Danh Ngôn

Sẽ có một cuộc chạy đua giữa quần chúng tự học và quần chúng tự hủy.

There is going to be a race between mass self-education and mass self-destruction.

Nhà sử học Arnold J. Toynbee (1889-1975). “Conditions of Survival,” Saturday Review, 29 tháng Tám 1964.

Mục đích của toàn bộ giáo dục là, hoặc phải là, dạy cho người ta biết tự giáo dục chính mình.

The aim of all education is, or should be, to teach people to educate themselves.

Arnold J. Toynbee (1889-1975). Surviving the Future, 5, 1971

Giáo dục bán thời gian suốt đời người là đường lối chắc chắn nhất để nâng cao trình độ tri thức và đạo đức của quần chúng.

Lifelong part-time education is the surest way of raising the intellectual and moral level of the masses.

Arnold J. Toynbee (1889-1975). The Toynbee-Ikeda Dialogue: Man Himself Must Choose, 3, 1976

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

THƠ ANDRÉ VELTER và JEAN-PIERRE ORBAN

HOÀNG HƯNG chuyển tiếng Việt
ảnhNgày Thơ Việt Nam lần thứ 14 mở đầu bằng buổi toạ đàm thơ quốc tế chủ đề « Thơ ca trên đường đời » diễn ra ngày 21/2/2016 tại l‘Espace (Trung tâm Văn hoá Pháp) Hà Nội với ba nhà thơ André Velter (Pháp), Jean-Pierre Orban (Bỉ) và Nguyễn Quang Thiều, người dẫn chương trình là nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên. Mở đầu là chương trình đọc thơ, trong đó có 4 bài thơ tiếng Pháp của hai nhà thơ nói trên do nhà thơ Hoàng Hưng chuyển tiếng Việt. Văn Việt xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc 4 bài thơ song ngữ.
THƠ ANDRÉ VELTER
DU TỬ CẢ HỒN LẪN XÁC
Xa mất hút anh đi trên những giấc mơ mình.
Sóng tiếp sóng xô, cái chết hằng ngày phủ bụi lên hơi thở ngắn,
cái chết dẫn dắt anh theo ý nghĩ khăng khăng
như thể chẳng có gì tồn tại trên đời, và anh là tất cả.
Trạng thái thoát thân thường trực, đó là điều
tự nhiên trong tưởng tượng của chúng ta,
điều tạo nên viên kim cương ánh sáng thuần khiết
mang hình dạng cõi bên kia thuộc vầng dương chói loá
ở nơi ấy tương lai thoát biến cùng lúc với thời gian
Điều nằm sâu trong tâm tưởng của anh
không ngừng phi lên trên bề mặt, đó là chuyện
lấy hơi và làm điệu bộ,
chuyện vui vẻ bước đi khập khiễng
bên mép những dấu vết say cuồng, cuối cùng là mất gốc quê hương.
Ý nghĩ ấy đào sâu mãi trong anh, trong lúc
anh muốn mình đã được phung phí, rải rắc khắp nơi,
rồi khôi phục trong tro tàn của vị phúc tinh.
Từ nay anh hạ trại trong hoàng hôn rộng lớn,
không ai phạm tới được, giữa than hồng và lửa,
bằng ảo thuật giản dị anh trở về những cuộc khởi hành
vốn không còn hy vọng có mặt anh,
trở về nhờ ân sủng của tính hoang sơ bình thản.
Nhìn gần hơn nữa,
đó là điều đã thay đổi theo những chuyến viễn du tạm bợ
ta thấy lại mình xa cách gấp hai lần
các quốc gia, xứ sở, các phong cảnh thân quen,
vì ta không mái nhà thân quyến.
Phía trước anh, hơi nước phả ra từ đôi môi
biến mất ngay với bản năng mới
trốn biệt những gương soi, kính cửa,
và bảo anh chiếm lại trong một năm,
một tháng, một tuần hay một giờ
cái vương quốc mà anh vừa là
người đo đạc và kẻ đào vong, nhà tiên tri vô tư lự,
vị quân vương tan nát cõi lòng.

NOMADE DE CORPS ET D’ESPRIT
À perte de vue tu marches sur tes rêves.
Vague après vague la poussière
couvre le souffle court d’une mort journalière,
celle qui te mène par le bout d’une idée fixe
comme si de rien n’était, et que tu étais tout.
L’état d’évasion permanente, voilà
qui est naturel à notre imaginaire,
voilà qui crée ce diamant de pure lumière
en forme d’au delà tonique et solaire
où l’avenir s’évade en même temps que le temps.
Le fond de ta pensée ne cesse
d’aller l’amble en surface, histoire
de prendre l’air et une drôle d’allure,
histoire de boiter joyeusement
au bord de traces folles, ivres, enfin déracinées.
C’est en toi que ça creuse, alors
que tu te veux déjà dilapidé, dispersé,
restitué à la cendre exacte de ta bonne étoile.
Tu bivouaques désormais dans un grand crépuscule,
hors d’atteinte entre braises et feux, revenant
par magie simple à des départs extrêmes
qui ne t’espéraient plus,
revenant par la grâce d’une sauvagerie calme.
À y regarder de plus près,
c’est ce qui a changé au gré des traversées précaires
où l’on se retrouve à distance redoublée
des nations, des pays, des paysages familiers,
puisque l’on n’est d’aucune famille.
Devant toi, la buée qui sort de tes lèvres
disparaît à l’instant, avec ce nouvel instinct
qui fuit les miroirs, les vitres,
et te dit de reconquérir pour un an,
un mois, une semaine ou une heure
le royaume dont tu es à la fois
le géomètre et le déserteur, l’oracle insouciant,
le monarque au cœur brisé.

CŨNG NHƯ VÀNG
Viết cho Sophie

Giờ đi ngày đi theo nhịp điệu gì
Và nhịp tuần nhịp năm nhịp tháng
Nhịp thời gian tiếp diễn trầm trầm ?
Trong khúc độc cầm chỉ hai người hiểu
Máu và hơi thở hoà nhau
Cũng dài lâu như dục vọng âm vang sắc nhọn
Con đường không ngừng đi
Bên lề dòng xe cộ
Như bên lề bước chân nhịp nhàng của thông điệp tương lai
Đích đến chẳng bao giờ không còn là ảo ảnh
Không còn phải tuân theo định lý
Hết bão giông hết cả giang hồ.
Chẳng hề liên quan một ý tưởng định hình hay một nỗi ám ảnh,
Chúng ta chuyển từ nền âm này qua nền âm khác,
Từ im lặng này qua im lặng khác mà không kìm giữ tiếng kêu.
Có những cuộc tấn công bất chợt của tâm hồn
Bổ phăng cánh cửa
Đứng đấy làm định mệnh.
Thoát ra ngoạn mục!
Chân trời cuốn hết dòng người chen vai –
Vô tận quá gần và êm dịu.
Tất cả không gian thoát biến khi cất cánh bay lên
Với bí mật phì nhiêu của trời và đất,
Phép lạ trong tầm tay.
Chúng ta đã vượt qua mũi đất còn hơn là hy vọng,
Thoát ra giữa hoang mạc của các hoang mạc,
Vượt qua giao điểm mọi con đường.
Đường đi muốn như tia chớp thẳng băng,
Thuần một mùa trong hành trang ánh sáng
Chỉ mất đi màu đỏ màu đen.
Đó là những màu nồng nhiệt hát ca
Ở tần số cao
Ca ngợi những đêm bao la hiến mình cho nắng.
Giờ giờ, ngày ngày, tuần tuần, năm năm, tháng tháng
Tặng cho ta một cõi bên kia
Giống như một cơ may thêm nữa,
Lửa hồng bí nhiệm giải thoát những làn môi
Và ra đi phóng túng ngợi ca tình ái
Cũng như vàng của thời gian.

AUTANT QUE L’OR
pour Sophie

Quel est le rythme des heures et des jours,
Celui des semaines, des mois, des années
Et de la basse continue du temps ?
Dans le solo qui peut s’entendre à deux,
Sang et souffle s’accordent
Aussi longtemps que le désir aiguise ses résonances.
La route n’a pas cessé de prendre la route
En marge du trafic
Comme en marge du pas cadencé des messages d’avenir.
Jamais l’arrivée ne fut plus illusoire,
Plus soumise aux théorèmes
Qui mettent un terme aux orages, aux errances.
Cela n’a rien d’une idée fixe, d’une hantise,
Nous passons d’une trame sonore à une autre,
D’un silence à un autre sans assourdir les alarmes.
Il y a ces attaques soudaines de l’âme
À fendre par le milieu la porte
Qui tient lieu de destin.
Quelle échappée !
L’horizon emporte la ligne des épaules -
Infini si proche, et suave.
Tout l’espace s’évade en cet envol
Avec les secrets fertiles de la terre et des ciels,
Miracle à portée de main.
Nous avons doublé le cap de plus d’une espérance,
Échappé au désert des déserts,
Débordé la croisée des chemins.
La trajectoire se veut d’un seul éclair,
D’une seule saison en cet habit de lumière
Où ne perdurent que du rouge et du noir.
Ce sont couleurs ferventes et qui chantent
À hautes fréquences
L’amplitude des nuits vouées au grand soleil.
Les heures, les jours, les semaines, les mois, les années
Nous font présent d’un au-delà
Pareil à un surcroît de chance,
Feu mystérieux qui délivre les lèvres
Et s’en va célébrer l’amour cavalièrement
Autant que l’or du temps.
ảnh (1)




THƠ JEAN-PIERRE ORBAN

CHÚNG TA GIỐNG NHAU ĐẾN THẾ
(đoạn cuối)
… Vậy Quí ông nghe thấy chăng, tiếng biển ? Bập bùng từ ngữ, ừ nhỉ, đúng rồi, bập bùng từ ngữ. Rối tung những con sóng nhỏ gối nhau chạy từ chân trời lại ? Và tiếng sóng vỡ xoạt trên mạn những con tàu ? Và những con tàu, Quí ông có nghe chúng đến chọc thủng màng che mắt ta, thưa Quí ông ? Cả đội tàu, vào, thưa Quí ông, vào cảng, thưa Quí ông, đi qua, thưa Quí ông, các cổng cảng… ? Chà, chúng ta đến đó rồi, thưa Quí ông…
Ông có nghe, thưa Quí ông, nước từ đại dương xa nhất, về chầm chậm, nặng nề, trườn từng ngọn sóng, về, về chết ở đây, chết ở đây ?
Tiếng ì oạp, thưa Quí ông, tiếng ì oạp, vỗ vào… Hãy im nghe, thưa Quí ông… Tiếng ì oạp nước vỗ vào thành bến tàu… Tôi cảm ơn ông đã đến, tôi nhớ ông nhiều quá, thưa Quí ông…
Xin hãy nghe, đừng quay lưng lại, đằng xa, những chùm bóng râm rình rập ta trên cánh đồng, hãy chỉ nghe mà thôi tiếng động cơ ròn rã, tiếng động cơ, thưa Quí ông, bây giờ rất mạnh, tiếng ồn đến gần, lăn từ đầu các kè đá chiếc xe hơi, chiếc xe hơi hai màu xanh trắng, hai lườn gồ lên, xe dài mình dài chân, chiếc xe có màu chua dôn dốt đến gần, những thanh kẹo mạch nha ta mút thời thơ ấu, tiến lại gần mép nước bến tàu, mép nước bến tàu…
Tay cầm lái, người đàn ông, ông chẳng già đi, ông vẫn già như thế, vẫn già như thế, bên ông người đàn bà hai vú xệ, vẫn luôn luôn xệ, họ yêu nhau, hai kẻ đó, họ luôn cố yêu nhau, tôi chưa từng học yêu, nhưng mọi người đều cố, họ yêu nhau và lăn bánh, từ bao giờ vẫn lăn bánh trên các kè đá, trong giới hạn, trong giới hạn các bến tàu, chúng tôi mỏng manh, phó mặc cho từng bước đi nhỏ nhất chệch sang bên, họ làm những gì có thể, quá nhiều, không vừa đủ, ta không bao giờ biết là người này hay người kia, tại sao ta tiếp tục ?
Phía sau, một đứa trẻ, tôi muốn nói một ông vua, đứa trẻ mang gánh nặng những năm trường trôi qua, những năm trường mắc cạn ở chỗ này, lê lết trên sàn, cái sàn in vết cào của những năm tháng ấy và những lời đọc thuộc, những lời đã học và lặp lại không bao giờ dứt, mòn sờn,
hắn đã lượm, theo dòng những cuộc lang thang quanh quẩn, những bạn đường may rủi, đã tin là tự làm nên cuộc đời mình, những chuyện kể, một định mệnh, một gã bịp người ta đã nói về hắn thế, nhưng hắn sẽ khác gì nhỉ, hắn muốn gì khác nhỉ,
bỏ đi mất, các bạn đường, những kẻ khác tới, những liên hệ qua đường, những đồng minh, những đồng minh, chúng ta tin là mình chinh phục, chúng ta đấu tranh mù quáng, tôi cảm ơn ông, thưa Quí ông, cảm ơn ông đã qua cầu, vài lời sau chót, tôi đã, tôi tin là, đã rất chờ đợi ông, chúng ta giống nhau đến thế, tôi đã nhớ ông nhiều lắm,
phía sau, thưa Quí ông, phía sau xe, đôi lời này, một ông vua và bề tôi trong ngày của vua, chúng ta đang ở ngày nào nhỉ, một đứa trẻ, thưa Quí ông, một ông vua và người bào đệ, chúng ta giống nhau đến thế, thưa Quí ông, ông không thấy sao ?... lăn bánh, lăn bánh trên bờ bến tàu, bờ bến tàu.
Chính ở nơi này, thưa Quí ông, phải hoàn thành khúc sử thi, đã lặp lại nhiều đến thế, một ông vua và Quí ông, người bào đệ, kết thúc một cuộc chiến hoàn toàn, họ bị người của mình xua đuổi, bị lừa từ muôn thuở, bởi lũ chim mồi, bọn bịp bợm, tất cả chúng đều nói thế và chúng có lý, họ đến chỗ tận cùng trái đất, tận cùng vòng quay, đến bờ vách đá, vách đá chỗ nào chẳng có, chúng ta luôn lăn bánh trên bờ, trên bờ hư không,
một ông vua và người bào đệ, các bạn đường trốn đi cả rồi, hư không làm bạn, cái kết đã uống xong, hai kẻ hoàn tất cái nghi thức truyền đời, tôi đã học nó quá chừng, những năm trường ấy, tôi làm người cầm trịch về nghi lễ và ông, thưa Quí ông, ông…
Ông…
Tôi có thường nói lên cái từ ấy không nhỉ ? một tiếng gọi, một tiếng rúc khắc khoải trên bờ kè đá, thưa ông… tôi đã nói ? Chúng ta giống nhau đến thế.
Một ông vua và người bào đệ…
Một ông vua và người bào đệ cùng đường. Chúng ta giống nhau đến thế. Hư không làm bạn đường. Tất cả tắt ngóm rồi, cái nhìn của ông đã tắt.
Chỉ còn Quí ông, một ông vua và người bào đệ. Lắng nghe.
Lắng nghe không dứt. Chỉ những lời, thưa Quí ông, không dứt, tiếng nước ì oạp,
Cúi xuống đi, thưa Quí ông, cúi xuống đi… không xin đừng cúi xuống ! nước, nước bến tàu, clap, đóc, clap, đóc…
Clap, đóc,… clap, đóc… xin cảm ơn Quí ông.
… Alors, vous l’entendez, la mer ? Des mots, oui, bien sûr, des mots. Le doux désordre des vaguelettes qui se chevauchent depuis les horizons ? Et leur chuintement quand elles se brisent sur les coques des navires ? Et ces navires, les entendez-vous venir et percer le voile de notre vue, Monsieur ? En escadre, entrer[1], Monsieur, entrer dans le port, Monsieur, passer, Monsieur, les portes du port...? Ah ! Nous y sommes, Monsieur...
Entendez-vous, Monsieur, l’eau qui, du plus lointain des océans, vient, vient lentement, pesamment, glisse, glisse, de crête en crête, vient, vient mourir ici, mourir ici ?
Le clapotis, Monsieur, le clapotis, contre... Taisez-vous, Monsieur, écoutez... Le clapotis de l’eau contre les parois du dock... Je vous remercie, d’être venu, vous m’avez beaucoup manqué, Monsieur.
Écoutez, ne vous retournez pas, au loin, les ombres en grappes nous épient dans la plaine, écoutez simplement le ronronnement d’un moteur, d’un moteur, Monsieur, devenir plus intense, le bruit, venir, rouler du bout des quais la voiture, la voiture verte et blanche, aux flancs rebondis, longue et bien en jambes, s’approcher l’automobile aux couleurs acidulées, bâtons de sucre d’orge que nous sucions dans nos enfances, s’approcher, s’approcher de l’eau du dock, de l’eau du dock...
Au volant, l’homme, il n’a pas vieilli, il est toujours aussi vieux, [2]l’a toujours été, à son côté une femme aux seins tombant, toujours été tombant, ils aiment, ces deux-là, ils ont toujours tâché d’aimer, je n’ai pas appris, mais tout le monde tâche, ils aiment et roulent, roulent depuis toujours sur les quais, à la limite, à la limite des docks, nous sommes fragiles, à la merci du moindre petit pas de côté, ils font ce qu’ils peuvent, trop, pas assez, on ne sait jamais si c’est l’un si c’est l’autre, pourquoi continue-t-on ?
Derrière, un enfant, je veux dire un roi, il a le poids des années écoulées, échouées là, traînées sur le plancher, plancher griffé de ces années et des mots récités, appris et répétés sans fin, usés,
il a ramassé, au fil de ses errances en rond, des compagnons de fortune, cru se faire une vie, des récits, un destin, un imposteur a-t-on dit de lui, mais quoi d’autre serait-il, et que veut-il d’autre,
partis, les compagnons, d’autres arrivés, des liaisons de passage, des alliances, des alliances, nous croyons conquérir, nous guerroyons à l’aveugle, je vous remercie, Monsieur, d’avoir passé le pont, quelques derniers mots, je vous ai beaucoup, je crois, attendu, nous nous ressemblons tant, vous m’avez beaucoup manqué,
à l’arrière, Monsieur, de la voiture, ces quelques mots, un roi et son sujet du jour, quel jour sommes-nous, un enfant, Monsieur, un roi et son frère, nous nous ressemblons tant, Monsieur, ne trouvez-vous pas ?... roulent, roulent sur les bords du dock, du dock.
C’est ici, Monsieur, que devrait s’accomplir le geste, tant de fois répété, un roi et Monsieur, son frère, au terme d’une guerre sans partage, chassés par les leurs, trompés, depuis toujours, par leurs leurres, des imposteurs, disent-ils tous et ils ont raison, arrivés au bout de la terre, au bout du cercle, au bord de la falaise, il y en a partout, nous roulons toujours au bord, au bord du vide,
un roi et son frère, compagnons tous enfuis, le vide pour compagnie, fin bue, accomplissent, je l’ai tant appris, toutes ces années, le rituel hérité, moi en maître de cérémonie et vous, Monsieur, vous...
Vous...
Ai-je souvent dit ce mot ? Un appel, un langoureux ululement sur les bords du quai, vous... ai-je dit ? Nous nous ressemblons tant.
Un roi et son frère...
Un roi et son frère sont au bout. Nous nous ressemblons tant. Le vide comme compagnie. Tout éteint, votre regard déjà.
Seuls, Monsieur, un roi et son frère. Écoutent.
Écoutent sans fin. Que des mots, Monsieur, sans fin, le clapotis de l’eau,
penchez-vous, Monsieur... penchez-vous...
non ne vous penchez pas ! l’eau, l’eau du dock, clap, dock, clap, dock...
clap, dock...
clap, dock...
je vous remercie, Monsieur.
CON BẢO CHA
Nói với con gái
Con bảo
Mà ai bảo con thế nhỉ ?
Rằng những cơn gió thổi ngược chiều.
Con bảo
Mà ai bảo con thế nhỉ ?
Rằng những chuyến đi đã hết
Và những cuộc khởi hành đã hủy
Những hầm tàu đã chật
Và rữa nát trong đợi chờ
Con bảo cha
Mà ai bảo con thế nhỉ ?
Rằng mặt trời không còn màu đỏ
Rằng bờ biển thì mềm
Khiến ta sụt sâu hai chân
Khiến ta ngạt thở và chết nghẹn
Con bảo cha
Và cha khóc khi thấy sương mù hai mắt con
Con bảo cha
Rằng những cánh đồng cài mìn dày đặc
Rằng những viên đạn khóc
Phải, cha đọc những vết đạn trên tường
Những bài ca hận thù viết bằng chữ chìm
Và cha cảm thấy những bóng đen trườn
Những chiến binh chui ra từ những cái cổng toang hoác
Chúng chạy đi
Mang xác trẻ em trên tay
Con bảo cha và cha tin con
Cha đã mù từ bao đêm rồi
Mí mắt cha quay vào tiếng cha nói
Những hồn ma chạy trong ngõ ngách mê cung cha
Cha thấy tất cả bên ngoài bên trong
Cha bơi trong những phản quang ngủ lặng
Đi theo ngoằn ngoèo những nhấp nhô óng ả
Nhưng cha vẫn còn rình các âm thanh và chịu theo chúng nếu như cha có thể theo
Vậy nên con hãy dẫn đường
Cha muốn con là con chó dịu hiền
Luôn phía trước
Cha muốn con
Bước đi cho cha
Đi theo những cảnh quan giống như cha đọc những gương mặt
Vượt qua các biên cương
Như người ta ham mê đào vào xác thịt
Đi đến tận bờ biển
Nhìn những con tàu và
Đáp xuống
Cha muốn cảm nhận
Những buị nước của thế giới
Cái thế giới mà con sẽ gọi là mới
Cha muốn con ở phía trước
Chọc thủng sương mù giăng trên mắt con
Cha muốn con làm
Vì cha chẳng còn ở đấy
Con sẽ đưa xác cha về
Lũ chim bị nhử sẽ bay theo
Con sẽ vứt cho chúng vài tiếng kêu vài tiếng cười
Con sẽ buộc tàu
Không xa nơi ta ở
Một bến cảng hú hoạ
Khi con đã xong vòng lãng du
Đi quanh mọi vòng cung
Sau đó con có thể viết
Và con sẽ rải cha theo ngọn gió mà con đã ôm ghì
Con bảo cha
Ai bảo con thế nhỉ ?
Rằng những cơn gió thổi ngược chiều
Rằng những cuộc khởi hành đã hủy
Nhưng chỉ mình con có những từ để nói lên điều ấy
Các hầm tàu chật đầy từ
Ta dùng từ như ta đi biển
Ta chiếm lấy từ ngữ giống như kẻ lang thang chiếm trái đất này
Chân này rồi chân nọ
Hết chân nọ đến chân này
Chẳng có gì xấu hổ
Vì tất cả đã mất rồi
Chẳng còn gì mà mất
Con bảo cha ư ?
Con hãy đi đi
Cha theo con cha chính là con.
TU ME DIS
À ma fille
Tu dis
Mais qui te dit ?
Que les vents sont contraires.
Tu dis
Mais qui te dit ?
Que les croisières sont terminées
Et les départs annulés
Les cales sont remplies
Et pourrissent d’attendre
Mais qui te dit ?
Que le soleil n’est plus rouge
Que la berge est molle
Qu’on s’y enfonce deux pieds profond
Qu’on étouffe et s’étrangle
Tu me dis
Et je pleure de voir la brume dans tes yeux
Tu me dis
Que les champs sont minés
Que les balles pleuvent
Oui, je lis sur les murs les impacts
Les chants de haine en braille inversé
Et je sens les ombres glisser
Les guerriers sortir des portes éventrées
Filer
Des corps d’enfants morts sur les bras
Tu me dis et je te crois
Je suis aveugle depuis des nuits
Paupières retournées sur mes voix
Des fantômes courent les rues de mes labyrinthes
Je vois tout dehors dedans
Je nage dans les reflets dormants
En suis sinueux les ondoiements soyeux
Mais je guette encore les sons et y céderai si je peux
Alors guide
Je te veux chien doux
Tout devant
Je te veux
Marcher pour moi
Suivre les paysages comme je lis les visages
Passer les frontières
Comme on creuse d’envie une chair
Aller jusqu’à la berge
Voir les bateaux et
Embarquer
Je veux sentir
Les embruns du monde
Celui que tu nommeras nouveau
Je te veux à l’avant
Percer la brume de tes yeux
Je te veux
Car je ne suis déjà plus là
Tu le ramèneras mon corps
Les oiseaux appâtés nous suivront
Tu leur jetteras quelques cris quelques rires
Tu amarreras
Pas loin d’où nous sommes
À un port de hasard
Quand tu auras fait le tour
Cerné les contours
Quand tu pourras écrire après
Et tu me disperseras au vent que tu auras serré contre toi
Tu me dis
Qui te dit ?
Que les vents sont contraires
Que les départs sont annulés
Mais toi seule a les mots pour le dire
Les cales en sont pleines
Ils se prennent comme la mer
Se volent comme les errants la terre
Un pied puis l’autre
Ou l’autre et puis l’un
Sans vergogne
Puisque que tout est perdu
Et plus rien à perdre
Tu me dis ?
Pars
Je te suis
Ảnh : 1/ Bàn tròn Thơ gồm Phạm Xuân Nguyên, A. Velter, Nguyễn Quang Thiều, J.P Orban
2/ A. Velter và Hoàng Hưng, tác giả và dịch giả tập thơ « Lên đường rồi lại lên đường – De départ en départ »

[2] (il) l’a…