Danh Ngôn

Tôi đồng ý với ông là có một giới quí tộc tự nhiên trong xã hội con người. Cơ sở của họ là đức hạnh và tài năng… [Nhưng] cũng có một giới quí tộc giả tạo đặt cơ sở trên tiền tài và gia thế, mà lại thiếu cả đức hạnh lẫn tài năng. .. Giới quí tộc giả tạo này là một thành phần quỉ quyệt trong chính quyền, và phải có biện pháp đề phòng để ngăn chặn thế lực của nó.

(I agree with you that there is a natural aristocracy among men. The grounds of this are virtue and talents… There is also an artificial aristocracy founded on wealth and birth, without either virtue or talents… The artificial aristocracy is a mischievous ingredient in government, and provision should be made to prevent its ascendancy.)

Thomas Jefferson (1743-1826), Tổng thống thứ ba của Mỹ. Thư viết cho John Adams, ngày 28 tháng Mười 1813

Các định chế quí tộc không thể tồn tại nếu không lấy sự bất bình đẳng của con người làm nguyên tắc cơ bản.

(Aristocratic institutions cannot exist without laying down the inequality of men as a fundamental principle.)

Alexis de Tocqueville (1805-1859), nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu chính trị, sử gia Pháp. “Democracy in America,” 1.18, 1835, Henry Reeve và Francis Bowen dịch ra tiếng Anh, 1862

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Con sáo biết nói

Truyện Thái Sinh

Năm học lớp hai, mẹ dẫn tôi về quê ngoại ăn giỗ. Cậu Tung cho tôi con sáo mới mọc lông măng. Chiều chiều tôi xách lồng sáo theo lũ trẻ chăn trâu ra đồng bắt cào cào. Tôi làm theo lời cậu, tập cho chim ăn mặn để chim quen không bỏ đi. Chả mấy chốc con chim đã mọc đủ lông đủ cánh. Khi nó biết hót, cậu tôi bảo: "Phải cắt một ít lưỡi thì mới dạy nó nói được". Tôi ngạc nhiên hỏi lại: "Vì sao lại như thế?". Cậu tôi đáp: "Không biết, nghe người ta bảo vậy".

Tôi làm theo lời cậu, mỗi ngày bỏ ra vài giờ dạy sáo nói. Mỗi lần nó nói được một câu tôi lại thưởng cho nó một miếng chuối hay một con cào cào béo mẫm. Con sáo khá thông minh, nó nói được cả những câu dài. Chả mấy chốc tiếng đồn về con sáo biết nói của tôi lan khắp làng trên xóm dưới. Không ít người đã đi hàng chục cây số để tới xem. Có người trên thành phố trả bố tôi hai chỉ vàng nhưng bố tôi không bán, "Nuôi nó cho vui cửa vui nhà...". Thỉnh thoảng nó vẫn theo tôi ra đồng, lũ trẻ chúng tôi cởi trần đánh trận giả, còn nó thì nhảy lên lưng các con trâu bắt rận.

Chiều ấy tôi để ý thấy đàn chim sáo từ đâu bay tới, chúng đậu trên lưng các con trâu hoặc nhảy lên các bờ ruộng tìm bắt cào cào, châu chấu. Chúng ríu rít bay từ ruộng nọ sang ruộng kia, con sáo của tôi cứ nghênh nghếch cái đầu nhìn đàn chim với sự lạ lẫm và cô đơn. Tôi chìa tay vẫy nó:

- Sáo ơi, lại đây...

Nó bay đậu lên vai tôi, nhưng vẫn nghểnh cổ nhìn đàn chim đang ríu rít trên đồng. Tôi vuốt bộ lông đen mượt của nó vỗ về:

- Đừng buồn nữa, chiều nay ta sẽ cho ăn chuối...
Nó dường như không nghe thấy tiếng nói của tôi, đôi mắt đen huyền vẫn đăm đăm nhìn theo đàn chim. Và tiếng gọi đồng loại đã mạnh hơn tôi, nó xòe cánh bay về phía đàn sáo, đầu vẫn nghênh nghênh như chẳng hiểu gì.

Đàn sáo thi nhau hót. Dường như không chịu nổi, con sáo của tôi cũng vươn cổ: "Nhà có khách... nhà có khách...". Tiếng của nó làm đàn chim sững sờ, chúng nhớn nhác nhìn ra xung quanh. Con sáo của tôi lại tiếp tục: "Xin chào ông bà... xin chào đại ca...". Lần này tiếng của nó làm đàn chim hốt hoảng bay tóa lên, con sáo của tôi nhìn theo đàn chim ngơ ngác. Trong phút chốc nó cũng vụt bay theo, vừa bay vừa cất lên những câu tôi dạy, càng làm cho đàn chim hốt hoảng bay nhanh hơn.

Tôi vừa chạy theo nó vừa gọi, dường như nó chẳng nghe thấy tiếng tôi, cứ bay theo đàn chim. Thế là mất, tôi ngồi xuống bờ ruộng thẫn thờ nhìn đàn chim lẫn vào đám mây màu cỏ úa cuối chân trời. Tôi đánh trâu trở về nhà. Biết tin này, mẹ tôi xuýt xoa:
- Biết thế, hồi ấy bố mày bán quách cho người ta lấy hai chỉ vàng có hơn không!
Bố tôi thì bảo:
-Thế là giải thoát nó khỏi sự tù hãm và khỏi phải nói những lời nhạt hoét của con người...
Tôi buồn vì mất một người bạn thân thiết.

Ngờ đâu ba ngày sau con sáo bay trở về, với tấm thân tả tơi. Rất có thể đồng loại không chấp nhận nó, một kẻ lạc loài. Mẹ tôi bảo: "Chắc cu cậu không quen ăn nhạt". Bố tôi lại chép miệng: "Thật tội nghiệp...".
Tôi nhốt con sáo vào lồng. Con sáo trở nên trái tính trái nết, nó không chịu học thêm những câu mới, suốt ngày chỉ nhại đi nhại lại những câu tôi đã dạy.

Ba tháng sau, con sáo chết vì rách họng. Mẹ tôi chép miệng thở dài. Bố tôi bảo: "Thế cũng là cách tự giải thoát…". Tôi thì tiếc ngẩn ngơ, vì từ nay tôi mất một người bạn.

Chị tôi năm ấy đang học lớp sáu đã ghi vào sổ tay: "Tuổi của một con sáo biết nói tiếng người là hai mươi mốt tháng, năm ngày".

Tôi chôn con sáo ở gốc me ngoài cổng, đêm đêm tôi vẫn nghe tiếng nó cất lên, cô đơn trong gió lạnh.

(Rút trong tập Thuyền lá)