Danh ngôn

Trong mọi cộng đồng, chúng ta cần một nhóm thiên thần gây rối.

We need, in every community, a group of angelic troublemakers.

(Bayard Rustin – trích bài phát biểu tại New York City 1963)

Trong mọi trường hợp, chắc chắn rằng sự thiếu hiểu biết, đi kèm với quyền lực, là kẻ thù tàn bạo nhất có thể có của công lý.

It is certain, in any case, that ignorance, allied with power, is the most ferocious enemy justice can have.

(James Baldwin - No Name in the Street 1972)

Các cuộc cách mạng và các cá nhân có thể bị giết hại, nhưng bạn không thể giết chết các ý tưởng.

While revolutionaries and individuals can be murdered, you cannot kill ideas.

(Thomas Sankara, một tuần trước khi bị ám sát, 1987)

Không có cảm giác nào cô đơn hơn việc bị chính đất nước mình trục xuất.

There's not a more lonely feeling than to be banished by my own country.

(Kiyo Sato – Kiyo’s Story 2009)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016

Văn học miền Nam 54-75 (211): Nhật Tiến (4)

Thềm hoang (kỳ 2)

(Truyện dài - Giải Văn chương Toàn quốc 1962) 

Chương hai

Ở đường cái rẽ vào là tới ngay đầu xóm Cỏ. Có những mái lá nứt rạn chìa ra lối hẹp. Vào những ngày mưa, lòng xóm hoá ra lòng cống, khi nước rút đi thì ngập bùn và rác rưởi. Mùi tanh nồng theo gió thoang thoảng bay đi. Mỗi lần đêm về, lối ngõ tối hun hút như một cái miệng có chiều sâu. Một vài ngọn đèn dầu đỏ đòng đọc lùa ánh sáng qua kẽ vách không soi hết những mô đá khấp khểnh nhô lên giữa mỗi vũng bùn đen quánh. Ở đấy về đêm có từng bóng áo trắng thấp thoáng sau mấy cái thùng xe đậu rải rác. Khách tìm hoa chụm đầu vào nhau thì thào. Que diêm bật lên rồi tắt ngóm. Ánh sáng teo lại theo tàn than rồi bóng tối lại tiếp tục bưng lấy tội lỗi một cách hối hả, vội vàng.

Dạo ấy, dân xóm Cỏ làm đủ mọi nghề của một tầng lớp thấp kém. Đạp xích lô kiêm nghề ma cạo, bán hàng rong không hẳn là nghề chính thức, thợ mộc, thợ hồ, hót rác, hát dạo và cả ăn mày nữa, tất cả quây quần trong những túp lều tồi tàn, ẩm thấp. Cuộc sống dữ dội và ồn ào bắt đầu ngay từ lúc mây hồng mới rạng ở trên nền trời và kéo dài cho tới quá nửa khuya. Vào buổi tinh mơ, đã có những bóng người lố nhố chụm đầu quanh ngọn đèn đất vàng vọt ở cái quán nghèo đầu ngõ. Họ trao cho nhau những ca nước nóng hổi, những đĩa xôi, bát cháo còn nghi ngút khói. Chiếc điếu cầy rít lên sòng sọc, cháy đỏ ở trong từng góc tối.

Đến lúc trời sáng hẳn thì trong ngõ là thế giới của lũ trẻ con. Hàng dăm chục đứa lốc nhốc, bẩn thỉu chen chân nhau ở bên lề cống. Dưới tia nắng đầu tiên của một ngày mùa hạ, chúng cãi nhau om sòm trong từng đám đánh bi, đánh đáo, đánh bài cào ăn thua nhau từng cắc. Đứa bé hơn thì bò ở trên mặt đất. Mắt chúng nó kèm nhèm dử xanh. Từng đàn ruồi bay vo vo ở trên những cọng rác, thỉnh thoảng táp lại, bám lấy hai vành mi rồi bò xuống má, xuống cổ, hoặc đôi khi rúc mãi vào những cái mụn lở loét có mùi tanh đến lợm giọng.

Buổi chiều lúc gió mát thổi ở trên mái lá thì cuộc sống còn ồn ào hơn. Người lớn trở về chửi nhau ở hai đầu ngõ. Họ tranh nhau từng thùng nước ở ngoài miệng giếng nhỏ. Họ đòi nhau những đồng bạc cho vay từ tuần lễ trước. Chai dầu đong đầy, đong vơi, bó củi bán năm hào bắt tháo ra đổi lại từng nhánh cũng là đầu đề cho cuộc cãi lộn om sòm, liên miên hầu như không dứt.

Huệ vào nghề từ mấy năm trước khi về xóm Cỏ. Hồi còn hương sắc, nàng đi khách với giá hằng trăm. Như thế buổi sáng có cháo gà, có phở, có xôi lạp sường. Thỉnh thoảng có phim nói tiếng Việt, Huệ lại đi xem. Cuộc sống đối với Huệ cứ càng ngày càng tươi đẹp thêm, khác hẳn với những ý nghĩ đen tối hãi hùng của buổi đầu tiên Huệ bị đẩy vào phòng riêng với một người đàn ông xa lạ. Ngày ấy, Huệ cho rằng cuộc đời mà phải dẫn đến những chỗ ấy thì là tàn đời và không còn gì nhục nhã và xấu hổ hơn.

Nhưng cái nghề nhàn hạ của Huệ lại tàn phá thân thể nàng một cách thảm hại. Đầu tiên da Huệ ngả màu xanh lướt. Cặp mắt bạc đi, lòng đen trở thành nhờ nhờ đục. Rồi từng mấu xương cứ nhô ra, khuôn mặt hốc hác thêm, và những đêm trời trở lạnh, nàng bắt đầu húng hắng ho gióng một. Rồi đến cái lần Huệ nghe con bạn cố tình làm sẩy cái thai đã mấy tháng thì Huệ nhược hẳn người ra như chẳng còn mấy hơi sức. Tóc Huệ sáng nào chải cũng rụng ra hằng nắm. Đờm nhổ ra đã thấy vẩn lên từng tia máu. Chính những sợi máu ấy đã khiến Huệ tự tử hụt một lần. Đối với nàng, như vậy là nàng đã mắc phải một tai hoạ lớn lao, còn lớn lao hơn cả cái tai hoạ đang từ một cô gái ngây thơ bị vướng chân mà sa vào vòng tội lỗi. Sau đó mấy lần liền, không có khách nào nhận "đi" với Huệ. Thím Phềnh thẳng tay đuổi Huệ ra khỏi nhà. Bạn Huệ thu xếp cho nàng về xóm Cỏ.

Huệ thuê nhà của một bà cụ bán cháo, xôi. Căn nhà chật hẹp và ẩm mốc, chỉ vẻn vẹn có hai người. Hằng ngày họ ra vào im lặng như những cái bóng. Cụ Chín là một bà già kì cục. Cuộc sống của cụ âm thầm và cô độc đến độ khó hiểu. Ban ngày cụ quẩy hàng lên chợ. Đến tối trở về thì cụ rúc vào cái buồng xép chỉ vừa vặn kê một cái ghế bố, không đồ đạc, hòm xiểng, không nồi niêu, ấm chén, cũng không có cả ánh sáng của một ngọn đèn nhỏ. Bà cụ ăn uống ở trong bóng tối âm thầm đầy muỗi và hơi ẩm. Những bữa cơm của bà, Huệ chỉ nghe thấy tiếng nhai chóp chép, nhỏ nhẹ, uể oải và nặng nhọc. Rồi một lát sau thì Huệ nghe thấy tiếng ngáy. Lúc ấy là lúc bà cụ đã trùm kín mít cái mền rách, hôi hám sặc sụa lên đầu và ngủ một giấc đến sáng. Ít khi Huệ nghe thấy bà ta nói một câu. Ở trong nhà, hai người ít nhìn nhau. Nhiều khi Huệ muốn biết bà ta nghĩ gì về mình, nhưng trong cái nhìn lạnh lẽo, thờ ơ ấy, Huệ không thể nào đọc ra được một ý tưởng nào. Duy chỉ có một điều chắc nhất là bà cụ biết Huệ tiếp khách ở trong nhà.

Phòng ngoài, Huệ kê một cái đi văng ở sát vách, có màn quây kín chung quanh. Cạnh đấy là một cái bàn gỗ đầy bụi bẩn. Mặt bàn rất bừa bãi, chiếc gương vỡ đặt chếch lên ngọn đèn dầu, vài hộp phấn và lọ nước hoa rẻ tiền xếp ở trên mấy tập bài hát in chỉ có lời mà không có nhạc. Huệ cũng đọc cả tiểu thuyết nữa. Cuốn truyện Huệ mua "xon" từ mấy tháng trước mà hầu như không bao giờ nàng đọc hết cả. Nàng lẩm bẩm từng trang, từng chữ. Chỗ nào hiểu được thì cười một mình, rồi đọc lại, đọc lại nữa vì có thể ngày mai Huệ đã quên mất mấy đoạn ấy rồi. Lúc nào không đọc truyện thì Huệ nằm lơ mơ trên đi văng nghe tiếng chuột chạy sột soạt trên mái lá, tiếng trẻ con lao xao ở đầu hồi, hoặc đôi khi có tiếng đàn của bác Tốn gẩy vu vơ ở ngách ngoài. Những lúc nhàn rỗi, bác Tốn hay hát một mình. Cải cách có, vọng cổ có, chán rồi xoay ra hát bậy:

"Cô Huệ ơi...

Nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng.

Tôi mua ô tô cho cô ngự, mua váy đầm cho cô thay..."

Mới đầu Huệ còn bật dậy, chửi đổng qua vách hàng xóm:

"Khỉ gió đùng lăn! Thừa cơm rửng mỡ chửa! Ai thèm mặc cái thứ váy đầm. Mà đồng xu chẳng có, còn bầy đặt xây nhà hai tầng!"

Nhưng mãi rồi Huệ cũng quen đi, vì bác Tốn lúc nào buồn mồm thì hát chơi, ngay cả khi bác không nghe tiếng Huệ léo xéo ở bên tai. Về phần bác thì bác hình dung ra cô Huệ qua lời diễn tả của thằng Ích.

"Cô Huệ béo hay gầy?"

Nó đáp:

"Cũng nhùng nhằng!"

"Đen hay trắng?"

"Trắng bốp!"

"Ui cha! Thế tóc phi dê hả?"

"Phi dê!"

"Xoăn không?"

"Xoăn tít! Phi dê mà lại không xoăn!"

"Áo gì?"

"Áo cánh.”

"Mầu gì?"

"Mầu đỏ!"

"Quần gì?"

"Quần lụa trắng!"

"Ái chà sang nhỉ! Môi son má phấn chứ?"

"Đứt đuôi đi rồi!"

"Thơm không?"

"Bác nói như bố chó xồm ấy! Phấn mà lại không thơm!"

Bác Tốn cười hì hì:

"Ừ nhỉ! Phấn mà lại không thơm!"

Rồi bác ngửa cổ ra đằng trước, mũi bác hếch lên, hít khìn khịt, hai hàm răng ngà ngà của bác nhăn ra nửa chừng, nom trắng như răng ngựa. Bác có vẻ khoái chí. Trong trí tưởng tượng của bác, Huệ là một người đẹp. Từ đấy mỗi lần hứng chí lên, bác lại hát:

"Cô Huệ ơi... nếu cô lấy tôi thì tôi xây nhà gạch hai tầng..."

Tiếng đàn bật lên ở mấy đầu ngón tay xen lẫn tiếng cười khúc khích của bà con hàng xóm. Nhưng ai cũng cho là bác đùa vậy thôi, vì chưa một ai nom thấy Huệ ở nhà bác Tốn đi ra. Ngay cả đến hai người đứng lại trò chuyện với nhau cũng chẳng còn có nữa là.

Về phần Huệ thì bực mình mãi rồi cũng thành quen cũng như nàng cũng đã quen mồm gọi bác Tốn là thằng khỉ gió!

"Thằng khỉ gió ngứa mồm chửa! Bộ cái mã ấy mà xây được nhà gạch hai tầng thì chó nó đã có váy lĩnh.”

Đôi khi bác Tốn đi qua cửa, Huệ mượn lời mắng mấy đứa trẻ như để nói với bác, giọng nàng chanh chua rít lên đành đạch:

"Khỉ gió đùng lăn chửa, giẫm chết chân người ta rồi đây này.”

Rồi nàng cười như nắc nẻ. Bác Tốn cũng che mồm quay đi tủm tỉm một mình. Lòng bác khoan khoái như vừa hớp xong một ly rượu lớn. Hình ảnh của Huệ chập chờn sáng lên ở trong khoang tối tăm mù loà của bác. Nhiều khi bác muốn quay lại góp với Huệ một câu. Nhưng chỉ cứ nghĩ như thế là chân tay, mồm miệng của bác đã ríu lại cả với nhau rồi. Bác vẫn tự nhủ với mình:

"Nói gì! Nói cái quái gì! Xấu hổ bỏ bố đi..."

Đấy là kể những lúc bác nghe tiếng Huệ léo xéo ở bên tai. Còn khi vắng nàng, bác lại chẳng nhút nhát tí nào. Bác đã nghĩ ra rất nhiều câu hát bậy và đánh đàn hát cho hàng xóm nghe. Tất nhiên ai mà chẳng khoái chí, ai mà chẳng rúc lên cười. Tiếng cười của họ khiến bác nghĩ rằng mình không cô độc. Chung quanh bác có nhiều người thân yêu. Huệ cùng cảnh với bác, nghèo như bác, và tất cả đều lam lũ, khốn khổ như nhau. Khi vui thì giọng bác ngân được rất dài và rất cao:

"Cô Huệ ơi...

Tôi theo cô đến tận góc bể chân trời

Sông sâu tôi cũng lặn, núi đồi tôi cũng leo

Sang Tây, sang Nhật, sang Lèo

Sang Tàu, sang Mỹ... tôi theo cô đến cùng...

Ới cô Huệ ơi..."

Câu hát như thế mỗi lần Huệ nghe thấy nàng lại dẫy lên:

"Rõ thừa cơm rửng mỡ chửa! Sang Lèo để mà ăn cái khỉ gió đùng lăn gì kia chứ..."

Cũng có những lúc giọng hát của bác tự nhiên buồn não nuột, nhất là về đêm khuya thanh vắng. Mọi người nghe như cảm lây với cái buồn của bác. Huệ nói với hàng xóm:

"Thằng khỉ gió nhớ con nào mà thảm chửa.”

Rồi nàng cũng lắng tai nghe tiếng hát của bác vẳng lên trong ngõ tối:

"Tôi chờ cô tối qua.

Suốt canh chầy chẳng thấy cô ra..."

Chắc lúc ấy bác Tốn đang ôm đàn ngồi ở bực cửa. Bóng tối vây quanh như nỗi cô độc của bác trong sự mù loà. Mặt bác hướng ra khung cửa. Mùi tanh nồng của nước mương đầy rác rưởi theo gió bay vào gây cho bác cảm giác nhẹ nhàng yên tĩnh. Tiếng đàn bật lên ở trên tay. Âm thanh quen thuộc rung trên phím gỗ và lắng sâu vào hồn bác. Những lúc ấy bác muốn lấy Huệ làm vợ. Bác nhớ đến mùi phấn thoang thoảng của Huệ lúc nàng đi qua hàng rào. Nếu những buổi tối có Huệ, sau bữa cơm, hai người sẽ ra ngồi ở đầu hè. Bóng tối êm ả vây quanh. Bác sẽ cầm lấy tay Huệ mà không nói. Không nói tức là nói thật nhiều. Rồi hai người sẽ hôn nhau. Mùi phấn thơm là của riêng bác, gió mát và bóng tối là của riêng hai người. Bác thấy lòng rạo rực với niềm yêu dâng lên. Mắt bác nhắm nghiền. Bác thấy hình ảnh của Huệ, mặc áo đỏ, đánh môi hồng đang cười với bác. Bác chợt mỉm cười và thấy mình sung sướng, hạnh phúc.

Tuy vậy ý định lấy Huệ chỉ đến với bác vào những buổi tối ngồi một mình trên bực cửa. Đến sáng ra, nằm trên nệm cỏ, nghe thấy tiếng thùng tôn va chạm loảng xoảng ngoài giếng nước, tiếng trẻ con khóc lên ngằn ngặt ở đầu hồi và tiếng xe, tiếng người chửi nhau loạn xạ thì bác quên hẳn ý nghĩ ngày hôm trước. Bác thấy buồn vì cuộc sống ồn ào, gay gắt chẳng như trong mộng tưởng. Huệ có cuộc sống riêng của nàng, tự do, nhàn hạ và đầy vẻ chanh chua, kiêu kì. Mỗi lần có tiếng Huệ léo xéo ở ngoài ngõ, bác nghe tiếng họ trao đổi với nhau mấy câu nói quen thuộc:

"Mệt không cô Huệ ơi!"

"Mệt cái phải gió! Ít tiền mà cứ đòi của đẹp.”

Tiếng nói của Huệ gieo vào lòng bác những cung bậc trầm buồn khiến cho bác thấy lòng mình thắt lại. Bác nghĩ rằng nếu mình chỉ ngửi thấy mùi phấn thơm của Huệ mà không phải nghe thấy những câu nói ấy của Huệ nói chắc sự sung sướng của bác sẽ trọn vẹn hơn nhiều. Ý nghĩ ấy làm bác có thể khóc được, và bác lại sờ soạng tìm cây đàn, vừa gẩy vừa hát nhè nhẹ:

"Tôi với cô... không duyên, không nợ

Tôi với cô... không vợ, không chồng..."

Thường thường buổi sáng nào bác Tốn cũng tiêu phí thì giờ vào nỗi buồn vu vơ như thế, đến gần trưa thì có con gái bác Nhan gọi sang ăn cơm. Bác Tốn ăn trọ ở nhà bên ấy. Bác Nhan gái làm đủ nghề lam lũ: cu li, thợ hồ, mua bán đồng nát và gánh nước thuê. Tuy quần quật suốt ngày mà bác cũng chỉ kiếm đủ tiền nuôi bốn miệng ăn. Bác Nhan giai ốm yếu lúc nào cũng chỉ nằm như một cái xác ve trên phản. Hai đứa con gái thì một đứa còn phải ẵm. Con chị là cái Hòn cũng mới lên tám, so với cái Ngoan thì Hòn xấu xí và đen đủi hơn nhiều. Sự thiếu thốn, đói khổ làm người nó quắt lại, tay chân khẳng khiu như que củi. Cả ngày hai chị em nó bế nhau thơ thẩn ở ngoài ngõ, nhất là ở quán nước cụ Tư. Chúng nó hay nhặt những cái lá gói còn dính bánh chưng, những khúc mía xương xẩu hoặc mấy cái đuôi bánh mì thừa vứt đi, đem vét voi nhấm nháp gọi là cho biết mùi của lạ. Tuy vậy thỉnh thoảng chúng nó cũng được bác Tốn mua hẳn cho một đồng kẹo tây. Mấy cái kẹo xanh đỏ, tuy ít ỏi nhưng hai chị em nhè đi, nhè lại cho nhau cũng ăn được suốt cả một ngày. Bác Tốn biết nhà chúng nó nghèo nên hay chia ngọt sẻ bùi với mọi người. Nhiều lúc nhà hết gạo, thổi thiếu cơm bác vẫn cười dễ dãi và bỏ tiền ra mua cho hai chị em thêm tấm bánh. Thành ra đối với họ, bác là người rất phong lưu, rộng rãi.

Buổi trưa, sau bữa cơm, bác Nhan trai lại xoay ra rủ đánh cờ. Cờ bác Tốn rất cao và sắc nước. Chỉ dùng có mấy ngón tay sờ soạng mà bác Nhan nhiều khi tức đến muốn hộc máu. Nhất là mỗi khi đi được một nước đắc ý, bác Tốn lại mỉm cười vu vơ. Hàm răng trắng nhởn của bác nhe ra như răng ngựa, cổ bác đưa hẳn ra đàng trước, cặp mắt hấp him như muốn tìm vẻ bối rối trên mặt bạn, rồi mấy ngón tay của bác lại gõ như khiêu khích lên mặt bàn. Nếu không vì sự thổi cơm trọ có lời cho nhà mình, thì bác Nhan đã hất cả bàn cờ xuống đất rồi.

Những lần thắng như thế bác Tốn thường hay hứng chí có khi bỏ hẳn chục bạc ra mua rượu đế, tôm khô về nhậu. Nghe đến rượu thì mắt bố con bác Nhan cùng sáng lên. Cái Hòn thì ăn bớt đứt đuôi đi được một đồng bạc rồi. Còn bác Nhan thì khỏi phải nói. Rượu tuy bác ít mua nhưng của người khác thì bao nhiêu cũng hết. Vừa được say sưa, vừa không sợ bị vợ la tốn tiền, bác chả dại gì mà làm khách. Sự bệnh tật và ốm yếu quanh năm làm cho bác hèn hẳn con người đi. Trong đầu bác lúc nào cũng chỉ quanh quẩn so kè mấy điều hơn thua nho nhỏ. Đầu óc bác chẳng bao giờ vượt ra khỏi mấy chai dầu đong đầy đong vơi, bó củi khô hay ướt hoặc bữa cơm cái Hòn đong thừa hay thiếu gạo. Điều ấy đối với bác thật quan trọng. Vì nếu có chểnh mảng ra mà để sơ suất thì thế nào mấy bố con cũng phải nghe bác Nhan gái cằn nhằn mãi không thôi. Một đôi lần có ức quá vì sự dai dẳng của vợ, bác cũng chỉ văng được một câu:

"Này thôi đi! Sốt tiết lắm nữa.”

Rồi bác nằm ngửa mặt nhìn lên trần nhà hậm hực. Lúc ấy bác thấy đời thật đáng chán. Cả một đời bác chưa một lần nào bác được ăn sung, mặc sướng hay có ít tiền tung tẩy. Nhiều lúc bác muốn được chết quách đi cho thoát khỏi cái cảnh tối tăm, khốn khổ như thế này. Những tiếng đá thúng đụng nia của bác gái làm cho bác chẳng nghĩ gì được xa hơn. Mình bác dán xuống phản, tim bác đập mạnh, phập phồng, lòng bác thì nửa như tức tối, nửa như lo sợ. Con vợ to xác như thế, đụng vào nó thì chỉ có thiệt thân. Nhưng rồi bác lại thấy im lặng như thế thì mình hèn với nó quá, nên bác lại nhỏm dậy, đập tay xuống mặt giường nói chõ ra bực cửa:

"Này thôi đi... Sốt tiết lắm nữa..."

Vọt xong câu nói nghe mạnh bạo và hùng hổ ấy, bác cũng hơi ngại. Nhưng thấy vợ vẫn lúi húi ngoài đầu hè thì bác lại yên tâm nằm xuống. Trong đời bác chưa lần nào bác có gan đánh vợ:

"Nó khoẻ như voi. Nó mà du mình một cái thì chỉ có chết!"

Được cái là bác Nhan gái chưa lần nào dùng cái sức của mình để lấn át sự ốm yếu của chồng cả. Cũng vì vậy cơn giận của bác dễ nguôi xuống một cách rất mau chóng, nhất là khi vợ chồng đang cãi nhau lại có tiếng người léo xéo ở cổng. Người khách đến chơi bất ngờ như một gáo nước dội mát lòng bác. Niềm vui tự nhiên lại tràn ngập trong lòng. Bác không thấy ghét vợ nữa. Bác nghĩ đến sự vất vả lam lũ suốt ngày của "nó”. Nó cáu một tí, mình nhịn một tị cũng chẳng chết ai. Sự độ lượng ấy khiến bác tươi tỉnh hẳn và xun xoe đi làm giúp vợ một vài việc trong nhà. Cho đến khi vợ bác chịu nói với bác một câu thì bác cười rất hể hả. Sau mỗi lần như thế, bác lại kiêu hãnh với vợ về sự tốt nhịn của mình. Bác so sánh vợ chồng bác với dượng u thằng Ích. Hai nhà cách nhau có đến mấy chục thước mà tiếng chửi bới nhau nghe rõ mồn một. Có lần họ lôi nhau ra ngõ để phang nhau bằng những cái đòn gánh, bằng then cửa, bằng cả thùng gánh nước nữa. Xóm Cỏ đã ồn vì thế lại ồn thêm. Trẻ con bu đông lại như xem đám rước. Tiếng hò reo vui sướng của chúng nó như thúc đẩy đôi vợ chồng thêm hăng hái. Về phần bác Nhan thì chân tay run bắn lên như chính mình đang can dự vào vụ ấy. Nhất là những khi bác nhìn thấy vết máu thấm đỏ cả áo hai người. Đầu tóc u thằng Ích xoã xợi. Tiếng khóc thê thảm xoáy vào bầu không khí oi nồng của buổi trưa. Chiếc áo cánh nâu của u xoạc từ vai xuống đến nách. Làn da trắng bệch bạc xây xát nhiều vết thâm tím. Còn mặt dượng Tám thì tái ngăn ngắt. Môi gã bậm lại, cặp mắt long lanh đầy vẻ dữ tợn, mấy cụm tóc chải tém xễ xuống mang tai, bóng nhẫy ở dưới nắng.

Những lúc ấy, thằng Ích không bao giờ dám bén mảng lại gần để bênh mẹ. Mặt nó xám như chàm đổ. Nó ngồi ở đầu hè vừa khóc vừa mếu, cũng có khi nó chuồn sang với bác Tốn ở tịt đấy cho đến tận chiều và đi hát luôn với bác.

Ngày xưa dượng Tám đối với u chúng nó không tệ như thế. Ích không rõ lắm về quá khứ của dượng, vì ngày u nó lấy dượng, anh em nó còn bé quá. Nhưng càng lớn, Ích càng thấy dượng là người độc ác. Hai cánh tay của dượng phồng lên từng múi thịt. Những đường gân nổi lên ở giữa nét chàm xâm nhằng nhịt. Hồi trước dượng Tám rất khoẻ. Chính mắt thằng Ích đã có lần được trông thấy ở ngoài quán nước, dượng kê vào cánh tay một đẫn mía lớn rồi quất thật lực. Đẫn mía gẫy ròn làm đôi như thể bị va vào khối sắt nguội. Còn dượng Tám thì nét mặt vẫn thản nhiên như không, dượng còn cười ha hả trước bao cặp mắt kính phục của mọi người. Mồm dượng rộng huếch hoác, mấy chiếc răng bịt vàng lấp loáng ở sau làn môi dầy và thâm. Dượng tuy xấu giai nhưng ngày xưa các cô bán hàng lại mê dượng về sự hào hùng tương tự. Họ hay cấu chí hoặc phát đôm đốp lên hai bờ vai u, đầy thịt của dượng. Nhưng dượng Tám lại chỉ mê có mỗi một người đàn bà goá trẻ tuổi. Đó là u thằng Ích. Da u chúng nó trắng và mịn màng. Đôi mắt lá răm đen lay láy như mắt bồ câu. Mỗi lần ra chợ, dượng cứ hay nắm lấy tay u mà cười một cách ngáo ngổ. Mặt u đỏ bừng bừng, người u vùng vằng tỏ vẻ giận dỗi. Nhưng thật ra sức mạnh bàn tay thô bạo của dượng Tám đã gây cho u những cảm giác rộn ràng mà từ lâu u không thấy. Đã thế, dượng Tám lại tỏ ra rất si tình. Buổi tối khi về chợ, dượng hay giúp u khuân những thúng cá đầy nước, vừa tanh vừa bẩn đổ vào cái sạp lớn. Trong cái nhá nhem của buổi hoàng hôn yên tĩnh, bóng dượng cao lớn, đầy sinh lực, khiến u như cảm thấy có một chỗ dựa vững chãi. Dượng rất hay đùa với u. Nhiều lần dượng cặp lấy mang những con cá lớn vào hai đầu ngón tay cứng như sắt giơ lên ngang mày. Con cá vùng vẫy một cách tuyệt vọng làm nước bẩn bắn lên tung toé, rồi dượng cười với u, tiếng cười lỗ mãng, và ngay thẳng. Vì thế u tìm thấy ở dượng cái vẻ gì gọi là chất phác, đáng yêu. U vờ chạy trốn ra đằng sau dượng. Bàn tay nhỏ nhắn của u bám chặt lấy cánh tay lực lưỡng của dượng và u tru tréo lên một cách nũng nịu. Cho đến một hôm, dượng ôm lấy u vào lòng, hôn chùn chụt lên má u và u nghe thấy tiếng nói của dượng nóng lên ở trong hơi thở:

"Mình ơi... Mình ơi..."

Lúc ấy u không nghĩ được gì nữa cả. Người u run bắn lên như chưa lần nào u rối loạn như thế. Rồi u khóc và để mặc dượng Tám hôn như mưa lên mặt của mình, u biết cuộc đời u bắt đầu thay đổi từ giây phút ấy.

Mấy hôm sau hai người lấy nhau rất giản dị. Dượng Tám không ngủ ở trên cầu nữa. Dượng cũng bỏ cả những buổi tối tụ họp thành đám đông để cười đùa và văng tục. Dượng ôm chăn gối về ở chung với mẹ con thằng Ích. Anh em Ích chẳng ưa gì dượng nó, nhưng những ngày đầu cũng yên vui. Dượng hay công kênh anh em nó lên vai để ra đón u vào lúc buổi chiều. U Tám đi chợ về sớm hơn trước, trên vai quẩy gánh kĩu kịt. Nắng quái chiếu ngang tầm mắt làm khuôn mặt của u trở nên rạng rỡ. U cười ngay từ khi mới thấy bóng chúng nó, hai hàm răng của u đen lấp lánh. Lúc lên đèn, bốn người quây quần quanh mâm cơm nghi ngút khói. Dạo ấy kiếm ăn dễ dãi nên cơm có thịt, có tôm tươi hoặc có chả rán. Nồi cơm trắng thơm phức và đầy đặn khiến bữa nào chúng nó cũng được ăn no. Ăn xong, dượng Tám hay phanh trần ra, vỗ ngực hát nghêu ngao. Đến khuya, u Tám vãn việc thì hai người vào ngủ ở trong buồng. Giấc ngủ của thằng Ích bao giờ cũng bắt đầu bằng tiếng cười khúc khích của họ. Cái Ngoan thì không còn cái thú nằm ngủ ôm lấy cổ mẹ nữa. Đêm đêm hai anh em nằm ôm nhau lăn lóc ở trên chiếc phản gỗ kê ở nhà ngoài. U Tám vì được thời làm ăn nên chúng không hề phải vất vả. Suốt ngày hai đứa chỉ tha thẩn ở hang cùng ngõ hẻm để đánh bi, đánh đáo. Hoặc chán rồi thì chúng lại trở về làm tội làm tình những con cá thả trong mấy chục cái thùng sơn để ở sau nhà. Nhiều khi chúng nó còn lấy cắp cá của mẹ đem nướng rồi chơi bầy cỗ nữa.

Về phần dượng Tám thì tử tế với u được gần một năm. Sau này vì nhàn rỗi, dượng sinh ra tật cờ bạc, rượu chè. Cái tử tế ban đầu dần dần cũng nhạt đi. Nguồn vui trong gia đình thằng Ích như một cơn gió mát thoáng qua rất nhanh rồi liên tiếp đổ về từng cơn giông bão. Ngày trước u thằng Ích yêu dượng vì sức vóc, thì bây giờ dượng lại dùng cái sức vóc ấy để đánh u đến thâm tím mình mẩy. Nhiều buổi tối, u hay ngồi khóc ở cột gỗ ngoài hiên. Tiếng sụt sùi của u rấm rứt mãi trong đêm khuya xen lẫn với tiếng ngáy nặng nề của dượng Tám đưa qua kẽ vách. Thằng Ích nằm buồn hiu, thao thức mãi ở trong tiếng động não lòng. Nó hay trở dậy ngồi bó gối trong bóng tối, đăm đăm im lặng nhìn ngọn đèn lu dần trên kệ. Khung cửa gỗ bên ngoài lờ lờ đục một màn sương của bầu trời lúc chớm sang thu. Ích ngấm nghía thấy oán dượng, oán mẹ và nó bật lên khóc. Trong đầu óc non nớt, nó mang máng nhớ lại một hình ảnh rất xa xôi, từ ngày còn thầy nó, người đàn ông yêu thương chúng nó rất mực. Thầy nó gầy và trắng trẻo. Những đêm mùa hạ, ông thường ngồi đạp chiếc máy may ở một góc nhà. Bên cạnh là khung cửa sổ mở rộng trông ra một bầu trời đầy sao sáng. Cuộc đời của Ích êm đềm trôi qua tiếng kéo cắt xoàn xoạt trên thớ vải, và tiếng máy rì rào chạy thâu đêm, suốt sáng.

Hình ảnh đã qua, tuy rất mơ hồ, nhưng cũng đủ gây cho nó những cảm giác êm đềm, xao xuyến. Ích tự nghĩ chẳng còn bao giờ nó tìm lại được khung cảnh thần tiên như thế. Điều ấy có thể làm cho Ích phát khóc lên được. Trong đầu óc còn non dại của một đứa bé mười hai, Ích đã có cái ý tưởng bỏ nhà ra đi.

Chương ba

Buổi sáng, lúc Ngoan quẩy hai cái thúng đồng nát ra cổng, Ích chạy theo rỉ vào tai nó:

"Đi vòng quanh một lát độ chừng chín giờ thì chờ tao ở quán cơm bà Hỉ nhé. Tao sẽ mua cho mày một cái lược.”

Mặt Ngoan bừng lên nét mừng rỡ. Nó nhắc anh:

"Lược màu xanh ấy, anh Ích nhé..."

Ích hãnh diện gật đầu. Nó nghĩ đến tờ giấy bạc nằm ép dưới hòn gạch kê ở chân cái thạp gỗ. Chỗ ấy chẳng bao giờ dượng Tám sờ đến, vì dượng không hề dính vào việc làm cơm nấu nước ở trong nhà. Hằng ngày, buổi sáng dượng dậy rất muộn, thường thường là lúc ánh nắng đã xiên vào đến đầu hè. Đêm trước thức trắng vùi đầu vào đám bạc, khiến giấc ngủ của dượng nặng nề và nom thảm hại. Hai má của dượng hóp vào, quầng mắt trũng xuống, mồm dượng há hốc ra, nom đầy vẻ mỏi mệt. U Tám lúc ấy đã đi chợ từ lâu, u để trên mặt phản cho dượng mâm cơm có bát canh rau và đĩa xào nhỏ, món xào mà anh em thằng Ích chỉ được ăn với bát cơm đầu tiên, còn những bát sau thì chúng nó phải chan thật đầy canh, rưới tương vào mà húp tuồn tuột.

Ăn cơm xong thì dượng Tám thường ra đứng ở đầu hè, hoặc ngồi xỉa răng trên bực cửa. Tuy chẳng nói với ai nhưng dượng vẫn giữ khuôn mặt lầm lì, cặp mắt lúc nào cũng long lên như muốn cấu xé. Cho nên, ở gần dượng, Ích thấy sợ cả cái lúc dượng trầm ngâm. Rất có thể bất thình lình dượng túm lấy nó, hạch sách nó đôi điều rồi đá nó lăn lông lốc xuống sân đất. Mỗi lần như thế, Ích muốn có một mũi dao thật sắc và nhọn. Nó muốn lăn vào đâm cho dượng nát ra như những lần nó đâm nát con giun đất mà nó đào được. Nhưng ý nghĩ táo bạo ấy chỉ thoáng qua trong đầu. Nó thừa biết với bàn tay hộ pháp của dượng, dượng chỉ bóp nó một cái là chết ngỏm ngay rồi. Bởi vậy Ích chỉ kêu váng trời, váng đất để cầu cứu hàng xóm rồi nó ôm đầu chạy tuốt ra ngoài ngõ. Đó cũng là một cái cớ để cho Ích bỏ nhà đi lang thang ở các góc phố, hoặc lại sà vào đám đánh bài cào với một bọn lau nhau, rách rưới, và bẩn thỉu. Cuộc đời của thằng Ích hệt như một trang sách được giở đi giở lại nhiều lần, hôm này qua hôm khác không ngớt tiếng chửi rủa và đánh đập vào thân hình còm cõi, khiến nó cứ mỗi ngày một tóp đi, quắt lại và đen thui thủi. Trong đầu Ích chỉ mơ ước có một điều. Đó là lúc nó sẽ lớn lên, nó tin rằng cuộc đời nó khi ấy sẽ hoàn toàn đổi khác.

Cái Ngoan đi được một lát thì đột nhiên u chúng nó trở về. Tiếng quang gánh xao động một cách quen thuộc ở đầu hồi làm thằng Ích đang nằm trong phản vụt nhỏm dậy. Đầu nó thò ra khỏi ô cửa gỗ. Nó thấy u Tám đang dựng cái đòn gánh vào một góc bếp lổn nhổn đầy đồ đạc. Ích hỏi:

"Sao hôm nay u về sớm thế?"

Nhưng u không quay lại và cũng không đáp lời nó. U đứng im lặng ở cạnh con chó đang ngủ. Mặt u hốc hác đầy mệt mỏi. Ánh nắng chiếu rõ vào đôi mắt đen và sâu. Nước da u trắng bệch bạc, có những đường gân xanh nổi lên nom yếu ớt, bệnh hoạn. U rũ chiếc khăn đen bít đầu ra vắt ở bờ vai. Từng sợi tóc nhếch nháp mồ hôi dính kết lại ở trên trán và má. Trong nắng sớm, chiếc bóng bé nhỏ của u ngả dài trên thềm gạch nham nhở. Ích lại nói:

"Con dọn cơm cho u ăn nhé!"

Bây giờ thì u quay lại nhìn. Nét mặt u thản nhiên, hờ hững đến độ nhiều khi thằng Ích thấy phát ghét. Nó vẫn cảm thấy rằng u Tám đã hết thương chúng nó rồi. Trong nhà, chẳng bao giờ u cười, chẳng bao giờ u nói, u ra vào như một cái bóng im lặng, khắc khổ, và đầy vẻ chán nản, chịu đựng. Ích leo hẳn người qua cửa sổ, nó định tuột xuống thì u nó bảo:

"Không, u không đói.”

Rồi u đi thẳng xuống sân đất. Bàn chân đầy kẽ nứt nẻ giẫm lạo xạo lên những viên gạch lổn nhổn toàn vôi và vữa. U dừng lại ở trước chum nước quơ lấy cái gáo bằng tôn. Một tay u vén quần đến đầu gối, môït tay u vục cái gáo vào miệng chum nước. U rửa chân một cách chậm chạp. Ích vụt nhận thấy trên lớp da trắng nhễ nhại của chân u có đầy máu bám chung quanh một khoảng thịt tím bầm và sưng vù lên như bắp chuối. Nó kêu lên:

"Giời ơi, u ngã có phải không?"

U quay lại nhìn nó im lặng. Ích nhận ra ở trong con mắt u chứa đầy vẻ xót xa và khốn khổ. Nó vụt nghĩ đến sự dịu dàng của u đối với anh em nó từ ngày xưa. Ích bỗng thấy thương u lạ lùng, tự nhiên nước mắt của nó chảy dài xuống hai bên má. U Tám trông thấy nó khóc, nên vội vàng nói:

"Không làm sao cả, chẳng có gì đâu.”

Nói rồi u vội vàng thả ống quần chùng xuống đến gót, và u khập khiễng đi lên nhà. U gặp dượng Tám đứng chờ ở bực cửa. Ích nghe thấy dượng nói:

"Cho mượn ít chục, mai trả.”

U Tám ngước lên nhìn dượng. Bốn tia mắt cùng long lên như nhau. Nhưng u không đáp mà lách người, bước qua bực cửa. Tiếng dượng Tám vụt quát lên:

"Có nghe thấy gì không?"

Giọng u Tám đáp lại nho nhỏ:

"Làm gì có tiền! Hết rồi!"

Mọi lần tấn kịch đến đây là Ích đoán được sẽ xẩy ra những gì. Trống ngực nó đập ran lên, chân tay nó bủn rủn. Nó biết hai người sẽ đánh nhau ở trên ấy. Nhưng lần này thì Ích chỉ thấy hai người lao xao một tí rồi yên lặng ngay. Dượng Tám hiện ra ở bực thềm với chiếc áo cánh trắng. Mắt dượng nheo lại dưới ánh nắng chiếu chếch từ vòm cây xoan tây trước ngõ. Môi dượng dầy và cong lên một cách vừa đáng ghét vừa đáng sợ. Dượng hầm hầm đi ra cổng. Ích thấy bàn tay của dượng thọc vào miệng túi. Những đồng bạc lẻ chắc mới lấy của u thò ra từng cái mép xanh, đỏ. Ích hậm hực muốn chửi to lên vào mặt dượng. Ý nghĩ muốn xỉa con dao vào ngực dượng lại thoáng qua trong đầu. Mắt nó long lên nhìn vào cụm tóc của dượng bóng nhễ nhại dưới nắng. Dượng Tám bước nặng nề qua mặt nó. Tiếng guốc lạo xạo nghiền nát từng viên gạch vụn. Ích hậm hực nhìn theo. Nó hình dung ra không biết bao nhiêu câu chửi chanh chua và tàn tệ.

Một lát sau Ích trở lên nhà. Nó thấy u Tám nằm ở trên chõng. Hai chân u quắp lại, bàn tay u dấu ở trong lòng. Đầu gối u dựa lên bọc quần áo mà u thường gói mang đi làm. Mắt u nhắm nghiền và sâu trũng xuống. Khuôn mặt của u hốc hác thảm hại. Miệng u há ra nửa chừng. Hơi thở ngắn và nặng nề. Dưới gầm phản có mấy đồng bạc lẻ nằm vật vờ, Ích đoán là tiền ấy vương ra lúc hai người giằng co. Nó cúi xuống nhặt lên, ngần ngừ định trả vào túi áo của u. Nhưng rồi nó nghĩ ba đồng bạc thật là ít ỏi so với số tiền dượng Tám đã lấy. Nếu mấy đồng bạc ấy không rơi ra thì chắc chắn bây giờ đã nằm gọn trong túi áo của dượng rồi. Nghĩ thế, Ích yên tâm thủ nhanh tất cả vào túi của mình và vui sướng thấy u Tám vẫn nằm yên lặng. Nó cho rằng u đã ngủ say. Dượng Tám cũng đã đi rồi. Giờ phút tự do này là của riêng nó, nó sẽ lấy tiền dấu ở dưới hòn gạch và thong thả ra chỗ hẹn với em. Hai đứa sẽ đi chơi và ăn uống thật thoả thích. Ngoan sẽ có một cái lược mầu xanh thật đẹp. Hai đứa sẽ ngậm ô mai mà đi khắp chợ. Sự vui sướng đột nhiên làm Ích quên hẳn tai nạn vừa xẩy ra liên tiếp cho u nó. Bây giờ nó chỉ nghĩ đến lúc hẹn với cái Ngoan. Nó dọn dẹp căn nhà một cách rất nhanh chóng và cẩu thả. Chân nó đá cái thúng vào gậm giường, hai tay nó đun mạnh đống chăn màn vào một góc và lấy cái chiếu trùm lên. Đoạn nó quơ lấy cái chổi lia ba bốn nhát cho những cọng rác bay vào những hốc ngách bí hiểm. Căn buồng trong chớp mắt theo nó đã sạch sẽ và gọn gàng. Ích yên tâm khép cánh cửa giữa rồi đi ra cổng.

Đến quán bà Hỉ, Ích đã thấy cái Ngoan chờ ở đấy. Con bé ngồi xổm ở giữa hai cái thúng đầy những đồ nát vụn vặt. Hai tay Ngoan mở rộng quyển báo đầy tranh ảnh, chăm chú đọc. Ích lấy bộ điệu đàn anh vừa ngoắc tay vừa huýt sáo gọi nó. Cái Ngoan ngẩng lên cười rất tươi. Ích nói:

"Mày mà cũng biết đọc báo cơ à?"

Ngoan đáp:

"Em coi ảnh đấy chứ. Nhưng không biết chữ cũng khổ. Nhiều đứa chỉ bé bằng em mà cũng đã đọc vanh vách cả rồi.”

Ích đáp hờ hững như trong đời chưa bao giờ nó quan tâm đến chuyện chữ nghĩa cả:

"Thì nhà chúng nó đã không có dượng. Thử bây giờ mà giống ngày xưa xem.”

Ngoan hỏi:

"Ngày xưa chắc nhà mình giầu lắm nhỉ?"

"Đứt đuôi đi rồi. Dạo còn thầy, nhà có cả máy may nữa. Máy quần áo nhanh không chê được.”

"Thầy có hay đánh u không?"

Ích trợn mắt:

"Đời nào. Thầy khoái bằng nghìn dượng Tám.”

Ngoan chép miệng:

"Hoài của quá nhỉ? Thế mà thầy lại chết.”

Ngừng một lát, Ngoan lại hỏi:

"Thế lúc thầy chết thì đã có em chưa?"

"Có rồi chứ lị. Nhưng mà dạo ấy u còn phải ẵm mày cơ. Hôm ấy u đi lấy thuốc về, nghe tin thầy chết, u buông mày xuống đất, suýt vỡ đầu.”

Cái Ngoan sờ lên mái tóc như định xuýt xoa. Nó có cảm giác như mình vừa bị ngã thật. Một nỗi buồn nhẹ nhàng tự nhiên đến xâm chiếm tâm hồn nó. Một lát sau nó nói:

"Em gởi quang gánh ở hàng bà Hỉ rồi mình vào chợ nhé.”

Ích gật đầu, mắt nó lơ đãng nhìn vào đám đông hỗn loạn phía trước mặt. Nắng bây giờ đã gay gắt hơn, chiếu sáng loà lên những mái tôn ở nóc chợ. Mọi người chen nhau trong những lối đi nhỏ hẹp. Mùi cá tanh nồng xen lẫn với mùi rác rưởi hôi thối thoang thoảng đưa vào mũi Ích. Nó đứng lùi lại dưới bóng một thân cây và thò tay vào cạp quần nắn lại mấy tớ giấy bạc. Bất giác Ích nghĩ đến ba đồng bạc dưới gậm giường hồi nãy và hình ảnh của u nó nằm co quắp ở trên phản với một bên chân tím bầm, bê bết máu. Ích thấy như mình đang muốn khóc. Nó buồn thật sự. Nỗi buồn nhen nhúm từ lúc nó kể chuyện ngày xưa cho cái Ngoan nghe. U chúng nó thật khổ sở và đáng thương hại. Nếu không có dượng Tám thì u và chúng nó đâu đến nỗi khổ sở như thế.

Ích đang băn khoăn thì cái Ngoan đã gửi xong gánh hàng và chạy đến bên nó. Hai anh em thong thả đi vào chợ. Ích vụt nói:

"U ngã đấy.”

Cái Ngoan giật mình:

"Chết! Ngã ở đâu?"

"Tao không biết! Nhưng chân u tím ngắt và có máu.”

"Nặng không?"

"Chắc nặng.”

"Dượng Tám đã mua thuốc cho u chưa?"

Ích bĩu môi:

"Mày nói như bố chó xồm ấy. Dượng ấy còn vét thêm tiền của u đi đánh bài nữa kìa.”

Ngoan lầu bầu những tiếng chửi thề trong miệng. Một lát nó co tay thằng Ích:

"Vậy mình phải mua thuốc cho u chứ?"

Ích bối rối:

"Mua thuốc gì bây giờ?"

Mặt Ngoan cũng ngẩn ra:

"Ừ, ngã thì mua thuốc gì được nhỉ. Uống ký ninh được không?"

"Đồ dốt! Ký ninh là thuốc cảm!"

"Hay là bôi dầu con hổ. Em thấy dầu con hổ bôi gì cũng được.”

"Thôi để hỏi kỹ cho nó chắc. Có bác Phớn kia kìa. Mày đến hỏi xem.”

Mắt Ngoan nhướng lên. Nó trông thấy người đàn bà nhà quê bận quần áo đen, chít khăn đại tang ở trên đầu. Ngoan chen lại gần, níu lấy tay bác ta nói:

"Bác ơi bác, u chúng cháu ngã.”

Bác Phớn đang đi, đứng dừng lại, giở cái nón ra cầm trên tay, giọng hốt hoảng:

"Chết chửa! Ngã ở đâu?"

"Chắc ở sở làm hồ.”

"Có làm sao không?"

"Tím hết và chảy máu một bên bụng chân. Bây giờ bác bảo cháu mua thuốc gì được?"

Mắt bác Phớn sáng lên. Bác có cảm giác sung sướng của một người được hỏi đúng cái sở trưởng của mình. Bác khẽ ghé miệng sang một bên để nhổ bãi cốt trầu xuống bùn rồi nói:

"Thuốc thang gì. Bây giờ phải giã cua sống lấy nước cho bà ấy uống thì mới rút cơn đau xuống được.”

Ngoan cãi:

"Đấy là phải đòn thì mới uống nước cua hay là nước lá tre chứ.”

Bác Phớn chồm lên như một người vừa nghe tin nhà mình động mồ, động mả. Bác cất tiếng chửi ngay con nhãi đã dám láo lếu cãi lời bác:

"Cha tổ bố tiên nhân nhà mày, trứng mà cứ đòi khôn hơn rận. Thế ngã mà không giập xương, giập tuỷ ra à.”

Nói rồi bác làm mặt giận, úp chụp cái nón lên đầu, cung cúc đi thẳng. Mãi một lúc sau bác mới thấy tiếc rằng mình không nhớ ra để bảo nó cái món lá râm bụt giã nhỏ đắp lên vài hôm thì cũng rút ngay được cơn đau xuống. Phải rồi, ngã thì chỉ có lá râm bụt là tốt nhất. Bác tiếc mãi về sự hay quên của mình, và nhiều lần bác cũng đã hay quên như thế để cứ bệnh này thì mách thuốc nọ. Tuy vậy, được cái là thuốc của bác mách cũng chưa làm chết được ai.

Còn cái Ngoan thì quay trở lại tìm anh. Chúng nó bàn tán với nhau và cùng đồng ý rằng mua cua sống giã là một món thuốc không thể tin được. Vừa may thằng Ích túm được ngay gã Hai Hào đạp xích lô ở xế ngay nhà nó, lúc ấy đang lễ mễ khuân những xúc vải của người ta vào chợ. Một tay Ích nắm lấy người gã, một tay nó sờ lên nếp vải trắng phau phau, nó hỏi:

"Ngã chảy máu thì bôi gì được hở bác?"

Hai Hào gạt hẳn nó ra một bên cho bàn tay lem luốc của nó khỏi sờ vào xúc vải, rồi đáp:

"Ra hiệu thuốc tây mà mua "canh ki rốt.”

Ích reo lên một tiếng vui mừng vì cái tên thuốc mà bác ta vừa nói nghe có lý bội phần. Thế là nó bỏ ngay bác ở lại, chạy về chỗ, nắm lấy tay em:

"Phải rồi, có thế mà không nghĩ ra. Phải mua "canh ki rốt", Ngoan ạ.”

Ngoan biểu đồng tình ngay. Cái tên thuốc nghe rất quen thuộc và hữu lý đối với chúng nó. Hai anh em quên bẵng hẳn câu chuyện mua ô mai và lược bợp dự định từ hôm trước. Chúng nó rủ nhau ra ngoài phố. Tới một hiệu thuốc, Ích móc tất cả tiền trong túi trao cho Ngoan rồi đẩy nó vào. Giây phút chờ đợi thật là lâu. Ích thấy tim mình đập mạnh. Đây là lần đầu tiên nó dám tự ý bỏ tiền ra để mua thuốc trong một hiệu giầu có sang trọng như thế. Nó không biết với hai chục thì có đủ để mua một lọ hay không. Trong bụng Ích, nó vái trời cho cái Ngoan đừng ra tay không. Nó sẽ được đem lọ thuốc về cho u nó. Sự mong u nó khỏi thì ít, nhưng để tỏ lòng thương xót với u thì nhiều. U sẽ quý chúng nó hơn, vì chúng nó vẫn coi u là ruột thịt.

Mắt Ích cứ dán mãi vào cửa hiệu. Nó trông thấy cái Ngoan bé loắt choắt đang kiễng chân lên cao cho với tới cái quầy hàng bằng xi măng cao ngất ngưởng. Người ta trao đổi những lời gì với nó. Một lát Ngoan quay trở ra, tay cầm lọ thuốc. Ích thở phào khoan khoái. Chân nó nhẩy cẫng lên, nó chạy ù té lại phía Ngoan. Mặt cái Ngoan cũng tươi như hoa. Tay nó múa lên vì giá lọ thuốc chỉ có bốn đồng bạc. Một giá rẻ rề mà không bao giờ anh em nó ngờ tới. Giả thử họ có bán cho hai chục một lọ, nó cũng vui lòng bỏ tiền ra mua không tiếc xót. Ngoan trao lại chỗ tiền còn thừa cho Ích với sự vui sướng như vừa mới bắt được lọ thuốc quí giá ấy. Hai tay nó ôm khư khư lấy cái lọ còn thơm mùi mực in trên nhãn hiệu. Nó đưa cả lên mũi hít thật dài. Có lẽ trong đời nó, đấy là lần đầu tiên nó được cầm lọ thuốc tây còn mới nguyên ở trong tay. Bây giờ thì nó không thiết chuyện đi mua lược và ô mai bằng sự đem thuốc về cho u Tám. Những ngày trước Ngoan chỉ biết thương u ở trong lòng. Mỗi khi dượng Tám đánh u, Ngoan chỉ biết khóc. Nó không biết nói thế nào để tỏ lòng thương yêu của nó với u cả. Nhất là u Tám chẳng hề trò chuyện gì với anh em nó. Hôm nay với lọ thuốc do chính anh em nó tự ý mua về, Ngoan đoán chắc u Tám sẽ hả lòng và vui sướng. Ngoan thấy mình vui sướng trong sự vui sướng ấy của u. Nó kéo tay anh đi thật nhanh về nhà.

Lúc đến cổng, chúng nó đã thấy u Tám trở dậy và đang ngâm những cái quần áo bẩn trong chiếc chậu sành. U Tám ngạc nhiên nhìn hai đứa rồi hỏi:

"Ngoan không đi hàng à?"

Ngoan nhanh nhẩu giơ lọ thuốc ra trước mặt và nói:

"Nghe anh Ích nói u ngã, chúng con đi mua thuốc cho u đây này.”

U Tám ném cái quần vào trong chậu, nhìn vào mặt chúng nó, rồi đón lấy lọ thuốc ngắm nghía. Một lát u chép miệng:

"Chỉ vẽ chuyện cho tốn tiền. Bao nhiêu?"

Ích đáp:

"Có bốn đồng thôi u ạ.”

U mở cái nút ra đem lên mũi ngửi rồi nói:

"Mà tao có làm sao đâu mà phải thuốc.”

Cái Ngoan chạy lại cúi xuống vén một bên ống quần của u nó lên. Cả hai đứa cùng giật mình sửng sốt. Một mảng thịt ở chân u giập nát như những vỏ trứng vụn. Từng tia máu ở đấy rỉ ra theo những ngấn nước vàng rồi đọng cục lại. Mặt u Tám nhăn lên, đầy vẻ đau đớn. U ngồi xệp xuống đất, dùng hai tay nắn đều ở chung quanh. Ích nói như khóc:

"Làm sao mà đến nỗi thế hả u?"

U Tám không ngửng lên, trả lời:

"Tao bị cái xà lớn nó đổ vào người. May mà chỉ đánh vào chân thôi.”

"Thế người ta không băng bó cho u à?"

"Có chứ, nhưng tao bảo không việc gì. Nếu lên xin thuốc thì cai nó cho nghỉ việc và ăn chặn mất lương của mình.”

Ích và Ngoan cùng đau xót nhìn vào vết thương của u Tám. Một lát Ngoan lẳng lặng lên nhà lấy xuống một nắm giẻ. Nó sai thằng Ích múc một chậu nước mưa để rửa vết bẩn bám vào quanh chỗ đau của u. Trông thấy hai đứa trẻ sốt sắng bu lại chung quanh mình, tự nhiên u Tám bưng mặt khóc. U nghĩ đến căn nhà nhỏ ở ngoại ô Hà nội năm nào. Người đàn ông ngày xưa chết đi mang theo của đời u sự ấm cúng và vững chãi. Rồi u lại lầm lỡ một lần nghe theo lời hão huyền của dượng Tám. Bây giờ nghĩ lại u chỉ còn biết nhớ tiếc những ngày đã qua và cắn răng chịu đựng sự khốn khổ bây giờ. Đã thế, nghĩ đến anh em thằng Ích và nghề nghiệp nhem nhuốc của chúng nó, u lại càng không vui. Từ trước đến nay, u vẫn muốn cho chúng nó đi học. Nhưng dượng Tám đã làm hư hết cả dự định đẹp đẽ ấy. Dượng cần tiền và chỉ còn thiếu điều dượng cho chúng nó đi ăn cắp. Anh em thằng Ích thì lấy sự kiếm được tiền làm vui thích và hãnh diện, trong khi u rất buồn về điều ấy. Tuy vậy không bao giờ u nói ra vì u không làm được gì để thay đổi được cái hoàn cảnh khốn khổ cứ mãi mãi đeo đẳng này.

Nguồn: Thềm hoang, truyện dài của Nhật Tiến. Đời Nay ấn hành lần thứ nhất ở Sài Gòn năm 1961. Việt Tide tái bản tại California năm 2003 (tác giả có hiệu đính). Tranh bìa: Nguyên Trúc. Trình bày: Nguyên Trúc & Cao Xuân Huy. Bản đăng trên talawas do tác giả cung cấp.