Danh Ngôn

Trong một xã hội ngục tù, văn học tự do chỉ có thể hiện hữu để tố cáo và nuôi hi vọng.

In an incarcerated society, free literature can exist only as denunciation and hope.

Eduardo Galeano (1940-2015). “In Defense of the Word” (7) tr. Bobbye S. Ortiz, Days and Nights of Love and War, 1977, tr. Judith Brister, 1983

Văn học suy tàn chỉ vì con người càng ngày càng trở nên thối nát.

Literature decays only as men become more and more corrupt.

Goethe (1749-1832). The Maxims and Reflections of Goethe, 466, tr. T. Bailey Saunders, 1892

Văn học chịu số phận bi đát nếu tự do tư tưởng biến mất.

Literature is doomed if liberty of thought perishes.

George Orwell (1903-1950). “The Prevention of Literature,” January 1946, The Collected Essays, Journalism, and Letters of George Orwell, vol. 4, ed. Sonia Orwell and Ian Angus, 1968

Trong ý nghĩa toàn diện nhất, văn học là tự truyện của nhân loại.

Literature in its most comprehensive sense is the autobiography of humanity.

Bernard Beranson (1865-1959). Notebook, 11 December 1892. Trong cuốn The Bernard Beranson Treasury, ed. Hanna Kiel, 1962

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Tư liệu về báo Phong Hoá, báo Ngày Nay và Tự lực Văn đoàn (kỳ 3)

Phong trào Nhà Ánh Sáng của Tự Lực Văn Đoàn

Đỗ Quý Toàn

(Trình bày vào ngày 6 tháng 7, 2013 trong cuộc hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn tại Little Saigon, Nam California)

Hội Ánh Sáng của báo Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn đã gây nên một phong trào văn hóa xã hội ở nước ta vào cuối thập niên 1930. Lúc đầu phong trào chỉ lập ra để cổ động việc xây nhà rẻ tiền cho giới lao động, nhưng bên trong đã chứa đựng một chương trình thay đổi cả đời sống và xã hội. Nhờ tờ báo Ngày Nay nên tầm ảnh hưởng của các hoạt động đó lan rộng, tác động trên tâm lý của rất nhiều người Việt Nam, nhất là giới trung lưu, trí thức, thanh niên ở đô thị trong thời gian từ năm 1937 cho tới năm 1940.

Chương trình thành lập hội đã được công bố trên báo Ngày Nay số 38, ngày Chủ nhật 13 tháng 12 năm 1936. Tờ báo kêu gọi lập một Hội Bài trừ những Nhà Hang Tối, còn gọi là Hội Ánh Sáng. Họ đưa ra ba châm ngôn “Xã hội – Nhân đạo – Cải cách.” Tiếp theo, số 39 có bài “Nhà rẻ tiền để dân nghèo và thợ thuyền ở” của Hội Bài trừ những Nhà Hang Tối. Trong bài này vẽ một biểu tượng hình tròn, vẽ một nắm đấm đè bẹp mái nhà tranh tre xiêu vẹo. Nửa trên của vòng tròn là một ngôi nhà cao ráo trong ánh sáng bình minh.

Tờ báo còn cho in một số mô hình nhà ánh sáng đã được triển lãm, và kêu gọi mọi người gửi những ảnh mẫu nhà hang tối, hoặc hình những căn nhà đẹp mà kiến trúc có nhiều cái lạ, cái hay tới toà soạn để đăng báo. Sau này biểu tượng cho Hội Ánh Sáng là một hình tròn đen với ba vạch trắng nằm tréo, và hai chữ “A S” ở hai bên; nằm giữa một hình chữ nhật giống như lá cờ (vẽ trên trang bìa Ngày Nay số 72). Kể từ số báo 40, Ngày Nay dành mỗi tuần mấy trang viết về Hội Ánh Sáng, và đăng các ý kiến ủng hộ của bạn đọc gửi tới từ Hà Nội và các tỉnh như Cần Thơ, Thái Nguyên, Hải Phòng, Quy Nhơn, Huế, Nam Định, Vĩnh Yên, Phúc Yên, vân vân; tức là gần khắp nước.

Tác động sâu rộng trong xã hội

Hội Ánh Sáng đã tạo nên một phong trào có chiều rộng và chiều sâu, được nhiều giới ủng hộ, từ các nhà trí thức tới báo chí và các thương gia. Trong Ngày Nay số 71 có đăng ý kiến hoan nghênh và ủng hộ Hội Ánh Sáng của anh em thợ thuyền ở Vinh, cho thấy phong trào được giới lao động hưởng ứng. Tuy nêu ra mục đích là xây nhà, Hội Ánh Sáng cũng làm các việc từ thiện khác; có lẽ là một hội từ thiện tư nhân sớm nhất ở nước ta, bên ngoài các tôn giáo, đã tác động được tới đông đảo nhiều thành phần trong xã hội. Khi hội tổ chức đi “phát chẩn” cho các nạn nhân nạn lụt, các em “học sinh năm thứ ba trường thành chung Qui Nhơn” góp tiền nhau, gửi tặng 3 đồng 41 xu; cũng như “Anh em học sinh ở Huế tặng 2 đồng 50". Lại có cả “Anh em làm ở nhà máy Centrale S.E.E.M.J. Photion” đã gửi tặng 34 đồng;”và “Anh em trong Nhà Chụp hình Photo Khmer” ỏ Pnom Penh, Campuchia chung nhau gửi tặng 12 đồng 50. (Để so sánh thời giá, mua một năm, 52 số báo Ngày Nay, gồm cả cước phí bưu điện, lúc đó trả 3 đồng 80 xu). Tòa báo cũng đăng tin ông “AiLen,” (tên phiên âm?) chủ hãng G.M.R, loan báo xin nhận anh em lao động trong xóm thợ thuyền vào làm việc của hãng ông. Ông còn tổ chức bán hàng từ thiện, một ngày trích ra 10% số tiền thu được sẽ gửi giúp dân bị lũ lụt tỉnh Bắc Ninh. Đoàn Hướng Đạo Lê Lợi và ban ca vũ May Blossom biểu diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội lấy tiền giúp Hội Ánh Sáng. Các võ sĩ, các đội banh cũng tổ chức các sinh hoạt giúp hội gây quỹ. Ảnh hưởng của hội trên dư luận lan từ miền Bắc ra toàn quốc và cả trong giới kiều bào ở Campuchia.

Nhìn vào danh sách những người góp công cổ động thành lập hội và tham gia vào hội từ lúc đầu chúng ta thấy chương trình này được nhiều nhà trí thức, chuyên nghiệp đương thời ủng hộ, đại đa số là những người trẻ trên dưới 30 tuổi. Nửa năm sau khi dự án được công bố, cuộc họp đầu tiên của Ủy Ban Tạm Thời, ở nhà ông Phạm Văn Bính, số 55 phố Hàng Bún, đã có mặt đại biểu của nhiều tờ báo tại Hà Nội, như Tam Lang Vũ Đình Chí (Việt Báo), Lê Văn Thu (Đông Pháp), Dương Mậu Ngọc (Trung Bắc), các nhà văn Phan Trần Trúc, Phạm Lê Bổng, các kiến trúc sư Vũ Đức Diên, Hoàng Như Tiếp, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ. Các thành viên Tự Lực Văn Đoàn như Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, các họa sĩ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Sìn, đều tích cực tham dự.

Một ủy ban chuẩn bị thành lập hội do Phạm Văn Bính làm “thư ký tạm thời” từ tháng Năm 1937 có mặt 14 người, nhiều nhân vật nổi tiếng thuộc các lớp trung lưu, như các Bác sĩ Phạm Hữu Chương, Ngô Trực Tuân, luật sư Trần Văn Chương, kỹ sư Trần Văn Tiết, các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp), với rất nhiều nhà báo. Hội được các thương gia như Nguyễn Đức Thuận (Hải Phòng), Phạm Tá, Nguyễn Xuân Phúc (Hà Nội) tích cực ủng hộ hội bằng tiền và hàng hóa. Trong danh sách những người tham gia và hỗ trợ hội Nhà Ánh Sáng cũng thấy nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau. Có ông bà Hoàng Xuân Hãn, sau này ông làm bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ Trần Trọng Kim; có Vũ Đình Huỳnh và các ông Trần Huy Liệu, Vũ Đình Hòe, sau làm bộ trưởng trong chính phủ Hồ Chí Minh. Ông Phạm Văn Bính sau này trở thành một bí thư và làm bộ trưởng trong chính phủ Bảo Đại. Danh sách các ủy viên trong các “ủy ban hành động” của hội còn những nhân vật chính trị nổi tiếng sau này như luật sư Hoàng Cơ Thuỵ, nha sĩ Hoàng Cơ Bình (năm 1954 làm chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Bắc Việt, phản đối Hiệp Định Genève chia đôi nước Việt Nam), luật sư Bùi Tường Chiểu, nhiếp ảnh gia Võ An Ninh sau lên chiến khu Việt Bắc, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, một nhà chính trị hoạt động trong các đảng phái quốc gia, huynh trưởng Hướng đạo Trần Duy Hưng (sau làm thị trưởng Hà Nội thời Việt Minh), dược sĩ Thẩm Hoàng Tín (thị trưởng Hà Nội thời Bảo Đại), kiến trúc sư Vũ Đức Diên, sau này cộng tác với chính phủ Ngô Đình Diệm. Điều này cho thấy Hội Ánh Sáng đã vượt lên trên các xu hướng chính trị, chỉ theo đuổi mục tiêu xã hội.

Từ Hà Nội, Hội Ánh Sáng phát triển hoạt động tới các thành phố Hải Phòng, Nam Định; và cũng được độc giả ở Huế, Đà Nẵng, tới Sài Gòn hoan nghênh. Khi Nhất Linh và Thế Lữ đi Hải Phòng vận động thành lập chi nhánh, các nhân vật địa phương thuộc nhiều giới khác nhau đã tham dự, như ông Bạch Thái Đào, một nhà kỹ nghệ, ông Vi Huyền Đắc, sau thành một nhà soạn kịch nổi tiếng (Ngày Nay số 91, trang 6). Ở Nam Định, buổi diễn thuyết ngày 25 tháng Giêng 1938 (Ngày Nay số 95, trang 6) có các diễn giả như Vũ Đình Hòe, Vũ Đức Diên; một phụ nữ là bà Trịnh Thị Thục Oanh, là “Đốc học các trường học nữ Hà Nội;” đều là những nhân vật hoạt động nhiều trong các lãnh vực văn hóa, xã hội và chính trị thời đó hoặc sau này.

clip_image001

Trang bìa Ngày nay số 72, 15 Août 1937.

Ảnh: Tư liệu của BVN do Nhóm điện toán báo Phong hóaNgày nay cung cấp

Bây giờ đọc lại báo Ngày Nay thời đó, người ta còn ngạc nhiên vì sự ủng hộ hăng hái của công chúng đối với chương trình Nhà Ánh Sáng. Tự Lực Văn Đoàn đã mở đầu với ý kiến xây dựng nhà ở cho người nghèo, nhưng việc làm của họ cũng khởi đầu một ý thức chung, người dân Việt Nam thấy mình phải tự động lo lấy các vấn đề của mình chứ không trông cậy vào guồng máy chính quyền. Đây là một sáng kiến tập họp mọi người dân trong một công tác có tính cách từ thiện nhưng dựa vào đó phát động một nếp sống mới, cải cách xã hội ngay trong quan niệm về cách ăn ở có vệ sinh, làm nhà có thiết kế khoa học. Đặc biệt, người ta ý thức rằng người Việt phải tự giải quyết các nhu cầu chung trong từng khu gia cư như cống rãnh, đường đi, phòng đọc sách báo, phòng khám bệnh, phát thuốc, vân vân. Tự Lực Văn Đoàn cũng đưa ra chủ trương đưa thanh niên thành thị tới các khu lao động hoặc về nông thôn giúp cải thiện đời sống của đồng bào. Phong trào này được nhiều người hưởng ứng, chứng tỏ trong xã hội cổ truyền Việt Nam đã có sẵn óc tương trợ, tinh thần hợp tác; và cho thấy người mình cũng sẵn sàng thí nghiệm với lối sống mới. Sự góp mặt của nhiều ngàn người, vừa ủng hộ vừa tham gia hoạt động với một tổ chức mới mẻ, cho thấy dân Việt Nam vẫn mang sẵn tập quán hợp tác, khi có cơ hội, cùng góp sức vào những việc công ích. Chúng ta biết rằng ngay các làng xã Việt Nam từ ngàn năm trước đã chứa sẵn những mạng lưới xã hội với các tổ chức tự nguyện cho rất nhiều lớp người; đây là một truyền thống sẵn sàng để phát triển xây dựng thành xã hội công dân khi được sống dưới một chế độ tự do dân chủ.

Dân Hà Nội thời đó rất hăng hái tham gia phong trào xã hội này. Buổi ra mắt công chúng đầu tiên của hội Ánh Sáng tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, vào 9 giờ tối Thứ Hai, 16 tháng Tám năm 1937, báo Ngày Nay đã thông báo trước là ai muốn dự phải tới tòa báo nhận giấy mời, vì số chỗ ngồi có giới hạn. Đêm hôm đó, hơn hai nghìn người được mời vào trong rạp hát, một số tương đương phải đứng ngoài nghe qua loa phóng thanh. Có những người từ Huế đến, từ Hà Nam, Thái Bình lên. Họ tới để nghe các bài diễn thuyết khô khan, có bài nói rất dài. Phần giải trí chỉ gồm mấy bài hát của các em “Sói Con” thuộc phong trào Hướng Đạo ở Hà Nội; các em hát những bài theo điệu cổ hoặc ca khúc bình dân của Pháp, đặt lời Việt, chỉ cổ động cho Nhà Ánh Sáng.

Ban tổ chức đã phải nhờ các Hướng Đạo Sinh đem phát hơn hai ngàn tờ “Giấy Xin Lỗi” cho vài ngàn người đứng ngoài. Trong nhà hát, máy phóng thanh kêu gọi: “Xin những ông nào cứng chân, cứng tay chịu khó đứng dậy nhường chỗ cho các bà các cô yếu đuối!” Một cô “thân thể nở nang” đang đứng đã phản đối: “Chúng tôi chẳng cần ai nhường chỗ!” và được nhiều người hoan hô. Hơn hai ngàn người ngồi lắng nghe các bài diễn thuyết của Nhất Linh, Phạm Văn Bính, Hoàng Như Tiếp, vân vân, mà theo nhận xét của nhiếp ảnh gia Anh Photo, “Các ông các bà ấy ngồi nghe yên lặng, chăm chú như Bụt cả.” Nhiều người vỗ tay hoan hô các diễn giả đang nói, nhưng bị người chung quanh “suỵt” yêu cầu ngưng, “làm như thính giả không được quyền ngắt lời diễn giả.” Ngay cả giới công nhân giúp việc xây dựng và bài trí sân khấu cùng phòng họp, bẩy người do ông Cai Phả chỉ huy, cũng ý thức trách nhiệm xã hội khi họ trả lại số tiền thù lao, để đóng góp với Hội Ánh Sáng. Họ xin gia nhập, còn hứa sẽ cổ động thêm 100 hội viên mới khác (bài tường thuật của Khái Hưng trên Ngày Nay số 73, trang 663).

Chương trình Nhà Ánh Sáng cũng được nhiều tờ báo khắp nước ủng hộ rất sớm. Báo Tràng An ở Huế, ngày 1 tháng Sáu năm 1937, có bài viết, hô hào: “Hỡi các thanh niên trí thức Việt Nam! Hỡi đồng bào Việt Nam! Trước cảnh thô sơ của Tổ Quốc, chúng ta đứng đậy đi, hăng hái lên, cùng nhau hưởng ứng với Nhóm Ngày Nay!” Báo Tribune Républicaine của người Pháp cũng viết lời ca ngợi: “Chúng tôi không thể không vỗ tay hoan nghênh ý kiến những người muốn bài trừ những nhà hang tối. Chính chúng tôi trước kia trong báo Indochine Républicaine đã hô hào lập một hội bài trừ những nhà hang tối … Nhưng chúng tôi chỉ thiếu một thứ: Tiền!” Sau cùng, tờ báo chúc thành công: “Cố lên, anh em sáng lập Hội Ánh Sáng!” Ký giả Bùi Thế Mỹ, trên báo Điện Tín, ngày 13 tháng Bẩy năm 1937 ở Sài Gòn viết, “Nếu chúng tôi không lầm, cái ý kiến lập Hội Ánh Sáng này nguyên là của bạn đồng nghiệp Ngày Nay ở Hà Nội. Nhưng nay đã đến lúc được đem ra thực hành thì … Hội Ánh Sáng sẽ vượt khỏi ranh giới chật hẹp của Bắc Kỳ mà trở nên một cái hội chung cho cả nước!” Bài báo Điện Tín nhắc lại lời “bá cáo” của ủy ban tạm thời: “Hội Ánh Sáng không phải là công cuộc riêng của một đảng phái, một giai cấp hay một tờ báo nào. Hội Ánh Sáng là công cuộc chung của cả một dân tộc …”

Báo Ngày Nay liên tiếp loan tin về các người đóng góp cho Hội Ánh Sáng, để cổ động thêm nhiều người khác. Một độc giả ký “Vô Danh” từ Quy Nhơn gửi hai đồng về giúp quỹ hội. Hội tổ chức một cuộc đấu quyền lấy tiền làm việc nghĩa, Võ sĩ Mai Thanh Ngọ mang đến tặng hội 5 đồng “để mua gạo phát chẩn cho dân bị lụt.” Con số 5 đồng đó cũng lớn bằng số tiền ông Thống sứ Châtel tặng cho hội! Chủ hiệu may Tân Mỹ ở Phố Bờ Hồ xin trích 5% số tiền bán hàng lẻ trong hai tháng để “biếu anh em bị lụt và hội Ánh Sáng.” Trong số báo 83 (ngày 3 tháng 10, 1937) tờ báo loan tin nhận được 25 đồng của một vị ẩn danh, do “Sư cụ chùa Quán Sứ” đem tới. Nhà hảo tâm này đến chùa nhờ cúng giỗ “làm chay” cho cha mẹ, sư cụ khuyên nên đem tiền giúp một công cuộc từ thiện, và họ đã chọn hội Ánh Sáng. Tuần sau, sư cụ lại đưa thêm 50 đồng nữa, cũng do một tín chủ ẩn danh tặng hội, bỏ việc “làm chay” để góp quỹ từ thiện. Một hội thể thao, Tổng Cuộc Vận Động Bắc Kỳ, đã tổ chức một ngày thao diễn với các môn bóng rổ, bóng tròn, một nửa số tiền thu được đem cho Ban Từ Thiện Hội Ánh Sáng mua gạo giúp đồng bào bị nạn lụt.

Thay đổi toàn diện xã hội

Khái Hưng kết luận bài tường thuật tối ra mắt tại Hà Nội bằng một ý kiến. Ông viết về những phút bế mạc, “…lúc đứng dậy ra về, toàn thể thính giả lại giơ tay hoan hô chúc tụng Hội Ánh Sáng bằng những tiếng từ trái tim phát ra. Lúc ấy ai không bồi hồi cảm động! Ai không sung sướng cúi nhìn dấu hiệu ba tia sáng cài ở ngực và tự trả lời thầm câu hỏi của Nhất Linh (trong bài diễn thuyết mở đầu): - Có thể thay đổi khác hẳn trước được! Chúng ta đều tin chắc như thế!”

Thay đổi “khác hẳn trước,” cũng như châm ngôn Cải Cách, đó cũng là chủ trương ngay từ đầu của Tự Lực Văn Đoàn trong phạm vi sáng tác. Họ đã nói muốn thay đổi văn chương, nghệ thuật. Qua các tiểu thuyết, họ đã đề nghị thay đổi phong tục, tập quán trong gia đình của người Việt. Họ cổ động thay đổi y phục, với các kiểu áo “tân thời” của Họa sĩ Cát Tường. Họ đóng góp cho việc thay đổi tư tưởng giới thanh niên với “Mười Điều Tâm Niệm” và các bài xã luận của Hoàng Đạo. Báo Ngày Nay cũng công khai bầy tỏ ý kiến về các vấn đề chính trị đương thời. Họ bác bỏ đề nghị áp dụng lại bản hiệp định năm Giáp Tuất, 1884, Pháp trả lại quyền cai trị Bắc Kỳ cho triều đình Huế. Cần phản đối đề nghị đó vì ai cũng biết rằng giới quan lại của nhà Nguyễn lúc đó vẫn còn rất lạc hậu, họ sẽ cai trị theo lối chuyên chế hơn cả chế độ thuộc địa. Hà Nội là một nhượng địa cho Pháp cho nên được áp dụng một số luật của Pháp, còn tốt hơn luật của triều đình Huế. Sau đó, ngày 5 tháng Tám năm 1939, các nghị viên ”Viện Dân Biểu Bắc Kỳ” gửi thư cho tổng trưởng thuộc địa Pháp phản đối việc đặt Bắc Kỳ thuộc về triều đình Huế, họ đã theo ý kiến này, viết việc đó sẽ “bắt chúng tôi đi giật lùi 50 năm” (Ngày Nay số 177, ngày 2 tháng Chín năm 1939).

Trên báo Ngày Nay, Hoàng Đạo tiếp tục trên con đường của Phan Châu Trinh đã đi, với những bài xã luận bàn về các quyền chính trị, quyền tự do hội họp và lập hội, tự do ngôn luận, đăng liên tiếp trên nhiều số báo Ngày Nay. Hoàng Đạo bàn về chủ trương của Đế quốc Anh cho các thuộc địa được tự trị và bầu các nghị viện với quyền quyết định các chính sách trong xứ. Ông thấy chủ trương đó có giá trị như thiết lập một chế độ “quân chủ lập hiến.” Nếu người Pháp thi hành chính sách đó ở Đông Dương thì chức vị toàn quyền đóng vai như một ông vua, vẫn bị ràng buộc bởi người dân qua quyền bầu cử nghị viện (Ngày Nay, số 75, trang 711). Có lúc ông viết thẳng một bài kêu gọi ông Phạm Quỳnh hãy từ chức thượng thư, trở về cương vị một nhà báo. Ông nói thẳng, đã nhận thấy sau bẩy năm tham chính Phạm Quỳnh không thực hiện được một điều gì tiến bộ như ông đã từng cổ động khi làm tạp chí Nam Phong. Lối viết của Hoàng Đạo trong bài này, với lý luận đanh thép và lời văn nhã nhặn, trong khi phê phán và công kích vẫn bầy tỏ thái độ kính trọng đối tượng mình đang nhắm vào, đúng là thái độ cư sử của một con người được thừa hưởng giáo dục nhà Nho nhưng cũng sống với tinh thần dân chủ.

Đây là một thái độ mà nhiều người trí thức thời đó cũng như ngày nay còn thiếu. Một đức tính cần thiết để sống trong xã hội dân chủ là biết tôn trọng những người khác ý kiến với mình. Tự Lực Văn Đoàn đã thể hiện tinh thần đó mặc dù khi phê bình các nhân vật đương thời tờ báo của họ nổi tiếng về lối văn hài hước, châm chích những người khác. Một trường hợp đáng nhắc lại là một cuộc “bút chiến” giữa Ngày Nay và báo Tân Việt Nam do nhà văn Phan Trần Chúc chủ biên. Ông Phan Trần Chúc đã tới họp và tỏ ý ủng hộ trong thời gian chuẩn bị thành lập Hội Ánh Sáng, nhưng từ số báo ngày 11 tháng Chín, 1937 tờ báo do ông chủ trương lại phản đối. Lúc đầu, báo Ngày Nay (số 77) nói họ “không muốn trả lời bằng lời nói, mà sẽ trả lời bằng việc làm.” Nhưng sau đó, báo Tân Việt Nam tiếp tục chỉ trích, có lúc nói hội Ánh Sáng theo một chương trình không thể thực hiện được, giống như “công cuộc của người điên.” Hoàng Đạo đã sử dụng giọng văn hài hước, châm biếm để phản công. Trong một bài viết, ông gọi tên đối thủ là “Ông Chúc họ Phan Trần,” viết đi viết lại như thế. Trong đoạn cuối, ông nhắc lại một câu ca dao cổ “Đàn ông chớ kể Phan Trần,” và kết luận: “Thế thì họ Phan Trần, ta còn kể đến làm gì!”

Cuộc bút chiến sau đó kết thúc với cuộc hòa giải của nhiều người đại diện các báo tại Hà Nội, cho thấy thời đó làng báo ở Hà Nội vẫn có một truyền thống tốt. Ngày 19 tháng Mười năm 1937, một “hội đồng” gồm nhiều nhà báo nổi tiếng ở Hà Nội, thuộc chín tờ báo đang xuất bản, cộng với nhiều nhà báo độc lập khác, đã họp lại như một phiên tòa để phê bình cả hai tờ báo đang cãi nhau. Đó là “Một việc xưa nay chưa từng có trong làng báo Đông Dương,” như tựa đề bài tường thuật đăng trên Ngày Nay số 83, trong tuần lễ sau đó. Bài tường thuật kể lại những lời chỉ trích báo Ngày Nay của Lê Văn Siêu (ông nói: Ngày Nay có lỗi nhiều hơn, nhất là khi đem họ của Phan Trần Chúc ra chế nhạo); Trần Huy Liệu (được bầu làm chủ tọa, ông nói trong lời kết luận: “Tôi phàn nàn anh Hoàng Đạo đã dọa đánh trong báo Ngày Nay); nhà thơ Thao Thao (Tôi phản đối cái lối viết thô bỉ và tục tằn của cả hai bên); Trương Tửu (Trong cuộc bút chiến không được dùng những cái lối mỉa mai, mạt sát, đểu giả); vân vân. Lối trình bày trung thực này, đăng những lời chỉ trích cả hai báo Tân Việt NamNgày Nay, là một thái độ thẳng thắn, trung thực đáng kính trọng; các nhà báo thời nay vẫn cần học lại thái độ trung thực đó.

Phong trào Nhà Ánh Sáng không phải chỉ nhắm vào mục đích xây cất nhà rẻ tiền, như viết trong điều lệ của họ, mà còn nuôi những tham vọng lớn hơn. Trong bài diễn thuyết của Nhất Linh ở Hải Phòng, ngày 13 tháng Giêng năm 1938, ông đã nói đến viễn tượng xây dựng những “thôn Ánh Sáng” để cải thiện toàn thể xã hội nông thôn Việt Nam. Trong các thôn đó các “ủy viên Ánh Sáng sẽ đến với dân ở trong thôn, hàng tuần tổ chức các cuộc nói chuyện thân thiện và có ích, những cuộc vui giải trí. Mỗi ủy viên sẽ nhận lấy một gia đình và đi lại thăm nom họ, dậy bảo họ như một người bạn thân.” Ông cho thấy mục đích của phong trào này không phải chỉ là để xây nhà: “Làm nhà không, không đủ, các ủy viên Ánh Sáng sẽ là và phải là những người bạn thân để mãi mãi dìu dắt đám dân nghèo ra khỏi nơi tối tăm.” Chúng ta thấy Nhất Linh có cả một chương trình cải cách xã hội, chứ không phải chỉ xây dựng các thôn Nhà Ánh Sáng.

Nhất Linh đã đánh thức lương tâm của giới trí thức thành thị khi kêu gọi họ coi việc phục vụ dân nghèo là một trách nhiệm, một bổn phận. Ông nói, “Ta không nên nói việc sắp làm là một việc thi ân cho các bạn nghèo. Chúng ta phải tự cho rằng hững hờ với họ là một sự không công bằng, là một tội lỗi nữa. Và ngay từ bây giờ đây, ta phải cố sức để chuộc cái lỗi đó với các bạn nghèo kém trong xã hội.”

Trong bài nói chuyện trên Nhất Linh vẽ ra triển vọng một thời kỳ “Thay đổi toàn diện xã hội cũ” theo “cảnh đời mẫu trong các thôn trại Ánh Sáng.” Ông nhấn mạnh, “sự thực hiện mục đích của Đoàn đã lan ra ngoài phạm vi của đoàn, của chi đoàn ở các tỉnh, các huyện và tràn về tới các làng quê…. Đến lúc đó, cái xã hội cũ của ta đây sẽ hoàn toàn biến thành một xã hội mới, một Xã hội Ánh Sáng.” (bài diễn thuyết đăng lại trên Ngày Nay số 94, 16 tháng Giêng 1938, trang 6, 7).

Nhìn lại các ý tưởng mà Nhất Linh nêu ra như trên, chúng ta thấy ước vọng của ông và cả nhóm Tự Lực Văn Đoàn là tiến tới một phong trào cải cách cả xã hội, bắt đầu bằng hoạt động của Hội Ánh Sáng. Tham vọng này không khác gì chương trình một đảng chính trị hay một tổ chức cải cách xã hội; giải thích sự dấn thân của Tự Lực Văn Đoàn vào các đảng chính trị quốc gia sau này, từ những năm 1940 đến 1946, sau khi tờ báo bị đóng cửa và nhiều nhà văn như Hoàng Đạo, Khái Hưng, họa sĩ Nguyễn Gia Trí bị Pháp bắt giam.

Một cải cách xã hội khác được Hội Ánh Sáng cổ động là nâng cao vai trò của nữ giới trong công việc xã hội. Các tiểu thuyết luận đề của Tự Lực Văn Đoàn đã đưa ra chủ trương nâng cao địa vị phụ nữ trong gia đình. Hội Ánh Sáng thể hiện chủ trương đó trên một bình diện rộng hơn. Trong buổi ra mắt Hội Ánh Sáng ở Hải Phòng kể trên, Bà Nguyễn Thị Phú đã đọc một bài diễn văn nói về hoạt động xã hội "đưa đường chị em đến sự giải phóng.” Bà cổ động: “Các bạn nên ra ngoài xã hội, cùng các bạn trai gánh vác lấy công việc chung…. Các chị em nghèo kém hiện nay đương chìm đắm trong tối tăm, sẽ được các bạn săn sóc thân yêu đến và gia đình các bạn nghèo đó, trong các thôn trại Ánh Sáng, sau đây sẽ là gia đình thứ hai của các bạn.” Bà Vũ Ngọc Phan viết bài thơ khuyên mọi người gia nhập Hội Ánh Sáng, “Chốn thôn ổ bấy lâu tăm tối – Nghĩ dân quê lắm nỗi lầm than;” với kết luận, “Vậy hỡi ai là bạn đồng tâm – Rủ nhau vào hội cho đông…” (Ngày Nay số 106). Trong Ngày Nay số 119, ngày 17 tháng Bảy năm 1938, vẫn còn đăng lời kêu gọi “chị em bạn gái gia nhập” trong các sinh hoạt của hội.

Cuộc diễn thuyết ở Hải Phòng, ngày 13 Tháng Giêng năm 1938 đã lôi kéo được hơn một ngàn người tham dự bên trong Nhà Hát Lớn và nhiều người đứng ngoài. Trong bài tường thuật, Tứ Ly (Hoàng Đạo) kể rằng mấy ngàn người đứng bên ngoài, trong gió lạnh, vẫn kiên nhẫn nghe các bài diễn thuyết đến gần nửa đêm. Vào lúc cuối, khi các hướng đạo sinh cất lời hát, “Giờ đây anh em đứng lên…” thì cả rạp “cất tiếng ầm lên để hưởng ứng” và đưa tay lên “chào nhau theo lối Ánh Sáng (Ngày Nay số 95, ngày 23 tháng Giêng 1938, trang 6, 7). Lối chào Ánh Sáng đã được phát động cho thấy nhóm Tự Lực Văn Đoàn muốn gây một phong trào xã hội. Trên báo Ngày Nay số 92, ngày 2 tháng Giêng 1938, trang 8, có mô tả các cách chào này, với hình vẽ: “Giơ bàn tay lên và xòe thật rộng năm ngón tay như hình mặt trời và năm tia sáng (in nghiêng trong nguyên văn). Lối chào thường: giơ bàn tay ngang tai. Chào ủng hộ: giơ hẳn bàn tay lên cao (lúc đông người).” Dùng một lối chào riêng là một cử chỉ cốt bầy tỏ thái độ dấn thân và ý muốn tham dự vào một phong trào xã hội; chắc do ảnh hưởng của phong trào Hướng Đạo, khi họ chào nhau bằng bàn tay đưa lên, ba ngón tay dựng đứng tượng trưng ba lời hứa Hướng Đạo. Ngoài ra chắc ai cũng biết hình ảnh các cuộc tập họp của thanh niên đảng phát xít ở Ý và quốc xã tại Đức, với lối chào đưa tay lên cao. Vào những năm sau 1945, khi cả xã hội Việt Nam chuyển mình với phong trào đòi độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của quân phiệt Nhật và thực dân Pháp, các thanh niên dấn thân cũng được cổ động dùng một lối chào riêng, đưa bàn tay nắm chặt lên ngang tai; một cử chỉ chứng tỏ tinh thần đổi mới. Hội Ánh Sáng dùng một lối chào riêng cho thấy các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn muốn gây một phong trào xã hội sâu rộng, mặc dù trong thời gian đó họ không chủ trương một đảng chính trị nào.

Dùng sinh lực của một dân tộc

Tuy theo đuổi viễn tượng một cuộc cách mạng xã hội, hoạt động đầu tiên của Hội Ánh Sáng được nêu lên chỉ khiêm tốn là: “bài trừ những (căn) nhà tối tăm bẩn thỉu, có hại cho người ở về phương diện vệ sinh và tinh thần” (bài diễn văn chính thức của ông Phạm Văn Bính, đọc tại nhà hát lớn Hà Nội ngày ra mắt hội, 16 tháng Tám, 1937, in trong Ngày Nay số 75, trang 714). Trên báo Ngày Nay, Hoàng Đạo đã viết những bài trong mục “Bùn Lầy Nước Đọng” để thông tin và báo động công chúng về đời sống nghèo khổ và lạc hậu ở thôn quê. Ông mô tả một làng, tiêu biểu cho cả xã hội nước ta: “đây, những lũy tre xanh cao vót ngăn cản hết gió mát ở cánh đồng lại; kia, những ao chuôm nước đen màu bùn là nơi tắm gội, rửa ráy, giặt rịa của thôn dân; rải rác trong những mẩu vườn con, đầy rác, là những mái nhà tranh lụp xụp, ẩm thấp, bên cạnh những chuồng lợn hôi hám; thỉnh thoảng lại nổi bật lên mầu đỏ xẫm của một vài mái nhà ngói.

“Nhưng nếu chúng ta bước vào những ngôi nhà ngói ấy, ta sẽ lại thất vọng … một thứ mùi hôi mốc sông (sic) lên chẹn lấy cổ; một thứ không khí lạnh, ẩm bao bọc lấy người … Những buồng ở thì bé nhỏ như một cái hang, tối om và thấp lè tè: Sống ở trong ấy hẳn là có cảm tưởng sống trong một gian ngục. Thà rằng nằm trong gian nhà tranh còn hơn.

“Song đến gian nhà tranh ta cũng không thấy hơn. Những buồng cũng tối om như một cái hang, nếu không trống trải như một cái quán; những gian nhà như vậy, mùa đông gió lùa vào chắc là lạnh cắt ruột …” (Ngày Nay số 72, trang 639).

Hoàng Đạo cũng bác bỏ những ý kiến cho là vì nghèo quá nên người dân quê mới sống trong những căn nhà như thế; nếu có tiền thì không cần ai cổ động họ cũng tự thay đổi. Ông nêu thí dụ dân nghèo Nhật Bản vẫn sống trong những căn nhà “ngăn nắp, sạch sẽ, nhiều khi còn lại có vẻ mỹ thuật nữa;” trái lại “bên Tàu những nhà giầu có chăng nữa nhà cửa cũng vẫn bẩn thỉu, hôi hám.” Ông nhắc lại câu phương ngôn “Đói cho sạch, rách cho thơm” chứng tỏ người Việt Nam vẫn có ý thức về vấn đề nhà cửa sạch sẽ, vệ sinh; một thói quen cần phục hồi.

Cùng với những bài cổ động cho việc cải tổ gia cư, những bài viết về các khu nhà thợ thuyền ở Âu châu, báo Ngày Nay đã dành mỗi tuần một hai trang (trên tờ báo thường 16 đến 20 trang) cho hoạt động của Hội Ánh Sáng. Nhà báo Phạm Văn Bính là người hoạt động nhất trong việc thành lập Hội Ánh Sáng, ông đóng vai thư ký ủy ban lâm thời rồi làm thư ký khi hội thành lập. Ông đi các nơi mời người gia nhập hội. Trong bài diễn văn ngày ra mắt hội, ông nêu ra mục tiêu cụ thể của hội là xây dựng những ngôi nhà kiểu mẫu trong các xóm thợ thuyền và các làng quê. Hơn nữa, hội còn muốn làm công việc “giáo dục” đồng bào, như, “bảo cách cho dân quê đào những giếng nước sạch sẽ theo lối khoa học, đắp những đường đi rộng rãi, thẳng thắn và sẻ những rãnh để nước bẩn có chỗ thoát.” Bốn mục tiêu của hội có thể tóm tắt như sau:

1. Bài trừ những nhà tối tăm, có hại về vệ sinh.

2. Khuyến khích làm ngôi nhà đẹp sạch sẽ, bằng nhiều nguồn vốn, trợ cấp của chính phủ và đóng góp của các nhà hảo tâm. Bảo cách cho dân quê đắp đường đi, đào giếng nước, xẻ thùng rãnh hôi hám có lối thoát.

3. Cổ động, truyền bá cho mọi người, nhất là đàn bà trông nom việc gia đình, cho các chủ nhà ăn ở ngăn nắp sạch sẽ, vệ sinh.

4. Bằng nhiều cách để giúp đỡ các gia đình nghèo “đang ở trong nhà hang tối” có nhà sáng sủa hơn.

Phạm Văn Bính nói, “chúng tôi đã trông thấy một cái chương trình man mác, không phải sức một bọn người có thể làm nổi mà cần phải dùng hết sinh lực của một dân tộc mới mong có kết quả hoàn mỹ.” (Báo Ngày Nay số 75, 15 tháng Chín, 1937, trang 714)

Những ý kiến trên được cổ động từ thập niên 1930 phản ảnh ý thức xã hội, tinh thần dấn thân và óc thực tế của những người chủ trương Tự Lực Văn Đoàn. Trong bài diễn văn trên, Phạm Văn Bính cũng nhấn mạnh đến giới lao động: “Chúng tôi … nhận rằng vấn đề nhà cửa của anh em thợ thuyền là một vấn đề rất cần kíp” và ông trình bầy viễn ảnh “hội Ánh Sáng dựng một làng thợ thuyền, trong đó có đủ cả vườn cho trẻ em chơi, nhà hội họp, đọc sách, xem báo, chỗ cho thuốc, chỗ tắm rửa, vân vân.” Ông nêu lên dự phóng làm những ngôi nhà rẻ tiền, “mỗi nếp nhà như thế có thể đủ cả bếp nước, sẽ tốn vào khoảng bẩy chục đến một trăm bạc.” Hội Ánh Sáng sẽ cho thuê các căn nhà đó với “một giá rẻ, tùy theo từng hạng chủ nhà một.”

Trong một cuộc tiếp xúc với Bác sĩ Hermant, tổng thanh tra y tế Đông Dương, tương đương với chức bộ trưởng y tế cho cả ba nước Việt, Mên, Lào để xin yểm trợ, phái đoàn Hội Ánh Sáng đã trình bầy dự án “làm ngay một xóm thợ thuyền ở gần Hà Nội,” với phương pháp “cho thuê rồi bán” (vente-location). Phái đoàn Hội Ánh Sáng nói: “Trong xóm thợ thuyền đó, hội sẽ trù liệu … làm một nhà hội họp chung cho anh em thợ thuyền, chỗ xem báo, đọc sách, chỗ đi chơi cho trẻ em lao động, và một gian phòng cho thuốc (y tế) trong đó có những thứ thuốc thông dụng, như thuốc đau mắt, đau bụng, chữa bỏng, vân vân. Hội sẽ mượn những Hướng đạo sinh có bằng Hồng thập tự thay phiên nhau đến trông nom gian phòng thuốc ấy …”

Đối với dân trong các làng quê, Hội Ánh Sáng nói: “dân quê là phần tử cốt yếu của nước chúng tôi. Chúng tôi sẽ khuyến khích họ đào giếng theo lối khoa học để có nước trong sạch mà uống… Còn nhiều việc khác như làm đường rộng rãi, thẳng thắn, khai rãnh, làm cống, chúng tôi sẽ tùy sức mà giúp họ dần dần.” (Ngày Nay số 62, trang 409)

Đọc lại những ý kiến trên chúng ta thấy phải xét lại những lời phê bình về thái độ của các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn, coi họ là tầng lớp tiểu tư sản ở thành phố, chỉ đứng ngoài nhìn vào đời sống cực khổ của nông dân mà không dấn thân tranh đấu cho những người cùng khổ. Thực ra, họ là những thanh niên có ý thức sớm nhất về nhu cầu cải cách xã hội, và dấn thân vào những chương trình cụ thể nhất vào thời gian đó. Lòng hăng hái của họ đã tác động trên cả giới trí thức, trung lưu ở thành thị, huy động được nhiều học sinh nam, nữ cùng tham gia. Hình ảnh mấy chục đoàn thanh niên đi cổ động vào từng căn nhà khắp thành phố Hà Nội để mời mọi người tham gia Hội Ánh Sáng là một cảnh tượng hoàn toàn mới. Nếu sống trong một xã hội dân chủ tự do thì chắc chắn phong trào này sẽ khởi đầu đặt nền tảng cho một xã hội công dân sinh động. Theo tài liệu văn khố Pháp (ANV, MHN, 2858, Rapport de la Sûreté adressé au Commissariat Central, 9 Août 1940) thì riêng tại Bắc Kỳ Hội Ánh Sáng đã thu hút được khoảng ba ngàn người tham gia.

Giống như các phong trào thanh niên hoạt động xã hội sau này, trong Phong trào Ánh Sáng cũng xuất hiện những bài hát, bài đồng ca để tác động giới trẻ. Báo Ngày Nay số 73 đã in bài hát do Thế Lữ soạn lời dựa theo giai điệu bài La Badge của hướng đạo sinh Pháp:

Anh em! Thấy không trong đời

Còn bao nhiêu nỗi đớn đau

Dân ta biết bao nhiêu người

Lầm than nheo nhóc bấy lâu

Trong xó vách nát, lều tranh

Chen chúc sống dưới trời xanh

Nào! Đem Ánh Sáng soi tới

Vùng tối tăm cho người cùng loài

Nào! Đem Ánh Sáng soi tới

Đời tối tăm bao người

(Soạn lời cùng Trần Duy Hưng, một huynh trưởng hướng đạo)

Trong báo Ngày Nay số 75, Thế Lữ soạn lời một bài ca Ánh Sáng, theo điệu Mãi Tạp Hóa, một điệu ca sau còn được đặt lời thành bài hát “Anh hùng xưa” rất phổ thông:

Đoạn (1)

Reo mừng đi! Ới đời sung sướng

Non nước non đua cười

Cười ròn sáng

Ánh sáng hằng reo xuống

Non nước non đua cười

Cùng ta (cùng) ta sung sướng

Trông nước non đua cười

Thấy đời vui!

Đoạn (2)

Trông kìa trông lớp nhà ai đứng

Tranh mái tranh gọn gàng

Tường mầu trắng

Ánh Sáng vàng tươi nắng

Như bức tranh nhịp nhàng

Nhà ai nhà ai quang sáng

Hương gió đưa dịu dàng

Dưới trời quang.

Thêm một bài hát theo điệu “Ngũ điểm mai” do Thế Lữ soạn lời mới:

Đón mừng Ánh Sáng cùng reo

Bao nhiêu miệng bấy nhiêu nụ cười

Kìa trông dưới xóm cây tươi

Khéo trang điểm cái vui bạn nghèo

Bước vào mấy lớp nhà tranh

Thấy cao rộng thênh thênh lạ thường

Vì chưng “ánh sáng” xuyên ngang

Gió đưa lại ánh dương nhẹ nhàng.

Hết thời chui rúc lầm than

Thấy chăng vẻ phong quang hiện về

Bài ca “ánh sáng” lan đi

Sáng soi cả thôn quê thị thành.

Các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn đã biết vận dụng các phương tiện truyền thông trong thời đại của họ trong dự phóng cải tạo xã hội, từ báo chí, hội họp, tới các bài hát cộng đồng. Họ đã nhìn thấy triển vọng lớn nếu tác động được giới thanh niên tham gia vào phong trào nhằm thay đổi xã hội này. Vì vậy, ngay từ khi thành lập, họ đã được các đoàn hướng đạo hợp tác; ông Phạm Văn Bính cũng là một huynh trưởng hướng đạo; sau năm 1950 có lúc làm bộ trưởng Thanh niên.

Với phương pháp vận động mới mẻ, Hội Ánh Sáng đã gây quỹ bằng cách đưa các thanh niên, thiếu nữ gọi là “ủy viên Ánh Sáng” và “các nàng tiên Ánh Sáng” đi lạc quyên khắp thành phố Hà Nội. Một “Ngày Ánh Sáng ở Hà Nội đã mời thêm được 2352 người gia nhập hội, với tiền thu được 1221 đồng. Đến năm 1939, trước khi Thế Chiến Thứ Hai xẩy ra, các hoạt động của Hội Ánh Sáng vẫn rầm rộ. Báo Ngày Nay số 150, ngày 25 tháng Hai, loan tin Hội sẽ tổ chức một Chợ Phiên Ánh Sáng để thu tiền xây dựng “Thôn Ánh Sáng Voi Phục,” ở ngoại ô Hà Nội. Song song, hội cũng tổ chức một đêm với Ban Kịch Thế Lữ diễn vở Đoạn Tuyệt, do Nguyễn Xuân Đào phóng tác theo tiểu thuyết của Nhất Linh. Thanh thế của phong trào Ánh Sáng tiếp tục thu hút giới lòng ngưỡng vọng của thanh niên từ khắp nước ta. Ngày 8 tháng Bẩy năm 1939, một đoàn “Giáo viên Trung Kỳ” đi du lịch miền Bắc đã được dẫn tới thăm Trại Ánh Sáng ở khu Phúc Xá, Hà Nội (Ngày Nay số 177, ngày 15 tháng Bảy, 1939). Ông hội trưởng Hội Ánh Sáng Tôn Thất Bình và các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp đã thuyết trình với họ về hoạt động của hội. Các nhà giáo Trung Kỳ đi thăm các nhà ở của dân, thăm phòng đọc sách, phòng khám bệnh, họ tặng Hội Ánh Sáng 10 đồng. Phái đoàn do nhà giáo Lâm Toại dẫn đầu (sau này ông Lâm Toại được bầu làm hội trưởng đầu tiên của hội Hướng Đạo Việt Nam khi tái lập vào năm 1950).

Quan hệ với chính quyền thuộc địa

Hoạt động chính ban đầu của Hội Ánh Sáng là xây dựng nhà ở. Muốn vậy, họ phải vận động xin được đất công do chính quyền thuộc địa kiểm soát. Và muốn gây quỹ, họ phải được phép của chính quyền cho hoạt động chính thức, theo luật lệ đang dùng. Vì vậy, ngay từ đầu, Tự Lực Văn Đoàn đã vận động ngay với các nhân vật người Việt đang cộng tác với chính quyền Pháp; nhờ thế được các quan cai trị người Pháp ủng hộ. Nhưng chính giới cai trị cũng thấy cần phải tham dự, bảo trợ các hoạt động này để dễ theo dõi và kiểm soát. Hơn nữa, vấn đề gia cư cũng là một đề tài được chính quyền thuộc địa đặt ra từ hàng chục năm trước.

Tình trạng nhà ở tại Hà Nội trong thập niên 1930 chật chội, thiếu thốn, và mất vệ sinh được mô tả trong một bài nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuyên, khi ông còn là một sinh viên y khoa, La Question des logements insalubres à Hanoi. Trong khu trung tâm thương mại của thành phố gọi là “Ba mươi sáu phố phường,” mỗi mẫu tây (ha) có từ 1,000 đến 2,000 cư dân. Nguyễn Văn Tuyên cho thí dụ một ngôi nhà hai tầng số 92 phố Mã Mây (rue des Pavillons Noirs) có tới 68 người cư ngụ. Trong khi đó nghị định của chính phủ quy định tối đa chỉ có hai người trong mỗi 30 mét vuông. Nguyễn Văn Tuyên ấn hành cuốn sách mỏng hơn 70 trang này để cảnh cáo là trong điều kiện sống chật hẹp và thiếu vệ sinh các bệnh truyền nhiễm sẽ lan tràn và hỏa hoạn dễ xẩy ra. Theo ông, giải pháp duy nhất cho vấn đề xã hội này là phải xây dựng thêm nhiều khu nhà để cho thuê rẻ tiền.

Chính quyền bảo hộ Pháp tại Đông Dương đã chú ý tới vấn đề cải tổ gia cư, ít nhất cũng trên giấy tờ. Năm 1920, họ đã ra nghị định áp dụng một đạo luật của nước Pháp (ban hành ngày 24 tháng 10 năm 1919) nhằm giới hạn không cho tăng tiền thuê nhà quá cao. Cũng giống như vậy, một đạo luật khác ở nước Pháp 5 tháng 12 năm 1922) về các căn nhà giá rẻ (les Habitations à Bon Marché, viết tắt HBM) cũng được áp dụng ở Việt Nam từ năm 1928. Nhưng theo Caroline Herbelin (2009, Université de Toulouse) thì trong thực tế các nghị định này không bao giờ được thi hành. Cũng trong năm 1928, bên Pháp đã làm đạo Luật Loucheur (Loi Loucheur) trong đó chính phủ khuyến khích việc xây cất các ngôi nhà giá rẻ (HBM). Đạo luật này được áp dụng ở Nam Kỳ (Cochinchine) là thuộc địa của Pháp, “cho người Pháp và dân bản xứ.” Vì đạo luật Loucheur được áp dụng nên có hai tổ chức tư được thành lập ở Sài Gòn với mục đích cổ động việc xây nhà rẻ tiền, và chính quyền cũng lập ra một văn phòng phụ trách công việc này. Nhưng cả hai tổ chức trên cũng như văn phòng do nhà nước lập ra đều không hoạt động được, vì thiếu tiền. Trong khi đó thì tình trạng gia cư ở thành phố giầu có nhất là Sài Gòn cũng rất thấp kém. Năm 1937, hầu hết dân Việt ở Sài Gòn (70%) sống trong các căn nhà lá, chỉ người Pháp và người giầu có mới ở nhà gạch.

Tuy nhiên, giá thuê nhà mà luật Loucheur bắt áp dụng ở Nam Kỳ còn quá đắt đối với lợi tức của người dân Việt lúc đó, cho nên cũng không ảnh hưởng gì đến dân Việt. Thí dụ, tiền thuê một căn phòng 5 mét vuông được ấn định là 60 đồng tiền Đông Dương một tháng; trong khi lương tháng một công nhân chỉ khoảng 15 đồng, một cuốn vở (tập) cho học sinh chỉ bán giá 5 xu. Vào năm 1937, học phí lớp đồng ấu tại trường Hồ Đắc Hàm ở Huế chỉ có 70 xu một tháng. Sau này, các căn nhà do Hội Ánh Sáng xây chỉ cho thuê với giá từ một đồng rưỡi đến hai đồng một tháng.

Tại Hà Nội, năm 1929 Chi bộ Pháp Công nhân Quốc tế, SFIO (Section Française de

l’Internationale Ouvrière) đề nghị áp dụng các luật của Nam Kỳ cho miền Bắc và miền Trung. Một ủy ban đặc biệt được Toàn quyền Pierre Pasquier (1928-1934) lập ra nghiên cứu vấn đề xây dựng nhà rẻ tiền. Nhưng cuối cùng, các đề nghị chính quyền giúp ngân sách, tài chánh để xây nhà giá rẻ cũng bị Pasquier bỏ qua. Sau đó, Toàn quyền Jules Brévié (1936-1939) bãi bỏ luôn việc chính quyền can dự vào các dự án gia cư, lấy cớ rằng phải dành ngân sách cho những việc ích lợi hơn như xây đường, đắp đê. Theo tài liệu nghiên cứu của Caroline Herbelin, năm 1933, thống sứ Bắc Kỳ đã ký cho phép thành lập một tổ chức mang tên Hội Ánh Sáng, viết tên Pháp là Groupe Lumière. Nhưng hội không có hoạt động nào, tác giả cũng không biết tại sao sau đó ba năm hội này đã bị giải tán, vì không còn thấy giấy tờ nào trong văn khố ở Pháp.

Năm 1936, Đốc lý Hà Nội (thị trưởng) Henri Virgitti đã thử xây một ít nhà rẻ tiền và đưa ra dự án dùng đất của thành phố để xây những ngôi nhà như vậy, để cho thuê dài hạn rồi bán cho người thuê, nhắm vào giới trung lưu. Dự án này được bàn cãi trong hội đồng thành phố nhưng sau đó bị “quan toàn quyền” bác bỏ. Theo Giáo sư Caroline Herbelin, đến cuối năm 1937 dự án đó mới được đem ra thử. Hai năm sau, có 21 căn nhà được xây, phần lớn những người được thuê vào ở là các công chức chứ không đến lượt dân nghèo.

Chắc vì mục đích của Hội Ánh Sáng phù hợp với các dự án xây nhà rẻ tiền của chính quyền từng được nói đến mà không được thực hiện cho nên Thống sứ Bắc Kỳ Yves Châtel ký Nghị định số 4851-A cho phép thành lập Hội Ánh Sáng, ngày 14 tháng 10 năm 1937, tin được đăng trên báo Ngày Nay số 82. Bắt đầu từ đó, Hội Ánh Sáng có thủ quỹ, được thu tiền của hội viên. Theo điều lệ của hội, có nhiều loại hội viên, như đăng trên Ngày Nay, số 83:

Tán trợ hội viên: Biếu Đoàn một số tiền, ít nhất 100 đồng.

Tặng hảo hội viên: Biếu Đoàn một số tiền, ít nhất là 50 đồng.

Chủ trì hội viên: Đóng mỗi năm 1 đồng và ít nhất phải 21 tuổi.

Khuyến khích hội viên: Đóng mỗi năm hai mươi xu (dành cho thợ thuyền, học sinh và dân quê)

Chủ trì hội viên và khuyến khích hội viên, khi đã đóng cho đoàn 15 năm liên tiếp hay là đóng luôn một lúc 10 năm, sau đó sẽ được miễn lệ đóng tiền và được gọi là “vĩnh viễn hội viên.”

Ngày 14 tháng 12 năm 1937, hai ngày trước khi hội ra mắt công chúng, Toàn quyền Jules Brévié gửi thư nhận lời làm hội trưởng danh dự. Có thể nói, chính quyền thực dân lúc đó thấy đây là một cơ hội chứng tỏ họ có quan tâm đến vấn đề nhà ở, mặc dù các chính sách đã được họ nêu ra không bao giờ được thi hành. Sau khi “quan toàn quyền” đã ủng hộ hội, hội đã có thanh thế, nhiều vị quan lại “An Nam” cũng tham gia. Trong bài tường thuật một cuộc phát chẩn cho dân nghèo ở Phủ Lạng Thương, ông tri phủ khi tiếp phái đoàn đã gọi các nhà văn là “các quan Ánh Sáng!” Bài tường thuật trên báo Ngày Nay đã nhắc lại danh xưng đó để mỉa mai.

Khi đưa ra trên báo các đồ án nhà cửa mà Hội Ánh Sáng sẽ xây dựng, nhóm Tự Lực Văn Đoàn cũng đóng góp vào việc quảng bá một quan niệm mới về kiến trúc nhà ở của người Việt Nam, việc thiết kế khu gia cư nhắm cả vào các phương tiện công cộng như đường sá, cống rãnh. Họ cũng phổ biến khái niệm mỗi khu gia cư phải có phòng khám bệnh, phát thuốc, cả phòng đọc sách. Họ chú trọng tới đời sống của các nông dân và người lao động. Đó là những điều mới mẻ trong xã hội nước ta thời đó mà Tự Lực Văn Đoàn đã đi bước đầu phổ biến. Chính vì thế, phong trào Nhà Ánh Sáng được giới trí thức trẻ, tiến bộ ủng hộ nồng nhiệt. Theo tài liệu văn khố Pháp (ANOM, RSTNF 4 87 2, Association Ánh Sáng) thì ngày 4 tháng Tám năm 1938 Mật Thám Pháp (La Sûreté Générale) đã báo cáo với phủ thống sứ Bắc Kỳ rằng cả những người “lãnh đạo các nhóm stalinistes (cộng sản)” cũng tham dự vào phong trào này; trong lúc phong trào bị Mật thám luôn theo dõi (theo Caroline Herbelin).

Hành động tham gia và ủng hộ của chính quyền thuộc địa, người Pháp cũng như quan lại người Việt, có mục đích chen chân vào để kiểm soát hội chặt chẽ hơn. Bà vợ của Toàn Quyền tích cực ủng hộ, và tên “Bà Jules Brévié” đã được dùng đặt cho khu nhà Ánh Sáng đầu tiên dựng lên tại Bãi Phúc Xá, được bà đến khánh thành ngày 12 tháng Năm năm 1938. Trên bãi Phúc Xá cạnh sông Hồng lúc đó chỉ có một số túp lều tranh xiêu vẹo của một số người nghèo, đến mùa lụt thì ngập nước, nhà có thể bị sóng cuốn đi. Trong bản báo cáo năm đó, viên Đốc lý Hà Nội Virgitti đã tự kể công là chính quyền thành phố đã xây dựng khu gia cư mới này, xây cả đường xá, một trường học và phòng khám bệnh, mà không kể đến tên Hội Ánh Sáng; mặc dù việc xây nhà đã được giao cho hội.

Caroline Herbelin còn cho biết khi có những trận hỏa hoạn ở Kiến An và bãi Phúc Xá, Chính quyền Bắc Kỳ cũng yêu cầu Hội Ánh Sáng phụ trách giúp xây dựng lại các khu bị nạn, trong bức thư do Thống sứ Yves Châtel viết cho hội ngày 8 tháng Hai năm 1938.

Sự cộng tác với chính quyền thuộc địa có vẻ chỉ diễn ra ở cấp cao nhất, còn ở các tỉnh hội Ánh Sáng vẫn gặp khó khăn. Có thể suy ra chế độ thực dân chỉ nói ủng hộ bên ngoài để lấy tiếng, còn bên trong vẫn ngấm ngầm cản trở. Theo Caroline Herbelin, một dự án xây nhà Ánh Sáng ở Bắc Ninh đã bị viên công sứ Pháp ở đó từ chối, lấy lý do là không cần thiết. Thống sứ Bắc Kỳ đã phải can thiệp. Bà cũng nêu ra thí dụ một công chức Pháp ở Hà Nội bút phê vào lá đơn của Hội Ánh Sáng gửi thị trưởng Hà Nội, với những lời lẽ mạ lị. Theo bà, thì Hội Ánh Sáng bị các “quan thuộc địa” ghét chính vì họ đã thành công và nuôi dưỡng một tham vọng lớn. Cũng vì không được chính quyền Pháp ủng hộ cho nên Hội Ánh Sáng chỉ lập được một chi hội ở thành phố Hải Phòng, và hoạt động của hội chỉ gồm có hơn chục dự án trong phạm vi Bắc Kỳ. Đồng bào ở miền Trung và miền Nam chỉ được phép gửi tiền yểm trợ. Một khó khăn lớn của hội là không thể xin cấp đất xây nhà với giá rẻ, vì chính quyền địa phương đặt giá chuyển nhượng đất quá cao, theo nhận xét của Caroline Herbelin.

Tuy hoạt động trong các điều kiện hạn chế, công việc của hội cũng đạt được một số kết quả. Đến tháng Bảy năm 1938, ba khu nhà đã được xây xong trên bãi Phúc Xá, bên cạnh sông Hồng, thành phố Hà Nội. Nhưng vì đang bị lụt nên đi thăm các ngôi nhà đó cũng phải đi thuyền! Ngày 4 tháng 7 năm 1938, ban chấp hành hội đã họp bàn về bản “hợp đồng thuê nhà” do Vũ Đình Hòe soạn thảo. Sau này, những người thuê nhà của hội đã viết thư cho thành phố than phiền về điều kiện thuê nhà gây khó khăn cho họ khi muốn thay đổi chỗ ở.

Ngày 7 tháng 7, Hội đã chấp thuận cho nhà thầu xây khu (lot) nhà thứ tư, với giá 700 đồng (Ngày Nay số 120, ngày 24 tháng 7 năm 1938), lúc đó trong lúc quỹ hội vẫn còn 3736 đồng! (Để so sánh, Giải Văn chương Tự Lực Văn Đoàn năm 1939 tặng 100 đồng cho mỗi tác giả, Mạnh Phú Tư và Kim Hà). Trong khi làm công việc xây dựng nhà, Tự Lực Văn Đoàn cũng chú ý đến việc huấn luyện cán bộ để truyền bá “Ánh Sáng,” như Nhất Linh đã nêu lên. Năm 1938, Hội Ánh Sáng đã ấn định “chương trình học tập của đoàn huấn luyện,” khai giảng ngày 25 tháng Bảy và kéo dài ba tháng.

Có thể nói, các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn đã cố gắng thỏa hiệp một phần nào với chính quyền thuộc địa để phong trào dễ hoạt động, nhưng chính sách của nhà nước thực dân vẫn không thay đổi. Giống như các chế độ chuyên chế khác, họ không muốn các tổ chức tư nhân có cơ hội phát triển mạnh hơn; và chắc chắn họ không thả lỏng cho một xã hội công dân thành hình, trở thành một đối lực xã hội trước mặt nhà nước.

Gieo hạt giống cho xã hội công dân

Kết quả cụ thể của Hội Ánh Sáng không được lớn như ước vọng lúc đầu. Từ trước cuộc Đại chiến Thứ Hai, chính quyền thuộc địa bắt đầu thắt chặt việc kiểm soát, báo Ngày Nay bị kiểm duyệt kỹ càng hơn, các người lãnh đạo bị theo dõi và đe dọa.

Nhìn lại sinh hoạt của Hội Ánh Sáng do Tự Lực Văn Đoàn khởi xướng, chúng ta thấy một biến chuyển trong lịch sử xã hội Việt Nam mà phong trào Nhà Ánh Sáng là một trong nhiều biểu hiện. Thập niên 1930 nối tiếp theo những năm 1920 với các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp bằng vũ lực. Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập từ 1924 đã dẫn tới cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, Nguyễn Thái Học và các liệt sĩ hy sinh vì nước. Sau khi các cuộc đấu tranh dùng vũ lực thất bại, thanh niên Việt Nam bắt đầu các vận động chính trị dưới hình thức xã hội, ôn hòa, trong vòng luật lệ của chính quyền Pháp. Đám tang Phan Châu Trinh và các cuộc biểu tình vận động đòi trả tự do cho Phan Bội Châu đánh dấu việc tham gia của giới thanh niên trí thức vào các hành động tập thể nhân danh quyền của người dân.

Sang thập niên 1930, các phong trào thể thao được chính quyền dung dưỡng đã thu hút giới thanh niên thành thị. Phong trào Hướng đạo ra đời trong thời gian này, lần đầu tiên một đoàn thể thu hút giới trẻ mà trong đó họ có thể “tuyên thệ” một cách công khai là phải “Trung thành với Tổ quốc,” ngay dưới chế độ thuộc địa. Cũng trong thời gian này, các hội Tăng Già (Shangha) của các tu sĩ Phật giáo cũng như các hội Phật học của giới cư sĩ đã lần lượt ra đời. Tại Nam Kỳ, có các đảng chính trị xuất hiện, hoạt động trong khuôn khổ luật lệ Pháp. Các đảng phái chính trị hoạt động như những “hội kín” vẫn tiếp tục, trong đó có các nhóm Cộng sản theo chủ trương quốc tế, vượt trên khuôn khổ một quốc gia, dân tộc. Thập niên 1930 là một giai đoạn chuyển mình của xã hội Việt Nam, khi người dân tích cực lập ra các tổ chức tư đáp ứng nhu cầu của chính họ. Đây chính là mầm mống phát sinh các xã hội công dân ở các nước tự do dân chủ.

Trong cuộc vận hành chung đó, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, các đoàn hướng đạo, do dân chúng thành phố tự động thành lập, tự nguyện tham gia, cho thấy nền tảng tinh thần cho một xã hội công dân đã được người Việt Nam gieo mầm ngay trong thời Pháp thuộc. Xã hội Công dân là một hiện tượng mới được ghi nhận ở Âu châu từ thế kỷ 18, sau khi cuộc cách mạng công nghiệp phát triển. Nhờ kinh tế phát triển tạo ra một lớp người dân sống trong thành thị, họ độc lập về kinh tế đối với các vua quan phong kiến, và mỗi ngày thế lực của họ càng mạnh hơn, cho nên “xã hội thị dân” mới hình thành; tên gọi này được Hegel sử dụng, sau được Marx nêu lên để công kích tính chất “tư sản” của xã hội công dân. Sự phát triển các xí nghiệp và các hiệp hội tự nguyện củng cố xã hội công dân, và sau này sẽ làm nền tảng cho việc thực hiện thể chế dân chủ tự do; như Alexis Tocqueville đã nhận xét về nền dân chủ ở nước Mỹ.

Ngay trong thời Pháp thuộc, các mầm mống của xã hội công dân đã có mặt tại Việt Nam, trong đó phong trào Ánh Sáng của Tự Lực Văn Đoàn đã là một thành tựu đáng kể. Bản chất của xã hội công dân là tính chất tự do, tự nguyện của những người tham gia vào các hiệp hội, đoàn thể với mục đích vô vị lợi; Hội Ánh Sáng đã đạt được những điều kiện đó. Các hội đoàn trong Xã hội Công dân nhằm đáp ứng các nhu cầu chung của từng nhóm người, trong đó có nhu cầu phục vụ xã hội, nhu cầu tạo dựng một nếp sống mới của giới trẻ, hoặc giản dị là nhu cầu sinh hoạt tập thể; Hội Ánh Sáng đã giúp giới thanh niên đương thời thỏa mãn những nhu cầu chung đó.

Xã hội Công dân đứng bên ngoài và độc lập với guồng máy nhà nước giúp cho cả xã hội tiến nhanh hơn. Vì trong nhiều công việc, tư nhân làm việc có hiệu năng hơn nhà nước; và có rất nhiều nhu cầu bình thường của dân mà guồng máy nhà nước không thể đáp ứng.

Chính quyền thuộc địa đã thú nhận sự bất lực của guồng máy công quyền trước các vấn đề xã hội, như việc xây các căn nhà rẻ tiền, việc cải thiện y tế, vệ sinh ở nông thôn. Hội Ánh Sáng được họ nâng đỡ vì phong trào này có thể đáp ứng các nhu cầu xã hội đó, có thể làm mẫu mực cho các cố gắng khác của tư nhân. Trong cuộc tiếp xúc với Bác sĩ Hermant, tổng thanh tra y tế Đông Dương đã nêu ra một thí dụ cho thấy lợi ích kinh tế khi người dân tự đứng ra lo cho các nhu cầu của họ, thay vì để guồng máy công chức làm. Ông nói về việc cải tổ vệ sinh ở nông thôn: “Muốn đào một cái giếng cho một làng, nếu giao cho sở Lục Lộ làm thì phải mất bốn, năm trăm bạc. Nhưng nếu giao cho dân làng, hay một người nào có công tâm săn sóc thì chỉ tốn chừng hơn một trăm bạc mà công việc cũng như nhau. Bởi vậy, hội của các ông sẽ giúp chính phủ thực hành các công cuộc xã hội một cách rẻ tiền.” Ông kết luận: “Các ông có thể chắc rằng tôi sẽ hết sức giúp hội Ánh Sáng đạt tới mục đích nhân đạo của hội.” (Ngày Nay số 62, trang 409)

Trong các thập niên 1960, 70 sau này, ở miền Nam có những thanh niên tham dự các phong trào xã hội như Học Đường Phục Vụ Xã hội, Thanh Niên Chí Nguyện, hoặc Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội, cũng vẫn theo đuổi công việc giáo dục nhắm vào nông thôn cũng nhằm tác động đồng bào theo lối sống mới như vậy. Họ cũng chỉ nối tiếp tinh thần dấn thân phục vụ mà các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn đưa ra trong thế hệ trước, mong “dùng hết sinh lực của một dân tộc” xây dựng cuộc sống chung mới. Chương trình Hè 65 quy tụ hàng chục hội đoàn thanh niên tại miền Nam Việt Nam đã tổ chức các Công trường Tự Do ở Thạnh Lộc Thôn, giữa Sài Gòn và Lái Thiêu, dựng hàng trăm ngôi nhà cho đồng bào tị nạn. Công trường Cam Lộ, Quảng Trị sau đó, kéo dài nhiều tháng trời, cũng đã xây cả một khu gia cư cho đồng bào nạn nhân chiến tranh. Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất hoạt động mười năm, từ 1964, chủ trương huấn luyện các tác viên về sống tại thôn quê, giống như những “ủy viên Ánh Sáng” mà Nhất Linh mô tả. Khác với dự tính của Nhất Linh, những tác viên Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội được theo chương trình huấn luyện kéo dài hàng năm, họ được gửi về sống thường xuyên tại các thôn làng trong nhiều năm. Tuy nhiên họ cũng làm những công việc như dậy học miễn phí, hướng dẫn dân trong làng về y tế, vệ sinh, canh nông, chăn nuôi, và khuyến khích tổ chức các hợp tác xã, vân vân, giống như Nhất Linh đã hình dung công việc của các “ủy viên Ánh Sáng.”

Công tác phục vụ xã hội của các hội đoàn thanh niên ở miền Nam thời 1960, 70 đã được Tự Lực Văn Đoàn dự báo từ ba bốn chục năm trước, với hình ảnh các thôn Ánh Sáng. Công cuộc xây Nhà Ánh Sáng, Thôn Ánh Sáng cuối cùng phải bỏ nửa chừng vì chiến tranh và các biến cố chính trị, từ năm 1939. Nhưng khi nói đến Tự Lực Văn Đoàn trong lịch sử xã hội Việt Nam chúng ta không thể chỉ chú ý tới sự nghiệp văn chương của họ mà bỏ qua không nhắc tới các nỗ lực đóng góp vào việc thay đổi xã hội, gieo rắc những hạt giống cho xã hội công dân, nền tảng của nếp sống dân chủ mà người Việt đến bây giờ vẫn cần xây đắp thêm.

Cảm Ơn: Tác giả xin ghi ơn cô Phạm Lệ Hương, quản thủ thư viện, và ông Nguyễn Trọng Hiền, nhiếp ảnh gia con trai họa sĩ Cát Tường; cả hai vị đã cung cấp và mách bảo nhiều tài liệu để soạn bài này. Mọi sai lầm và thiếu sót chỉ một mình người viết chịu trách nhiệm.

Đỗ Quý Toàn

Tham Khảo

Caroline Herbelin, “Des habitations à bon marché au Việt Nam. La question du

logement social en situation coloniale,” Moussons, 2009, trang 123-146

Nguyễn Văn Tuyên, 1938, La Question des logements insalubres à Hanoi, Hanoi:

Imprimerie G. Taupin.

Các trang báo Ngày Nay, trong văn khố Thư Viện Người Việt Online, có thể đọc trên mạng bất cứ lúc nào.

clip_image002

clip_image003Hình: Nhà văn Đỗ Quý Toàn