Danh Ngôn

Người ta đã không bao giờ viết hay vẽ, điêu khắc, tạo mô hình, xây dựng, phát minh, nếu không phải để ra khỏi cảnh đời địa ngục.

No one has ever written or painted, sculpted, modelled, built, invented, except to get out of hell.

Antonin Artaud (1896-1948). “Van Gogh: The Man Suicided by Society,” 1947, Antonin Artaud Anthology, ed. Jack Hirschman, 1965

Cuộc phấn đấu của nhà nghệ sĩ nhằm vượt lên trên nỗi đau của chính mình có thể trở thành hạt mầm cho niềm hi vọng của nhiều người khác, biến đổi một hành trình cá nhân thành một viễn kiến cho tất cả chúng ta.

The artist’s struggle to transcend his pain can become the seed for many others’ hope, transforming an personal journey into a vision for us all.

Diane Cole. After Great Pain: A New Life Emerges, 7, 1992

Nghệ thuật thu hút chúng ta chỉ vì những gì nó tiết lộ vốn nằm trong bản ngã bí ẩn nhất của chúng ta.

Art attracts us only by what it reveals of our most secret self.

Jean Luc Godard (1930-). “What is Cinema?” Godard on Godard: Critical Writings, ed. Jean Narboni and Tom Milne, 1972

Danh hiệu người nghệ sĩ có ý nghĩa này: đấy là một người cảm thụ nhiều hơn người đồng loại và ghi lại nhiều hơn những điều anh ta đã chứng kiến.

That is what the title of artist means: one who perceives more than his fellows, and who records more than he has seen.

Edward G. Craig. “On the Art of the Theatre,” 1905

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hội thảo giới thiệu sách

Minh triết thiêng liêng

14:00, thứ Hai, ngày 22/08/ 2016, Hội trường tầng 3, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA),  53 Nguyễn Du, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Đơn vị tổ chức: NXB Tri Thức

Chủ trì: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Phó Giám đốc NXB Tri Thức

Diễn giả: Nguyễn Hồng Nhung (dịch giả cuốn sách)

Thời gian: 14h00 – 16h30, thứ Hai ngày 22 tháng 8 năm 2016

Địa điểm: Hội trường Tòa nhà VUSTA, 53 Nguyễn Du, Hà Nội

Trong buổi hội thảo này, diễn giả sẽ giới thiệu 3 tập sách “Minh triết thiêng liêng” của Hamvas Béla. Tập 1 nói về truyền thống minh triết cổ ở châu Á, tập 2 nói về truyền thống minh triết cổ châu Âu, tập 3 nói về Thiên chúa giáo.

Link mua sách “Minh triết thiêng liêng” (tập 1): http://nxbtrithuc.com.vn/Danh-muc-tu-sach/2654744/397/Minh-triet-thieng-lieng-Tap-1.html

Link mua sách “Minh triết thiêng liêng” (tập 2): http://nxbtrithuc.com.vn/Danh-muc-tu-sach/2654744/398/Minh-triet-thieng-lieng-Tap-2.html

Link mua sách “Minh triết thiêng liêng” (tập 3): http://nxbtrithuc.com.vn/Danh-muc-tu-sach/2654744/399/Minh-triet-thieng-lieng-Tap-3.html

Tác giả:

Hamvas Béla sinh ngày 23.3.1897 tại Eperjes (nay thuộc Slovakia) trong một gia đình Thiên Chúa giáo. Năm 1898 vì nghề nghiệp của cha, gia đình ông chuyển đến Bratislava.

Năm 1915, sau khi tốt nghiệp trung học, Hamvas Béla tình nguyện gia nhập quân đội, sau một năm, bị thương, ông trở về nhà và bắt đầu đọc Kant, Rimbaud, Dostoiepxki, Schopenhauert, nhưng trước hết ông đọc Nietzsche.

Năm 1919, cha ông vì từ chối không tuyên thệ trung thành với nước Slovakia, nên cả gia đình ông bị đuổi ra khỏi Bratislava, chuyển đến Budapest.

Từ 1919-1923 ông học khoa Hungary-Đức tại Đại học Pazmány Péter, ông làm nhà báo 3 năm tại báo Tin tức Budapest Szozat.

Từ 1927-1948 ông làm thủ thư tại thư viện thành phố. Thời gian này ông viết các bài nghiên cứu, tiểu luận, các bài phê bình cho 25 thể loại tạp chí, trong đó có những tạp chí nổi tiếng như Athenaeum, Nyugat.

Hamvas Béla cùng Kerényi Károly thành lập nhóm Đảo, một liên minh tinh thần lấy từ truyền thống Hi Lạp cổ, nhóm này tập trung đông đảo các nhà văn, nhà triết học có tên tuổi của Hungary như: Szerb Antal, Németh László, Kövendi Dénes, Dobrovits Aladár, Molnár Antal và nhiều người khác.

Nhưng sau ấn phẩm gồm ba tập (1935-1936) nhóm Đảo tan rã, một hoạt động cộng đồng tinh thần như thế không thể thực hiện được. Hamvas Béla đã ghi lại những kinh nghiệm cay đắng trong cuốn Hyperion Hungary:

Tôi ở đây giữa mọi người, trên trái đất này, mọi ý định của tôi đều không có kết quả, mọi từ ngữ của tôi vô ích, mọi kế hoạch của tôi tan vỡ, tôi đã thất bại, không ai nhận ra tôi, tôi trở nên thừa thãi, và không được chấp nhận.”

Trong những năm 1930-1940 ông viết gần ba trăm tiểu luận. Đối với ông viết là thực hành yoga.

Ông lấy người vợ thứ hai, một bạn đời tinh thần rất quan trọng, bà Kemény Katalin (1909-2004), người sau khi Hamvas Béla mất, đã cùng Dúl Antal, một đại diện của hậu thế rất ngưỡng mộ ông, cùng chăm lo việc xuất bản các tác phẩm của ông.

Trong thời kì Thế chiến thứ II, Hamvas Béla ba lần bị gọi vào quân ngũ, nhưng không ngăn cản được công việc dịch thuật của ông, như tác phẩm của các tác giả: Lão Tử, Böhme, Hêraclit, Khổng Tử, Henoch.

Năm 1943-1944 ông viết tập I tác phẩm Scientia Sacra, cuốn sách đánh dấu giai đoạn sáng tác thứ hai của nhà văn. Với cuốn sách này, ông gia nhập trường phái truyền thống với những nhân vật ưu tú nhất của thời đại: Julius Evola, René Gúenon và Leopold Ziegler.

Hamvas Béla cắt nghĩa: Truyền thống là sự trường tồn phi thời gian của tinh thần. Các tác phẩm của Hamvas - đầu tiên và duy nhất - lập ra một vũ trụ truyền thống, bằng sự tạo dựng nền tảng linh hồn nhận thức ra tinh thần.

Trong thời kì chiến tranh, tập tiểu luận triết học đầu tiên ra đời: Câu chuyện vô hình (1943).

Năm 1964 ông về hưu. Trong ba năm cuối đời Hamvas Béla hoàn thành nốt các tác phẩm khác trong đó có Scientia Sacra tập II nổi tiếng.

Ông viết chủ yếu là tiểu luận, một thể loại tự do, như một thí nghiệm thể loại. Mọi sáng tác của ông, kể cả tiểu thuyết đều ở dạng tiểu luận.

Ngày 7.10.1968 ông mất sau một cơn chảy máu não.

Cho đến tận những năm 70 của thế kỉ XX, tác phẩm của Hamvas Béla chủ yếu chỉ lưu truyền dưới dạng bản thảo đánh máy.

Bắt đầu từ những năm 80, dần dần tác phẩm của Hamvas Béla được ra mắt công chúng, nhưng vẫn bị kiểm duyệt, ví dụ tiểu thuyết Karneval (1985) bị cắt xén trước khi được in.

Năm 1990, Hamvas Béla được truy tặng giải thưởng Kossuth.

Năm 1996: Giải thưởng Di Sản Hungary.

Năm 2001: Giải thưởng Vì Nghệ Thuật Hungary.

Trong số các tác giả Hungary, Hamvas Béla được đánh giá như một trong những triết gia vĩ đại nhất của thế kỷ 20 ở châu Âu. Tư tưởng của ông hướng về giá trị tổng hợp, phổ quát của minh triết cổ nhân loại, nằm trong các cuốn sách cổ. Hamvas Béla với các tiểu luận triết học đặc thù, thông qua ngôn ngữ Hungary đã tái tạo lại, giới thiệu cho độc giả biết những giá trị tinh thần vĩnh cửu của nhân loại. Tư tưởng, đề tài văn phong trong các tác phẩm của Hamvas Béla đặc biệt hấp dẫn người đọc, thông qua bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới