khác. Nỗi cô đơn ấy “không chỉ là sự cô độc về mặt thể chất mà còn là cảm giác cô quạnh sâu sắc có tính chất hiện sinh, vừa là nguồn gốc của nỗi buồn vừa là cơ hội để con người tự khám phá bản thân”, đó là định nghĩa về nỗi cô đơn bản thể luận (ontological solitude). Nỗi cô đơn bản thể luận ở các nghệ sĩ đích thực, “là trải nghiệm cơ bản của tình trạng cô đơn, một mình trong thế giới, tách biệt với những người khác và thường là tách biệt với cảm giác thuộc về cái gì đó hoặc mục đích nào đó” (Wikipedia).

Thơ ông từ sau bài Quạnh, không còn nói về hiện thực bên ngoài, như người vẽ tranh không còn vẽ theo lối biểu hình, vẽ cái ngoại hiện về nỗi cô đơn nữa. Quạnh là lần hiếm hoi của hội hoạ trình hiện trong thơ Phan Đan, lời thơ trong trẻo, thuộc về giai đoạn sáng tác sớm. Sau này, bút pháp của nhà thơ thay đổi theo cảm thức thẩm mỹ, ông tập trung vào thao tác nội quan. Thơ ông từ đó giống như hội hoạ trừu tượng, tập Thơ PHAN ĐAN là cả một gallery tranh trừu tượng, phi biểu hình, phi truyền thống, làm khó những độc giả chưa quen với loại hình nghệ thuật này, trong đó có tôi.

3. Từ cô đơn-quạnh đến cô đơn bản thể

Thực ra, ngay ở câu kết của bài thơ Quạnh cũng chính là câu mở ra nỗi cô đơn bản thể luận. Quạnh khắc họa một nỗi buồn hiện sinh, sự trống vắng giữa không gian và thời gian, và tâm hồn con người trong khung cảnh cô tịch, trời đất cũng cô đơn như con người. Triết học hiện sinh cho rằng mỗi con người đều có một bản thể riêng biệt và duy nhất trong thế giới này. Cô đơn bản thể luận là cảm giác cô đơn xuất phát từ chính bản chất của việc làm người – một cá thể có ý thức, biết rằng mình tồn tại, và cũng biết rằng không ai có thể hoàn toàn thấu hiểu, chia sẻ. Cô đơn bản thể luận không đến từ việc không có ai bên cạnh, mà đến từ việc không ai có thể thực sự đồng hành trọn vẹn trong thế giới nội tâm của mình. Nhận ra sự tách biệt vĩnh viễn giữa bản thân với người khác, nhà thơ chấp nhận và không còn than thở. Triết học hiện sinh cũng cho rằng con người là một hữu thể bị ném vào thế giới – một thế giới rộng lớn, xa lạ, không có câu trả lời sẵn cho sự hiện diện của mình. Trong cái nhìn đó, trời đất không nói năng, không an ủi: “Trời có nói gì đâu? Đất có nói gì đâu? Chỉ biết huy hoàng!” (Ba tuần nhang cho Henry Miller).

Những sự vật cô đơn xuất hiện dày đặc trong tập thơ: một mùa hè bé xíu cô đơn, một con chim ngủ quên cô độc, một thành phố trong tôi cô đơn và khuất khúc, ngón chân cái cô đơn, đỉnh kim tự tháp cô đơn, một cột linga đầy thách thức và cô đơn, đáy giếng cô độc, giọt mưa cô độc, hạt mưa cô độc, chiếc vỏ ốc cô đơn, cột đèn cô độc, bàn tay cô đơn, trái táo cô đơn, chiếc lá cô đơn, một ly cô đơn, thu rất thu là màu chát chúa của cô đơn. Đúng như ông thừa nhận: “Mỗi mảnh thời gian, mỗi mảnh không gian/ đều thấm thía nỗi buồn cô đơn bản thể/ Cho tôi hiểu sự đánh dấu/ của từng đơn tử đi qua/Và cuộc đời/ từng hạt tối trôi xa…” (Ngày không dấu vết). Xé lẻ con người chưa phải là cuối cùng. Xé nhỏ sự vật thành từng đơn tử, thành “từng hạt tối”, cũng chưa hẳn là cuối cùng. Cái khuynh hướng phân ly đến tận cùng hiện lên sâu đậm trong tập thơ Phan Đan: Trong khoảng cách mong manh giữa hai khuôn mặt, giữa hai bàn tay hoặc chẳng còn khoảng cách nào giữa hai đôi môi, vẫn tồn tại một vũ trụ khác lạ và trơn trượt… (Vài mảnh vụn cho thơ)

4. Cô đơn như một lựa chọn

Nỗi quạnh hiu bản thể luận luôn choán đầy tâm trạng con người, đặc biệt là ở các nghệ sĩ đích thực. Chữ đích thực (authentic) theo nghĩa hiện sinh, dám đối diện với cái chết, tự do, trách nhiệm. Chiều ngược lại, phi đích thực (inauthentic), là buông theo đám đông, né tránh tự do, chạy trốn ý nghĩa. Nhà thơ nói rằng: “Cho đến bây giờ, tôi vẫn thấy dường như thơ mình chẳng ăn nhập gì với người đọc, giả sử là tôi có người đọc.” (Phan Đan, Một vài kỷ niệm với anh Đặng Đình Hưng). Diễn ngôn này được diễn đạt khoan hoà và tế nhị nhất có thể, nhưng đằng sau đó là tảng đá hiện sinh Sysiphus mà ông đẩy lên con dốc cuộc đời, không hi vọng sẻ chia, không tầm cầu danh lợi hay sự công nhận. Nhà thơ cơ hồ không có lí tưởng nào khác ngoài sự trút bỏ từng gánh nặng bên trong ông, một hành vi dường như luôn quá sức. Thơ ông chỉ là sự chia sẻ cho chính ông. Mỗi bài thơ như một hành trình đầy khó nhọc về sự thấy-biết của mình. Vì vậy, đối với người sáng tác khác, họ phải xác định “là” rồi mới “làm”. Với Phan Đan, “làm” rồi mới “là”, theo cuộc hiện sinh của riêng ông, ngay từ khi ông được/bị ném vào đời như một số phận. Thơ ông viết ra là đã kết thúc, và có thể xé bỏ không thương tiếc: “Rất nhiều câu thơ dệt trong mơ, anh đớn đau xé bỏ,” (Nơi em bỏ lại).

5. Nhà thơ cô đơn và con người suy tư

Thơ Phan Đan là những ghi nhận từ thế giới nội tâm. Nhân vật trữ tình, và cũng là chủ thể trữ tình, trong thơ ông triền miên thao thức, suy tưởng: “Đến trước biển nghìn triệu năm sóng gió, Tôi đắm chìm vào suy tưởng cô đơn…” (37 tuổi đời tôi). Và luôn đi tìm lời giải cho những câu hỏi siêu hình: Như một hòn sỏi không mòn/ trong ngọn thác triền miên suy tưởng… Suy tư là anh em sinh đôi của cô quạnh: “Nhoè toạ độ tâm bão rớt/ chỉ có mưa thôi cho một thời để khóc/ Tôi nhặt từng hốc đen suy tư khoét trắng cuộc rơi rì rào cô quạnh/ Thấm thía mình tận tuỷ hoàng hôn và xuống đáy giọt mù.” (Mưa tháng Bảy - Những bức tranh úp mặt vào tường). Một nhà thơ đích thực cũng là một nhà tư tưởng chỉ sống trong thế giới ngôn từ của riêng mình, vì thế mà họ cô đơn. Nghệ sĩ đích thực phải có tư tưởng. Suy tư là chiếc cầu của tư tưởng. Tư tưởng và phong cách là hai trụ đỡ cốt lõi của văn chương. Và đó luôn là ước mơ sinh tử của những nền văn nghệ vừa không có truyền thống tư tưởng vừa có lịch sử văn học sơ sài. Đơn độc cũng là tên gọi khác của cô đơn.

Thơ Phan Đan như một “cuộc rơi rì rào cô quạnh” còn là tất yếu ở một thời mà ông gọi là thời của quẻ Minh Di theo Kinh Dịch, rằng: “Sơ cửu: Minh di, vu phi thùy kì dực.” Ở thời u ám, ánh sáng bị tổn hại, như con chim muốn bay mà cánh rũ xuống. (Phan Đan, Một vài kỷ niệm với anh Đặng Đình Hưng).

Thơ ông không dành cho đại chúng, cho đám đông. Nói như Arthur Schopenhauer, “Điều mà bầy đàn ghét nhất là những kẻ có suy nghĩ khác biệt; không hẳn là vì bản thân ý kiến ấy, mà là vì sự táo bạo muốn tự mình suy nghĩ, điều mà họ không biết cách làm.” (What the herd hates most is the one who thinks differently; it is not so much the opinion itself, but the audacity of wanting to think for themselves, something that they do not know how to do). Trong tập Thơ PHAN ĐAN, tác giả có nhắc tới “những tập thơ trơ trọi”: “Ai sẽ khâu lại mạch máu cho tôi/ khi trái tim bị bắt?/Những tập thơ trơ trọi ai nuôi?” Thơ ông “trơ trọi” từ nguyên lý của quy luật xung đột tiếp cận/né tránh đối với nghệ thuật, khi mà nghệ thuật “triển khai những đường biên giới mênh mông của đời sống” – triển khai những gì đang ở trên đường biên của nhận thức và của ngày mai. (Tản mạn về thơ).

Cho nên, nếu thơ ông không có độc giả, nếu con người thể lý của ông bị cô lập trong “vũng quạnh”, thì cũng là sự thường và nhà thơ cũng chẳng lấy đó làm điều: “Đêm xuống rồi, em đã ở rất xa/ Cơn mưa đã rơi, thì thầm rung động/ Cũng đã xa, thật xa những đói rét tù đầy, những kinh hoàng vô vọng/ Anh chỉ còn nghe đâu đây tiếng rền trong tâm tưởng…” (Chuyến bay lúc 13h). Mà, ngay cả “tiếng rền trong tâm tưởng” ấy, tôi nghĩ, có lẽ đến nay cũng đã dứt bặt, đã đạo đoạn, từ lâu rồi.

6. Cô đơn như cảm hứng sáng tạo

Như một ly cô đơn/ sủi bọt giữa đêm giao thừa/ loé lên đuôi mắt,/ Tôi buông dài giấc ngủ/ vào cánh cửa men say…” (Ngày không dấu vết). Cô đơn là điều kiện cần của sáng tạo nghệ thuật. Bởi sáng tạo nghệ thuật là hành động tự do tuyệt đối cho dù nó dẫn đến nỗi đau cô đơn: “Chẳng có đoá hoa nào thuộc về ngươi, đích thực là ngươi quằn quại nở/ Ta ruồng bỏ ngươi, chúng ta ruồng bỏ ngươi, hỡi cơn đau mạn tính/ Trên hình hài ngươi chói sáng, chúng ta phủ kín một lời nguyền./ Ngươi sinh ra thế nào dưới bóng đen ngôi đại hùng tinh câm lặng./ Ngươi sẽ chết đi thế ấy trên đỉnh vòi vọi của khiếp sợ và cô đơn.” (Ngày cuối hạ). Như một định mệnh, Phan Đan mang vác cây thánh giá nghệ thuật vào hành trình thương khó của riêng ông. “Dìu bước chân kẻ tâm thần vào mạch đập quạnh hiu” (Trở lại mùa thu). Cuộc đời của nhà thơ đích thực nào cũng là một cuộc thương khó trong thế giới ngôn từ của riêng mình. “Mưa rơi cho trời buồn,/ Thuỷ tinh trút trong hồn giọt thời gian tơi tả/ Tôi trở lại giữa rêu cùng đá/ Ngày ứa mưa thương kẻ ra đi tìm bóng mặt trời/ Này là nước mắt của nước mắt ta, hỡi nòi đãng tử!” (Trở lại mùa thu).

7. Cô đơn như một hành trình tỉnh thức

Thế giới ngôn từ ấy có những âm vang của thuở hồng hoang, thuở chưa có sở tri sở đắc và những tập nghiệp của loài người: “Tôi chỉ xin em/ lửa/ đốt trên những cành cây khô/ và hai hòn đá đạp vào nhau./ Tôi chỉ xin em/ những món ăn sống sít/ và bộ quần áo da thú hay lá cây./ Tôi chỉ xin em/ nắng/ đầy hai bàn tay/ tôi đưa lên quá đầu/ và đôi mắt mê tín/ vào một vũ trụ/ chưa ai giải thích …” (Những cánh hoa màu đen).

Như một hành vi tín ngưỡng, van xin “nắng/ đầy hai bàn tay/ tôi đưa lên quá đầu”, nhà thơ khao khát trở về với tuổi thơ của nhân loại, trở về với tâm hồn tiền sử, để tin “vào một vũ trụ chưa ai giải thích”. Trong các tín ngưỡng nguyên thuỷ, sự tồn tại của vũ trụ gắn liền với những sức mạnh siêu nhiên không thể giải thích. Đó là khi con người chưa bị tha hoá bởi các diễn ngôn – bởi lời giải thích nào cũng là một diễn ngôn, một sản phẩm ngôn ngữ. Ngôn ngữ là công cụ chủ yếu và thành tựu chủ yếu của văn hoá, thật ra cũng là tác nhân khiến con người đánh mất mình trong những khái niệm trừu tượng mà ngôn ngữ tạo sinh. Ludwig Wittgenstein cho rằng: “Nếu chúng ta nói một ngôn ngữ khác, chúng ta sẽ tri giác một thế giới khác” (If we spoke a different language, we would perceive a somewhat different world). Ngôn ngữ định hình và khai triển thế giới tinh thần của con người nhưng cũng khiến con người đi xa khỏi nhận thức uyên nguyên, bởi chính ngôn ngữ tạo ra xiềng xích của tư tưởng. Và thứ mà chúng ta xem là sự khai sáng cũng là thứ khiến Adam và Eva bị đuổi khỏi vườn Địa đàng.

Vượt qua ngôn từ, khái niệm, vượt lên hình tướng hư vọng để qua tánh biết vô ngôn mà chạm vào bản lai diện mục, đó là hành trình giác ngộ. “Chẳng cần thấy em xô nếp trán ưu phiền,/Bãi bồi thương bãi lở,/Cơn điên toé tung trong gương vỡ,/Mới biết con đò sám hối với bờ đau.” (Prelude 1085).

Sống giản dị, trong sáng và tĩnh tại trong nội tâm cũng là dáng dấp khác của cô đơn. Đó là độc hành kỳ đạo trong Khổng đạo, là độc cư thanh tịnh của Phật đạo, hoặc cửa hẹp để vào Nước Trời trong đạo Kitô. Đó cũng là hành trình tỉnh thức. Người tỉnh thức thoát khỏi hang sâu, ra khỏi cộng đồng của những “chủng tộc mất bóng bẩm sinh” (Bản cantata của gió). Một bậc giác ngộ đã chia sẻ trong một bài pháp, rằng: “Những người bước trên con đường tỉnh thức mang theo nỗi cô đơn, không phải nỗi cô đơn áp đặt từ bên ngoài, mà là sự thấu hiểu sâu sắc khiến việc kết nối thông thường trở nên khó khăn. Họ thấy vẻ đẹp trong không gian tĩnh lặng, nơi sự thật hiển lộ. Người tỉnh thức không còn than thở về nỗi cô đơn, bởi họ biết đó là tự do – tự do để để thấy thế giới đúng như nó là. Nhìn thế giới đúng như nó là khiến mọi thứ quen thuộc tan biến. Người tỉnh thức không còn tham gia các giấc mơ tập thể, họ trở thành kẻ ngoài cuộc, không phải vì họ từ chối thế giới, mà vì thế giới không còn nhận ra họ.”… “Khi thức tỉnh, họ không còn phù hợp với khuôn mẫu cũ, không phải vì xung đột, mà vì không còn gì níu giữ họ. Họ đối diện với sự trống rỗng bên trong và thấy đó là không gian nhận thức vô hạn. Người tỉnh thức chấp nhận cô đơn như trạng thái tự nhiên, vì biết cái gì đích thực sẽ tự đến.”

Sau hết, điều đó có nghĩa là khi được một mình, tâm trí chúng ta không bị ô nhiễm bởi xã hội, bởi “sự ồn ào trong vũ trụ tối tăm”. Hình như Krishnamurti cũng đã nói tương tự như thế. Và đó cũng là lý do khiến người đọc như tôi bị hấp dẫn đến mức mê hoặc bởi hành trình cô đơn trong thơ Phan Đan.

Huế - Hà Nội, tháng 12/2025