Danh Ngôn

Sẽ có một cuộc chạy đua giữa quần chúng tự học và quần chúng tự hủy.

There is going to be a race between mass self-education and mass self-destruction.

Nhà sử học Arnold J. Toynbee (1889-1975). “Conditions of Survival,” Saturday Review, 29 tháng Tám 1964.

Mục đích của toàn bộ giáo dục là, hoặc phải là, dạy cho người ta biết tự giáo dục chính mình.

The aim of all education is, or should be, to teach people to educate themselves.

Arnold J. Toynbee (1889-1975). Surviving the Future, 5, 1971

Giáo dục bán thời gian suốt đời người là đường lối chắc chắn nhất để nâng cao trình độ tri thức và đạo đức của quần chúng.

Lifelong part-time education is the surest way of raising the intellectual and moral level of the masses.

Arnold J. Toynbee (1889-1975). The Toynbee-Ikeda Dialogue: Man Himself Must Choose, 3, 1976

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Long lanh quá khứ (kỳ 1)

Truyện dài

Đào Như

“Diễm Khánh, tôi chấp nhận mất tất cả của cải vật chất, nhưng xin ai đừng bao giờ tước đoạt những cái riêng tư của chúng tôi, của con người, của trái tim chúng ta. Nếu có một kẻ nào, hay một chế độ nào cố tâm thủ tiêu tất cả cuộc sống riêng tư của chúng ta, những kỷ niệm, những tinh cảm, yêu thương, những kẻ đó thật là vô luân. Vì cái cõi riêng tư ấy mới thật là người”. Đó là tuyên ngôn của một nhân vật nữ trí thức, sau hai mươi năm lưu lạc xứ người về thăm lại thành phố Sài Gòn, quê hương yêu dấu của chị. Tuyên ngôn ấy đồng thời cũng là tư tưởng quán xuyến truyện dài “Long lanh quá khứ” của tác giả Đào Như. Văn Việt trân trọng giới thiệu toàn văn thiên truyện đặc sắc này với bạn đọc trong và ngoài nước.

Văn Việt

Lời phi lộ

Long lanh quá khứ” được khởi đầu viết vào November, 1999, hòan tất vào năm 2000, và sau đó được sửa chữa bổ sung nhiều lần, lần cuối cùng vào năm 2014. “Long lanh quá khứ” chưa hề đăng báo hay xuất bản. Sở dĩ “Long lanh quá khứ” ra mắt chào độc giả chậm như vậy là vì thời cuộc thay đổi thường xuyên vào thời hậu chiến. “Long lanh quá khứ” có thể được xem như một truyện dài thích hợp hơn là một tiểu thuyết.

1- DÒNG THỜI GIAN

Chiều cuối năm, buổi chiều êm như giấc mộng. Ngoài trời tuyết đổ. Hàng thông cỗi ngoài hiên, đứng lặng yên, tuyết phủ. Trọng nhớ lại nơi đây, hơn hai muơi năm về trước anh đến cùng gia đình, vợ và ba con. Đây là nơi đầu tiên anh đến, không ngờ cũng là nơi anh và gia đình dừng chân lại trong suốt hơn hai mươi qua. Làng Oak Park, ngọai ô phía tây Chicago, thuộc tiểu bang Illinois, một địa danh lạ lẫm với anh trước 1975, nay đã trở thành vùng đất dung thân cho gia đình.

Ngoài kia, Giáng sinh đang trở về với mọi nơi trên thế giới. Ngày Giáng sinh năm nay, các con và rể của anh về đông đủ. Chỉ có Tỏa, cậu trai út, về trễ, đang trên máy bay, từ San Francisco sẽ về đến O’Hare, Chicago, lúc chín giờ tối nay. Vợ anh, chị Xuân Tường đang loay hoay ở trong bếp, cùng với hai cô con gái, mãi lo chưng diện cho cái bánh Giáng sinh! Cái bánh Giáng sinh như thân gỗ mục, mọc lên những cụm nắm mốc meo sần sù. Bên cạnh những cụm nắm xấu xí ấy, là những bông hoa màu hồng, màu đỏ tươi thắm tương phản tuyệt đẹp! Có cả dòng chữ “Mừng Giáng sinh” màu xanh lá mạ!

Không khí đoàn tụ gia đình gây cho mọi người niềm vui ấm cúng. Nhìn bánh Buche de Noel anh nhớ lại những mùa Giáng sinh ở Sài Gòn gần 40 năm về trước, nhất là cái khí hậu mát lạnh của nó, cái mát lạnh vừa đủ gây đôi má đỏ hây hây của các cô đứng bán hàng trong các cửa hiệu, các nữ sinh Gia Long, Trưng Vương… và các cô nữ sinh viên Viện Đại học Sài gòn. Anh nhớ đến các phố Lê Lợi, phố Tự Do, phố Nguyễn Huệ và nhiều phố khác tràn ngập các các thanh niên nam nữ. Các cô mặc váy ngắn, váy soirée, hoặc áo dài. Các cô ở phố Thăng Long, mới di cư vào Nam năm nào, bây giờ chiếc áo dài của họ vẫn còn nguyên dáng Hà Nội. Trọng nhớ lại hình ảnh Nhà thờ Đức Bà Notre Dame, và dòng người cuồn cuộn xuôi về đó lúc nửa đêm. Các cô cậu thanh niên trẻ trung, các học sinh, sinh viên chia từng nhóm nhỏ, đứng dưới những mái hiên của khu phố, họ ca các bài ca quốc tế Mừng Giáng sinh trong lời Việt, lời Pháp, lời Anh. Họ hưởng trọn vẹn một ngày lễ hội quốc tế, đầy tin tưởng vào hạnh phúc ở ngày mai. Càng về khuya, người càng đông, họ đưa nhau vào các quán Givral, Imperial, Continental hay Pagoda…, họ chia nhau những mẩu bánh Giáng sinh ăn mừng lễ Réveillon. Phần nhiều họ là những người trẻ ngọai đạo, nhưng họ chia sẻ ngày vui quốc tế một cách trọn vẹn và kính cẩn. Đêm Giáng sinh tại Sài Gòn, người là người, trong đó có anh và bạn bè anh, tràn ngập Thủ đô với niềm hân hoan bất tận. Anh nhớ lại các bạn bè của thuở sinh viên. Anh nhớ các cư xá, các câu lạc bộ Sinh viên, câu lạc bộ Phục hưng, Foyer Renaissance, nơi đó anh đã ở 10 năm, suốt cuộc đời sinh viên của anh. Anh nhớ đến các cư xá bạn: cư xá Đắc Lộ, Foyer d’Alexandre de Rhôde, cư xá Minh Mạng và các cư xá của các chị nữ sinh viên như cư xá Trần Quý Cáp, Thanh Quan Lưu Xá… Trong dịp Giáng sinh, các cư xá Sinh viên thường hay tổ chức những cuộc tiếp xúc văn học nghệ thuật, và nhất là âm nhạc và ca hát! Mùa Giáng sinh là cơ hội cho các anh chị em sinh viên cũng như các thanh niên nam nữ, gặp gỡ, tìm hiểu, trao đổi yêu thương và học hành... Đó là hình ảnh Giáng sinh Sài Gòn của những năm lý tưởng, những năm sau hòa ước Genève 1954 đến năm 1963, trước khi tổng thống Ngô Đình Diệm cùng người em trai của ông bị hạ sát!

Khi những chữ USAID được thấy bất cứ nơi nào; khi những bảng hiệu Snack-Bar của Mỹ tìm thấy trên những đường phố của bất cứ quốc gia nào, thì nơi đó, những quốc gia đó, sẽ có những xáo trộn về kinh tế, chính trị và quân đội. Từ năm 1963, sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị Mỹ hạ sát, dưới sức ép của hơn nữa triệu quân viễn chinh Mỹ những mùa Giáng sinh Sài Gòn thuở ấy không thể nào tránh khỏi ảnh hưởng của cái triết lý đó. Cũng không gian đó, cũng Nhà thờ Đức Bà, cũng phố Catinat, phố Bonnard, phố Nguyễn Huệ, cũng những con người của anh và bạn bè, tràn ngập thủ đô Sài Gòn, nhưng với một nội tâm khoắc khoải, buồn vui lẫn lộn. Hình ảnh những lính chiến Mỹ đi bên cạnh cô gái Việt, tóc uốn lăn quăn quê mùa hiện ra trên các đường phố như những thực tế chua xót. Những chiếc mini-jupes được cắt ngắn hơn, kéo cao hơn, bám sát vào thân thể và số phận của những người con gái nghèo khó, vất vả lầm than lăn lộn với lính chiến Mỹ thâu đêm suốt sáng trong các snack-bar, những họp đêm, để độ nhật nuôi thân! Những vũ trường với tiếng kèn đồng của nhạc Jaz, được khai thác triệt để: Ritz, Lido, Moulin Rouge, Maxim, Côte d’Ivoir, Đồng Khánh, Đêm Màu Hồng, Queen Bee v.v.. Những năm tháng đó Sài Gòn hưởng những ngày Giáng sinh đặc biệt: Giáng sinh ngưng bắn, Giáng sinh hòa lẫn với tiếng bom B52 thả ở địa đạo Củ Chi hay ven đô. Những năm tháng ấy, những mùa Giáng sinh Sài gòn đầy bạo động, lựu đạn và thuốc súng!

Đến năm 1975 đất nước thống nhất! Người Cộng sản miền Bắc cai trị thao túng cả ba miền Tổ quốc thô bạo hơn bất cứ đế quốc nào đã từng xâm lăn Việt nam: Tàu, Tây, Nhật, Mỹ... Cộng sản áp dụng chuyên chính vô sản triệt để: tạo phản, xách nhiễu, cướp đoạt tài sản những người dân lương thiện một cách thô bạo mà họ gọi là “tước đoạt trên tay kẻ bóc lột”! Sau 75, Cộng sản bắt giử, tù đày lao cải hàng triệu người miền Nam yêu nước! Cộng sản miền Bắc gọi tất cả người miền Nam là Ngụy, Ngụy quân và Ngụy quyền. Tất cả đàn bà và trẻ con bên này vĩ tuyến mười bảy họ gọi là Vợ Ngụy, Con Ngụy! Và họ thẳng tay chà đạp, đàn áp! Cộng sản phản bội những người quốc gia yêu nước đã từng sát cánh với họ trong hai cuộc trường kỳ kháng chiến! Sau khi thống nhất đất nước, họ thủ tiêu, triệt hạ toàn bộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam, ngay cả lá cờ Mặt trận Giải phóng Miền Nam cũng biến mất! Những người Cộng sản chuyên chính trấn áp và thủ tiêu ngay cả những người Cộng sản gốc Nam Bộ không tuân thủ theo họ. Những người Cộng sản miền Nam vô cùng phẩn uất khi thấy thân nhân họ, tuy gọi là Gia-đình-cách-mạng, Gia-đình-liệt-sĩ, vẫn bị vùi dâp và đày ải trong các trại tù cải tạo. Người Cộng sản để lộ nguyên hình họ là những đứa con phản trắc của Tổ quốc, họ phản bội lại những Bà Mẹ Yêu Nước Miền Nam trước kia có một thời trải thân đùm bộc, nuôi dưỡng, ngay cả sanh con với họ.

Câu hỏi lớn dầy vò anh trong gần ba mươi năm mà anh chưa tìm được một giải đáp dứt khoát: hai cuộc trường kỳ kháng chiến của nhân dân ta, cuộc chiến đấu thần thánh, giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, được sự đồng tình, nhiệt thành ủng hộ của toàn thể dân cả ba miền Tổ quốc, của tất cả quần chúng từ giàu đến nghèo, từ Cộng sản đến Quốc gia. Sau khi giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, thì cuộc chiến đấu thần thánh ấy trở thành một cuộc chiến phi nghĩa, phân ly đất nước, chia cắt anh em, xé toang Tổ quốc thành muôn mảnh, truy diệt nhau tận cùng. Sau Ba mươi Tháng tư Bảy mươi lăm hàng triệu người Miền Nam yêu nước bị Cộng sản trục xuất ra khỏi nước, sống lưu vong trên khắp chín mươi lãnh thổ quốc gia trên thế giới! Có phải chăng đó là hậu quả của cuộc chiến quá dài gây ra đổ nát, nghèo đói, ngộ nhận, hận thù và lạc hậu! Hay đó chỉ là thân phận của chúng ta, của dân tộc ta. Những quốc gia nhược tiểu luôn luôn bị chi phối bởi những gọng kềm quốc tế, thế lực của các siêu cưòng. Hay phải chăng đó chi là kết quả khốc liệt của quá trình thực thi chuyên chính vô sản của người Cộng sản. Anh rất ngạc nhiên về những mâu thuẫn trong thực tế, anh đã gặp những người lớn lên và trưởng thành dưới chế độ Công sản. Họ rất là người. Họ có toàn vẹn lương tri và nhân bản. Trọng nghĩ đến hai chi em Ngọc Tới và Diễm Khánh, hai người em bạn dì của vợ anh, anh gặp lại hồi năm ngóai 1998, lúc anh về thăm nhà.

Chợt vợ anh hỏi:

- Suy nghĩ gì mà ngồi lặng thinh vậy? Tỏa, tối nay chín giờ con sẽ về có gì mà anh lo?

Xuân Hảo, cô con gái đầu lòng của anh cũng nói xen vào:

- Nick đi đón Toả rồi đó Ba, có lẽ họ cũng sắp về tới.

Trọng vụt hỏi vợ:

- Không hiểu mẹ con của Diễm Khánh, giờ này họ ra sao? Mẹ con chị ấy giờ này có ấm cúng không?

Nghe chồng hỏi về người em họ của mình bất ngờ, chị Xuân Tường xem chừng cũng mủi lòng. Chị gượng gạo đáp:

- Anh khéo có lo, mẹ con Diễm Khánh còn vui vẻ hơn mình nữa là khác. Anh nên nhớ cô ấy là cán bộ tâp kết về. Hiện giờ Diễm Khánh công tác tại Sở Ngoại vụ, còn Bích Hằng, cô con gái của Diễm Khánh, là chuyên viên chuyển ngữ Anh, Pháp, nghĩa là thông dịch viên của chính phủ trong việc tiếp xúc với phái đoàn ngoại quốc.

Xuân Hợp cô con gái thứ hai của anh chị, đang lau mấy cái cốc để uống rượu vang tối nay, hỏi mẹ:

- Năm ngoái ba mẹ về thăm quê, ba mẹ ở nhà Dì Diễm Khánh hơn mươi ngày thì phải? Thưa mẹ, con gái dì Diễm Khánh tên là gỉ hả mẹ?

Như chợt nhớ tới điều gì, chị Xuân Tường nói lớn:

- Con bé đó tên là Bích Hằng. Bích Hằng lớn hơn Xuân Hảo 15 ngày và lớn hơn con hai tuổi.

- Thưa mẹ, như vậy Bích Hằng sanh ở ngoài Bắc, sau đó nó theo cha mẹ nó về Nam?

- Đúng rồi đó các con. Các con không còn nhớ chớ hồi năm 1979 trước khi mình vượt biên, mẹ con Bích Hằng có xuống Cần Thơ thăm gia đình mình. Họ ở lại nhà mình mấy ngày. Họ chí tình lắm con. Mà mẹ cũng thương dì Diễm Khánh như chị em ruột vậy. Nói đến đó mắt chị long lanh, giọng chị nghe như sũng ướt, nhưng chị cũng cố gắng nói tiếp:

- Lúc ấy các con và Bích Hằng ngủ chung một giường. Bích Hằng hồi đó còn nói giọng Hà Nội. Lúc đầu các con còn lạ nhau, nhưng sau vài hôm, dì Khánh trờ về Sài Gòn, thật là khó rứt các con và Bích Hằng xa nhau. Lúc đó các con còn nhỏ quá làm sao nhớ hết được. Chẳng thể nào trách các con được.

Thật sự tháng chạp năm ngoái, anh chị có về thăm nhà sau hon 20 năm ở Mỹ. Cũng như những người khác, anh chị về thăm nhà cũng là vì lâu quá chưa về; nhớ quá rồi, và ai cũng về, mình cũng về thăm xem sao? Nhưng nếu có ai đặt vấn đề khúc chiết hơn, thì câu trả lời của anh chị thật đơn giản:

- Quê mình thì mình về.

Bên cạnh những lý do thông thường ấy, anh chị còn có những lý do khác nữa. Chị của anh chết đã sáu năm, cha của anh chết đúng 4 năm, và mẹ anh chết gần giáp năm. Vợ chồng anh chưa thấy được nấm mồ của mẹ, của cha và của chị, và cũng chưa có cơ hội để đốt nén hương tưởng niệm người quá cố, đức sinh thành. Lý do thứ hai là Tỏa, cậu con trai của anh chị đang học năm cuối cùng bộ môn Xã hội học, tại Đại học Illinois, cậu ấy được trường gửi đi du học tại Viện Đại học Quốc gia Hà Nội, trong chưởng trình trao đổi sinh viên giữa hai viện Đại học Illinois University In Urbana và Viện Đại học Quốc gia Hà Nội. Cuối tháng 12 này, Tỏa mãn học kỳ, về Mỹ. Anh chị về lần này là có ý đón Tỏa về Phan Rang, thăm họ hàng bên nội, thăm mồ mả ông bà, cha mẹ, tổ tiên, và thăm từ đường tại Hà Thanh, Xóm Động, Phan Rang, để Tỏa có cơ hội tìm hiểu huyết thống của dòng họ.

Thoạt tiên, chị Xuân Tường có ý định lấy vé máy bay đáp ở Hà Nội. Ở đó vài hôm để anh chị đi thăm Thủ đô Hà Nội, Viện Đại học Quốc gia Hà Nội nơi Tỏa đang học, và đi thăm các thắng cảnh như Vịnh Hạ Long, Sầm Sơn, Đồ Sơn v.v…, rồi sau đó anh chị cùng Tỏa sẽ về Phan Rang như dự tính, và vào Sài Gòn thăm bên ngoại. Đúng ngày 23 tháng 12 tại Sài Gòn anh chị và Tỏa sẽ về Mỹ. Nhưng không hiểu chị và Tỏa, hai mẹ con bàn bạc thế nào mà chị Xuân Tường lại đổi kế hoạch lấy vé máy bay đáp tại Tân Sơn Nhất, Sài Gòn lúc 11:30 trưa ngày 8 tháng 12. Anh thấy hơi sớm, nhưng anh cũng chiều ý vợ. Sau này anh mới vỡ lẽ ra là Tỏa có mặt tại Sài Gòn vào ngày 12/12, cho nên ‘bà’ phải về Sài Gòn sớm để sửa soạn đón ‘con trai bà’ từ Hà Nội vào!

Sau khi quyết định lấy vé máy bay về Sài Gòn, Tân Sơn Nhất, chị Xuân Tường liền gọi điện thoại nói chuyện với người em bạn dì, Diễm Khánh. Sau hơn mười năm xa cách, anh nghe hai chị em, Xuân Tường và Diễm Khánh nói chuyện với nhau mừng mừng tủi tủi, anh nghe Diễm Khánh nói:

- Không phải mướn hotel, motel gì hết. Nhà em có hai phòng ngủ trống, có máy lạnh, anh chị cứ về ăn đây ở đây với em. Về càng sớm càng tốt. Lâu quá rồi. Nhớ quá rồi. Bây giờ chị mới chịu về thăm nước. À, Chị Xuân Tường mấy tháng trước Tỏa có gọi điện thoại cho em. Lúc đầu em ngớ ngẩn không biết là ai, nhất là ‘anh’ ấy nói tiếng Việt ‘ngọng’, mà lại nói giọng Bắc kỳ nữa. Thú thật, lúc đầu em cũng ừ-ừ-hử-hử một hồi lâu mới nhận ra nó là ‘thằng nhóc Tỏa’, con trai của anh chị. Em nhớ hồi năm 79 em gặp nó ở Cần Thơ, trước khi anh chị vượt biên, nó có tí xíu, vừa ngoài hai tuổi. Thật là cảm động, bây giờ lớn, cháu vẫn nhớ nước về học Đại học Quốc gia Hà Nội…

Anh nghe chị Xuân Tường nói chuyện với Diễm Khánh về sự liên hệ huyết thống gia đình dòng họ và tình cảm ruột thịt, lúc nào cũng gắng bó và yêu thương nhau, không có gì ngăn trở tình nghĩa chị em. Còn về Tỏa, anh nghe chi nói:

- Lúc vượt biên Tỏa nó mới có 26 tháng chưa đầy 3 tuổi, yêu nước, nhớ nưóc cái nỗi gì? Sở dĩ Tỏa về học ở Hà Nội là theo yêu cầu của nhà trường vì nó học môn Xã hội học. Con của mấy người Mỹ ở đây cũng vậy, nếu họ gốc Đức thì họ học ở Bonn, Frankfurt, Berlin; gốc Pháp thì về Paris, Bordeaux, Lyon v.v…

Anh nghe Diễm Khánh, bên kia đầu giây nói:

- Ngày anh chị về, có Bich Hằng, cháu gái cưng của anh chị, ra phi trường đón anh chị.

Và sau đó anh nghe hai chị em sắp xếp cho ngày về thăm nước của anh chị. Thế là kế họach ngày về thăm nhà của anh chị coi như là được sắp xếp xong.

2- SÀI GÒN SAU HAI MƯƠI NĂM SAU GIẢI PHÓNG

Chiếc máy bay của hãng hàng không China Air lines quần mãi trên bầu trời Tân Sơn Nhất, hơn mười phút mà chưa nhìn rõ được phi đạo để đáp. Trời Sài Gòn đang mưa lớn. Từ trong máy bay nhìn ra tòan mây mù. Các chiêu đãi viên hàng không liên tiếp thay phiên nhau, báo cáo thời tiết đang mưa lớn tại Sài Gòn, và bão lụt tại các tỉnh Miền Trung: Phan Rang, Nha Trang, Hội An v.v…Xuân Tường ngồi nép ngừơi vào chồng, lo lắng… Rồi mưa cũng tạnh dần. Chiếc máy bay len lỏi qua các tầng mây mù rồi xuống thấp. Thành phố Sài Gòn hiện ra trong màn mưa. Sau hơn hai mươi năm thấy lại Sài Gòn, cảm động, Trọng thấy lòng mình như muốn khóc. Chị Xuân Tường mắt cũng đỏ hoe. Quê anh ở ngòai Trung, Phan Rang. anh đi học ở Sài Gòn những năm năm mươi, sáu mươi. Những kỳ nghỉ hè hay dịp tết anh thường lấy vé của hãng hàng hhông Việt Nam, Air ViệtNam, về thăm nhà. Hình ảnh Sài Gòn, Tân Sơn Nhất, nhìn từ trên không phận, quá quen thuộc đối với anh. Mặc dầu sau gần hai mươi năm, anh vẫn còn nhớ rõ từng chi tiết một. Sài Gòn, Tân Sơn Nhất, bây giờ là mười hai giờ trưa ngày 8 tháng 12 năm 1998, không khác gì mấy với Sài Gòn, Tân Sơn Nhất trước năm 75, có vẻ còn tệ hơn nữa là khác, nếu đếm về số lượng máy bay các hãng hàng không quốc tế đang đậu và nhất là nhịp độ máy bay đang lên xuống. Lề lối đón khách quả thật là nghèo nàn, lạc hậu! Không có hành lang di động để đón khách tận phi cơ. Hành khách được đón bằng chiếc xe ‘car’: gồm có một cái đầu máy kéo theo sau cái “remorque” dài độ mươi mười lăm thước, có mái fibro ciment che mưa nắng, có vài hàng cột to bằng cổ tay chống đỡ mái fibro ciment, và cũng là nơi để hành khách bám vào, giử lấy thăng bằng trong lúc chiếc “remorque”di chuyển thật chậm chạp đưa hành khách đến cửa của khu quan thuế quốc tế.

Bước vào khu quan thuế, Trọng có ý đảo mắt tìm cô cháu Bích Hằng, nhưng không biết hình dáng cô ấy như thế nào mà nhận diện. Anh thấy đàng xa một cô con gái tóc ngắn, mặc T-shirt và quần jean, bên ngực trái mang thẻ màu trắng, vì xa anh không thể đọc hàng chữ trên thẻ. Cô bé ấy trông giống hai cô con gái của anh lắm... Anh bấm bàn tay chị Xuân Tường và bảo chị liệu gọi thử có phải cô ấy là Bích Hằng không?

Quả vậy, khi nghe gọi, cô ấy vội vàng chạy lại, và hỏi:

- Sao dì biết “con” là “con”? Con tìm dì mãi mà không thấy.

Trọng mau miệng đáp:

- Cô trông giống hai cô con gái của chúng tôi lắm, bà con bên ngoại sao lại giống nhau thế!

- Thưa dì với mẹ con cũng vậy. Khi đi rước dì, mẹ con có dặn, bà nào mà con thấy trẻ đẹp giống hệt mẹ đó là dì Xuân Tường. À, thưa dì, đưa cho con biên lai, để con đi lãnh luggage cho dì.

Sắp hàng đi ngang qua cửa quan thuế với bốn cái vali to kết xù thật là vất vả. Cũng như các Việt kiều đứng trước cũng như đứng sau anh chị, vợ chồng anh cũng lo le tờ giấy bạc mười đô la Mỹ kẹp sẳn trong passport vì anh thấy nhờ vậy mà ai cũng qua cái ải này nhanh chóng. Anh rất an dạ… Đến lượt vợ chồng anh, chợt cô cháu gái Bích Hằng, đưa tay ra cản.

- Không được dì! Dì làm như vậy là không đúng theo đường lối chính sách của chính phủ.

Chị Xuân Tường thì bối rối, vì quá ngạc nhiên. Còn anh thì sợ. Anh chỉ mong qua cái ải này càng nhanh càng tốt. Trọng hiểu cháu Bích Hằng. Vợ chồng anh chị cám ơn cháu. Nhưng cháu còn quá non trẻ, quá nhiệt tình với lý tưởng. Thật sự anh chị cũng muốn để các ông công an quan thuế hành xử với vợ chồng anh chị như những Việt kiều khác. Làm như vậy các Việt kiều lúc đó nhìn anh chị cũng dưới cặp mắt khác. Cũng may, mấy ông công an không hạch sách gì nhiều, chỉ hỏi qua loa, rồi cho qua nhanh.

Vừa qua khỏi cửa quan thuế, có hai cậu thanh niên chừng 18,19, mặc quần đen, áo chemise ngắn tay màu trắng, thắc cà vạt xanh đậm, đến đón bốn cái vali của vợ chồng anh lên chiếc xe Taxi Minivan mà Bích Hằng mướn sẵn để rước anh chị. Họ làm công tác rất nhanh và gọn. Làm xong họ chưa chịu đi và còn đứng lớ ngớ. Chị Xuân Tường hiểu ngay là họ muốn “cám ơn”! Chị liền dí vào túi họ mỗi người một tờ giấy bạc 5 đô la Mỹ. Lần này Bích Hằng ngăn cản mạnh dạn hơn nữa:

- Không! Không! Dì không phải cho tiền cho họ nhiều dữ vậy đâu! Đưa vali dì lên xe là chức năng của họ. Họ là nhân viên của các hãng hàng không, họ được mướn đứng ờ đây, để làm những công tác ấy.

Chị Xuân Tường vội vàng mắng yêu Bích Hằng:

- Đừng khó lắm con, để dì cho họ ít tiền, gọi là để mừng dì cháu mình lâu ngày mới gặp nhau.

Chị liền cám ơn các cậu ấy, và các cậu ấy cũng biến rất nhanh. Chị nói tiếp:

- Thôi lên xe đi con, dì nóng ruột muốn gặp lại mẹ con lâu quá rồi. Con dạo này ốm, xinh đẹp lạ. Ngày xưa, con xuống Cần Thơ thăm dì dượng năm 1979, lúc ấy con mập đen, tròn lẳn như con gái Xuân Hợp của dì.

Chợt anh tài xế đến lễ độ mở cửa mời Xuân Tường, Bích Hằng và Trọng lên xe. Bích Hằng nhìn Trọng và đoán anh đang ngạc nhiên, cô ấy nói một cách bâng quơ:

- Mấy năm trước đi theo các phái đoàn thăm quan các quốc gia Âu châu, và con nghĩ ở Mỹ cũng vậy thôi, con thấy tài xế taxi của họ không khôn khéo bằng tài xế taxi của ta.

Chiếc xe lách ra khỏi hàng rào người, chạy xa dần Tân Sơn Nhất. Dọc đường, Trọng thấy đời sống quá nhộn nhịp, gần như hỗn loạn, ai ai cũng đổ ra mặt đường sinh sống, từ buôn thúng bán mẹt, cây kim sợi chỉ đến cả những gian hàng rộng lớn bán toàn hàng ngọai quốc. Xe chạy được một chập, Bích Hằng hỏi chị Xuân Tường:

- Dì thấy Sài Gòn thay đổi nhiều không? Dì có thấy thành phố nào trên thế giới xe cộ và người di chuyển hỗn loạn như vậy không?