Danh ngôn

Trong mọi cộng đồng, chúng ta cần một nhóm thiên thần gây rối.

We need, in every community, a group of angelic troublemakers.

(Bayard Rustin – trích bài phát biểu tại New York City 1963)

Trong mọi trường hợp, chắc chắn rằng sự thiếu hiểu biết, đi kèm với quyền lực, là kẻ thù tàn bạo nhất có thể có của công lý.

It is certain, in any case, that ignorance, allied with power, is the most ferocious enemy justice can have.

(James Baldwin - No Name in the Street 1972)

Các cuộc cách mạng và các cá nhân có thể bị giết hại, nhưng bạn không thể giết chết các ý tưởng.

While revolutionaries and individuals can be murdered, you cannot kill ideas.

(Thomas Sankara, một tuần trước khi bị ám sát, 1987)

Không có cảm giác nào cô đơn hơn việc bị chính đất nước mình trục xuất.

There's not a more lonely feeling than to be banished by my own country.

(Kiyo Sato – Kiyo’s Story 2009)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Bất hạnh

Bút ký Thiện Tùng

A.

“... Đưa cha nó vào đây mấy hôm, chúng tôi chẳng thấy ai ngoài nó. Chúng tôi cần chi gọi nó, bàn gì cũng với nó. Nó dành tất cả cho cha nó, một mình nó lo trong lo ngoài, chạy tới chạy lui như con thoi. Nó mua cơm cháo, sữa, trái cây… về ép cha nó ăn.

Dường như nó chỉ ăn những thứ mà cha nó không ăn hoặc ăn không hết. Ngày cũng như đêm, đi đâu thì thôi, khi về nó lau cho cha, bắt ghế cóc ngồi dựa vào giường cha nó, nó chỉ ngủ khi cha nó nằm êm, thức dậy ngay khi cha nó ho hoặc cựa mình. Khi đưa cha nó vào phòng cấp cứu, ở bên ngoài nó không hề ngồi, cứ đi tới đi lui như gà mắc đẻ. Khi báo cha nó qua đời và hỏi nó xử lý cái xác bằng cách nào, nó đứng như trời trồng, chẳng nói chẳng rằng. Ít lâu sau, nó quẹt nước mắt, nói gọn: “Hiện tôi không có nhà, gia đình không còn ai ngoài tôi”. Nó mượn điện thoại gọi cho ai đó chừng vài phút rồi nói như khẩn: “Xin bịnh viện cho tôi giấy chứng tử cha tôi và giúp chuyển cha tôi sang nhà xác. Tôi sẽ nhờ công ty mai táng đem quan tài đến tẩn liệm. Xin bịnh viện cho để quan tài cha tôi ở Nvĩnh biệt qua đêm. Sáng sớm mai, tôi đưa cha tôi đi hỏa táng theo lời dặn của ông ấy. Đây là giấy chứng minh nhân dân và bằng đại học của tôi gởi cho bịnh viện. Tôi sẽ lấy lại nó khi thanh toán xong viện phí”.

Bịnh viện không nhận những giấy tờ ấy và thuận theo yêu cầu của nó.

Đêm ấy, ba bốn chàng trai trang lứa nó, mang đèn nhang đến ở qua đêm với nó. Nó tìm đâu ra mảnh vải trắng cột trên đầu lấy lễ.

Sáng hôm sau, công ty mai táng lại cho xe đến, quan tài để giữa, nó ngồi trước với bác tài, các chàng trai ém hai bên quan tài đi lò thiêu.

Chiều hôm ấy, với vẻ phờ phạc, nó đến bịnh viện cám ơn và xin thanh toán viện phí. Thương tình, bịnh viện miễn toàn bộ phí tổn – hơn 2 triệu đồng. Nó cúi đầu tỏ vẻ cám ơn rồi lững thững ra đi.

B.

– Nãy giờ ông kể hết nó thế nầy đến nó thế kia mà chẳng nói rõ xem nó là đứa nào, con cháu nhà ai… mà ra nông nỗi – bạn tôi thắc mắc.

– Đó là tôi tóm lược lại cho các anh nghe những gì các thầy thuốc và bịnh nhân ở bịnh viện Chợ Rẫy xúc cảm, nhắc tới nhắc lui thảm cảnh mà họ chưa từng chứng kiến, chớ tôi còn lạ gì nó. Nó là thằng Thông – Nguyễn Trí Thông, cha nó là Ba Chí – Nguyễn Hữu Chí.

– Chí nào, có phải Chí Phó Ban Tuyển sinh tỉnh Tiền Giang, viết báo, viết văn với bút danh Sĩ Tâm, đi bộ dạng như cò ho lao đó không?

– Chớ còn ai. Anh ấy con gia đình khá giả ở huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre, tốt nghiệp trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Sau khi tốt nghiệp, anh trốn gia đình đi Vệ quốc đoàn chống Tây, năm 1954 tập kết ra Bắc. Do thể hình mảnh khảnh, anh được chuyển sang ngành giáo dục. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm, anh cùng một số người khác vượt Trường Sơn về Nam tham gia kháng chiến chống Mỹ. Lúc bấy giờ, sư đoàn 9 Mỹ vào Mỹ Tho, lập căn cứ Đồng Tâm ở xã Bình Đức. Quân Mỹ “quậy” quá, người  ta nói ghẹo, thầy Chí nói riêng, giáo viên cách mạng nói chung, bằng bốn từ giáo viên mất dạy” – nghĩa là không có chỗ ổn để mở trường dạy học. “Không xay lúa thì bồng em”, anh Chí không ở hậu cứ mà xin tham gia chiến trường, làm bất cứ chuyện gì miễn có lợi cho cách mạng như bao người khác.

Những năm cuối cuộc chiến, anh được phân công chi viện cho thành phố Mỹ Tho, liên hệ giao công cho số giáo viên vốn là cơ sở cách mạng hợp pháp ở trường Nguyễn Đình Chiểu. Trong những thầy cô ấy, có một số người là bạn học của anh trước đây. Anh là một trong số người có mặt sớm nhất khi tiếp quản thành phố Mỹ Tho chiều 30/04/1975.

Thời chống Pháp trước đây, chống Mỹ sau này, Mỹ Tho bao giờ cũng được xem là thủ phủ khu Trung Nam bộ (*). Sở Giáo dục Khu Trung Nam bộ tiếp quản hệ thống giáo dục bảy tỉnh thuộc khu và đặt trụ sở tại Mỹ Tho. Ngoài công việc tham gia quản lý giáo dục, anh Chí còn làm giáo viên dạy Văn. Trong nói và viết tiếng Việt, anh Chí thường nói ngắn gọn, súc tích, ít tạp chất. Suốt một phần tư thế kỷ (1950-1975) không nói, không sử dụng tiếng Pháp, thế mà khi đất nước bắt đầu chú trọng ngoại ngữ, anh Chí dịch trình làng một số tác phẩm từ tiếng Pháp sang tiếng Việt chuẩn đến mức khiến không ít người từ bất ngờ đến ngạc nhiên, thán phục.

***

Cuối năm 1975, khi bốn mươi tuổi, anh Chí quyết định kết thúc quãng đời độc thân. Anh kết hôn với cô giáo Điệp, tuổi cô nhỏ hơn anh một con giáp. Trước lễ cưới mấy ngày, Sở Giáo dục tạm cấp cho anh chị căn nhà xập xệ trong khuôn viên trường Nguyễn Đình Chiểu để xây tổ uyên ương. Ít lâu sau, Sở Giáo dục báo: “Bên Tây vừa thông báo cho ta biết, nhà trong khu trường Nguyễn Đình Chiểu nói chung đã hết hạn sử dụng”. Có lẽ Tây nói đúng, tường nhà đổ vôi cát lòi gạch lỗ chỗ, dàn cây bên trên mối mọt gặm nhấm. Biết ở sẽ nguy hiểm, nhưng biết tìm đâu ra chỗ, đành phải trân mình bám trụ! Và đây cũng là nơi anh chị cho ra đời Trí Thông và em gái của nó. Họ cùng sống hạnh phúc trong ngôi nhà tạm bợ này.

Theo sự phân công của Sở Giáo dục, anh Chí rời giảng đường, làm phó Ban Tuyển sinh tỉnh. Chưa được bao lâu gặp vận rủi. Chị Điệp chở cháu gái đi nhà trẻ, đến ngã tư cầu bắc cũ, anh Đàng – người lái xe cho bí thư tỉnh ủy Huỳnh Văn Niềm, bất cẩn khi quanh cua, cán trọng thương hai mẹ con chị Điệp, chở đến bịnh viện chỉ còn thoi thóp. Nhìn vợ con thê thảm, anh Chí như người có xác không hồn.

Có lẽ không đủ can đảm chứng kiến, anh Chí lôi xểnh thằng Thông về nhà. Chỉ  trong vòng hai mươi phút, anh nhận hung tin vợ và con gái  tử nạn. Anh ngồi gục đầu, Thông đứng cạnh khóc thút thít. Cán bộ tổ chức đến đưa ý kiến với anh: “Nhà chật, đưa chị Điệp và cháu vào hội trường Đỏ tẩm liệm, làm lễ tang, sau đó đưa đi chôn ở nghĩa địa Bình Đức?”. Anh Chí đáp gọn: “Làm gì đó thì làm”.

Sắp đến giờ làm lễ truy điệu, ban lễ tang cho xe đến rước cha con anh. Chẳng nói chẳng rằng, anh ngồi thừ ra đó, vặn radio lớn hơn. Tôi nài nỉ mãi, anh tắt radio, ra sau rửa mặt, chải tóc rồi nắm tay Trí Thông lững thững ra xe chẳng nói chẳng rằng. Lễ tang vợ con mình mà anh như người ngoại cuộc, ngay khăn tang cũng đợi người bịt cho.

Đến nơi an táng, huyệt đã đào xong, quan tài đã hạ, phải dẫn cha con anh đến, lấy đất ấn vào tay rồi còn phải gỡ tay cho đất rơi xuống – coi như hạ lịnh lấp đất. Người ta mới bắt đầu lấp đất, anh nói như lịnh: “Cho cha con tôi về”.

Ban lễ tang cho xe đưa hai người sống và vong hai người chết về lại ngôi nhà đã hết hạn sử dụng. Từ đó ngôi nhà trở nên quạnh quẽ, bặt tiếng cười.

Khi anh Chí nghỉ  hưu, Sở Giáo dục dọn nhà kho gần cầu bắc cũ, tạm cấp cho cha con anh ở. Nhà tuy cũ nhưng còn chắc, lợp tiếp-rô, thấp lè tè, nắng như lò sấy, mưa lớn giọt mưa rơi trên nóc như máy bay rải bom bi. Nhà chỉ cách chỗ xe đụng vợ con anh vài chục thước. Anh thường đóng cửa ở rút trong nhà, hỏi ra mới biết, anh sợ nhìn lại hiện trường nhớ người thân quá cố.

Vợ con anh Chí chết thảm như thế, suốt mấy tháng trời, chẳng nghe ai nói phải quấy gì, buộc anh Chí có ý kiến. Dây dưa mấy tháng trời nữa, tòa án tỉnh mới cho mời bên nguyên cáo (Ba Chí), bên bị (lái xe Đàng) ra tòa. Việc rõ như ban ngày, nói tới nói lui đôi điều cho đủ lễ, tòa tuyên án đại khái: “Bên bị bất cẩn gây hậu quả nghiêm trọng, phạt án tù 2 năm. Sinh mạng người vô giá, vì vậy bên bị hỗ trợ cho bên nguyên 30.000 đồng…”.

Không đợi mời, anh Chí vừa giơ tay vừa đứng lên nói: “Sở dĩ tôi kiện buộc toà xử lý vụ án để khẳng định vợ con tôi thật sự là người chớ không phải cóc, nhái. Giờ đây có đem xử tử anh Đàng, vợ con tôi cũng không thể khác – chỉ khăn tang nối tiếp khăn tang? Tôi không nói lượng tiền như thế nhiều hay ít, tôi muốn nói hai chữ “hỗ trợ” mà tòa vừa tuyên – hỗ trợ là có đi có lại, còn “hộ trợ” là trợ giúp một chiều, đồng nghĩa với ban ơn, bố thí. Dầu nghèo, nhưng cha con chúng tôi chưa cần sự “hảo tâm” ấy. Yêu cầu tòa đổi hai chữ hỗ trợ hay hộ trợ  gì đó bằng ai chữ “bồi thường” trong văn bản. Nếu quí tòa không thỏa mãn yêu cầu nhỏ nầy của tôi ở đây, tôi còn có ý kiến ở nơi khác”.

Thế rồi, phiên tòa kết thức sau câu nói dứt khoát của thẩm phán: “Như đã nói, mạng người vô giá, nếu nói “bồi thường” biết sao cho vừa?”.

Anh Chí kháng án lên tòa án tối cao. Chừng nửa năm sau, tòa án tối cao – đoàn thường trú ở Sài Gòn, đến Tiền Giang, quần đảo mấy hôm, so hơn tính thiệt với nhà cầm quyền địa phương, mở phiên tòa phúc thẩm. Nói tới nói lui rồi kết thúc coi như y án – chỉ khác từ 30.000 lên 50.000 đồng tiền “hỗ trợ”.

Xem mòi anh Chí không còn bình tĩnh, giận run, đứng dậy buông ra một câu tôi còn nhớ: “Thôi đi, các vị nếu muốn còn sự tôn trọng”. Thế rồi anh lảo đảo rời khỏi phiên tòa. Thấy tội quá, tôi lấy xe mô-tô đưa anh về nhà. Đợi anh bình tỉnh, tôi hỏi:

– Vụ này anh tính sao nữa?

– Còn tính gì nữa! Quốc gia vẫn xử vậy thì đành – chẳng lẽ mình kiện ra quốc tế!?… Có điều, nếu không đổi chữ “hỗ trợ” hay “hộ trợ” gì đó bằng chữ “bồi thường” trong văn bản thì tôi quyết không nhận số tiền ấy.

Hàng năm giỗ chị Điệp và cháu, anh Chí mời tôi cùng một ít người thân quen khác. Lần nào cũng vậy, khách mời cùng chủ quét dọn, lau chùi… để rồi tiếp đón đôi ba món thức ăn do các cô giáo – bạn chị Điệp, nấu từ đâu đem tới. Lần nào cũng rập khuôn, sau khi cúng, dọn toàn bộ thức ăn lên cái bàn dài giữa hai cái băng gỗ xệu xạo, nam một bên nữ một bên, ăn chớ không có uống – anh Chí không hề đãi rượu. Anh Chí viêm phế quản, nói tiếng trống tiếng mái, ấy vậy mà anh cũng giương cổ xả tức: “Người ta đi Vũng Tàu nghỉ mát về nói: Gặp thằng Đàng đang quản lý nhà máy nước đá cho y ban tỉnh chớ đâu có ở tù như tòa tuyên án. Thằng Đàng ở tù hay ở ngoài đối với tôi không thành vấn đề, với tòa án thì có – nói một đàng làm một no”.

***

Hồi thằng Thông còn học ở tỉnh Tiền Giang, ngày đêm cha con hủ hỉ bên nhau chia sớt vui buồn, với đồng lương hưu trí cha con anh Chí gói ghém tạm bợ. Giờ đây, thằng Thông vào đại học phải lên Sài Gòn, đêm vắng canh buồn, bên bàn thờ hai người vắn số, anh Chí hiểu thế nào là tột cùng của sự trống trải cô đơn. Lương chuyên viên 5, năm 1985, vỏn vẹn có sáu trăm ngàn đồng tháng, anh Chí sớt cho thằng Thông bốn trăm ngàn đồng, anh chỉ phần còn lại. Với bốn trăm ngàn đồng, thuê chỗ ở, tiền trường, tiền sách vở, ăn cơm phần như người thất nghiệp mà hàng tháng hễ qua ngày 20 là nó nói với con tôi: “Nghĩa, tao sạch bách rồi, mầy cứu bồ”. Thế là chết đuối phải vớt chết trôi. Vậy mà sau hơn bốn năm, Nghĩa đậu Đại học Hàng Hải, Thông đậu Đại học Bách Khoa – khoa Mỹ thuật Công nghệ.

Thằng Thông có chí, sáng dạ và có hoa tay, mới đại học năm thứ hai mà nó trổ nghề chép tranh. Tranh nó chép khỏi chê, nhập chung khó phân biệt đâu là bản mẫu. Mỗi tháng nó lãnh về chép được ba bức, mỗi bức một trăm ngàn đồng. Từ đó lương hưu của cha nó chia phần ngược lại – cha bảy con ba, vừa đỡ khổ cho anh Chí, và thằng Nghĩa cũng khỏi bao cho Thông vào những ngày cuối tháng.

Ở ủ trong nhà riết cũng oải, hàng sáng, anh Chí thả đi một vòng khoảng  gần một ngàn thước từ nhà đến vườn hoa Lạc Hồng, vừa cho giãn gân cốt, vừa xả thán hít dưỡng. Hễ mệt, anh trịch bên lề ngồi nghỉ. Tướng anh đi như cò ho lao, ngồi gục khò khẹt như gà mắc xương.

Bữa nọ, thấy anh Chí ngồi nghỉ mệt ở lề đường trước nhà hàng Chương Dương,  anh Trần Thế Yên mời anh vào nhà hàng đãi cà-phê sữa. Uống được chừng nửa ly, anh lật ngang sôi bọt mép. Thế Yên hộc tốc gọi xích-lô đưa anh vào bịnh viện cấp cứu. Yên gọi điện thoại cho tôi vào bịnh viện ngay để cùng toan tính. Tôi vào đến nơi, đã có kết quả xét nghiệm bước đầu: Anh Chí không phải bị ngộ độc mà bị tai biến mạch máu, liệt một bên người, đã đưa vào phòng hồi sức. Yên ghị tôi ngồi xuống băng đá, nói:

– Tụi mình đứa nào cũng bù đầu việc nhà, nhưng anh Chí lâm cảnh nầy cần phải có người túc trực chăm sóc. Nếu gọi Thông về chăm sóc cha nó thì sẽ ảnh hưởng việc học hành của nó. Nếu không tôi hoặc anh nhào vô, biết cậy vào ai?! Thôi thì hai đứa mình thay phiên nhau, ý anh?

– Khó cũng phải cố chớ nạnh ai, đành phải “Lá rách ít đùm lá rách nhiều”!

Với anh Chí, tôi và Yên đều không phải họ hàng – chỉ là chiến hữu, là bạn đời (không phải bạn đường). Đã là bạn đời thì đời đời vẫn là bạn, phải sinh tử bất ly.

Biết rằng “khóc nhục, than hèn, rên yếu đuối”, nói để biết, để cảm thông chớ không phải rên:

Thế Yên là cán bộ mất sức, vợ là nhân viên văn phòng tỉnh ủy. Yên vừa bị đuổi nhà, đang chạy chỗ lập cơ ngơi. Yên là kỹ sư Điện và kỹ sư Hóa, phải bươi mới có mổ. Yên mới khánh thành cơ sở sản xuất phân hữu cơ VAC, có hơn mười công nhân, đang bù đầu khâu quản lý nhân sự và kỹ thuật – hơ hỏng phá sản tiêu đời.

Còn tôi cũng chẳng sáng sủa gì, là cán bộ nghỉ hưu, thương binh mất sức 71%, ở nhà mướn, chạy cho ba đứa con đang học đại học muốn sặc máu, còn phải chăm sóc bà vợ bị bịnh ung thư vú sau bước mổ, đang hóa và xạ trị ngoại trú, xơ xác, đầu rụng tóc, trọc chát như ni cô.

Nhờ kết hợp điều trị, chăm sóc và nỗ lực của bịnh nhân, chỉ hơn một tuần, anh Chí cử động toàn thân, tự gượng đi tới lui tắm rửa, tiểu tiện. Ngày chủ nhật, chúng tôi gọi Thông về thăm cha nó rồi khuyên nó yên tâm trở lại trường lo việc học hành.

Khoảng hai mươi ngày sau, được bịnh viện đồng ý cho anh Chí ngoại trú ở nhà. Thế là ổn, Yên an lòng lo nhà cửa và cơ sở VAC, còn tôi chạy tới chạy lui lo cho “ni cô” và anh Chí. Cơm nước trưa chiều anh Chí tự ra quán Cây Me ăn cơm bình dân. Tiền hảo tâm do anh em gom góp tôi chêm thêm cho anh bồi bổ.

***

Một hôm tôi tới, anh Chí chìa cái thư cho tôi và nói: “Công ty nđất vừa đem tới, chú đọc kỹ để rõ tình đời”.

Bức thư rất gọn, nguyên văn: Kính gởi anh Huỳnh Văn Niềm, Bí thư Tỉnh ủy – Cách đây hơn ba năm, khi đến thăm tôi, anh nói: “Tôi sẽ bàn với Ủy Ban Tỉnh ký cho anh cái nhà này…”. Nếu không có gì thay đổi, các anh làm giấy cho tôi cái nhà tôi đang ở. Khi có chủ quyền, tôi sẽ bán nó, lên Sài Gòn tìm mua căn nhà nhỏ trong hẻm để cha con tôi cùng ở bên nhau. Sức khỏe của tôi ngày một kém, nhất là bịnh viêm phế quản hay bị nghẹt thở bất thường – Nguyễn Hữu Chí.

Anh Niềm bút phê dưới thư: “Gởi Nhà Đất – Anh Chí có yêu cầu lên Sài Gòn ở với con, các anh xuất quỹ cho anh Chí 5 triệu đồng, thu hồi nhà anh Chí đang ở lại cho chúng ta”.

– Vậy là Nhà Đất đem tiền đến cho anh rồi? – tôi hỏi.

– Không. Họ chỉ đem thư và khuyên tôi nên giữ nhà để ở, chớ 5 triệu đồng mà mua được cái gì. Ý họ hợp với ý tôi, chuyện cho hay không cái nhà đối với tôi không phải là chuyện lớn. Đáng nói, đáng buồn ở đoạn: “Thu hồi nhà anh Chí đang ở lại cho chúng ta” – Vậy vô hình trung, ông ấy không còn coi tôi là đồng chí hay đồng bọn nữa rồi?!

Tôi thầm nghĩ, anh Chí hiền như cục đất, chẳng lẽ do anh cãi cọ và chống án về cái chết của vợ con anh; hay là vì anh nghe lời tổng bí thư Nguyễn Văn Linh “chống tiệu cực” với bài viết gây chấn động Con gà đẻ trứng vàng nên anh bị liệt vào loại cứng đầu?!

Cuối năm 1997, ngân hàng nhà nước – chi nhánh Tiền Giang gởi thông báo gọi anh Chí đến nhận 700.000 đồng vốn lời tiền gởi tiết kiệm. Câu bọc chót: “Kỳ hạn trong 15 ngày, kể từ ngày ra thông báo nầy, nếu đương sự không đến nhận tiền, ngân hàng sẽ sung số tiền ấy vào công quỹ”.

Anh chí đến ngân hàng trả lại thông báo và nói:

– Các anh lộn tôi với ai rồi đó, tôi đâu có gởi.

– Hay là chị gởi ? – Ngân hàng đặt vấn đề.

– Vợ tôi đã chết hơn mười năm rồi!

Vì không nhận nên giả vờ không biết, chớ anh đoán chắc đó là tiền tòa xử bên bị “hỗ trợ” cho bên nguyên trong vụ vợ con anh tử nạn mà anh không nhận trước đây, người ta lấy tên anh gởi nó vào ngân hàng, lãi mẹ đẻ lãi con. Nhưng anh lại thắc mắc: “Kỳ lạ, ngân hàng nếu không nhận vay số tiền ấy thì khoanh nó lại (không chịu lãi) chớ đâu có quyền sung nó vào công quỹ – việc ấy thuộc chính quyền?” – Đã không nhận nói làm gì, sung đâu đó thì sung.

***

Sau năm năm đeo bám học đường, Thông tốt nghiệp Đại học Bách Khoa – khoa Mỹ thuật Công nghệ, xin được việc làm ở Nhựa Sài Gòn, lương tháng 4 triệu đồng. Thông ngỡ “đêm đã qua, bình minh sẽ đến”, không ngờ chứng bịnh viêm phế quản và suy hô hấp của cha mình ngày thêm trầm trọng, chu kỳ nghẹt thở nhặt hơn, mỗi khi lên cơn phải dùng phương tiện xịt khai thông phế quản.

Bịnh nghẹt thở mà ở một mình dễ chết khi lên cơn, Thông đến trại an dưỡng cán bộ Sài Gòn, nói rõ hoàn cảnh và xin cho cha mình được làm thành viên của trại. Khi được chấp nhận, từ Sài Gòn, Thông mướn xe về Mỹ Tho rước cha lên nhập trại. Ở trại có nhiều người cùng cảnh chuyện vãn, anh Chí vui và thoải mái hơn. Hàng ngày anh đóng 50 ngàn đồng phí ăn nghỉ và kiểm tra sức khỏe. Sau giờ làm, Thông về trại chăm sóc cha, tạo sự sum hợp dù tạm bợ.

Tháng 10/1999, cơ quan nhà đất gặp tôi nói: Tỉnh chủ trương phát mãi số nhà còn lại thuộc diện tỉnh quản lý. Nhà anh Chí thuộc diện đó, nhờ anh báo chủ trương này với ông Nguyễn Hữu Chí. Dù mua hay không cũng báo cho chúng tôi biết”.

Sau khi nghe tôi báo, anh Chí nói: “Nếu không cho mướn nữa thì lấy lại, tôi không có tiền mua”. Tôi phân tích thiệt hơn, cuối cùng anh Chí chịu mua, nhưng mọi thứ nhờ tôi.

Sau bước thuận mua, tôi nhờ công ty kinh doanh nhà đất tính giá và làm giấy tờ. Qua bước thăm dò, tôi gọi Thông về Mỹ Tho, bảo nó đến nhà đại lý giấy số, liên cư với nhà nó, ngã giá bán nhà. Lợi thế mặt tiền, liên cư, họ chịu nhận mua với giá 58 lượng vàng. Theo giao kèo, họ đưa trước 10 lượng để làm giấy tờ. Với 10 lượng vàng ấy, Thông đem bán, trả tiền nhà cho Nhà nước 33 triệu (đã trừ chính sách), phần còn lại đủ đóng thuế trước bạ và phí tổn đo đạc, làm giấy tờ.

Với 48 lượng vàng dôi ra, Thông lên Sài Gòn mua được căn nhà mới xây trong hẻm, diện tích xây dựng 40 mét vuông gồm một trệt, một gác lửng. Làm thủ tục giấy tờ, tiền bạc trả xong, còn năm ngày nữa mới nhận nhà, anh Chí ngã bịnh nặng phải chở đến bịnh viện Chợ Rẫy cấp cứu rồi qua đời như đã nói ở phần A.

C.

Theo giao hẹn, sáng hôm sau, một mình với chiếc mô-tô hiệu Honda tòng tọc, Thông đến cùng người lò thiêu gom xương tro từ xác cha mình đang nằm gọn trong khay cho vào hũ, hũ cho vào cái túi mà Thông đã cụ bị từ tối qua.

Trên đường về, Thông phải cho xe ép sát lề nhường đường cho đoàn xe tang bề thế đi ngược chiều. Xe chở quan tài rề rề đi trước, “làng nước” trên xe, dưới bộ thụ động theo sau – tất cả cùng tốc độ với người đi bộ. Âm lượng dàn nhạc chát  tai, liên hồi trổi lên âm điệu thê lương, khiến cho bất cứ ai trong tầm âm thanh của nó đều phải để ý. Gần nửa tiếng đồng hồ họ mới dứt đuôi, để lại sau biết bao là đô-la âm phủ rơi vãi trên mặt đường. Nhìn toàn cảnh đám tang bề thế, nhìn lại cái túi đựng hũ tro cha mình, Thông chạnh lòng, mệt mỏi đẩy xe ra, về nơi ở trọ.

Chưa đến ngày nhận nhà, sợ người ta rầy, Thông không cho ai biết hũ tro nầy. Khi đi làm Thông làm mang nó theo, khi về nơi trọ giấu nó dưới gầm giường. Cứ thế, đến khi nhận nhà, Thông lập chỗ thờ, đưa hũ tro lên cho yên chỗ.

Chừng tháng sau, Thông trở lại Mỹ Tho, ghé nhà tôi giữa trưa hè nắng đổ lửa. Nó vừa rửa vừa láp váp với tôi: “Hồi sáng tới giờ, cháu đào gốc, chặt rễ, đổ dầu hôi diệt gốc cây me keo to tướng, rễ nó ăn ruồng vào mộ mẹ và em cháu. Nghe nói khu nghĩa địa Bình Đức nhà nước đã quy hoạch, sẽ giải toả lấy đất làm gì đó. Khi có lịnh giải tỏa, cháu sẽ lấy cốt mẹ và em cháu đem thiêu, cho vào hũ, đưa lên bàn thờ chung với cha cháu, để người sống, người chết bên nhau”.

Thông ăn cơm, tôi xề bên đưa cho nó tiền ba tháng lương cuối đời và tiền mai táng phí của cha nó. Nó nhận rồi lần lượt trả lời những câu hỏi của tôi: “Cháu vẫn làm ở Nhựa Sài Gòn, lương tháng hơn 4 triệu đồng, có nhà, có xe gắn máy, có điện thoại cố định và di động… Đặc biệt, cháu đã sắm được dàn vi tính làm phương tiện tạo mẫu bán tăng thu nhập. Còn vợ thì đã chọn, khi nào cưới chắc phải nhờ chú hoặc chú Yên đại diện đàng trai?”.

Rất sẵn sàng!… –Tôi nói.

Viết từ TP Mỹ Tho

------------------------------------------

(*)  Trong chiến tranh, Nam bộ chia thành ba khu vực (miền): Đông Nam bộ hay Khu 7, lấy TP Sài Gòn làm đông đô; Trung Nam bộ hay Khu 8, lấy TP Mỹ Tho làm trung đô;  Tây Nam bộ hay Khu 9, lấy TP Cần Thơ làm tây đô.