Danh Ngôn

Trong giáo dục không có gì kinh hoàng bằng mức độ dốt nát mà nó tích lũy lâu dài dưới dạng những kiến thức xơ cứng.

Nothing in education is so astonishing as the amount of ignorance it accumulates in the form of inert facts.

Henry Adams (1838-1913). The Education of Henry Adams, 25, 1907

Một chút học vấn ít ỏi, thật ra, có thể là một điều nguy hiểm, nhưng thiếu học vấn [giáo dục] là một đại họa cho bất cứ một dân tộc nào.

A little learning, indeed, may be a dangerous thing, but the want of learning is a calamity to any people.

Frederick Douglass, diễn văn đọc ở lễ ra trường tại Trường Trung học Da màu, Baltimore, Maryland, 22 tháng Sáu 1894

Người tự do không thể làm một người dốt nát lâu dài. (The free man cannot be long an ignorant man.

William McKinley, diễn văn đọc tại Pittsburgh, Pennsylvania, 3 tháng Mười Một 1897

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Simone de Beauvoir: Nhà sáng lập phong trào nữ quyền

 

clip_image003

Nguyn Hi Hoành

Simone de Beauvoir là triết gia, nhà văn theo chủ nghĩa hiện sinh và nhà hoạt động chính trị, một trong những phụ nữ Pháp nổi tiếng nhất thế kỷ 20; được gọi là người làm thay đổi giới phụ nữ phương Tây thế kỷ 20. Tổng thống Pháp François Mitterrand từng ca ngợi bà là “một trong những nhà văn bậc thày, nhà tiên phong vạch thời đại. Cuộc đời của bà, các tác phẩm bà viết và cuộc đấu tranh của bà đã nâng cao giác ngộ của tất cả những người đàn ông và đàn bà nước Pháp cũng như toàn thế giới”.

Tên bà được đặt cho một cây cầu bắc qua sông Seine thơ mộng đoạn chảy qua Paris, tiếng Pháp gọi là Passerelle Simone de Beauvoir. Cầu do kiến trúc sư người Áo Dietmar Feichtinger thiết kế, có hình dạng độc đáo tựa như con mắt mở to của người đàn bà. Thư viện quốc gia Mitterrand đứng sừng sững bên này cầu, sang bên kia cầu ta sẽ gặp tòa kiến trúc đồ sộ của trụ sở Bộ Tài chính Pháp và công viên Bercy xanh tươi êm đềm.

Simone de Beauvoir sinh năm 1908 trong một gia đình khá giả ở Paris; cha là luật sư tòa án Paris, mẹ là một tín đồ Thiên chúa giáo ngoan đạo. Thế nhưng từ năm 14 tuổi trở đi Beauvoir không còn tin vào bất cứ tôn giáo nào. Cô có cá tính độc lập cao tới mức hiếm thấy, năm 19 tuổi từng tuyên bố không bao giờ chịu khuất phục bởi ý chí của người khác.

Trong thời gian học đại học, Beauvoir rất giỏi các môn văn và toán. Tốt nghiệp Văn khoa trường Đại học Paris năm 1927, tiếp đó bà đi sâu vào triết học và dự định lấy bằng thạc sĩ triết học (agrégation de philisophie), một học vị rất khó giành được.

Năm 1929, trong thời gian sắp diễn ra kỳ thi nói trên, Beauvoir hợp tác với một nhóm sinh viên ưu tú tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Paris, trong đó có Jean Paul Sartre; hai người cùng nhau chuẩn bị trả lời các đề thi.

Kết quả kỳ thi: Jean Paul Sartre 24 tuổi đỗ đầu bảng nam (thi lần 2), Simone de Beauvoir 21 tuổi đỗ thẳng, đứng thứ hai bảng nữ (trước đây Pháp cũng phân biệt nam nữ nên xếp hạng riêng). Như vậy hồi ấy Beauvoir là người trẻ nhất được phong học vị thạc sĩ triết học trong lịch sử nước Pháp. Giáo sư André Lalande – chánh giám khảo kỳ thi này – giải thích: “Sartre có đầu óc xuất chúng, nhưng Beauvoir mới là nhà triết học thực sự.”

Do luôn làm việc bên nhau nên giữa đôi bạn trẻ khác giới Sartre và Beauvoir đã nảy sinh tình cảm đặc biệt. “Tháng 8 năm ấy, khi lần đầu chia tay nhau, tôi đã linh cảm thấy anh sẽ không bao giờ ra khỏi cuộc đời của tôi.” Beauvoir viết và nhận xét: “Đây là một kiểu tình yêu có tính tất yếu giữa hai chúng tôi. Sau này chúng tôi sẽ đi tới một kiểu tình yêu có tính ngẫu nhiên.” Quả thế, mỗi lần ngẫu nhiên gặp nhau, họ lại sống như vợ chồng, tuy vẫn tôn trọng người kia có quan hệ tình cảm với một kẻ thứ ba.

Năm 1943, Jean Paul Sartre xuất bản tác phẩm triết học quan trọng “Tồn tại và Hư vô” (L’Être et le Néant), từ đó ông được coi là người sáng lập chủ nghĩa hiện sinh (existentialism, còn gọi là chủ nghĩa tồn tại hoặc chủ nghĩa sinh tồn) ở thế kỷ 20, một trào lưu triết học từng có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng cái tồn tại không phải là khách thể mà là chủ thể, nó nhấn mạnh sự tồn tại của cá nhân là căn cứ của mọi sự tồn tại khác.

Chính Sartre đã tự trải nghiệm triết học này trong suốt đời mình: không lấy vợ, nhưng có người bạn tình trọn đời là Simone de Beauvoir; tình cảm hai người không xa rời nhau suốt từ năm 1929 khi gặp nhau lần đầu cho tới năm 1980 khi Sartre qua đời, mười năm cuối cùng ông chung sống với bà như vợ chồng. Họ không cưới nhau, không liên tục sống chung một mái nhà, nhưng nếu có dịp thì đều ở bên nhau. Hình như giữa hai người chỉ có một mối “tình bạn kiểu chủ nghĩa hiện sinh”.

Sau chiến tranh, tháng 10/1946, Sartre mời một số bạn cùng sáng lập nguyệt san “Thời Hiện đại” (Les Temps modernes). Beauvoir cũng tham gia ban biên tập tờ báo này.

Sau khi Sartre trở thành triết gia và nhà văn nổi tiếng, nhiều người cho rằng Beauvoir “núp bóng” Sartre. Điều đó làm bà có chút bực mình. Có lần bà nói: “Tại sao chẳng ai cho rằng Sartre là bạn đời của Beauvoir nhỉ?”

Năm 1949, Beauvoir xuất bản tác phẩm “Giới tính thứ hai” (Le deuxième sexe/ The Second Sex) nhằm vạch ra con đường giành quyền lợi cho nữ giới chiếm một nửa nhân loại. Cuốn sách viết về các vấn đề mà phụ nữ đương thời đang cần được giải quyết, như sống tự do tự lập, tự do phá thai, bán dâm, bình đẳng với nam giới. Sách trình bày những quan điểm lý luận và đưa ra các hình thức đấu tranh giành nữ quyền. “Không phải người ta sinh ra đã là đàn bà, mà là con người biến thành đàn bà.” – Beauvoir viết. Bà nhận xét: xưa nay phụ nữ bị coi là người “thuộc một giống khác” với đàn ông, nói cách khác, là loại người “thứ yếu” bên cạnh loại người “chủ yếu”; quan điểm này là kết quả do hoàn cảnh lịch sử và xã hội tạo ra chứ không có liên quan gì tới thiên tính của giới nữ; chỉ bằng cách làm việc và có nghề nghiệp, người phụ nữ mới có thể giành được sự tôn trọng của xã hội.

“Giới tính thứ hai” đã gây ra một cuộc tranh cãi sôi nổi ở Pháp; nó được các nhà hoạt động nữ quyền trên khắp thế giới, nhất là ở Mỹ, nhiệt liệt hoan nghênh. Tác phẩm này nhanh chóng được dịch ra 19 ngôn ngữ khác. Tại Mỹ, nó trở thành sách gối đầu giường của những người theo phong trào nữ quyền và Beauvoir được gọi là “Bà mẹ của phong trào nữ quyền”. Mặt khác tác giả của “Giới tính thứ hai” cũng bị không ít người đả kích một cách độc ác.

Không chỉ đấu tranh giành quyền cho phụ nữ mà bà còn hăng hái chống chủ nghĩa thực dân, vạch trần tội ác của quân đội Pháp tại Algeria, chống chiến tranh do Mỹ gây ra tại Việt Nam. Beauvoir từng cùng Sartre tham gia Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam do Bertrand Russell thành lập vào tháng 11/1966.

Chính nhờ sự đấu tranh kiên trì của bà mà quyền tự do phá thai sau này được pháp luật nhiều nước thừa nhận; đây là một thắng lợi lớn góp phần quan trọng giải phóng phụ nữ. Nhà hoạt động nữ quyền Mỹ Kate Millett cho rằng tại nước Mỹ, tên tuổi của Beauvoir vượt xa Sartre chính là do bà được phụ nữ Mỹ tôn sùng, “Bà ấy đã mở ra cánh cửa giải thoát cho phụ nữ toàn thế giới … Tác phẩm của Beauvoir đã làm thay đổi số phận của hàng trăm triệu người.” – Kate Millett nói.

Beauvoir còn viết truyện dài “Các vị quan chức” (Les Mandarins) kể lại đời sống giới trí thức cao cấp ngụ tại khu Saint-Germain (Paris) sau Thế chiến II. Tiểu thuyết được tặng giải thưởng văn học danh giá nhất nước Pháp – giải Goncourt năm 1954. “Các vị quan chức” phác thảo bức tranh một số nhà trí thức theo chủ nghĩa xã hội đứng ngoài đảng Cộng sản mong muốn xây dựng một châu Âu xã hội chủ nghĩa sau Thế chiến II nhằm tránh xảy ra cuộc Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô với Mỹ.

Beauvoir rất thích du lịch và hầu như đã đi khắp thế giới, làm quen với nhiều nhân vật theo chủ nghĩa cộng sản như Fidel Castro, Che Guevara, Mao Trạch Đông, Richard Wright… Chuyến thăm Mỹ của bà được thể hiện trong cuốn “Châu Mỹ sống gấp” (L’Amérique au jour le jour) xuất bản năm 1948. Tháng 9/1955 bà cùng với Sartre được chính phủ Trung Quốc mời sang thăm nước này hai tháng. Hai năm sau, bà xuất bản tác phẩm “Trường chinh” (La Longue Marche, 1957) kể lại chuyến đi này.

Một năm sau khi Sartre qua đời, Beauvoir xuất bản cuốn “Lễ vĩnh biệt” (La Cérémonie des adieux, 1981), kể lại 10 năm cuối cùng của Sartre, khi ông bà chung sống với nhau vì hồi ấy Sartre hầu như đã mù hẳn. Sartre nhắm mắt xuôi tay ngày 15/4/1980. Sáu năm sau, người tình trọn đời của ông từ trần ở tuổi 78 vào ngày 14/4/1986, chỉ kém một ngày là chẵn 6 năm. Mộ Simone de Beauvoir được đặt sóng đôi ngay bên cạnh mộ của Jean Paul Sartre trong nghĩa trang Montparnasse, nơi an táng nhiều danh nhân của nước Pháp cũng như của thế giới.

Sau khi qua đời, tiếng tăm Simone de Beauvoir lại càng nổi hơn trước, không chỉ vì bà đã đặt nền móng cho phong trào nữ quyền mà là do bà được coi là một trong số những nhà tư tưởng quan trọng nhất của chủ nghĩa hiện sinh ở nước Pháp. Di sản Beauvoir để lại rất lớn.

Do được bè bạn thúc giục, năm 1983, tức một năm trước khi mãi mãi ra đi, Simone de Beauvoir xuất bản tập thư tình Jean Paul Sartre viết cho bà trong những năm chiến tranh, kể từ ngày ông nhập ngũ. Cuốn sách có tựa đề “Thư gửi Hải Ly”. Hải ly là biệt hiệu của Beauvoir do một nhóm sinh viên triết đặt ra năm Beauvoir 21 tuổi, vì từ Beauvoir rất giống từ Beaver (con hải ly) trong tiếng Anh.

Những bức thư Sartre viết thật cảm động, lai láng tình cảm yêu thương ông dành cho bà. Chỉ tiếc người đọc không có dịp thưởng thức những bức thư trả lời của Beauvoir – chắc hẳn đó phải là những bức thư tràn trề tình cảm nữ tính, vì nó được viết bởi ngòi bút của người được gọi là bà mẹ của phong trào nữ quyền.

Hình: Simone de Beauvoir và Jean Paul Sartre. Ngun: Youtube

Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2016/03/08/beauvoir-sang-lap-phong-trao-nu-quyen/