Danh Ngôn

Trong giáo dục không có gì kinh hoàng bằng mức độ dốt nát mà nó tích lũy lâu dài dưới dạng những kiến thức xơ cứng.

Nothing in education is so astonishing as the amount of ignorance it accumulates in the form of inert facts.

Henry Adams (1838-1913). The Education of Henry Adams, 25, 1907

Một chút học vấn ít ỏi, thật ra, có thể là một điều nguy hiểm, nhưng thiếu học vấn [giáo dục] là một đại họa cho bất cứ một dân tộc nào.

A little learning, indeed, may be a dangerous thing, but the want of learning is a calamity to any people.

Frederick Douglass, diễn văn đọc ở lễ ra trường tại Trường Trung học Da màu, Baltimore, Maryland, 22 tháng Sáu 1894

Người tự do không thể làm một người dốt nát lâu dài. (The free man cannot be long an ignorant man.

William McKinley, diễn văn đọc tại Pittsburgh, Pennsylvania, 3 tháng Mười Một 1897

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Mùi thuốc súng

Truyện Nguyễn Văn Thọ


Văn Việt xin giới thiệu truyện ngắn “Mùi thuốc súng” mà nhà văn Nguyễn Văn Thọ vừa gửi cho chúng tôi.

Những dư âm của cuộc chiến khi nhìn lại từ hai phía đều bộc lộ một nỗi ngậm ngùi không chối cãi. Dù sống sót để trở về với làng quê và gia đình, người cựu binh năm xưa vẫn không thể thoát khỏi những thực tế tàn nhẫn đã trở thành gánh nặng vượt quá sức chịu đựng mà kẻ đã tiêu phí cả tuổi thanh xuân để có mặt ở chiến trường chưa bao giờ hình dung tới…


Chiến tranh chấm dứt. Anh đòi trở về quê nằng nặc, từ chối tất cả mọi ưu đãi, thăng hàm, đề bạt, chỉ mong về quê. Với anh, cuộc chiến đã xong, đất nước đã hòa bình và thống nhất. Quê hương là tiếng gọi duy nhất, sau mười hai năm anh ra đi.

Suốt cả chuyến tàu trở về, dường như anh không thể ngủ cho ra ngủ, cứ vừa thiêm thiếp là lại chập chờn mơ. Giấc ngủ bồng bềnh, lắc lư như con tàu, đầy những cơn mộng mị. Khi thì vui, lúc lại buồn. Trong cơn mê sảng, anh thấy thầy, thấy u, thấy rõ cả mảnh vườn xơ xác, mái nhà anh lợp rạ; lại thấy mồn một cái cầu ao mà ngày đi, trước khi ra đình hai tiếng, để đứng vào hàng quân, anh vẫn lột trần ra, lội xuống cố đóng thêm hai cái cọc tre vào đầu cầu, giữ cho chắc tấm ván không cập kênh. Anh muốn vợ không sợ nữa khi ra ao giặt giũ, rửa rau, vo gạo. Và, trong mơ, có lúc anh còn ngửi thấy cả mùi tóc, mùi miệng, mùi môi, cả mùi nách nồng nồng nhưng đã ngấm vào anh của vợ. Mơ thấy vợ, rồi con, đứa con gái anh chưa biết mặt, anh choàng tỉnh. Bật phắt dậy, không thể ngủ được nữa! Ra đầu toa, đứng nhìn vào đêm đen thẫm, anh đốt liền ba bốn điếu thuốc. Sao tàu đi chậm thế!?

Quay lại toa tàu nơi có chỗ của anh, lại mở ba lô lần đếm. Cái này cho con gái, cái này cho thầy, cái này cho u, cho vợ nữa và, còn những cái này, bao kỉ vật cuộc chiến của anh. Chiếc poncho rằn ri, mấy múi dù hoa. Con dao găm Mỹ chuôi bằng các vòng gỗ kết vào nhau và túi mìn Claymore... Anh lật đi lật lại trên tay vật cuối cùng, một bánh TNT, loại thuốc nổ cực mạnh. Thỏi thuốc hình bánh khảo, màu vàng. Anh đưa lên mũi ngửi.

Mùi thuốc súng.

Cái mùi theo anh suốt bao năm, để mỗi khi hít phải, anh có cảm giác rất lạ. Nửa đam mê, nửa như sợ hãi, lại như cho anh sức mạnh tựa khi mộng du. Rồi tỉnh táo lạ thường. Anh là đặc công, lính đặc công quần xịp, bôi tro đen kín khắp thân người, để anh lẫn vào bùn đất, vào bóng đêm, áp sát đồn, căn cứ địch với nhiều kíp nổ và vài khối thuốc nổ đã tra kíp, dao găm và thủ pháo, AK 47 giảm thanh báng xếp.

Ừ, cái thứ thuốc chết người ấy, tỏa ra một mùi vị khó quên, không thể tả nổi. Mỗi khi bật chốt điểm hỏa; lửa đỏ bùng lên trong nháy mắt tạo ra sức ép kinh khủng và mùi thuốc súng tỏa ra, để anh nhao vào điểm đánh khác như tan vào nó. Mùi ấy sau bao ngày, lâu năm ngấm vào từng tế bào trong anh.

Anh ấn sâu thỏi thuốc vào ba lô. Hòa bình rồi chả cần nó nổ nữa, anh rút kíp vất đi trước khi giữ nó làm kỉ vật.

Mỗi con người có một thời kỉ niệm. Khi con người ta thuộc về một lớp lứa, một thế hệ, cụ thể hơn ở đây là anh đã thuộc về một đơn vị đặc biệt, phải giữ nó để nhớ, nhớ về một thời họ đã trải qua, khi thỏi thuốc ấy, mùi khói ấy cũng gắn bó với tất cả, trong cuộc sống sinh tử của đồng đội, thằng còn, đứa mất. Và, trong cái mùi dễ khơi lại ấy ở anh từng khuôn mặt, từng kỉ niệm bừng hiện ra thật rõ như hôm qua… Cái mùi theo anh suốt bao năm, mùi bi hùng của đời lính đặc biệt...

Rồi con tàu cũng về tới ga Hà Nội.

Anh quyết định đi bộ, sải chân về làng. Ăn nhằm gì! Từ ga Hàng Cỏ tới Kinh Bắc có bao xa? Anh muốn nhìn lại tất cả, từ ga tới làng anh, bên kia con sông, nơi cách đây mười hai năm anh giã từ nó, chưa một lần trở lại.

***

Nhà đây rồi. Anh hồi hộp nới sợi thép buộc cổng. Rón rén, lách qua hàng dậu cúc tần.

Những sợi tơ vàng quấn trong bụi cây, trong ánh trăng lấp lánh sương ướt, vẫn phân biệt được màu vàng của dây tơ hồng và màu xanh của lá, dầu là muôn kiếp, chúng cứ quấn quýt bên nhau.

Trăng chiếu xéo vào cửa nhà anh. Anh nhận ra bậu cửa vẫn xiêu vẹo. Cái hiên đất nện nứt nẻ. Lòng anh thắt lại...

Bấy giờ không còn chần chừ được, anh lao vào nhà.

- Ai thế!- Có tiếng người rè, khản vọng ra.

Anh im lặng. Rón rén! Khe khẽ:

- Tôi, tôi đây.

Tiếng chân từ trong chái nhà bước ra chầm chậm. Đúng là vợ anh rồi. Cái dáng ấy bao nhiêu năm sao mà lẫn với ai được.

Anh chợt sững lại. Vợ anh ư?! Sao trên tay lại có đứa trẻ nào thế kia?

- Ai đấy? Tiếng người run rẩy hỏi.

- Tôi đây? - Anh sấn tới như gió, ùa vào ôm vợ.

Sao vợ anh hờ hững và chợt như xỉu ra.

- Thầy u đâu cả? – Anh nói, nhìn quanh gian nhà lạnh ngắt.

Người đàn bà hình như đã nhận ra anh:

- Trời ơi! Mình đấy à? Tôi mê hay tỉnh đây? Trời ơi, mình hay ma?- Người đàn bà sụp xuống, lạy:

- Anh có khôn thiêng phù hộ mẹ con tôi, đừng làm tôi sợ.

Nói xong, người đàn bà bỗng khuỵu xuống, ngất xỉu. Anh đỡ vợ. Đúng hơn là đỡ cả người đàn bà và đứa trẻ như con chim non bấy trong vòng tay.

***

Chuyện anh về cả xóm, cả làng ồn lên. “Thằng Thánh về rồi. Chuyến này chắc nó giết con đĩ Thơm. Vợ con chó gì, ngủ với cả bố chồng, lại đẩy ông ta tới mức tự tử”. Ối trời, cái làng nhỏ như bàn tay ếch ồn ĩ, xì xào, rì rầm, thì thào như cái chợ âm phủ, rỉ rả quanh câu chuyện của gia đình anh. Nhưng anh không điếc, tiếng người ta cứ như rót vào, đổ vào tai, như cố xoáy, day, cứa cho bằng nát cõi lòng của anh mới thôi.

Anh trốn tránh tất cả. Trốn cũng không yên. Ngày, đêm nằm chết lặng trong góc giường tối, ba bốn ngày không ra khỏi nhà. Người ta như vô tư tới thăm người lính trận đột ngột trở về. Người thương anh ái ngại nhìn, ngập ngừng nói. Nhưng anh lại như đau thêm vì tình thương ấy. Kẻ tò mò thọc mạnh cũng nhanh chân đến. Cả hai điều ấy chỉ làm cõi lòng anh thêm nhức nhối, bởi người lính từ cõi chết trở về đâu cần thương hại.

Hóa ra vượt qua hàng rào lửa ở chiến trường còn dễ hơn khi nghe, nhìn, rồi cảm thấy nỗi đau rất rõ ràng của chính mình ở ngay trong cái làng của anh. Anh quyết định rào kín cổng, quây tre cao hơn những những hàng cúc tần, bít chặt cả những lỗ thủng to bé quanh nhà, thậm chí tất cả lỗ chó chui.

Từng đêm vắt tay lên trán, anh nằm, giữa một bên là con gái anh, mười hai tuổi, tính ra đúng là tuổi sinh ra từ ngày anh ra đi; một bên là em trai anh mới hơn một tuổi... Chẳng thể nào ngủ nổi, và anh như muốn chôn sống mình trong chính ngôi nhà, khu vườn cha ông, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi đã nuôi anh lớn khôn.

Anh ôm đứa em trên tay khi nó cựa quậy, ú ớ đòi mẹ. Sao nó giống anh thế? Anh đi sang mái nhà bên, nơi thầy u anh ở, thắp hương cho thầy, rồi lại ôm lấy mẹ. Những khi ấy, anh để nguyên cho mẹ khóc. Anh không thể khóc được nữa. Nước mắt mẹ ướt hết vai anh. Trên bàn thờ, cha anh cứ nhìn anh trân trân. Cái ảnh mờ mốc, nhưng đôi mắt thì cứ thăm thẳm, nửa như mong chờ, nửa như ngạc nhiên. Đen trắng hoang dại.

- Biết làm thế nào bây giờ, u ơi-

Có lúc anh muốn thốt lên câu ấy mà không sao mở miệng được. Lại có đêm, anh đau thắt nhìn khuôn mặt vợ bơ phờ quỳ bên hương án. Anh dìu vợ về chái nhà, lên giường nằm giữa hai đứa bé và thở rất dài.

Đau lòng quá. Anh chợt nhớ tới mùi thuốc súng. Lục ba lô, lấy ra thỏi bộc phá TNT, lại bần thần vầy vò nó mãi trong tay. Cuối cùng nhìn lại hai đứa trẻ, anh quay ra tìm con dao găm Mỹ đã giắt ở cửa nhà từ đêm anh về. Cạo ra một ít thuốc, anh châm lửa Zippo. Một mùi thơm bay ra, quẩn vào anh, đánh thức tất cả thần kinh của con người đã vượt qua biết bao khó khăn, sinh tử trận mạc, cho anh bình tĩnh lại.

Phải sống! Anh còn mẹ già. Còn hai đứa trẻ. Con anh và đứa kia. Đứa kia là em ruột của anh.

Phải sống! Nhưng sống như thế nào đây? Những khoảnh khắc sinh tử trong chiến tranh vụt hiện. Nhưng hóa ra nó đâu khốc liệt như ngày hôm nay? Cuộc đời bao mất mát, bao người hy sinh trong vòng tay anh cho anh hiểu điều ấy. Hai đứa trẻ, con và em anh đòi anh phải sống, quên đi mà sống. Bản thân anh cũng không hiểu rằng, mình còn yêu thương hay căm thù cái gì, cả con người mà khi xưa anh rất yêu thương và mong chờ mười hai năm cho ngày trở về. Và, cả thầy anh, người anh kính trọng và yêu thương. Không, tất cả đã qua rồi, cần gì tra hỏi và truy cùng tận nguồn căn? Con người ta đâu chỉ sống cho quá khứ, phải sống cho hiện tại và nhất là tương lai chứ!

Phải sống!

Hai đứa trẻ, con anh, em anh và mẹ già đòi anh phải sống, quên đi mà sống. Bất giác anh đăm đăm nhìn lên mái nhà để tránh cái nhìn của vợ, cả ánh mắt hai đứa trẻ. Nơi mái nhà anh nhìn lên có một góc xơ xác, đen mục vì mưa thấm xuống. “Nơi đấy đã hơn năm nay, chả có ai dọi lại chỗ dột”. Cuộc chiến đã đi qua mái nhà này và để lại một di chứng là nơi dột kia. Và, cả những góc không nhìn thấy được. Nơi dột kia có thể soi lại, dọi lại, còn số phận mẹ anh, các con anh? Và cả chính anh nữa?

Sớm ấy anh sang nhà bên ôm lấy mẹ.

- Thôi u ạ. Mọi sự con cho qua hết. Từ mai u dọn sang nhà con đi!

- Không. U không sang đâu. Nhà anh, anh ở…

- Thôi mà u. Nhà con nó trót dại.

- U cũng chẳng trách nó, cả làng này ai mà chả nghĩ, anh hy sinh rồi. Đã mười một năm nó vẫn kiên gan chờ anh. Chờ một người mà cả làng đều bảo đã chết. Giấy báo tử cũng đã về kia. Tôi cũng chả trách thầy anh. Anh đi ngày nào tôi ốm đau, mỏi mòn ngày ấy. Thầy anh cũng vò võ một mình. Rồi lại thương nó, đàn bà con gái cũng chỉ có thì... Nhưng giá như ông ấy tìm thú vui ở đâu, sao lại là nó... thì... thì tôi đâu hận.

- Thôi mà u. U trách thầy con làm gì! Con biền biệt chả tin tức gì! Thôi nín đi u!

- Ừ, tôi cũng nghĩ vậy. Vì thế trời Phật cho tôi còn đến ngày hôm nay để thấy anh về.

Anh cũng hiểu cả, muốn tha thứ, muốn quên tất mà vượt qua. Nhưng... anh không biết phải sống tiếp như thế nào?

Anh cũng hình dung tất cả sự việc qua lời kể đứt quãng của vợ về cái ngày sau đó, khi cái bụng vợ anh to dần, lộ ra không thể che giấu, để cả làng náo loạn lên. “Thầy ngồi trong góc nhà tối khuya lắm, đêm ấy, cạnh cái vỏ chai thuốc sâu đã trống rỗng…”. Rằng, “Miệng thầy sùi bọt, bàn tay thầy yếu ớt run rẩy đưa về phía em. Vươn sát cái bụng đã to sáu tháng của em”. “Giữ lấy em thằng Thánh! Nó chết rồi. Thầy có lỗi với hai vợ chồng mày cũng là vì dòng họ, dòng tộc! Ai là người gìn giữ mồ mả? Ai giữ gìn đất đai?”. Rằng, thầy ho khi bọt cứ sùi ra - Thánh cảm thấy cả giọng thầy anh yếu ớt van vỉ:

- Hãy tha thứ cho thầy. Thầy xuống đấy gặp nó đây. Thầy sẽ bảo nó tha thứ cả cho con.

“Thầy dặn thế, nên trước đó em giận thầy lắm, em vẫn giữ lại đứa em của anh, cho dòng họ Nguyễn làng này. Tất cả trai đinh làng ta đã ra đi và nằm lại ở chiến trường cả... Ai ngờ... Mà sao anh vẫn sống sót trở về để xáo tung hết cái ao bùn đang lắng này. Hu… hu...”.

Suốt đêm ấy vợ anh rấm rứt khóc. Anh nằm bên, trân trân nhìn lên trần nhà, đau thắt như trăm ngàn nhát dao chém nát cả cõi lòng. Bao nhiêu ngày vợ anh đã khóc? Bao nhiêu ngày từ khi anh ra đi? Anh nào có lỗi, anh nào có lỗi?

Những năm ấy máy bay cứ rào rào bắn phá quanh làng anh. Máy bay trút bao nhiêu bom bi xuống phá cả ngôi chùa làng anh, cạnh nhà máy thủy tinh nhỏ của huyện. Từ Nam ra Bắc ai mà chả căm ghét cái lũ từ đâu tới đấy và bao nhiêu người như anh phải ra đi. Ra đi là tất nhiên rồi!

Mà sao thầy anh lại chọn cái kết cục thảm khốc thế. Cả nhà anh đều khổ đau thế. Cả thầy, vợ anh, cả anh và nhất là u anh. Nỗi đau đâu của chỉ mình anh hay của riêng u anh? Rõ là thầy anh đã làm thế rồi tìm lấy cái chết để tự giải thoát... Anh cũng hiểu vì sao vài lần vợ anh muốn tự vẫn, cả trước và sau khi thầy mất. Rồi có lần, khi dọn dẹp bàn thờ giúp u, lục trong hốc tủ nhà u, anh còn thấy một sợi dây thừng giấu kín trong mớ quần áo bạc phếch. Vậy là, ai cũng muốn ra đi rồi vẫn ở lại với hai đứa trẻ thì sao anh lại hèn hơn họ? Thánh mân mê con dao găm Mỹ. Con dao anh mài đã sắc bén, có thể cạo sồn sột đám lông chân. Anh không thể đâm một nhát vào bụng mình dù anh đã cố mài cho thật bén, thật nhọn và sắc!

Không, anh phải sống! Những đứa trẻ còn kia!

***

Thời gian qua đi, như con người ta không để tự cứa mãi vào vết thương của mình. Anh cố gắng như con trâu đực kéo cày trên thửa ruộng, trong vườn nhà. Rồi cũng có tiền mua ngói thay mái rạ. Mua một cái xe đạp cà tàng. Những đứa trẻ cũng lớn lên, thấm thoắt hai năm. Mỗi khi nhìn con gái anh, cặp sách ngang hông, tóc chấm ngang vai, tung tăng từ trường về như con sáo nhỏ, hát líu lo. Tiếng hát của con bé như trườn lên rặng cúc tần có những sợi tơ vàng yên bình quấn quýt bên nhau, bay qua cả rặng tre trước ngõ thanh bình, làm lòng anh chùng xuống, dịu đi.

Anh ra cái vại đựng nước mưa bên gốc cau múc một gáo nước rõ to, uống một hơi hết sạch. Mát. Sao mát thế mà bây giờ anh mới biết. Có tiếng chim cu gù gù rất nhịp, nghe rất thanh bình quê anh, rồi những làn khói bếp êm ả bay. Hình như mùi cơm mới…

Vâng, phải sống. Dù sao cũng vẫn phải sống. Yên hàn rồi cơ mà!

Một ngày mùa hè nóng bỏng, cách giỗ thầy anh hai ngày. Mùa hè, ai cũng như muốn điên vì cái nóng hầm hập cả ngày và đêm. Trước khi ra đồng, vợ anh chặt hai buồng chuối và dặn, có thằng Hạ tới thì bán giá như thế, như thế. Không được bớt xén! Từng ấy tiền vừa đủ mua sách cho con gái anh đấy!

Chờ mãi cũng chẳng thấy thằng Hạ tới mua chuối. Tới chiều đang lúi húi bên vườn vật bùn từ dưới ao lên, thì u ở nhà thờ họ sang:

- Này, anh này. Buồng chuối đẹp quá. Cho u xin hai nải thắp hương cho thầy, anh nhé.

- Vâng u lấy đi! - Anh chọn cắt hai nải lớn nhất cho u. Lại hái cho u mớ chè xanh.- Mai u nấu cho họ hàng tới giỗ thầy con.

Đến sâm sẫm thì vợ anh về. Trong nhà nghe rõ tiếng vợ:

- Ai cắt hai nải chuối rồi?

- U lấy đấy! –Anh nói vóng ra.

- Thằng Hạ không sang hay nó tới mà thấy mất hai nải nó không lấy?

Anh nói với ra:

- Tôi cắt cho u cúng thầy hai nải rồi. Ngày kia là giỗ thầy mà.

- Này thì giỗ thầy này. - Nghe rõ tiếng dao phầm phập. Anh hớt hải chạy ra.

Ngoài sân người đàn bà vung con dao phát bờ chém như điên dại vào hai buồng chuối. Những nhát chém dồn ứ bao nhiêu uất hận?!

- Dừng tay lại! Dừng lại! Cô điên rồi.

Người đàn bà vẫn chém như điên như dại để tới khi cả hai buồng chuối thành một đám lổn nhổn nát bét.

Anh không kiềm chế được, khi cái phần con người thường nhỏ nhoi chôn cất ở đâu đấy trong anh bật ra từ kẽ nứt. Sao mà tha thứ nữa. Anh chỉ vào mặt người đàn bà vừa xa lạ vừa thân thương kia:

- Cô làm tôi không thể chịu được nữa rồi. Cô phản bội tôi, còn khinh mạn cả thầy tôi.

***

Anh bỏ nhà ra bờ sông ngồi, mang theo thanh thuốc nổ TNT.

Có mùi thuốc súng thoảng lan ra từ đấy, bên một bóng người đàn ông đen sậm hằn bóng trên nền trời; hằn lên khi mặt trời phía Tây chìm dần; một khối đỏ ối đang chìm dần, quanh nó là những đám mây như có bàn tay nào đang rưới máu, loang lổ.

Đêm ấy anh về viết đơn li dị, điều mà suốt hai năm qua, anh chưa bao giờ nghĩ tới.

U anh nhất định ở lại với hương án thầy, còn anh phải ra đi:

- Thôi con đi trước. Con đón u vào sau!

- Thôi anh đi đi. Đi cho khuây khỏa. Tôi chịu đựng một mình quen rồi.

- Vâng, thế thì con đi, con sẽ gửi tiền về cho u.

Người kéo vó đêm, trên đoạn sông ngay sát bến đò, đầu làng của Thánh, nửa đêm thấy hai bóng người len lén đi xuống nước.

Anh, chính là kẻ dùng kĩ năng lính đặc công, tránh đi đò, bơi qua khúc sông đêm ấy.

Lúc ra tới giữa sông, tay trái vẫn đẩy bọc nilon làm phao, trên phao đặt đứa con gái, anh chợt ngoái nhìn lại làng. Anh biết, vẫn có một người đàn bà già nua, u anh cô độc đứng khuất dưới bờ giậu cúc tần, từ lúc cha con anh rời nhà, nhìn mãi theo bóng cha con anh lủi thủi bước như kẻ đi trốn.

***

Bạn bè cũ ở thành phố Đà Nẵng bất ngờ thấy cha con anh quay lại nơi anh từng chiến đấu, đã giang tay đồng đội đón cha con anh. Không một ai được biết lí do anh quay lại vùng chiến trường cũ, ngoài thủ trưởng đơn vị cũ nay cũng đã chuyển ngành về làm trong ban lãnh đạo thành phố. Ai tò mò hỏi, anh bảo, vợ tôi chết rồi! Mà chết trong anh thật rồi!

Thủ trưởng cũ ân cần nói với anh, cậu cũng nên về đây với chúng tớ. Tất nhiên chưa thể thu xếp nhà ở ngay được, phải ở tạm văn phòng. Cậu có khả năng làm báo chí tuyên truyền, tớ phân công cậu về tờ báo của thành phố.

- Không có việc nào khó cả- Anh bình tĩnh nói.

Với anh, còn có điều gì sau hậu chiến quá đau đớn đã đẩy anh vào sự chán sống như ngày anh trở về Bắc? Có lẽ đấy là điều khó khăn lớn nhất, thử thách khủng khiếp nhất và anh đã vượt qua trong suốt hai năm trời. Khi rời bỏ nơi ấy ra đi, anh đã bỏ lại tất cả nhà cửa đồ đạc cho vợ cũ và người em. Khó nhất là lúc tạm biệt u. Bà dứt khoát không theo anh. U bảo, u sinh ra ở đâu thì chết ở đấy. Nghèo khổ mấy cũng được. Mà cả một đời nghèo khổ rồi.

Nhưng một điều anh không thể vượt qua được là hành vi của người vợ năm ấy. Nó đẩy anh tới lòng căm giận để chia li. Chả nhẽ cứ hận thù mãi ư? Câu hỏi đó cứ lởn vởn như thường trực trong đầu anh, như vết thương cũ đau đớn chẳng đợi chờ những ngày trở gió.

Anh cố lấy công việc để quên đi nỗi buồn tê tái để lại trên quê nhà, nhưng nỗi đau âm ỉ vẫn lẽo đẽo theo anh, giày vò anh, khiến anh nhiều đêm khó ngủ. Mỗi lần như thế, chờ đứa trẻ ngủ rồi, anh rón rén moi trong ba lô “phong bánh khảo”, lấy con dao găm cạo ra một chút và đốt.

Mùi thuốc súng lại lan tỏa sau vệt lửa cháy vụt lên, chợt như cho anh vừa an ủi, vừa tạo ra một mê lực nào đó để anh có thể ngả lưng, trằn trọc nhắm mắt.

***

Thành phố Đà Nẵng sau chiến tranh một thời gian như trở mình vươn dậy. Những cải cách liên tục của thành phố không chỉ cho nhân dân mà cho cả cha con anh. Rồi anh cũng có một căn nhà nhỏ ven sông Hàn. Ngôi nhà quay ra biển để cha con có những ngày tha thẩn dạo trên bãi cát trắng xóa và anh tư lự một mình nhìn về phương Bắc.

Hình như con người có số phận. Nhất định có số phận như cái ngày thành phố khánh thành tượng Bà Mẹ Âu Cơ sừng sững ngay lối ra biển lớn.

Ngồi ở ghế những đại biểu cựu chiến binh hôm ấy, anh thực bất ngờ khi có một bà mẹ đại biểu nhân dân ở dưới huyện Hòa Vang tìm anh, gọi tên anh và nhất quyết nói, anh là người lính Mậu Thân đã bị thương và nằm lại ở nhà bà trong hầm bí mật cả tuần.

- Con đúng là Thánh mà. Mẹ nghe người ta giới thiệu tên con mới tìm con. Con nhớ không, mẹ đã đưa con ra tận ngã ba khi quân ta về đón con - Bà mẹ tóc bạc phơ cứ nắm chặt lấy tay anh, dứt khoát bảo anh là người lính nào đó.

Đúng là năm Mậu Thân anh đã tập kết nằm vài đêm ở cái làng ấy rồi vào đánh Đà Nẵng. Nhưng chiến dịch đó, anh đâu có bị thương. Thủ trưởng ghé tai anh: “Cậu lạ quá. Cả miền Nam này ai chả là mẹ của chúng ta. Cũng như những bà mẹ từng nuôi cậu. Đừng để bà cụ thất vọng, ít ra là lúc này, dưới bức tượng Bà Mẹ Âu Cơ mà chúng ta vừa dựng lên”.

Anh ngượng ngùng, gượng gạo ôm lấy bà mẹ. Thế là dưới tượng đài Bà mẹ Âu Cơ của thành phố, anh được nhận một bà mẹ, người đã cưu mang một thương binh nặng năm nào. Bà mẹ, sau bữa ấy, gặp ai là người quen đều hớn hở khoe: “Tui đã nói nó dứt khoát quay lại mà, nó còn sống là tui sẽ tìm được nó!”.

Cha con anh được đón về huyện Hòa Vang thăm cả gia đình đã từng che giấu đơn vị anh. Thực không ngờ được, cô gái út của mẹ tên Thắm rất xinh đẹp lại chưa có chồng, là giáo viên dạy văn trong trường con gái anh.

Bà mẹ càng tin anh chính là người lính bị trọng thương năm ấy. Trong bữa ăn sum họp, bà như trẻ lại vài tuổi: “Mẹ biết, trước sau gì mẹ cũng tìm thấy con mà”.

Cứ như thế, gia đình mẹ và Thắm đi lại với cha con anh nửa năm.

Nhưng anh là người trung thực. Anh không thể dối trá. Anh đã kể hết với cô giáo cuộc đời mình và nói rằng, anh không phải là người chiến sĩ năm ấy.

Câu chuyện của anh lại rẽ sang chiều hướng khác. Cô giáo trẻ không nói gì. Suốt cả buổi nói chuyện với anh, cô chỉ âm thầm gạt nước mắt. Như con người ta có số phận cứ buộc với nhau bằng sợi dây vô tình. Cô giáo Thắm chăm sóc kèm cặp con anh nhiều hơn, đi lại với cha con anh dày hơn và anh cũng tự cảm thấy không thể thiếu cô được. Cô dặn, anh cứ để cho mẹ em tin là anh chiến sĩ kia đã trở về. Có thể anh ấy đã hy sinh rồi. Nếu còn sống, chắc anh ấy đã về thăm mẹ em... Được! Anh nói yếu ớt.

Ngày cưới thật là vui. Con gái anh cũng vui. Còn anh, không hiểu sao, khi khách khứa đã về hết, anh lại chợt nhớ tới bụi cúc tần ở làng anh.

Ánh trăng chênh chếch từ phía bờ biển soi vào nhà, run rẩy như ánh trăng đêm ấy...

***

Mười năm nữa trôi qua. Dù phải nuôi con gái vào Sài Gòn ăn học, tháng nào anh cũng vẫn gửi tiền về cho mẹ. Duy nhất một lần anh ra Bắc là lần về chôn cất u anh. Anh để con gái sang với mẹ nó mà không lời thăm hỏi. Lặng lẽ về và lặng lẽ ra đi.

Nhưng hơn mười năm là cả quãng dài bao sự kiện và chính thời gian lại vừa xóa đi những uất hận vừa lại khơi gợi lại những kỉ niệm mà dù có muốn quên cũng không dễ mà quên của lòng đau.

Anh nhẩm tính thằng em anh đã mười sáu tuổi. Nó lớn rồi. Không biết nó sống ra sao? Dù ra sao thì nó vẫn là máu mủ của dòng họ nhà anh, là em ruột của anh. Thế là Thánh bàn với vợ và khăn gói trở về Bắc.

Chuyến tàu đưa anh về không nhanh cũng chả chậm. Tàu dừng, từ Hàng Cỏ, anh không đi bộ về làng như ngày nào. Đến đầu làng thì anh bảo xe ôm quay ra cho anh đi bộ.

Anh men theo lối cũ. Làng anh, đường đi lối lại bao biến đổi nhưng con đường ngõ vào của nhà anh vẫn thế. Bụi rào cúc tần vẫn còn đó trong đêm, đứng hững hờ, xơ xác.

Anh bàng hoàng trước ngôi nhà của anh mà bây giờ là nhà người vợ cũ. Vẫn tường gạch cũ nứt nẻ và xiêu vẹo từ hồi anh dựng lại. Mái ngói lô xô viên lành viên vỡ. Anh đứng giữa một người đàn bà già nua tàn tạ và thằng bé mười sáu tuổi gầy trơ xương vì thiếu ăn.

- Em ông bỏ học từ hai năm nay rồi. Tôi lo lắm. Làng xóm bây giờ cứ xổng ra là trẻ con hư. Nghèo quá chả làm sao lo được - Người vợ cũ thều thào nói - Nói rồi mò tay vào hộc tủ sứt sẹo nứt toang toác lần ra bọc quần áo cũ, bà lôi ra một bọc giấy mở ra trước mắt anh:

- Đây là tất cả tiền của anh gửi cho u. Tôi lạy van thế nào u cũng không tiêu lấy một xu. Nhà có rau thì ăn rau, có cháo ăn cháo. Khi trăng trối, u gửi lại bảo tiền dành cho tôi. Nhưng mẹ con tôi cũng không dám tiêu đâu. U bảo, nó thương tật thế, làm sao có tiền, chắc nó lại vay mượn của ai...

Suốt đêm anh không ngủ. Cứ lăn bên này lại lăn bên kia trong nhà người em họ. Không ngờ người vợ anh chối bỏ vẫn lặng lẽ làm dâu. Một nàng dâu không chồng...

Anh lại vục dậy và lục ba lô ra bờ sông ngồi. Anh châm lên ngọn lửa Zippo đốt ít mùn thuốc nổ cạo ra từ thỏi bánh khảo màu đã sậm vàng vì thời gian. Anh hít cho căng lồng ngực cái thứ khói hăng hăng thơm thơm mùi thuốc súng rồi quyết định, không thể chần chừ nữa.

Móc máy điện thoại ra, bất kể khi đó đã gần hai giờ sáng, anh gọi cho Thắm. Anh nói với vợ hoàn toàn tỉnh táo không hề khóc. Giọng anh khô xác trong đêm. Anh không ngờ vợ anh, người con gái Đà Nẵng trả lời gọn lỏn:

- Dạ, em nghe rõ cả rồi. Anh đưa chị và em anh vào đây luôn đi.

Bấy giờ người cựu binh hơn sáu mươi tuổi mới bật khóc. Khóc nức nở! Nước mắt tràn trề má anh. Lúc anh quay lại nhà hai mẹ con, lại ngang qua bụi cây có dây tơ hồng. Trong đêm tối vắng trăng, anh không nhìn rõ mọi vật, nhưng anh vẫn thấy rõ tất cả. Bàn tay anh sờ nhẹ mơn man vào đám dây tơ nguyệt trên bụi cúc tần mà nhà nào chả có.

Một tuần sau, có người làng đi tát nước tang tảng sáng bên con đê, thoáng thấy anh đi trước, người vợ cũ và đứa bé lụi cụi theo sau, lặng lẽ rời khỏi làng.

Ra đến đầu làng, anh dừng lại, trân trân ngó về hướng nhà cũ, im lặng đến dăm phút rồi quay phắt ra, nắm tay thằng em phăng phăng kéo đi.

***

Việc thu xếp cho vợ cũ và em anh ở Đà Nẵng cũng không hề đơn giản. Nhưng phải rõ ràng và minh bạch. Anh và Thắm bán cả hai xe máy. “Chúng ta sẽ đi bộ một thời gian. An cư thì mới lạc nghiệp!“.

Cầm số tiền bán nhà của vợ cũ và tiền tiết kiệm, bán xe của vợ chồng anh, Thánh mua cho hai mẹ con một căn nhà nhỏ trong hẻm phố. Cũng thật may mắn, một doanh nghiệp đồng đội cũ nhận thằng bé vào xưởng sửa chữa ô tô. Thằng bé cũng sáng dạ và ngoan. Đấy là bạn anh bảo thế.

Nhưng con người ta đâu chỉ ăm ắp niềm vui. Tháng ấy là có ngày giỗ thầy anh. Làm cơm chung cho cả đại gia đình, anh mời cả mẹ vợ lên ăn giỗ.

Chiều ấy anh lại lấy chiếc bánh khảo ra cạo ngoài hiên và đốt.

Một vệt lửa và mùi thuốc súng lan ra. Lan ra tận nơi mẹ vợ anh đang ngồi. Bà mẹ Hòa Vang thảng thốt bật dậy: “Mùi gì vậy hả các con?”.

Thắm thì không lạ gì. Những khi anh buồn, những lúc khó khăn, chị đều thấy chồng làm cái động tác kì cục nhưng đã trở thành quá quen thuộc với chị.

- Ảnh đốt thuốc nổ, mẹ à.

- Đâu, thuốc gì?

Bà mẹ chạy ra ngoài hiên, cầm lên thỏi thuốc màu vàng và sững người:

- Trời ơi cái thứ giết người này. Cha mày cũng bị địch chất quanh và đốt ổng bằng thứ này đây. Mày giữ nó làm gì hả con. Con đừng làm mẹ sợ... - Nói rồi mẹ vợ anh bưng mặt khóc. Mớ tóc bạc rung lên.

Sự thật cực kì bất ngờ làm anh sững sờ và bừng tỉnh. Thánh ôm lấy bà mẹ vợ, nhè nhẹ xoa lên vai bà:

- Con xin lỗi, con xin lỗi mẹ.

- Con vất ngay thứ ấy xuống biển cho mẹ. Vất ngay đi! - Bà mẹ nói khi đôi vai vẫn rung lên, run rẩy.

Anh chộp lấy thỏi bộc phá, thỏi bánh khảo màu vàng sậm đã gắn bó suốt cả tuổi thanh xuân trận mạc kiêu hùng của đời anh, cũng là cuộc đời bất hạnh của riêng anh hay bao nhiêu người đã ngã xuống trên mảnh đất này.

Anh chạy như bay ra bờ biển. Ngay sau tượng đài Bà Mẹ Âu Cơ với trăm bọc trứng, anh liệng nó ra xa. Liệng thật xa.

Ném xong thanh thuốc màu vàng, anh cứ đứng thừ ra. Chẳng hiểu sao anh bỗng nhớ cái làng nhỏ xa xưa kia và trong đầu anh lại chợt bừng hiện ra, rõ mồn một hình ảnh bờ dậu ven ngôi nhà cũ...

Những sợi tơ vàng quấn quýt trong bụi cây, dưới ánh trăng lấp lánh sương ướt, vẫn phân biệt được màu vàng của cây tơ nguyệt và màu xanh của lá, dầu là muôn kiếp, chúng vẫn quấn quýt bên nhau... khi khói bếp lam chiều muộn bảng lảng lan ra như mây lành bay trên những ngôi nhà...

Làng Ngọc Hà, 2005

*Lời bình của Trần Đăng Khoa:

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ từng là một người lính. Anh tham gia chiến tranh, không phải là một nhà văn đi thực tế để sáng tác. Lúc đó, anh đâu đã viết văn và cũng không có ý đồ làm một nhà văn. Anh là người lính trận, từng tham gia hàng trăm trận đánh. Chính anh cũng không ngờ mình có thể sống sót để còn có ngày bàn về cuộc chiến tranh. Chính hiện thực đời sống đã cho anh những trang viết sinh động. Và văn chương cũng đã tìm đến anh, chiến tranh cũng đã chọn ngòi bút của anh để hiện ra hết những dáng vẻ vừa cao cả, vừa dữ dội đến nghiệt ngã của nó.

Nguyễn Văn Thọ là nhà văn của nhiều mảng đề tài. Nhưng chạm đến chiến tranh, ngòi bút của anh bỗng như xuất thần và sống động đặc biệt. Trong bộ phim tài liệu “Ngày cuối cùng của chiến tranh” của Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương và phóng sự “Ký ức chiến tranh” của Đài Truyền hình Việt Nam, kỷ niệm 40 năm ngày Giải phóng Miền Nam, thống nhất Đất nước mới đây, phần Nguyễn Văn Thọ xuất hiện cũng vẫn là phần hay nhất, ấn tượng nhất.

Anh là người trong cuộc bàn về chiến tranh. Nhiều người cũng ở trong cuộc như anh, thậm chí họ còn có nhiều vốn sống hơn anh, nhưng họ không có được khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ như anh. Ở đây, nhà văn đã hỗ trợ đắc lực cho nhà hoạt động xã hội, với tư cách là một nhân chứng lịch sử.

Trong các tác phẩm viết về chiến tranh của Nguyễn Văn Thọ, có hai truyện ngắn, theo tôi đều vào loại hay. Đó là “Vàng xưa”, một truyện ngắn viết dài, như một tiểu thuyết co lại, và “Mùi thuốc súng”, tác phẩm vừa viết xong, còn chưa kịp ráo mực. Cả hai tác phẩm này đều là chuyện hậu chiến.

Nếu “Vàng xưa”, với áng văn khá đẹp, đẹp đến từng câu chữ, cho thấy khả năng “chơi” bố cục, chơi cấu trúc khá điêu luyện của tác giả, chính kỹ nghệ ấy đã tạo lên sự hấp dẫn của thiên truyện, thì “Mùi thuốc súng” lại thô mộc, chân thành. Truyện hấp dẫn bởi tính hiện thực nghiệt ngã, nhưng lại rất nhân bản. Nhiều tình tiết đắt, hợp lý. Không có chi tiết thừa. Các nhân vật đều đẹp, kể cả ông già và người con dâu. Những “tội lỗi” của họ, chỉ làm cho chúng ta thương, chứ không thấy giận. Đó là bi kịch của những người tốt trong thời hậu chiến. Qua đó, ta cũng thấy được tấm lòng của tác giả. Đã lâu lắm rồi, tôi mới lại được đọc một truyện ngắn có sức ám ảnh về một đề tài rất quen thuộc, nhưng viết được hay, đâu có dễ dàng…

*Lời bình của Mai Quốc Liên:

“Mùi thuốc súng” 5.000 chữ này! Tôi đọc xong, mắt rớm lệ. Truyện ngắn chỉ chừng ấy chữ mà chứa bao nhiêu số phận thời chiến tranh - hậu chiến. Đó cũng là số phận, là nỗi đau, là sự nghiệt ngã của toàn dân tộc, và có thể nói với các cuộc chiến hiện nay trên toàn cầu, thì cái bi kịch này là của toàn nhân loại.

Chỉ qua một cốt truyện ngắn, những lát cắt của số phận, tính cách từng con người cụ thể, lại đại diện cho điều gì đó, cũng như vài chi tiết chọn ở đây dường như nhà văn đang tự trói mình vào một trách nhiệm lớn nào đó, đòi hỏi trách nhiệm của một người cầm bút trung thành với quyền lợi của dân tộc, những giá trị của văn hóa truyền thống và sự quý trọng hòa bình...

“Mùi thuốc súng” chỉ 5.000 chữ, gói một vấn đề còn đó, nóng ry, nhất là thế giới đang bất ổn, biển Đông còn chưa im sóng, qua sự thật khái quát, kể với lời dung dị… anh đã chuyển tải được một chủ đề lớn, một tư tưởng lớn: chỉ có thể vượt qua mọi bi kịch của đời sống bằng tình thương yêu, bằng lòng “từ bi”, bằng tấm lòng người mẹ - cô em gái - những nguyên lý nữ tính Việt Nam…

Suy tưởng của nhà văn là lớn. Và điều kỳ diệu là chỉ qua 5.000 chữ, anh đã thể hiện được suy tưởng ấy. Văn chương có sức mạnh ngôn từ của nó… Một cuộc đời mười năm chinh chiến khốc liệt, biết bao vốn sống, suy tư và vốn văn hóa cao… đủ cho anh thành công… và nhiều hứa hẹn ở nhiều phía. Anh cho biết một tiểu thuyết 600 trang đang hoàn thành…