Danh Ngôn

Người ta đã không bao giờ viết hay vẽ, điêu khắc, tạo mô hình, xây dựng, phát minh, nếu không phải để ra khỏi cảnh đời địa ngục.

No one has ever written or painted, sculpted, modelled, built, invented, except to get out of hell.

Antonin Artaud (1896-1948). “Van Gogh: The Man Suicided by Society,” 1947, Antonin Artaud Anthology, ed. Jack Hirschman, 1965

Cuộc phấn đấu của nhà nghệ sĩ nhằm vượt lên trên nỗi đau của chính mình có thể trở thành hạt mầm cho niềm hi vọng của nhiều người khác, biến đổi một hành trình cá nhân thành một viễn kiến cho tất cả chúng ta.

The artist’s struggle to transcend his pain can become the seed for many others’ hope, transforming an personal journey into a vision for us all.

Diane Cole. After Great Pain: A New Life Emerges, 7, 1992

Nghệ thuật thu hút chúng ta chỉ vì những gì nó tiết lộ vốn nằm trong bản ngã bí ẩn nhất của chúng ta.

Art attracts us only by what it reveals of our most secret self.

Jean Luc Godard (1930-). “What is Cinema?” Godard on Godard: Critical Writings, ed. Jean Narboni and Tom Milne, 1972

Danh hiệu người nghệ sĩ có ý nghĩa này: đấy là một người cảm thụ nhiều hơn người đồng loại và ghi lại nhiều hơn những điều anh ta đã chứng kiến.

That is what the title of artist means: one who perceives more than his fellows, and who records more than he has seen.

Edward G. Craig. “On the Art of the Theatre,” 1905

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Đất nước và chiến tranh

Đào Như

 

clip_image002

 

clip_image003Walter Cronkite-Nhà Bình luận CBS-Thăm chiến trường ViệtNam năm 1968-Photo Internet

Lời Phi Lộ: Trong hơn 1 tháng từ tháng 10-2014 kênh truyền thông CNN hằng ngày làm sống lại nước Mỹ trong “Những Năm Sáu Mươi”của thế kỷ trước qua cuốn phim“The Sixties”. Những biến động của xã hội Mỹ vào thời khoản này đều được lồng trong khung cảnh của“Chiến Tranh Việt Nam”-VietNam War.

‘Những Năm Sáu Mươi’của thế kỷ trước thuộc thời đại kinh hoàng của nước Mỹ. Những biến động của VietNam War-trong “Những Năm Sáu Mươi”- đã hủy hoại xã hội Mỹ, từ Đạo lý, Nhân văn, đến Chính trị, Kinh tế và Con người… ViệtNam-War trong “Những Năm Sáu Mươi” đã để lại nước Mỹ, một nền kinh tế băng hoại, một nền chính trị suy đồi và hàng triệu thanh niên sống vô vọng không lý tưởng, lang thang khắp đường phố New York, Los Angeles, Chicago, Houston, San Francisco… nghiện ngập cần sa, ma túy, sex ở lề đường…

Việt Nam quê hương tôi, vào Những Năm Sáu Mươi, một đồng minh của Mỹ ở tận phía Tây bờ biển Thái Bình Dương, cũng có một thời chiến tranh đổ nát.“VietNam War” càn quét quê hương tôi với những sự cố dữ dội: Những mồ chôn tập thể ở Huế trong biến cố Mậu Thân - Mùa giáng sinh 72 được thắp sáng lên bởi những trận trải bom của pháo đài bay B52 cày nát Thủ đô Hà Nội, trong suốt 13 ngày và đêm. “Chiến Tranh Việt Nam” đã cuớp đi hơn 3 triệu sanh linh Việt Nam, đã để lại 4 triệu thương tật cả chục triệu cô nhi quả phụ.“Chiến Tranh Việt Nam” đã để lại cho quê hương tôi những nghĩa trang buồn ở Biên Hòa, ở suốt dọc Trường Sơn. Từ “Chiến Tranh Việt Nam”, nhân loại đã phát hiện ra được Dioxine-Chất độc khai hoang màu vàng cam, là Vũ Khí Chiến Lược nguy hiểm cho sự tồn vong của nhân loại …

Người thì bảo“Chiến Tranh Việt Nam”là cuộc nội chiến Bắc Nam, kẻ thì bảo đó là cuộc chiến chống xâm lăng, chống lại các đế quốc Cộng sản và Tư bản. Riêng tôi, là một bác sĩ phẫu thuật, tôi biết “Chiến Tranh Việt Nam”đã là thảm họa của quê hương tôi, của dân tộc tôi. Tôi đã từng là chứng nhân: Chiến tranh đã giết hại nhân loại ngay trong bụng mẹ, ngay trong còn trạng thái bào thai chưa kịp chào đời.

“Chiến Tranh Việt Nam”không chỉ là niềm đau riêng của hai dân tộc Việt, Mỹ, nó còn là bài học chung cho cả nhân loại. Trong chiến tranh không có kẻ thắng người bại, tất cả đều là nạn nhân của chiến tranh. Chiến tranh chỉ gây ra đổ nát, nghèo đói, lạc hậu, hận thù phi lý…

Bài bút ký sau đây là chứng tích cho thân phận con người trong chiến tranh…

Đào Như- Chicago-Nov-2014

* * *

Nhìn sông Hậu, con sông lớn nhất của tổ quốc, mênh mông miệt mài trôi, cuồn cuộn phù sa và ánh sáng, không một ai có thể nghĩ rằng vùng đất quê hương kỳ diệu này cũng là vùng đất chiến tranh trong gần 30 năm qua. Thị trấn Cần Thơ, nằm trên hữu ngạn sông Hậu vẫn sinh hoạt bình thường. Bây giờ là tháng hai, năm 1972. Dân chúng trong thị trấn Miền Tây này đâu có ngờ chỉ trong một vài tháng nữa là cả nước đi vào ‘Mùa Hè Đỏ Lửa’ với những trận đánh ở ngọn đồi Tân Cảnh, Căn Cứ Lữ Đòan 2-Dù. Sau đó là Trận đánh An Lộc, Trị Thiên, Đại Lộ Tử Thần, những trận địa chiến hai bên bờ sông Thạch hản.v.v. Những trận đánh lớn cứ theo chân nhau, vượt Trừơng sơn, từ ngoài Trung vào Nam, từ Cao nguyên đổ xuống đồng bằng duyên hải như thác ngàn. Hai phe, bốn bên dốc toàn lực đổ quân vào những trận đánh điên cuồng, đẩm máu làm áp lực hòa đàm Paris ở giai đoạn chót. Những trận đánh tận tình hủy diệt nhau làm rực lửa những trang báo cùng khắp thế giới, thắp sáng lương tri nhân loại. Hầu hết các gia đình người Mỹ, mỗi chiều tối đều ngóng nhìn lên màng ảnh truyền hình, theo dõi chương trình CBS Evening News Reports tại New York, hớp từng lời tường thuật về Chiến tranh Việt Nam của Walter Cronkite. Những trận đánh đẩm máu xé nát trái tim những bà mẹ nước Mỹ. Phong trào phản chiến trên tòan khắp thế giới lên đến cực điểm. Các sinh viên trong các trường đại học nhất là tại Mỹ, tại Anh và các quốc gia Bắc Âu và Tây Âu, bãi khóa, tổ chức“truồng chạy” phản đối chiến tranh diệt chủng tại Việt nam Trong khi đó tại Sài Gòn, giọng hát Thái Thanh thảm thiết trong bài “Kỷ Vật Cho Em”, một kiệt tác phản chiến thời danh của Phạm Duy, viết sau cuôc‘Hành Quân Lam Sơn 719’:

“Anh trở về trong chiếc poncho…

Anh trở về trên đôi nạng gỗ…

Anh trở về tật nguyền chai đá…

Anh trở về dang dở đời em…”!

Vào thượng tuần tháng 3/1972, toàn thể dân chúng thị trấn Cần Thơ, giật mình thức giấc vào lúc 4 giờ sáng vì ba trái hỏa tiển 122ly vừa bắn vào thị xã Cần Thơ gây thương vong một số đồng bào. Đó là tình trạng mà Đội Phẫu Thuật và Toán Cấp Cứu Ngoại khoa của chúng tôi tại bịnh viện dân y Thủ Khoa Nghĩa, phỏng đoán cũng như chờ đợi bấy lâu nay. Đội ngũ Ngoại khoa của bịnh viện dân y Thủ Khoa Nghĩa lúc bấy giờ có thể nói là có tổ chức và chỉnh đốn, phồi hợp tốt cũng như can thiệp cấp cứu hữu hiệu. Chỉ 25 phút sau, Đội Cấp Cứu của bịnh viện phối hợp với các toán Nhân Dân Tự Vệ di chuyển vào bịnh viện 8 người bị thương nặng; và 10 phút sau đó đội thứ hai mang về 4 người. Hôm ấy, tôi trực khoa ngoại. Nhưng đây là một trường hợp đặc biệt: nạn nhân là người sống cùng trong một thị xã với chúng tôi. Có người là thân nhân của nhân viên bịnh viện. Việc xử trí, vì thế hơi chật vật lúc ban đầu.

Bây giờ là 5:00 giờ sáng, tất cả các bác sĩ phẫu thuật đều có mặt tại phòng Cấp Cứu Ngoại, CCN, và tiếp tay với tôi. Tất cả mọi người đều nhiệt tình hăng say tự nhận lấy bịnh nhân, và tiến hành phẩu thuật cấp cứu với tinh thần trách nhiệm của mình. Cảm động vô cùng là các anh chị y tá, cán sự và gây mê hồi sức, của 4 kíp phẫu thuật cấp cứu đều có mặt, 4 phòng phẫu thuật hoạt động. Tôi tiếp cứu một phụ nữ có thai độ chín tháng, bị thương ở ngực và ở bụng. Bà vừa khó thở bà vừa đau bụng. Bà quằn quại khủng khiếp. Tôi nhìn lên film phổi và bụng của nạn nhân, có một mảnh kim loại mà tôi nghi là của hỏa tiển nằm trong phổi trái của bà khá sâu, một mãnh thứ hai, xuyên qua thành bụng và nó có vẻ nằm trong bào thai. Khi nghe tim thai, tôi thấy tim thai đâp nhanh. Thế là cả mẹ lẫn con đều bị thương. Tôi xúc động, tôi nói lớn “Thai nhi cũng bị thương! Khốn nạn! Chiến tranh!”. Tôi nghe giọng nói của 1 đồng nghiệp, bác sĩ Ngọc, ngay sau ót tôi: “Đó là chiến tranh và bạo động…”. Anh vừa nói vừa xoa nhẹ lưng tôi.

Chúng tôi và kíp cấp cứu đưa nạn nhân lên phòng mổ. Theo ý nguyện của bà mẹ, chúng tôi phải lo cứu bào thai trước nhất. Bà nói với tôi, trong giọng nói thều thào đau đớn:

- Xin bác sĩ lo cứu cháu trước, vì cháu là đứa con duy nhất sau khi vợ chồng tôi ăn ở với nhau gần 5 năm. Cháu là niềm hy vọng duy nhất của chồng tôi. Hôm nay cháu đúng chin tháng bào thai.

Tôi biết chị là cựu sinh viên Viện Đại Học Cần Thơ và chồng chị là sĩ quan Cảnh sát Dã chiến, hiện anh đang đồn trú taị vùng ‘xôi đậu’ Thuận Trung, Cờ đỏ. Tôi bảo chị cứ an tâm, bào thai vẫn còn tốt, cả mẹ lẫn con không ai có gì là nguy kịch cả…

Binh nhân vừa bắt đầu mê là tôi mở ổ bụng, đi vào tử cung bắt con liền. Sợ nhất là cháu ngạt thở. Rất may, mới có chín tháng bào thai mà cháu đã xoay đầu xuống. Mảnh của rocket xuyên qua thành bụng người mẹ, đi vào khoảng 1/3 trên của tử cung. Mảnh rocket ghim vào mông trái của cháu, không có dấu hiệu thương tổn đến xương hay thần kinh.Vừa bắt cháu ra cháu có vẻ tái tím ai cũng sợ. Các cô diều dưỡng người thì lo hút đờm nhớt cho cháu, người lo đánh nhẹ vào mông cháu cho cháu khóc kích thích cho cháu thở.

Các cô la lớn:

- Khóc lên đi! Khóc lên đi!

Cháu bật khóc. Lúc đầu còn yếu, sau 5 giây cháu khóc khỏe hơn. Cả phòng mổ cười vui nhộn lên, ai cũng vui sướng khi thấy cháu đỏ và hồng hào.

Tôi phối kiểm ổ bụng người mẹ, rất may mảnh rocket xuyên qua thành bụng chỉ gây thương tổn tử cung và bào thai. Ruột và các tạng trong ổ bụng của bà tốt.

Vừa hoàn tất tường trình phẩu thuật, tôi nhìn sang ba phòng phẩu thuật các bác sĩ đang tiếp tục cas thứ hai của họ. Bây giờ là gần 6:30 sáng, tôi đến từng phòng mổ cám ơn các đồng nghiệp và nhất là các chị điều dưỡng, các toán cấp cứu. Và cho họ hay, sau cas phẫu thuật này xin các anh chi về nghỉ, phần còn lại là của tôi. Tôi sẽ tự giải quyết…

Bây giờ là tháng Tư / 72 ‘Mùa Hè Đỏ Lửa’ thật sư bùng nổ. Cả nước, cả thế giới sống trong căng thẳng của chiến tranh Việt Nam. Tình trạng này càng căng thẳng hơn vì những đợt trải thảm bom của pháo đài bay chiến lược B52 ở rừng núi Trường Sơn, đường mòn Hồ Chí Minh. Có khi B52 đánh bom địa đạo Củ Chi, hay ven đô. Các phóng viên thời sự quốc tế ở các hotels: Caravelle, Ritz, hay Embassy…tại trung tâm Sài Gòn hằng đêm thức giấc nghe bom run từng lớp cửa kính. Chính phủ Trung ương Sài Gòn lúc này cũng bắt đầu tranh thủ nhân tâm. Bộ Y Tế phát động chiến dịch‘Y Tế Về Làng’. Như vậy có nghĩa là hàng tuần vào ngày thứ Bảy các bác sĩ phải hướng dẫn một đòan y tế và thuốc men đi về các thôn xã, ngay cả trong những làng ở tận các vùng sâu để khám bịnh cho thuốc những đồng bào quê, nghèo khó không đủ phương tiện ra các bịnh viện ở tỉnh thành điều trị. Các bác sĩ ai cũng chấp nhân thi hành nghị định của Bộ mặc dầu nghị định này có nhiều thiếu sót như là không có gì bảo đảm an ninh cho đòan y tế, nhất là cho các bác sĩ, phần nhiều các anh từ quân đội biệt phái, nghĩa là họ vẫn còn trong quân ngũ. Hơn nữa khi đi chúng ta có mang theo một ít thưốc men, rủi găp ‘họ’, ‘họ’ xin thì sao? Đó là những điều mà Bác sĩ Phan Ngọc thường hay lo nghĩ cho phong trào Y Tế Về Làng. Nhưng ngày mai thứ Bảy, cuối tháng Tư 72, đến phiên anh và tôi, anh cũng phải đi. Nhưng tôi rất quan ngại, chuyến này chúng tôi đi vào tân vùng sâu, Thuận Trung-Cờ đỏ.

Có lẽ ở xã chính quyền đã thông báo cho đồng bào hay, cho nên chúng tôi căng lều dựng trại vừa xong là đồng bào đã đổ xô lại vô cùng đông đảo. Chúng tôi khám bịnh say sưa, cắp thưốc men cho họ. Thỉnh thoảng có những phụ nữ dìu những ông già quấn khăn rằn mà họ bảo là cha họ hay ông nội ông ngoại của họ. Phần nhiều những người này bị suy kiệt và nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhất là kiết lỵ và viêm gan, có người bị sốt rét rừng, họ được khiêng đến chúng tôi trong lúc cơn bịnh hoành hành. Theo bảo hộ các ông già là một số phụ nữ, họ cười đùa và nói chuyện với các cô nữ y tá của chúng tôi một cách thoải mái. Bác sĩ Phan Ngọc bảo nhỏ vào tai tôi: “Tôi nghi các cô phụ nữ này quá! Trong một vài phút nữa các cô dám mời mình nhảy ‘sol-lá-mì’ lắm”! Lúc đó cách chúng tôi vào khỏang 3-5 cây số, máy bay săn giặc nhào lên bổ xuống bắn phá dữ dội, chúng tôi nghe cả tiếng súng lớn và tiếng bom nổ. Lúc đó ông Xã trưởng cũng vừa xuất hiên, ông chào bác sĩ Ngọc, và ông cũng nói với chúng tôi: “đó là vùng oanh kích tự do, họ đang đánh nhau”. Bà cụ, tôi đang khám bịnh, cũng cho tôi hay “họ đánh nhau hà rầm, chuyện đó xảy ra như cơm bửa, bác sĩ đừng có lo”. Lúc này thì Bác sĩ Ngọc thật sự sợ. Anh lo lắng. Anh quên hẳn chuyện có thể các phụ nữ mời anh nhảy ‘sol-lá-mì’. Anh hối anh em khám bịnh cho thuốc cho nhanh về sớm. Thật sự tôi còn sợ hơn cả anh ấy nữa. Tôi cố giữ vẻ mặt bình tỉnh. Nhưng số bịnh nhân càng trưa càng đông.

Một người đàn ông đi chống trên một nạng, cụt mất một chân, tay phải xách một con gà, đang tươi cười tiến tới tôi, anh đang đứng trước tôi. Môi anh run:

- Thưa bác sĩ! Chắc bác sĩ quên con… em… rồi?

Thật sự lúc ấy tôi hòan toàn quên anh ấy. Tôi cố nhớ là anh, tôi gặp anh hồi nào? Thật sự nhớ lại một người bịnh nhân của mình, nơi đây, trong hòan cảnh hôm nay là một sự cần thiết và may mắn cho tôi và cho cả đội Y tế nữa. Có quen biết hay có ai là bịnh nhân của mình ở đây, điều đó làm chúng tôi vững lòng. Nhưng tôi đành chịu, không thể nào nhớ nỗi.

Anh ấy nói tiếp:

- Em là Nguyễn Văn Chín, gần ba năm về trước bác sĩ cứu em, em bị thương do một cốt mìn từ máy bay rải xuống chưa kịp nổ. Bác sĩ cưa chân em và cắt một phần... anh vừa nói anh vừa chỉ vào háng anh.

Nghe tới đó, tôi vụt đứng dậy:

- Chín! Tôi nhớ ra anh rồi. Trong gần ba năm tôi mong gặp lại anh, để tiếp tục sửa chữa điều trị cho anh, nhưng sao anh không tái khám?

Vâng, thật sự tôi nhớ cách đấy gần 3 năm, tôi trực, vào khoảng 1:00 sáng tôi nhận một cas gửi từ quận Thới Long nghĩa là cũng từ làng này. Nạn nhân là một nông dân, đi cày thuê, đạp phải mìn, 1/3 dưới cẳng chân trái bị biến mất, lòi trơ xương chầy, và hầu như toàn bộ phận sinh dục của anh, và mặt trong của háng cả hai bên bị những mảnh mìn hủy hoại. Anh được chuyển về tôi quá trễ sau khi bị thương. Anh đang bị chóang nặng. Anh bị mất máu nhiều quá và nhiễm trùng. Mảnh mìn đã hủy hoại hết một dich hoàn bên trái của anh. Dịch hoàn trái bay mất, không tìm thấy, chỉ còn lại cuống của dịch hòan. Dịch hoàn bên phải cũng bị hai mảnh nhỏ của mìn gâm sâu vào, nhưng còn cứu vãn được. Nhưng dương vật của anh bị đứt mất phần ngọn chỉ còn trơ 1/3 dương vật còn lại. Tôi cố bảo trọng dịch hòan còn lại, và cố tái tạo phần còn lại của dương vật, để sau này anh có thể tiểu tiện dễ dàng. Tôi cũng có ý định sau này sẽ gửi anh ấy về khu tiết niệu thuộc trường Y Saigòn để tái tạo lại dương vật của anh. Sau khi xuất viện không thấy anh tái khám như giấy hẹn. Lâu quá và tôi cũng quên hẳn anh ấy đi. Tôi hỏi người bịnh nhân:

- Sao? Sau khi xuất viện, chúng tôi cho anh tái khám, mà không thấy anh trở lại?

- Thưa bác sĩ, vợ em nói thôi, ‘nó’ như vậy cũng được rồi. Em vẫn chống nạng cày thuê được mà khỏi sợ phải đi lính đi tráng gì hết. Anh vừa nói vừa nhìn chị vợ đang đứng ngòai xa.

Người bịnh nhân liền quay lại tôi, và nói:

- Từ hôm qua, hai vơ chồng em biết bác sĩ hôm nay đến đây khám bịnh cho đồng bào, nên em xin đem đến biếu bác sĩ con gà mái ‘ấp’ để bác sĩ đem về Cần Thơ nấu cháo ăn.

Tôi quyết liệt từ chối. Có nhiều lý do lắm, nhưng tôi chỉ nêu một lý do là tôi không thể mang con gà từ Thuận Trung về Cần Thơ được.

Tội nghiệp chị vợ thật thà, chị chạy lại gần tôi, chị nói:

- Bác sĩ nhận đi bác sĩ. Đó là con gà mái ấp, xương mềm, nấu cháu ăn bổ và ngon lắm bác sĩ.

Thật sự nghe tới đây, chẳng những tôi mà ngay các cô điều dưỡng cũng muốn khóc. Tội nghiệp họ nghèo quá, không còn gì để tỏ lòng nhớ ơn tôi, chỉ còn có một con gà mái đang ấp một ổ trứng, họ bắt nó đem cho tôi. Nghĩ tới cái ổ trứng không còn gà mẹ, lạnh tanh vào giờ này, ai cũng ray rứt. Cuối cùng không phải một mình tôi mà cả đội y tế, nhất là các cô y tá nhất quyết yêu cầu vợ chồng anh ta đem con gà về và trả lại nó cho ổ trứng. Dĩ nhiên hai vợ chồng người bịnh nhân cũng phải tuân theo.

Chúng tôi sửa soạn ăn trưa, thì thấy một nhóm thanh niên nam nữ và hai ông cụ bà cụ khiêng một binh nhân tay ôm bụng xem chừng bịnh nặng lắm và lâu ngày. Bịnh nhân được đật trên một tấm phản. Anh nằm ngữa phủ trên thân người một cái mền màu xám, loại mền quân-tiếp-vụ của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Mắt anh nhắm nghiền lại. Tôi nghe bà mẹ bịnh nhân nói:

- Không sao đâu con. Các bác sĩ và các cô sẽ cứu con. Và bà khóc…

Lúc bây giờ tôi thấy bác sĩ Ngọc nở nụ cười, có lẽ anh thấy yên tâm là vì chúng tôi được sự tin yêu của quần chúng địa phương này. Bác sĩ Ngọc đến hỏi thăm bịnh nhân. Người bịnh nói lí nhí không ra lời. Người cha của bịnh nhân đứng bên cạnh lặng thinh, còn bà mẹ chỉ biết khóc và than vãn chiến tranh phiền nhiễu đời bà. Bà đã mất nhiều đứa con trai vì chiến tranh, “nay chỉ còn thằng này là thằng út duy nhất còn lại mà bây giờ nó cũng…”! Bác sĩ Ngọc đến dỡ mền, mắt anh gắng chặt vào ổ bụng bệnh nhân, miệng anh há hốc. Tôi chỉ nghe anh kêu lên một tiếng ‘Trời’! Anh chụp mền lại. Anh không đủ can đảm nhìn thêm nữa. Cả toán y tế chạy lại, anh xua họ đi xa. Anh gọi tôi lại. Anh vén cái mền tay anh nắn ổ bụng bệnh nhân. Tôi nghe anh hỏi người bịnh:

- Đau không em?

Tôi thấy người bịnh nhăn mặt…

Tôi đến kéo mền xuống thắp, tôi bảo bịnh nhân co chân lại và khép hai đầu gối lại. Há miệng thở, thở nhẹ tự nhiên. Tôi sờ các nép lạt vót nhọn may thành bụng của bịnh nhân, khô, cứng, và vết thương thành bụng nhiễm trùng, có chỗ viêm thành mủ, bốc mùi. Tôi hỏi bịnh nhân bị thương hồi nào và mổ bao lâu rồi? Và bây giờ bụng anh ấy có đau không?

Không chờ người bịnh nhân trả lời, bác sĩ Ngọc nói ngay:

- Còn hỏi gì nữa? Bị viêm phúc mạc rõ ràng quá. Người bịnh nhân bị nhiễm trùng huyết đang bị sốt cao. Rồi bác sĩ Ngọc than vãn:

- May thành bụng bằng lạt vót nhọn! Đau khổ thật!

Nhưng sau đó anh lấy lại bình tĩnh ngay, anh hỏi tôi:

- Bây giờ làm sao?

Tôi chưa kịp trả lời và cũng thấy bác sĩ Ngọc bình tĩnh trở lại, cho nên toàn toán y tế đổ nhào đến nhìn bụng bệnh nhân. Không ai nói được nên lời. Chỉ có cô điều dưỡng Hy, chuyên viên gây mê hồi sức la lớn:

- Trời hỡi! May thành bụng bằng tre vót nhọn! Tội quá đi! Và cô đưa hai tay lên ôm đầu.

Bác sĩ Ngọc nhìn tôi và lập lại câu hỏi:

- Giờ tính làm sao?

Không cần chờ tôi trả lời, toàn toán y tế đều muốn đem nạn nhân về bịnh viện Cần Thơ điều trị ngay. Tôi cũng phải hiểu ngay rằng đó cũng là điều bác sĩ Ngọc mong muốn, mặc dù anh không dám nói thẳng ra. Ngay sau đó anh ra y lệnh cho dich chuyền cho bịnh nhân để tái tạo lại các các chất điện giải và nước.

Bây giờ là 2 giờ trưa, một số nhân viên y tế thực hiện y lệnh của bác sĩ Ngọc, một số còn lại thì quay trở lại sữa soạn buổi ăn trưa. Chợt các cô điều dưỡng nhìn tôi và nói:

- Vợ chồng ông Chín bà Chín, bênh nhân của bác sĩ, họ cùng gia đình trở lại kìa.

Nhìn lại tôi thấy hai vợ chồng anh Chín cùng với hai đứa con của anh chị, đang khệ nệ bưng mấy rổ cơm phủ lá chuối xanh, và 2 nồi canh chua đang bốc hơi nghi ngút. Tôi cứ họ làm thịt con gà mái ấp, tôi phàn nàn:

- Tội quá đi anh. Anh làm thịt con gà mái ấp thật sao?

Chị Chín nhanh nhẹn trả lời

- Không đâu bác sĩ. Không phải thịt gà đâu. Đó là canh chua nấu với cá lóc. Xin bác sĩ và các cô thực lòng dùng.

Bác sĩ Phan Ngọc nhìn vào nồi canh chua, anh hỏi

- Cá lóc ở đâu mà sẵn vậy?

Chị Chín nói:

- Anh Chín vừa trả lại con gà mái ấp vào trong ổ trứng của nó, anh chạy xuống con lạch trước nhà, anh lặn lật cái chum bể mà bỏ nó ở đó cách đây 6 tháng, anh hy vọng có con cá lóc chiếc sẽ chun vào đó ở. Hên quá bác sĩ, đúng vậy, anh bắt được con cá lóc bông gần 2 ký. Vợ chồng tôi mới nấu nồi chua để mời bác sĩ và các anh chị.

Nghe xong, bác sĩ Ngọc cám ơn vợ chồng và gia đình của người bệnh nhân. Anh quay lại nói cùng với anh chị em trong toán y tế:

- Làng này tương đối giàu có. Đời sống ở đây sung túc và dễ dãi, nên mặc dầu có những khó khăn vì tai nạn chiến tranh, người dân họ vẫn bám ruộng bám vườn ở lại đây mà sống.

Tóan Y Tế Về Làng của chúng tôi trở về bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa tại Cần Thơ, đúng 5 giờ chiều. Chiếc xe ambulance chở người bịnh nhân và cha mẹ bệnh nhân đến thẳng Phòng Cấp Cứu Ngoại, CCN, theo đúng lệnh của bác sĩ Ngọc. Giấy tờ nhập viện của bịnh nhân, anh đã kỹ lưỡng làm trước, ngay tại lều Y tế tại Thuận Trung. Bác sĩ Ngọc yêu cầu tôi luôn luôn túc trực bên cạnh bịnh nhân, còn phần anh thì anh phải làm việc thận trọng với bác sĩ Giám đốc bịnh viện và nếu cần anh phải làm việc với Công an, Cảnh sát và An ninh quân đội vì anh vẫn còn tại ngũ. Anh bảo với tôi:“phải thận trọng, đừng để ‘anh em’ hiểu lầm mình”.

Tôi di chuyển bịnh nhân vào phòng CCN, anh Diệp Phùng, người Y tá trưởng phòng CCN trực hôm ấy, liền đến phụ tôi, đưa người bệnh nhân từ brancard sang giường cấp cứu. Anh tiếp ứng tôi rất chu đáo. Anh thăm hỏi bịnh nhân, anh nhìn vào giấy tờ nhập viện của bịnh nhân mà bác sĩ Ngọc đã làm sẳn. Anh nói với tôi:

- Thưa bác sĩ,“Việt Cộng” vừa giựt mìn sập cầu Cái Tắc, một chiếc xe đò bị lật, một người chết, tài xế bị thương nặng cùng với năm người khác. Hôm nay thứ Bảy mà xui thật. Bác sĩ Vĩnh và Bác sĩ Quốc đang mổ cấp cứu.

Nói xong anh đến xem lại người bịnh nhân. Anh đọc hồ sơ. Anh vén drap lên. Anh nhìn thành bụng bệnh nhân. Tôi thấy anh thất sắc. Anh chạy đến tôi, anh quát lớn.

- Bác sĩ và bác sĩ Phan Ngọc, tiếp thu thằng chiến binh Việt Cộng này ở đâu vậy? Tôi biết lắm mà! Thuận Trung, Cờ Đỏ là ‘chiến khu’ của tụi nó…

Tôi chưa kịp phản ứng, anh tiếp tục hét lớn, anh chửi thề:

- Đ.m… chỉ có tụi bác sĩ Việt cộng mới may thành bụng bằng lạt, bằng tre vót nhọn. Lạt mềm buộc chặt… Nó là thằng Việt Cộng. Bác sĩ rước Việt Cộng vào nhà, vào nhà thương. Anh liền chạy đến giật chai dịch chuyền đang vô cho bịnh nhân. Các cô y tá và toàn thể toán Y Tế Về Làng liền nhảy đến ôm anh Phùng lại. Cô Hy, chuyên viên hồi sức gây mê nói:

- Người ta là bịnh nhân bị thương mà anh Phùng!

Diệp Phùng vẫn không nghe, anh tiếp tục la hét, và nguyền rủa người bịnh. Anh nhảy bổ vào, định đánh người bịnh. Anh chỉ mặt người bịnh nhân anh hét lớn:

- Vì mày! Vì bọn Việt Cộng tụi mày mà thằng con tao chết! Và anh nhào đến đánh bịnh nhân.

Tôi đang trì kéo với anh Diệp Phùng, tôi nhất định bảo vệ người bịnh của tôi. Chợt một cánh tay choàng qua vai tôi từ phía sau, nắm cổ áo anh Diệp Phùng ghì lại, và giọng nói của bác sĩ Vĩnh vang lên sau lưng tôi:

- Nó bị thương nặng! Không được hành hung bịnh nhân! Anh Phùng!

Anh Diệp Phùng khựng lại. Bác sĩ Vĩnh, kéo anh dang xa người bịnh. Bác sĩ Vĩnh nhìn sâu vào mắt anh Diệp Phùng và nói:

- Anh Diệp Phùng. Nó bị thương.

Tôi quay lại, cám ơn Bác sĩ Vĩnh. Bác sĩ Vĩnh, cao lớn người, tốt nghiệp Y khoa tại Montpellier, Pháp. Anh chuyên về giải phẫu lồng ngực. Bác sĩ Vĩnh cho tôi hay anh vừa mổ cấp cứu xong. Anh hỏi tôi:

- Anh có cần tôi phụ anh mổ cas nầy không?

- Cám ơn anh, có lẽ là không, vì anh Ngọc có kế hoạch là mổ cas này với tôi ngay chiều tối hôm nay.

Sau đó Bác sĩ Vĩnh chào tôi, ra về.

Tôi biết anh Diệp Phùng gần ba năm về trước, khi tôi đến làm việc tại bịnh viện này. Anh đậu ưu hạng khóa “Infirmier d’État” tại Chợ Rẫy, Sài Gòn năm 1953. Những năm về trước anh là người Y tá có văn bằng cao nhất,“Y tá Quốc gia” trong bịnh viện. Anh là người Y tá năng động, yêu nghề, biết thương yêu kính trọng bịnh nhân. Anh đươc nhiều bằng khen thưởng. Anh được cất nhắc lên làm Trưởng phòng Cấp cứu Khoa Ngoại, một chức cao nhất (plafond) của người Y tá. Anh có gia đình, vợ và 4 con: 2 trai, 2 gái. Anh có một đời sống gia đình mẫu mực. Người con trai lớn của anh, vừa đậu xong Tú tài, bị động viên đi lính, thụ huấn quân sự tại Trường Sĩ quan Bộ binh Thủ Đức. Bất hạnh cho anh. Người con trai của anh là một trong những sinh viên sĩ quan bị chết vì dịch Viêm màng não do trùng Méningocoques bộc phát bất ngờ trong quân trường Thủ Đức năm 1969. Cái chết của người con trai của anh là một tai biến khủng khiếp cho gia đình anh, là một thảm họa cho riêng anh. Anh trở nên phẫn uất, phản kháng với tất cả mọi người, Anh trở nên nghiện rượu. Trong cơn say, anh nguyền rủa Chính quyền VNCH, anh chửi Mỹ, anh lên án Việt Cộng. Anh trở thành người chống Cộng hung bạo. Anh thường bảo là tại Việt Cộng mà con anh chết. Ngày đầu tiên tôi gặp anh, anh nói chuyện với tôi trong hơi men của rượu.

Tôi vào phòng phẫu thuật chậm. Tôi chưa kịp xin lỗi, bác sĩ Ngọc nhìn tôi với nụ cười rạng rỡ:

- Nào, chúng ta phải kiên trì làm việc với cas này! Khó đó anh!

Tôi thấy anh đã chuẩn bị bịnh nhân rất kỹ. Anh phủ những nép lạt khô bằng bằng gạt ướt, sau khi rửa thành bụng bằng thuốc khử trùng. Anh giải thích:

- Phải làm cho lạt mềm, nó trở thành dẽo, khỏi bị gẫy. Tôi có kinh nghiệm về ‘vụ’ này, hồi sau Mậu Thân tôi can thiệp ‘mổ lại’ hai cas như thế này. Tất cả đều xuất viện an toàn.

Đựơc sửa soạn kỹ lưỡng trước cho nên khi cắt tháo mấy nép lạc may thành bụng không mấy khó khăn. Vừa nói chuyện với các cô chúng tôi vừa thao tác kỹ thuật phẫu thuật, luôn tay tháo gỡ các mô sợi. Bác sĩ Ngọc cho các ‘cô phụ mổ’ biết, có lẽ vì tình trạng khẩn trương tại chiến trường, sau khi can thiệp phẫu thuật các bác sĩ không kịp chậm khô hay hút hết máu trong ổ bụng bịnh nhân trước khi đóng thành bụng. Máu tụ trong ổ bụng lâu ngày bị viêm nhiễm biến thành sợi. Mặc dầu là một chất lỏng, máu nguyên thủy là mô sợi. Sau gần hai giờ làm việc kiên trì, cuối cùng chúng tôi giải phóng toàn thể ruột của bịnh nhân ra khỏi mô sợi, không còn đoạn nào bị tắt nghẽn, hoặc tái tím. Chúng tôi cắt bỏ toàn bộ các mô sợi tìm thấy trong ổ bụng. Chúng tôi rửa ổ bụng chậm sạch máu. Ruột trở nên hồng hào. Chúng tôi đóng thành bụng sau khi dẫn lưu hai hố chậu.

Trong phòng dành riêng cho bác sĩ viết tường trình phẩu thuật, bác sĩ Phan Ngọc nói với tôi:

- May ổ bụng bằng lạt vót nhọn! Đau khổ thật! Đau khổ cho cả bịnh nhân lẫn bác sĩ! Chiến tranh! Khốn nạn! Chiến tranh thật khốn nạn!

Chúng tôi ra khỏi phòng phẫu thuật lúc 11:00 giờ đêm. Cuối tháng tư bầu trời đầy sao đẹp lạ thường. Tôi thư thả tản bộ trong sân bịnh viện, muốn tận hưởng những giây phút thỏai mái sau một ngày lao động vất vã. Chợt nghe tiếng anh Diệp Phùng chào tôi:

- Thưa Bác sĩ, Bác sĩ chưa về nghỉ sao?

Tôi chưa kịp trả lời, anh ấy chỉ tay về cuối chân trời xa;

- Bác sĩ có thấy hỏa châu, trái sáng đầy trời đấy không? Họ lại đánh đấm nhau. Dân chúng lại bị thương chết chóc. Bác sĩ về nghỉ đi, không khéo khuya nay lại phải vào mổ cấp cứu nữa.

Tôi đến bắt tay anh ra về. Diệp Phùng nắm chặt tay tôi trong lòng hai bàn tay của anh, anh trịnh trọng hỏi:

- Thằng nhỏ chiến binh Việt Cộng Bác sĩ và bác sĩ Phan Ngọc mổ liệu có còn hy vọng gì không?

- Tôi nghĩ là hy vọng, và rất tốt…

- Ùm!.Được vậy, tôi cũng mừng cho nó.../.

Viết xong tại bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa Cần Thơ - Mùa Hè 1972 - Cập nhật hóa lần cuối vào Nov-2014-Oak park, Illinois-USA