Danh ngôn
“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”
“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”
(Albert Camus, Caligula)
.
“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”
“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”
(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)
.
“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”
“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)
.
“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”
“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”
(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)
Ban Biên tập
Địa chỉ liên lạc:
1. Thơ
tho.vanviet.vd@gmail.com
2. Văn
vanviet.van14@gmail.com
3. Nghiên cứu Phê Bình
vanviet.ncpb@gmail.com
4. Vấn đề hôm nay
vanviet.vdhn1@gmail.com
5. Thư bạn đọc
vanviet.tbd14@gmail.com
6. Tư liệu
vanviet.tulieu@gmail.com
7. Văn học Miền Nam 54-75
vanhocmiennam5475@gmail.com
Tra cứu theo tên tác giả
- A. A. Fadeev
- A. Puskin
- A. T.
- Abdulrazak Gurnah
- Abraham F. Lowenthal
- Ace Le
- Ace Lê
- Adam Gopnik
- Adonis
- Adrian Horton
- Agi Mishol
- Ái Điểu
- Ajar
- Akiko Miki
- Alain Guillemin
- Alan Phan
- Alăng Văn Gáo
- Alăng Văn Giáo
- Albert Camus
- Aldous Huxley
- Aleksandr Griboedov
- Alesandr Blok
- Alex Marshall
- Alex Smith
- Alex Thai
- Alex-Thái Đình Võ
- Alexander Fadeev
- Alexander Solzhenitsyn
- Alexandra Alter
- Alexandre FERON
- Alice Munro
- Alina Lesik
- Alison Flood
- Allen Ginsberg
- Amanda Gorman
- Amartya Sen
- Amelia Glaser
- Amos Oz
- An Nam
- Anatole France
- Anatoly Gavrilov
- Anders Olsson
- André Breton
- André Menras
- André Menras – Hồ Cương Quyết
- André Menras Hồ Cương Quyết
- Andrea Hoa Pham
- Andrea Kendall-Taylor
- Andreas Fulda
- Andreas Wimmer
- Andrew Postman
- Andy Cao
- Anh Anh
- Anh Hồng
- Anh Hồng (nhà thơ)
- Ánh Liên
- Anh Nhi
- Anh Văn
- Anika Zeller
- Anna Akhmatova
- Anna Maria Bracale Ceruti
- Anna Mitchell
- Anna Schmid
- Anne Carson
- Anne Cazaubon
- Anne Hébert
- Anne Henochowicz
- Anne Nguyễn
- Annie Ernaux
- António Jacinto
- Antôn Nguyễn Trường Thăng
- Archimedes L.A. Patti
- Arlette Quỳnh Anh Trần
- Arnold Schwarzenegger
- Artem Sakharov
- Arthur Koestler
- Arty Abel
- Arvind Subramanian
- Augustina
- Aurélie Coulon
- Aurelien Breeden
- Ba Sàm
- Bá Thụ Đàm
- Bạch Cúc
- Bạch Hoàn
- Bách Mỵ
- Bách Thân
- Bạch X. Phẻ
- Bạch Xuân Phẻ
- Bakhtin
- Ban Mai
- Bàn Văn Thòn
- Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam
- Bảo Chân
- Bảo Huân
- Bảo La
- Bảo Nhi Lê
- Bảo Ninh
- Bảo Phác
- Bảo Tích
- Bão Vũ
- Bảo Yến
- Barbara Demick
- Bashô
- Bạt Xứ
- Batrioldman
- Bauxite Việt Nam
- Bắc Đảo
- Bắc Phong
- Bằng Việt
- BB Ngô
- Bei Dao
- Benjamin Péret
- Benjamin Ramm
- Bertolt Brecht
- Bertrand Russell
- Bettina Rheims
- Bích Ngân
- Biếm họa
- Biên Cương
- Biệt Hiệu
- Bilahari Kausikan
- Bill Hayton
- Billy Collins
- Bình Nguyên Lộc
- Brahma Chellaney
- Branko Milanovic
- Brett Reilly
- Brian Pascus
- Brian Wu
- Brice Pedroletti
- Brodsky
- Bryan
- Bùi An
- Bùi Bảo Trúc
- Bùi Bắc
- Bùi Bích Hà
- Bùi Chát
- Bùi Chí Trung
- Bùi Chí Vinh
- Bùi Công Thuấn
- Bùi Công Trực
- Bùi Đức Lại
- Bùi Giáng
- Bùi Hải Quảng
- Bùi Hoàng Tám
- Bùi Hoằng Vị
- Bùi Huệ Chi
- Bùi Huy
- Bui Huy Hoi Bui
- Bùi Mai Hạnh
- Bùi Mạnh Hùng
- Bùi Mẫn Hân
- Bùi Minh Quốc
- Bùi Ngọc Tấn
- Bùi Quang Thắng
- Bùi Suối Hoa
- Bùi Thanh Hiếu
- Bùi Thanh Phương
- Bùi Thanh Tuấn
- Bùi Thụy Băng
- Bùi Tiến An
- Bùi Trân Phượng
- Bùi Trọng Hiền
- Bùi Văn Kha
- Bùi Văn Nam Sơn
- Bùi Việt Sỹ
- Bùi Vĩnh Phúc
- Bùi Xuân Bách
- Bùi Xuân Đính
- Bùi-Viết Văn Đức
- Bulgakov
- Bửu Chỉ
- C.D.
- Cái Lư Hương
- Cái Trọng Ty
- Cam Ly
- Cameron Shingleton
- Cảnh Chánh
- Cao Bảo Vân
- Cao Bình Minh
- Cao Chi
- Cao Gia An
- Cao Hành Kiện
- Cao Huy Thuần
- Cao Kim Ánh
- Cao La
- Cao Quang Nghiệp
- Cao Tần
- Cao Thị Hồng
- Cao Thu Cúc
- Cao Tự Thanh
- Cao Việt Dũng
- Cao Xuân Hạo
- Cao Xuân Huy
- Carl Bildt
- Carl O. Schuster
- Carlos Assunção
- Carolyn Mary Kleefeld
- Cát Linh
- Cẩm Tú
- Cấn Thị Thêu
- Chan Phuong
- Chanh Tam
- Charles Bo
- Charles Bukowski
- Charles S. Kraszewski
- Charles Simic
- ChatKP
- Chau Doan
- Châm Khanh
- Chân Minh
- Chân Pháp Xa
- Chân Phương
- Chân Xuân Tản Viên
- Châu Diên
- Châu Hải Đường
- Châu Hồng Thủy
- Châu Hữu Quang
- Chenn
- Chế Diễm Trâm
- Chế Lan Viên
- Chi Mai
- Chi Phương
- Chiêu Dương
- Chiêu Khiêm
- Chiharu Shiota
- Chim Hải
- Chim Trắng
- Chinh Ba
- Chính Tâm
- Chính Vĩ
- Chinua Achebe
- Chơn Không Cao Ngọc Phượng
- Christian Gampert
- Christian Welzel
- Christina Mary Hjortlund
- Christoph Giesen
- Christoph Sator
- Christopher Balding
- Christopher Goscha
- Christy Wampole
- Chu Dương
- Chu Hảo
- Chu Hoạch
- Chu Kim
- Chu Mộng Long
- Chu Quang Tiềm
- Chu Tử
- Chu Văn Lễ
- Chu Văn Sơn
- Chu Vĩnh Hải
- Chu Vương Miện
- Chu Xuân Diên
- Chung Le
- Claire Simon
- Clay Phạm
- Concepcion de Leon
- Connie Hoàng
- Cora Engelbrecht
- Costica Bradatan
- Cổ Ngư
- Công Nguyễn
- Cù An Hưng
- Cù Huy Hà Vũ
- Cù Mai Công
- Cù Tuấn
- Cung Minh Huân
- Cung Tích Biền
- Cung Trầm Tưởng
- Cư sĩ Minh Đạt
- D. S. Likhachev
- Da Màu
- Dạ Ngân
- Dạ Thảo Phương
- Dã Tượng
- DAD
- Dadolin Murak
- Damien Keown
- Dan Bilefsky
- Dan Slater
- Dana Gioia
- Danh ngôn
- Dani Rodrik
- Daniel Halpern
- Daniel Hautzinger
- Daron Accemoglu
- David Brown
- David Gascoyne
- David Marchese
- David Weinberger
- Ðặng Thơ Thơ
- Demetrio Paparoni
- DEUTSCHE WELLE
- Di
- Di Li
- Diêm Liên Khoa
- Diễm Thi
- Diễm Tường
- Diễn đàn Thế kỷ
- Diệp Duy Liêm
- Diệp Huy
- Ðinh Cường
- Dino Buzatti
- Dipanjan Roy Chaudhury
- Dmitri Prokofyev
- Dmitry Burago
- Dmitry Muratov
- Doãn Cẩm Liên
- Doãn Mạnh Dũng
- Doãn Mẫn
- Doãn Quốc Sỹ
- Dominique Lemieux
- Donald Inglehart
- Donna Ashworth
- Ðỗ Quang Nghĩa
- Ðỗ Quyên
- Du Tử Lê
- Dung Nguyễn
- Dũng Phan
- Dũng Trung Kqd
- Dũng Vũ
- Duy Lam
- Duy Tân
- Duy Thanh
- Duy Thông
- duyên
- Duyên Anh
- Duyên Khánh
- Dư Hoa
- Dư Kiệt
- Dư Thị Hoàn
- Dư Thu Vũ
- Dương Đại Triều Lâm
- Dương Đình Giao
- Dương Khánh Phương
- Dương Kiền
- Dương Ngạn
- Dương Nghiễm Mậu
- Dương Ngọc Thái
- Dương Như Nguyện
- Dương Phương Vinh
- Dương Thắng
- Dương Thiệu Tước
- Dương Thu Hương
- Dương Thuấn
- Dương Tú
- Dương Tường
- Dương Văn Ba
- Dương Vân
- Dylan Suher
- Đà Văn
- Đàm Hà Phú
- Đàm Hách Thành
- Đào An Khánh
- Đào Anh Kha
- Đào Công Tiến
- Đào Duy Anh
- Đào Hiếu
- Đào Lê Na
- Đào Ngọc Chương
- Đào Nguyên
- Đào Nguyễn
- Đào Nguyên Phương Thảo
- Đào Như
- Đào Phương Liên
- Đào Quang Toản
- Đào Tấn Phần
- Đào Thái Tôn
- Đào Thị Hương
- Đào Tiến Thi
- Đào Trung Đạo
- Đào Trường Phúc
- Đào Tuấn
- Đào Tuấn Ảnh
- Đào Văn Bình
- Đào Văn Thuỵ
- Đào Văn Tiến
- Đào Vũ Anh Hùng
- Đạt Nguyễn
- Đặng Anh Đào
- Đặng Bích Phượng
- Đặng Chương Ngạn
- Đặng Đình Cung
- Đặng Đình Mạnh
- Đặng Hà
- Đặng Hải Sơn
- Đặng Hoàng Giang
- Đặng Hồng Nam
- Đặng Hùng Võ
- Đặng Hương Giang
- Đặng Hữu
- Đặng Mai Lan
- Đặng Mậu Tựu
- Đăng Nguyên
- Đặng Phùng Quân
- Đặng Quốc Thông
- Đặng Sơn Duân
- Đặng Thái
- Đăng Thành
- Đặng Thân
- Đặng Thị Hảo
- Đặng Thơ Thơ
- Đặng Tiến
- Đặng Tiến (Thái Nguyên)
- Đặng Trung Nghĩa
- Đặng Túy
- Đặng Văn Dũng
- Đặng Văn Hùng
- Đặng Văn Ngữ
- Đặng Văn Sinh
- Đặng Vũ Vương
- Đặng Xuân Thảo
- Đặng Xuân Xuyến
- Đằng-Giao
- Điểm Thọ
- Đinh Bá Anh
- Đinh Cường
- Đinh Hoàng Thắng
- Đinh Hồng Phúc
- Đinh Hùng
- Đình Kính
- Đinh Lê Vũ
- Đinh Linh
- Đinh Ngọc Thu
- Đinh Phương
- Đinh Phương Thảo
- Đinh Quang Anh Thái
- Đinh Thanh Huyền
- Đinh Thị Như Thúy
- Đinh Trường Chinh
- Đinh Từ Bích Thuý
- Đinh Từ Bích Thúy
- Đinh Văn Đức
- Đinh Vũ Hoàng Nguyên
- Đinh Ý Nhi
- Đinh Yên Thảo
- Đoàn Ánh Thuận
- Đoàn Bảo Châu
- Đoàn Cầm Thi
- Đoàn Công Lê Huy
- Đoàn Hồng Lê
- Đoàn Huy Giao
- Đoàn Huyền
- Đoàn Khắc Xuyên
- Đoàn Lê Giang
- Đoàn Nhã Văn
- Đoàn Thanh Liêm
- Đoan Trang
- Đoàn Tùng Nguyễn
- Đoàn Tử Huyến
- Đoàn Việt Hùng
- Đoàn Xuân Kiên
- Đỗ Anh Hoa
- Đỗ Anh Tuấn
- Đỗ Bích Thuý
- Đỗ Cao Bảo
- Đỗ Duy Ngọc
- Đỗ Đức
- Đỗ Đức Đông Ngàn
- Đỗ Đức Hiểu
- Đỗ Hòa
- Đỗ Hoàng Diệu
- Đỗ Hồng Ngọc
- Đỗ Hồng Nhung
- Đỗ Hữu Chí
- Đỗ Kh
- Đỗ Kh.
- Đỗ Khiêm
- Đỗ Kim Thêm
- Đỗ Lai Thuý
- Đỗ Lai Thúy
- Đỗ Lê Anh Đào
- Đỗ Mạnh Hoàng
- Đỗ Minh Tuấn
- Đỗ Nghê
- Đỗ Ngọc
- Đỗ Ngọc Thống
- Đỗ Quang Nghĩa
- Đỗ Quang Vinh
- Đỗ Quý Toàn
- Đỗ Quyên
- Đỗ Quỳnh Dao
- Đỗ Thái Bình
- Đỗ Thắng Cảnh
- Đỗ Thị Thu Trà
- Đỗ Thiên Anh Tuấn
- Đỗ Trí Vương
- Đỗ Trọng Khơi
- Đỗ Trung Quân
- Đỗ Trường
- Đỗ Tuyết Khanh
- Đồng Chuông Tử
- Đông Hoài
- Đông Hồ
- Đông Kha
- Đông Ngàn Đỗ Đức
- Đông Nghi
- Đức Ban
- Đức Đàm
- Đức Flying Bay
- Đức Hoàng
- Đức Lê
- Đức Phổ
- Đức Tâm
- Đức Tiến
- E. M. Forster
- E.E. Cummings
- E.M. Chernoivanenko
- Eamonn Butler
- Eckart Kleßmann
- Eduardo Galeano
- Edward Hirsch
- Elena Pucillo Truong
- Elias Canetti
- Ellen Bass
- Eloisa Amezcua
- Emiel Roothooft
- Emma Loffhagen
- Emmanuelle Jardonnet
- Eric Henry
- Eric Weiner
- Erica Frantz
- Erik Harms
- Erik Korling
- Euan Ward
- Evgheni Dobrenko
- F.N.
- Federico García Lorca
- Feliks Kuznesov
- Filip Lech
- Flanny O’Connor
- Florence Noiville
- Florian Altenhöner
- Francis Fukuyama
- Francis Fukuyma
- François Guillemot
- Frank Dikötter
- Frank O'Hara
- Frankfurt
- Fred Hiatt
- Friedrich Dürrenmatt
- Friedrich Nietzsche
- Fritz J. Raddatz
- Gã Khờ
- Gabriel García Márquez
- Gabriel Josipovici
- Gaither Stewart
- Gaiutra Bahadur
- Gary Leupp
- Gặp gỡ và trò chuyện
- Georg Bönisch
- Georg Trakl
- George Burchett
- George Orwell
- George Perreault
- George Siemens
- Georges Condominas
- Gérard Noiriel
- Gerhard Will
- Germain Droogenbroodt
- Giang Dang
- Giang Lại Đức
- Giang Nam
- Giáng Vân
- Giáp Văn Dương
- Gideon Rachman
- Giuse Lê Công Đức
- Goethe
- Gonçalo Fernandes
- Gottfried Benn
- Graham Allison
- Grigory Yudin
- Günter Kunert
- Gyảng Anh Iên
- Hà Duy Phương
- Hà Dương Tuấn
- Hà Dương Tường
- Hà Đình Nguyên
- Hạ Đình Nguyên
- Hà Huy Khoái
- Hà Huy Sơn
- Hà Hương
- Hà Lệ Minh
- Hà Ngọc Hòa
- Hạ Nguyên
- Hà Nguyên Du
- Hà Nhân
- Hà Nhật
- Hà Phạm Phú
- Hà Quang Vinh
- Hà Sĩ Phu
- Hà Thanh Vân
- Hà Thế
- Hà Thị Minh Đạo
- Hà Thúc Sinh
- Hà Thủy Nguyên
- Hà Tùng Long
- Hà Tùng Sơn
- Hà Văn Thịnh
- Hà Văn Thùy
- Hà Vũ Trọng
- Hagi Kenaan
- Hai An Vu
- Hải Hạc
- Hải Ngọc
- Hai Thanh
- Han Dang
- Hàn Giang
- Han Kang
- Hàn Vĩnh Diệp
- Hạnh Diễm
- Hạnh Nguyên
- Hạnh Phước
- Hạnh Viên
- Hannah Beech
- Hào Thiện Nhân
- Hari Kunzru
- Haruki Murakami
- Hân Hương
- Heiko Buschke
- Heinrich Heine
- Henri Michaux
- Henry David Thoreau
- Henry Wadsworth Longfellow
- Heriberto Araújo
- Hermann Hesse
- Hiền Trang
- Hiệp Ikaria
- Hiệu Minh
- Hiếu Tân
- Ho Lai-Ming
- Hòa Bình Lê
- Hoa Níp
- Hoài Hương
- Hoài Nam
- Hoài Phương
- Hoài Thanh
- Hoài Việt
- Hoài Ziang Duy
- Hoan Doan
- Hoàn Nguyễn
- Hoàng Ánh
- Hoàng Anh Tuấn
- Hoàng Cát
- Hoàng Cầm
- Hoàng Chí Hiếu
- Hoàng Chính
- Hoàng Cường Long
- Hoàng Dũng
- Hoàng Dương Tuấn
- Hoàng Đăng Khoa
- Hoàng Đỗ
- Hoàng Đông
- Hoàng Đức Truật
- Hoàng Hà
- Hoàng Hải Thủy
- Hoàng Hải Vân
- Hoảng Hãn
- Hoàng Hôn
- Hoàng Hưng
- Hoàng Khởi Phong
- Hoàng Kim Oanh
- Hoàng Lại Giang
- Hoàng Lan
- Hoàng Lan Anh
- Hoàng Lan Chi
- Hoàng Lê
- Hoàng Lệ
- Hoàng Linh
- Hoàng Long
- Hoàng Mai Ðạt
- Hoàng Mạnh Hải
- Hoàng Minh Trí
- Hoàng Minh Tường
- Hoàng Nam
- Hoàng Nga
- Hoàng Ngọc Biên
- Hoàng Ngọc Hiến
- Hoàng Ngọc Nguyên
- Hoàng Ngọc Tuấn
- Hoàng Nguyễn
- Hoàng Nguyên Vũ
- Hoàng Nhơn
- Hoàng Nhuận Cầm
- Hoàng Phong Tuấn
- Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Hoàng Quân
- Hoàng Quốc Dũng
- Hoàng Quốc Hải
- Hoàng Thị Hường
- Hoàng Thị Thu Thủy
- Hoàng Thu Phố
- Hoàng Thúy
- Hoàng Thuỵ Anh
- Hoàng Tiến
- Hoàng Trung Thông
- Hoàng Tuấn Công
- Hoàng Tuấn Phổ
- Hoàng Tùng
- Hoàng Tuỵ
- Hoàng Tư Giang
- Hoàng Văn Sơn
- Hoàng Việt
- Hoàng Vũ Sơn
- Hoàng Vũ Thuật
- Hoàng Xuân Phú
- Hoàng Xuân Sơn
- Hoàng Xuân Tuyền
- Hoàng Yến
- Horst Bienek
- Howard Gardner
- Hồ Anh Thái
- Hồ Bạch Thảo
- Hồ Bất Khuất
- Hồ Diệu Vân
- Hồ Dzếnh
- Hồ Đắc Vũ
- Hồ Đình Nghiêm
- Hồ Hải Thụy
- Hồ Hữu Tường
- Hồ Minh Tâm
- Hồ Ngọc Đại
- Hồ Như
- Hồ Phú Bông
- Hồ Tịnh Tình
- Hồ Trường An
- Hồ Tú Bảo
- Hội những người ủng hộ GS. Chu Hảo
- Hồng Anh
- Hồng Hoang
- Hồng Lê Thọ
- Hồng Phú
- Huệ Hương Hoàng
- Huguette Bertrand
- Huong Nguyen
- Huy Bảo
- Huy Cận
- Huy Đức
- Huy Tưởng
- Huyền Thương
- Huỳnh Duy Lộc
- Huỳnh Hoa
- Huỳnh Hữu Uỷ
- Huỳnh Hữu Ủy
- Huỳnh Kim Báu
- Huỳnh Kim Quang
- Huỳnh Lê Nhật Tấn
- Huỳnh Liễu Ngạn
- Huỳnh Ngọc Chênh
- Huỳnh Như Phương
- Huỳnh Sơn Phước
- Huỳnh Tấn Mẫm
- Huỳnh Thế Du
- Huỳnh Thục Vy
- Huỳnh Trọng Khang
- Huỳnh Tuấn Anh
- Hứa Chương Nhuận
- Hứa Lập Chí
- Hương Lan
- Hường Thanh
- Hương Thủy
- Hữu Danh
- Hữu Đông
- Hữu Loan
- Hữu Mai
- Hữu Phương
- Ian Bui
- Ian Johnson
- Igor Poglazov
- Iio Sōgi
- Ilza Burchett
- Inrasara
- Iris Radisch
- Isabella Kwai
- Issa
- Issac Bashevis Singer
- Italo Calvino
- Iya Kiva
- J. M. Lotman
- J.B Nguyễn Hữu Vinh
- Jacques Attali
- Jacques Prévert
- Jake Johnson
- James Borton
- James Daniel Spears
- James G. Zumwalt
- James Grossman
- James Joyce
- James Poniewozik
- James Stavridis
- James WrightJuan Felipe Herrera
- Jang Kều
- Janos Kornai
- Jared Carters
- Jason Lopata
- Jason Morris-Jung
- Jay Nordlinger
- Jaya K.
- Jean Chesnaux
- Jean d'Ormesson
- Jean Piaget
- Jean Przyluski
- Jean Toomer
- Jean-Jacques Brochier
- Jean-Jacques Roth
- Jean-Louis Rocca
- Jean-Luc Chalumeau
- Jean-Marc Roberts
- Jean-Patrick Géraud
- Jean-Paul Sartre
- Jefferson Cowie
- Jeffrey Hanfover
- Jeffrey Nall
- Jessica Swoboda
- Jessie Yeung
- Jiayang Fan
- Jimmy Carter
- Joan Hua
- João Guimarães Rosa
- Joaquin Nguyễn Hòa
- John Barrow
- John Cheever
- John D. Howard
- John Freeman
- John Keane
- John McCain
- Jon Fosse
- Jonathan Dee
- Jonathan London
- Jonathan Scott Holloway
- Jörg Wischermann
- Jorge Amado
- Jorge Luis Borges
- Joschka Fischer
- Josée Lapointe
- Joseph Wong
- Joseph Wright
- Josh Rogin
- Joshua Rothman
- Juan Pablo Cardenal
- Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo
- Julia Cagé
- Julio Cortázar
- Jun’ichiro Tanizaki
- Kahil Gibral
- Kai Hoàng
- Kale
- Kalynh Ngô
- Kamel Daoud
- Kao Phú
- Kap Seol
- Karel Appel
- Karen Tongson
- Kate Chopin
- Kazuo Shiraga
- Kenneth Nguyen
- Kenzaburo Oe
- Keorapetse Kgositsile
- Kerstin Holm
- Kều Jang
- Kha Lương Ngãi
- Kha Tiệm Ly
- Khải Đơn
- Khái Hưng
- Khaled Juma
- Khaly Chàm
- Khang Quốc Ngọc
- Khánh
- Khánh Bình
- Khánh Duy
- Khánh Ly
- Khánh Mai
- Khanh Nguyen
- Khanh Pham
- Khánh Phương
- Khánh Trâm
- Khánh Trường
- Khét
- Khế Iêm
- Khiêm Nhu
- Khổng Đức Thiêm
- Khuất Đẩu
- Khuất Thu Hồng
- Khuê Minh Nguyệt
- Khuê Phạm
- Khuyết Thư
- Kiệm Hoàng
- Kiến Văn
- Kiệt Anh Hùng
- Kiệt Tấn
- Kiều Duy Vĩnh
- Kiều Loan
- Kiều Mai Sơn
- Kiều Maily
- Kiều Phong
- Kiều Thị An Giang
- Kim Ân
- Kim Chi
- Kim Dung
- Kim Hạnh
- Kim Thúy
- Kim Trần
- Kim Yi-deum
- Kinh Bắc
- Kính Hòa
- Klaus Wiegerefe
- Kobayashi Issa
- Kúm
- Kumar Vikram
- Kurt-Martin Mayer
- Kỳ Duyên
- Kyoko Numano
- L. N. Tolstoy
- L. V. H.
- La Khắc Hoà
- La Khắc Hòa
- Lã Nguyên
- Lại Nguyên Ân
- Lam Điền
- Lam Hạnh
- Lam Ngọc
- Lam Thái Hòa
- Lan Nguyên
- Lang Anh
- Langston Hughes
- LAP
- Larry Diamond
- Lars Vargö
- László Krasznahorkai
- Laura Cappelle
- Laurent Sagalovitsch
- Lawrence Ferlinghetti
- Lâm Chương
- Lâm Duyên
- Lâm Hạnh
- Lâm Lê
- Lâm Ngân Mai
- Lâm Quang Mỹ
- Lâm Thị Mỹ Dạ
- Lenin
- Leon Trotsky
- Leonard Cohen
- Leonardo da Vinci
- Lê An Thế
- Lê Anh Hoài
- Lê Anh Hùng
- Lê Ân
- Lê Bá Đảng
- Lê Bích Vượng
- Lê Chiều Giang
- Lê Công Định
- Lê Công Giàu
- Lê Công Tư
- Lê Ðình Nhất Lang
- Lê Dũng
- Lê Duy Nam
- Lê Đạt
- Lê Đăng Doanh
- Lê Đình Cai
- Lê Đình Khẩn
- Lê Đình Thắng
- Lê Đỗ Huy
- Lê Đức Dục
- Lê Đức Thôn
- Lê Giang Trần
- Lê Hải
- Lệ Hằng
- Lê Hiệp
- Lê Hoài Nguyên
- Lê Hoàng Diễm Trang
- Lê Hoàng Lân
- Lê Học Lãnh Vân
- Lê Hồ Quang
- Lê Hồng Hà
- Lê Hồng Hiệp
- Lê Hồng Lâm
- Lê Hùng
- Lê Hùng Vọng
- Lê Huyền Ái Mỹ
- Lê Huỳnh Lâm
- Lê Hữu
- Lê Hữu Khoá
- Lê Hữu Khóa
- Lê Hữu Nam
- Lê Kế Lâm
- Lê Khải
- Lê Kim Duy
- Lê Ký Thương
- Lê Lạc Giao
- Lê Luân
- Lê Mã Lương
- Lê Mai
- Lê Mai Lĩnh
- Lê Mạnh Chiến
- Lê Mạnh Đức
- Lê Minh
- Lê Minh Chánh
- Lê Minh Hà
- Lê Minh Hiền
- Lê Minh Khuê
- Lê Minh Phong
- Lê Ngân Hằng
- Lê Ngọc Luân
- Lê Ngọc Sơn
- Lê Nguyễn
- Lê Nguyễn Duy Hậu
- Lê Nguyễn Hương Trà
- Lê Nguyên Long
- Lê Nguyên Vỹ
- Lê Như Bình
- Lê Oa Đằng
- Lê Phan
- Lê Phú Khải
- Lê Quang
- Lê Quang Đức
- Lê Quảng Hà
- Lê Quang Hợp
- Lê Quang Thành
- Lê Quân
- Lê Quốc Anh
- Lê Quỳnh
- Lê Quỳnh Mai
- Lê Sa Long
- Lê Si Na
- Lê Sơn
- Lê Tất Đạt
- Lê Tất Điều
- Lê Thanh Dũng
- Lê Thanh Hải
- Lê Thanh Phong
- Lê Thanh Trường
- Lê Thân
- Lê Thế Thắng
- lê thi diem thuý
- Lê Thị Hồng Minh
- Lê Thị Huệ
- Lê Thị Hường
- Lê Thị Oanh
- Lê Thị Thanh Tâm
- Lê Thị Thấm Vân
- Lê Thiết Cương
- Lê Thiếu Nhơn
- Lê Thọ Bình
- Lê Thời Tân
- Lê Thời Thôi
- Lê Thu Hiền
- Lê Thúy Bảo Liên
- Lê Tiên Long
- Lê Trí Tuệ
- Lê Trinh
- Lê Trọng Nghĩa
- Lê Trọng Nguyễn
- Lê Trung Tĩnh
- Lê Trường Thanh
- Lê Tuấn Huy
- Lê Tuyết Hạnh
- Lê Văn Bỉnh
- Lê Văn Hảo
- Lê Văn Hiếu
- Lê Văn Hòa
- Lê Văn Hùng Vĩ
- Lê Văn Luân
- Lê Văn Sơn
- Lê Văn Trung
- Lê Văn Tùng
- Lê Vĩnh Tài
- Lê Vĩnh Triển
- Lê Vũ Trường Giang
- Lê Xuân Khoa
- Lê Xuyên
- Li Edelkoort
- Li Tana
- Li Zhongqin
- Liêu Diệc Vũ
- Liêu Thái
- Liễu Trương
- Linh Nguyên
- Linh Văn
- Linh Vân
- Linh-Chân Brown
- LKH
- Lorca
- Louis Aragon
- Louise Glück
- Lộc Vàng
- Lợi Phan Mai
- Luân Hoán
- Ludwig von Mises
- Luke Hunt
- Luke Turner
- Lữ Kiều
- Lữ Quỳnh
- Lương Đào
- Lương Thiệu Quân
- Lương Thư Trung
- Lưu Á Châu
- Lưu Bình Nhưỡng
- Lưu Diệu Vân
- Lưu Đình Long
- Lưu Đức Trung
- Lưu Hà
- Lưu Hiểu Ba
- Lưu Khánh Thơ
- Lưu Mê Lan
- Lưu Minh Hải
- Lưu Na
- Lưu Nhi Dũ
- Lưu Quang Vũ
- Lưu Thuỷ Hương
- Lưu Thủy Hương
- Lưu Trọng Tưởng
- Lưu Trọng Văn
- Lưu Uyên Khôi
- Lý Đợi
- Lý Gia Trung
- Ly Hoàng Ly
- Lý Ngang
- Ly Phạm
- Lý Quang Hoàn
- Lý Thanh
- Lý Tiến Dũng
- Lý Toàn Thắng
- Lý Trực Dũng
- Lý Xuân Hải
- Lydia Davis
- Lynh Bacardi
- LysP
- M. Gorky
- M. Trần
- M.L. Gasparov
- Mạc Phong Tuyền
- Mạc Văn Trang
- Mạc Việt Hồng
- Mạch Nha
- Mạch Quang Thắng
- Madeleine Riffaud
- Madlovics Bálint
- Magyar Bálint
- Mahmoud Darwish
- Mai An Nguyễn Anh Tuấn
- Mai Anh Tuấn
- Mai Bá Ấn
- Mai Bá Kiếm
- Mai Chanh
- Mai Đỗ
- Mai Hiền
- Mai Khôi
- Mai Kim Ngọc
- Mai Lý
- Mai Nhật
- Mai Ninh
- Mai Quốc Ấn
- Mai Quỳnh
- Mai Quỳnh Nam
- Mai Sơn
- Mai Thái Lĩnh
- Mai Thanh Sơn
- Mai Thảo
- Mai Tú Ân
- Mai Văn Hoan
- Mai Văn Phấn
- Mai Văn Tính
- Maki Starfield
- Mamleev
- Mạnh Kim
- Manuel Casimiro
- Mão Xuyên
- Marc Andrus
- Marcel Reich-Ranicki
- Marci Shore
- Marco Ferrarese
- Margarita Lyutova
- Marguerite Duras
- Maria Donovan
- Maria Ressa
- Marie Lê Thị Hoa
- Mario Vargas Llosa
- Marion Hennebert
- Mark B. Hamilton
- Mark Binelli
- Mark Frankland
- Mark Osaki
- Mark Strand
- Marta Hillers
- Martin Jankowski
- Martin Kulldorff
- Marty Robbins
- Mary Morose
- Mary Walsh
- Matei Vişniec
- Mathias Mayer
- Matthew Clayfield
- Matthew Crawford
- Maurice Blanchot
- Maximilian Steinbeis
- May
- Maya Angelou
- Mặc Đỗ
- Mặc Lâm
- Mân Côi
- McAmmond Nguyễn Thị Tư
- Media Văn Việt
- Mia Pluger
- Michael Burawoy
- Michael Scammell
- Miêng
- Mike Ives
- Mikhail Shishkin
- Mikhail Sholokhov
- Mikhail Viktorovich Zygar
- Milan Kundera
- Mimmi Diệu Hường Bergström
- MInh Anh
- Minh Huệ
- Minh Hùng
- Minh Luật
- Minh Quang – Lê Chiên
- Minh Quang Ho
- Minh Tâm
- Minh Thùy
- Minh Thư
- Minh Toàn
- Minh Tuấn
- Minh Tự
- Mireille Sacotte
- Monica Berlin
- Mỹ Hằng
- Mỹ Lan
- N. S. Khrushchev
- Nadine Murtaja
- Nam Dao
- Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng
- Nam Đan
- Nam Đông
- Nam Nguyên
- Nam Sơn
- Naowarat Pongpaiboon
- Natalia lacovelli
- Nataliya Zhynkina
- Natsume Sōseki
- Nay Aung
- ng. anhanh
- Ng.Uyển Nicole Dương
- Ngải Vị VỊ
- Ngân Xuyên
- Nghệ thuật
- Nghĩa Đặng
- Nghiêm Lương Thành
- Nghiêm Phương Mai
- Nghiêm Thanh Hương
- Nghiêm Xuân Hồng
- Nghiên Cứu Phê Bình
- Ngo Thu
- Ngọc Anh
- Ngọc Duy Phan
- Ngoc Hien Bui
- Ngọc Linh
- Ngô Anh Tuấn
- Ngô Bảo Châu
- Ngô Đình Thẩm
- Ngô Đồng
- Ngô Hương Giang
- Ngô Khắc Tài
- Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
- Ngô Kim Khôi
- Ngô Kim-Khôi
- Ngô Liêm Khoan
- Ngô Lực
- Ngô Mai Phong
- Ngô Mạnh Hùng
- Ngô Minh
- Ngô Minh Khôi
- Ngô Ngọc Loan
- Ngô Ngọc Trai
- Ngô Nguyên Dũng
- Ngô Nhật Đăng
- Ngô Quốc Phương
- Ngô Quốc Thịnh
- Ngô Thế Vinh
- Ngô Thị Kim Cúc
- Ngô Thị Thanh Lịch
- Ngô Thị Thu Ngần
- Ngô Tùng Phong
- Ngô Tự Lập
- Ngô Văn
- Ngô Văn Giá
- Ngô Viết Nam Sơn
- Ngô Viết Trọng
- Ngô Việt Trung
- Ngô Vĩnh Long
- Ngô Xuân Hội
- Ngô Xuân Phúc
- Ngô Xuân Thảo
- Ngu Yên
- Nguyen Duc Thanh
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Anh Dũng
- Nguyễn Anh Tuấn
- Nguyễn Anh Tuấn - đạo diễn
- Nguyễn Bá Chung
- Nguyễn Bách Việt
- Nguyễn Bảo Chân
- Nguyễn Bắc Sơn
- Nguyên Bình
- Nguyễn Bính
- Nguyễn Cảnh Bình
- Nguyên Cầm
- Nguyên Cẩn
- Nguyên Chánh
- Nguyễn Chí Hoan
- Nguyễn Chí Thuật
- Nguyễn Chí Trung
- Nguyễn Chí Tuyến
- Nguyễn Chinh Trung
- Nguyễn Cung Thông
- Nguyễn Cường
- Nguyễn Danh Bằng
- Nguyễn Danh Huế
- Nguyễn Danh Lam
- Nguyễn Ðăng Thường
- Nguyễn Duy
- Nguyễn Dương Quang
- Nguyễn Đạt
- Nguyễn Đắc Kiên
- Nguyễn Đắc Xuân
- Nguyễn Đăng Điệp
- Nguyễn Đăng Hưng
- Nguyễn Đăng Khoa
- Nguyễn Đăng Mạnh
- Nguyễn Đăng Na
- Nguyễn Đăng Quang
- Nguyễn Đăng Thường
- Nguyễn Đình Ấm
- Nguyễn Đình Bin
- Nguyễn Đình Bổn
- Nguyễn Đình Chú
- Nguyễn Đình Cống
- Nguyễn Đình Đăng
- Nguyễn Đình Huỳnh
- Nguyễn Đình Phượng Uyển
- Nguyễn Đình Thắng
- Nguyễn Đình Thi
- Nguyễn Đình Toàn
- Nguyễn Đông A
- Nguyễn Đổng Chi
- Nguyễn Đông Thức
- Nguyễn Đức
- Nguyễn Đức Dương
- Nguyễn Đức Hiệp
- Nguyễn Đức Mậu
- Nguyễn Đức Sơn
- Nguyễn Đức Thắng
- Nguyễn Đức Tiến
- Nguyễn Đức Tùng
- Nguyễn Đức Tường
- Nguyễn Gia Trí
- Nguyên Giác
- Nguyên Giác Phan Tấn Hải
- Nguyễn Hà Luân
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Hải Yến
- Nguyễn Hàn Chung
- Nguyễn Hiến Lê
- Nguyễn Hoa Lư
- Nguyễn Hoài Nam
- Nguyễn Hoài Văn
- Nguyễn Hoài Vân
- Nguyễn Hoàn
- Nguyễn Hoàn Nguyên
- Nguyễn Hoàng Ánh
- Nguyễn Hoàng Anh Thư
- Nguyễn Hoàng Diệu Thủy
- Nguyễn Hoàng Diệu Thúy
- Nguyễn Hoàng Giao
- Nguyễn Hoàng Linh
- Nguyễn Hoàng Trung
- Nguyễn Hoàng Văn
- Nguyễn Hồng Anh
- Nguyễn Hồng Giao
- Nguyễn Hồng Hưng
- Nguyễn Hồng Lam
- Nguyễn Hồng Nhung
- Nguyễn Hồng Thục
- Nguyễn Huệ Chi
- Nguyễn Hùng
- Nguyễn Huy Hoàng
- Nguyễn Huy Thiệp
- Nguyễn Huy Vũ
- Nguyên Hưng
- Nguyễn Hưng Quốc
- Nguyễn Hương
- Nguyễn Hữu Đễ
- Nguyễn Hữu Hồng Minh
- Nguyễn Hữu Liêm
- Nguyễn Hữu Nhật
- Nguyễn Hữu Sơn
- Nguyễn Hữu Thiết
- Nguyễn Hữu Việt Hưng
- Nguyễn Hữu Vinh
- Nguyễn kc Hậu
- Nguyễn Khải
- Nguyễn Khánh Duy
- Nguyễn Khánh Trường
- Nguyễn Khắc An
- Nguyễn Khắc Bình
- Nguyễn Khắc Mai
- Nguyễn Khắc Ngân Vi
- Nguyễn Khắc Phê
- Nguyễn Khắc Phi
- Nguyễn Khắc Phục
- Nguyễn Khiêm
- Nguyễn Khôi
- Nguyễn Kiến Phước
- Nguyễn Kiều Dung
- Nguyễn Kiều Hưng
- Nguyễn Kim Hưng
- Nguyên Lạc
- Nguyễn Lam Điền
- Nguyễn Lãm Thắng
- Nguyễn Lan Phương
- Nguyễn Lâm Cẩn
- Nguyễn Lân Bình
- Nguyễn Lân Thắng
- Nguyễn Lê Hồng Hưng
- Nguyễn Lê Tuyên
- Nguyễn Lệ Uyên
- Nguyễn Linh Giang
- Nguyễn Linh Quang
- Nguyễn Lộ Trạch
- Nguyễn Luận
- Nguyễn Lương Hải Khôi
- Nguyễn Lương Ngọc
- Nguyễn Lương Thịnh
- Nguyễn Lương Vỵ
- Nguyễn Mai
- Nguyễn Man Nhiên
- Nguyễn Mạnh An Dân
- Nguyễn Mạnh Côn
- Nguyễn Mạnh Đẩu
- Nguyễn Mạnh Tiến
- Nguyễn Manh Trinh
- Nguyễn Mạnh Trinh
- Nguyễn Mạnh Tuấn
- Nguyễn Mạnh Tường
- Nguyễn Minh Anh
- Nguyễn Minh Hòa
- Nguyễn Minh Kính
- Nguyễn Minh Nhị
- Nguyễn Minh Nhựt
- Nguyễn Minh Thuyết
- Nguyễn Mộng Giác
- Nguyên Ngọc
- Nguyễn Ngọc Chu
- Nguyễn Ngọc Đức
- Nguyễn Ngọc Giao
- Nguyễn Ngọc Hoa
- Nguyễn Ngọc Lanh
- Nguyễn Ngọc Liễm
- Nguyễn Ngọc Lung
- Nguyễn Ngọc Phương
- Nguyễn Ngọc Tâm
- Nguyễn Ngọc Thiện
- Nguyễn Ngọc Tú Anh
- Nguyễn Ngọc Tư
- Nguyên Nguyên
- Nguyễn Nguyên
- Nguyễn Nguyên Bình
- Nguyễn Nguyệt Cầm
- Nguyễn Nhật Lệ
- Nguyễn Nhật Tín
- Nguyên Nhi
- Nguyễn Như Huy
- Nguyễn Như Mây
- Nguyễn Phạm Hùng
- Nguyễn Phan Quế Mai
- Nguyễn Phú Yên
- Nguyễn Phúc Vĩnh Ba
- Nguyễn Phượng
- Nguyễn Phương Đình
- Nguyễn Phương Mai
- Nguyễn Phương Mạnh
- Nguyễn Quang
- Nguyễn Quang A
- Nguyễn Quang Bình
- Nguyễn Quang Duy
- Nguyễn Quang Dy
- Nguyễn Quang Đồng
- Nguyễn Quang Hồng
- Nguyễn Quang Hưng
- Nguyễn Quang Lập
- Nguyễn Quang Thạch
- Nguyễn Quang Thân
- Nguyễn Quang Thiều
- Nguyễn Quang VInh
- Nguyễn Quân
- Nguyễn Quốc Bảo
- Nguyễn Quốc Chánh
- Nguyễn Quốc Chính
- Nguyễn Quốc Lâm
- Nguyễn Quốc Tấn Trung
- Nguyễn Quốc Thái
- Nguyễn Quốc Toàn
- Nguyễn Quốc Trụ
- Nguyễn Quốc Tuấn
- Nguyễn Quốc Vương
- Nguyễn Quỳnh Hương
- Nguyên Sa
- Nguyễn Sĩ Dũng
- Nguyễn Sơn Lâm
- Nguyễn Sỹ Phương
- Nguyễn Sỹ Tế
- Nguyễn Tà Cúc
- Nguyễn Tài Cẩn
- Nguyễn Tấn Cứ
- Nguyễn Tất Nhiên
- Nguyễn Thạch Giang
- Nguyễn Thái Hòa
- Nguyễn Thái Hợp
- Nguyễn Thái Sơn
- Nguyễn Thái Tuấn
- Nguyễn Thanh Bình
- Nguyễn Thanh Châu
- Nguyễn Thanh Giang
- Nguyễn Thanh Hiện
- Nguyễn Thanh Hùng
- Nguyễn Thanh Huy
- Nguyễn Thanh Huyền
- Nguyễn Thanh Mỹ
- Nguyễn Thành Nam
- Nguyễn Thanh Nghị
- Nguyễn Thanh Nguyệt
- Nguyễn Thành Phong
- Nguyễn Thanh Sơn
- Nguyễn Thành Sơn
- Nguyễn Thanh Tâm
- Nguyễn Thành Thi
- Nguyễn Thanh Tuyền
- Nguyễn Thanh Văn
- Nguyễn Thanh Việt
- Nguyễn Thế Hùng
- Nguyễn Thế Thanh
- Nguyễn Thị Ái Tiên
- Nguyễn Thị Bích Hậu
- Nguyễn Thị Bích Ngà
- Nguyễn Thị Bình
- Nguyễn thị Cỏ May
- Nguyễn Thị Dư Khánh
- Nguyễn Thị Hải
- Nguyễn Thị Hậu
- Nguyễn Thị Hiền
- Nguyễn Thị Hoàng
- Nguyễn Thị Hoàng Bắc
- Nguyễn Thị Hồng
- Nguyễn Thị Khánh Minh
- Nguyễn Thị Khánh Trâm
- Nguyễn Thị Kim Chi
- Nguyễn Thị Kim Phụng
- Nguyễn Thị Kim Thoa
- Nguyễn Thị Minh Ngọc
- Nguyễn Thị Minh Thái
- Nguyễn Thị Minh Thương
- Nguyễn Thị Ngọc Hải
- Nguyễn Thị Ngọc Nhung
- Nguyễn Thị Oanh
- Nguyễn Thị Phước
- Nguyễn Thị Thanh Bình
- Nguyễn Thị Thanh Hải
- Nguyễn Thị Thanh Lưu
- Nguyễn Thị Thanh Xuân
- Nguyễn Thị Thanh Yến
- Nguyễn Thị Thảo An
- Nguyễn Thị Thúy Hạnh
- Nguyễn Thị Thùy Linh
- Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Nguyễn Thị Thuyền
- Nguyễn Thị Tịnh Thy
- Nguyễn Thị Từ Huy
- Nguyễn Thị Vinh
- Nguyễn Thiện Tống
- Nguyễn Thiện Tơ
- Nguyễn Thói Đời
- Nguyễn Thông
- Nguyễn Thu Quỳnh
- Nguyễn Thu Trang
- Nguyễn Thụy Anh
- Nguyễn Thùy Dương
- Nguyễn Thúy Hạnh
- Nguyễn Thụy Long
- Nguyễn Thuỵ Phương
- Nguyễn Thùy Song Thanh
- Nguyễn Thỵ
- Nguyễn Thy Anh
- Nguyễn Tiến Dũng
- Nguyễn Tiến Lập
- Nguyễn Tiến Trung
- Nguyễn Tiến Văn
- Nguyễn Trần Bạt
- Nguyễn Tri Phương Đông
- Nguyễn Triệu Nam
- Nguyễn Trọng Bình
- Nguyễn Trọng Chức
- Nguyễn Trọng Huân
- Nguyễn Trọng Khôi
- Nguyễn Trọng Tạo
- Nguyễn Trung
- Nguyễn Trung Bảo
- Nguyễn Trung Dân
- Nguyễn Trung Hiếu
- Nguyễn Trung Kiên
- Nguyễn Trung Thuần
- Nguyễn Trường Giang
- Nguyễn Trường Huy
- Nguyễn Trường Uy
- Nguyễn Tuấn
- Nguyễn Tuấn Anh
- Nguyễn Tuấn Khoa
- Nguyễn Tùng
- Nguyễn Tùng Linh
- Nguyễn Tuyết Lan
- Nguyễn Tuyết Lộc
- Nguyễn Tư Nghiêm
- Nguyễn Tử Siêm
- Nguyễn Tường Bách
- Nguyễn Tường Thiết
- Nguyễn Tường Thụy
- Nguyễn Ước
- Nguyễn Vạn An
- Nguyễn Vạn Phú
- Nguyễn Văn
- Nguyễn Văn Ba
- Nguyễn Văn Chính
- Nguyễn Văn Ðậu
- Nguyễn Văn Dũng
- Nguyễn Văn Đài
- Nguyễn Văn Gia
- Nguyễn Văn Hạnh
- Nguyễn Văn Hiệp
- Nguyễn Văn Hòa
- Nguyễn Văn Hùng
- Nguyễn Văn Huyên
- Nguyễn Văn Lợi
- Nguyễn Văn Lục
- Nguyễn Văn Miếng
- Nguyễn Văn Nghệ
- Nguyễn Văn Nho
- Nguyễn Văn Phong
- Nguyễn Văn Phú
- Nguyễn Văn Phước
- Nguyễn Văn Sâm
- Nguyễn Văn Sơn
- Nguyễn Văn Tao
- Nguyễn Văn Thiệu
- Nguyễn Văn Thọ
- Nguyễn Văn Trọng
- Nguyễn Văn Trung
- Nguyễn Văn Tuấn
- Nguyễn Văn Vĩnh
- Nguyễn Văn Xuân
- Nguyễn Vi Khải
- Nguyễn Vi Yên
- Nguyễn Viện
- Nguyên Việt
- Nguyễn Việt Anh
- Nguyễn Việt Chiến
- Nguyễn Viết Dũng
- Nguyễn Viết Lãm
- Nguyễn Vĩnh Nguyên
- Nguyễn Vũ Hiệp
- Nguyễn Vũ Tiềm
- Nguyễn Vỹ
- Nguyễn Vy Khanh
- Nguyễn Xuân Diện
- Nguyễn Xuân Hằng
- Nguyễn Xuân Hoàng
- Nguyễn Xuân Hưng
- Nguyễn Xuân Khánh
- Nguyễn Xuân Khoát
- Nguyễn Xuân Nghĩa
- Nguyễn Xuân Nha
- Nguyễn Xuân Quang
- Nguyễn Xuân Thiệp
- Nguyễn Xuân Thọ
- Nguyễn Xuân Tiệp
- Nguyễn Xuân Tường Vy
- Nguyễn Xuân Vượng
- Nguyễn Xuân Xanh
- Nguyễn Ý Thuần
- Nguyên Yên
- Nguyễn-Chương Mt
- Nguyễn-hòa-Trước
- Nguyệt Chu
- Nguyệt Quỳnh
- Nguyệt Vi
- Ngự Thuyết
- Người Buôn Gió
- Ngyễn Trung Bảo
- Nh. Tay Ngàn
- Nhã
- Nhã Ca
- Nhã Duy
- Nhã Thuyên
- Nhan Do Thanh
- Nhân Hồng
- Nhật Chiêu
- Nhật Lệ
- Nhất Linh
- Nhật Thanh
- Nhật Tiến
- Nhật Tuấn
- Nhất Uyên
- Nhị Linh
- Nhị Ngã
- Nhóm Vì một Hà Nội xanh
- Như Huy
- Như Không
- Như Quỳnh
- Như Quỳnh de Prelle
- Như Ý
- Nhược Thủy
- Niall Ferguson
- Nick Hilden
- Nicolas Casey
- Nikulin
- Nina McPherson
- Ninh Dương
- Ninh Kiều
- Nobert Hummelt
- Nông Hồng Diệu
- NP Phan
- Obama
- Ocean Vương
- Octavio Paz
- Ogden Nash
- Oksana Zabuzhko
- Oleg Kashin
- Ondrej Slowik
- onggiaolang
- Orlando Figes
- Orwell
- Oscar Salemink
- Oscar Wilde
- Pablo Neruda
- Pablo Picasso
- Palmer
- Patrick Frater
- Patrick Lodge
- Paul Auster
- Paul Celan
- Paul Éluard
- Paul Hoover
- Paul Mendez
- Paul Mozur
- Paul Theroux
- Paul-François Paoli
- Paulus Lê Sơn
- Pavel Basinsky
- Pavel Basynski
- Pavlo Vyshebaba
- Paweł Kubiak
- Pawel Kuczynski
- Paweł Łepkowski
- Percy Mabandu
- Pervez Hoodbhoy
- Peter B. Zinoman
- Peter Bradshaw
- Peter Hansen
- Peter Harvey
- Peter Kleiner
- Peter Singer
- Phạm Anh Tuấn
- Phạm Biểu Tâm
- Phạm Cao Hoàng
- Phạm Châu
- Phạm Chí Dũng
- Phạm Chi Lan
- Phạm Chu Sa
- Phạm Công Luận
- Phạm Công Thiện
- Phạm Công Trứ
- Phạm Công Út
- Phạm Duy
- Phạm Duy Nghĩa
- Phạm Đình Chương
- Phạm Đình Trọng
- Phạm Đình Vy
- Phạm Đoan Trang
- Phạm Hải Anh
- Phạm Hải Âu
- Phạm Hiền Mây
- Phạm Hoàng Quân
- Phạm Hồng Sơn
- Phạm Hùng Việt
- Phạm Huy Thông
- Phạm Khánh Duy
- Phạm Khiêm Ích
- Phạm Kiều Tùng
- Phạm Kỳ Đăng
- Phạm Lệ Quyên
- Phạm Lê Vương Các
- Phạm Linh
- Phạm Lưu Vũ
- Phạm Minh Hoàng
- Phạm Minh Ngọc
- Phạm Minh Quân
- Phạm Minh Trung
- Phạm Ngọc Lư
- Phạm Ngọc Thái
- Phạm Ngọc Tiến
- Phạm Nguyên Trường
- Phạm Ngữ
- Phạm Phan Long
- Phạm Phú Cường
- Phạm Phú Hải
- Phạm Phú Minh
- Phạm Phú Phong
- Phạm Phú Thứ
- Phạm Phú Viết
- Phạm Phúc Thịnh
- Phạm Phương
- Phạm Quang Ái
- Phạm Quang Long
- Phạm Quang Trung
- Phạm Quang Tuấn
- Phạm Sỹ Sáu
- Phạm Tăng
- Phạm Thành
- Phạm Thành Hưng
- Phạm Thanh Nghiên
- Phạm Thảo Nguyên
- Phạm Thế Cường
- Phạm Thị
- Phạm Thị Anh Nga
- Phạm Thị Điệp Giang
- Phạm Thị Hoài
- Phạm Thị Kiều Ly
- Phạm Thị Ngọc
- Phạm Thị Phương
- Phạm Thiên Ân
- Phạm Thiên Thư
- Phạm Tín An Ninh
- Phạm Toàn
- Phạm Trần
- Phạm Trọng Chánh
- Phạm Trung Nghĩa
- Phạm Tuấn
- Phạm Tư Thanh Thiện
- Phạm Tường Vân
- Phạm Văn
- Phạm Văn Khoái
- Phạm Văn Quang
- Phạm Văn Tình
- Phạm Văn Vũ
- Pham Viem Phuong
- Phạm Viêm Phương
- Phạm Viết Đào
- Phạm Việt Hưng
- Phạm Vũ Lửa Hạ
- Phạm Xuân Đài
- Phạm Xuân Hùng
- Phạm Xuân Nguyên
- Phạm Xuân Trường
- Phan An Sa
- Phan Ba
- Phan Bội Châu
- Phan Cẩm Thượng
- Phan Châu Thành
- Phan Cự Đệ
- Phan Dương Hiệu
- Phan Đan
- Phan Đạo
- Phan Đắc Lữ
- Phan Đình Diệu
- Phan Độc Lập
- Phan Hải-Đăng
- Phan Hồng Giang
- Phan Huy Chú
- Phan Huy Dũng
- Phan Huy Đường
- Phan Huy Lê
- Phan Huyền Thư
- Phan Kế Toại
- Phan Khôi
- Phan Kim Hổ
- Phan Lặng Yên
- Phan Mạnh Quỳnh
- Phan Nam Sinh
- Phan Ngọc
- Phan Nguyên
- Phan Nhật Nam
- Phan Nhiên Hạo
- Phan Ni Tấn
- Phan Phương Đạt
- Phan Quang
- Phan Quỳnh Trâm
- Phan Tấn Hải
- Phan Tấn Uẩn
- Phan Thanh Bình
- Phan Thanh Sơn Nam
- Phan Thanh Tâm
- Phan Thắng
- Phan Thế Hải
- Phan Thị Hà Dương
- Phan Thị Kim Phúc
- Phan Thị Trọng Tuyển
- Phan Thị Vàng Anh
- Phan Thu Vân
- Phan Thuý Hà
- Phan Thúy Hà
- Phan Trang Hy
- Phan Trí Đỉnh
- Phan Trọng Hoàng Linh
- Phan Trọng Văn
- Phan Văn Giưỡng
- Phan Văn Song
- Phan Văn Thắng
- Phan Vũ
- Phan Xine
- Phan Xuân Sinh
- Phannguyên Psg
- Phanxipăng
- Phaolô VI
- phap
- Pháp Hoan
- Pháp Vân
- Phapxa Chan
- Phát biểu nhận giải Văn Việt
- Phi Hà
- Phil Caputo
- Philip Larkin
- Philip Roth
- Phong Âm
- Phong Linh
- Phong Nguyen
- Phong Quang
- Phố Văn
- Phú Quang
- Phù Sa
- Phúc Lai GB
- Phúc Tiến
- Phunchok Stobdan
- Phùng Anh Kiệt
- Phùng Hi
- Phùng Hoài Ngọc
- Phùng Học Vinh
- Phùng Ngọc Kiên
- Phùng Nguyễn
- Phùng Quán
- Phùng Thành Chủng
- Phùng Thị Hạ Nguyên
- Phùng Thị Như Hà
- Phuong Ta
- Phương Chi
- Phương Hương
- Phương Phương
- Phương Thảo
- Phương Thuý
- Phương Uy
- Phương Xích Lô
- Pierre Bayard
- Pierre Darriulat
- Pierre Lemieux
- Prashanth Parameswaran
- Qladimir Pyljow
- Quách Cường
- Quách Hạo Nhiên
- Quách Tấn
- Quách Thoại
- Quảng Diệu Trần Bảo Toàn
- Quang Dũng
- Quang Đức
- Quang Minh
- Quang Phan
- Quảng Tánh Trần Cầm
- Quậy Nguyễn
- Quế Hương
- Quốc Dũng
- Quốc Phương
- Quốc Toản
- Quyên Di
- Quyên Hoàng
- Quỳnh Dao
- Quỳnh Hợp
- Quỳnh Iris de Prelle
- Quỳnh Vi
- Rabindranath Tagore
- Rachel Adams
- Rainer Maria Rilke
- Ralph Chaplin
- Rebecca Mead
- Rebecca Solnit
- Reiner Traub
- Remo Verdickt
- Riccardo Gazzaniga
- Richard C. Paddock
- Richard Millet
- Richard Serra
- Richard Seymur
- Robert Desnos
- Robert McCrump
- Roger Vu
- Roger-Pol Droit
- Roland Barthes
- Romain Rolland
- Ronald F. Inglehart
- Rory O’Sullivan
- Ruben David Gonzalez Gallego
- Russell Edson
- Ruth Ingram
- Ryszard Legutko
- Saint-John Perse
- Salman Rushdie
- Salvatore Babones
- Sam Dresser
- Sạn chữ
- San Phi
- Sandra Kerschbaumer
- Sara Teasdale
- Sarah Pulliam Bailey
- Sarah Thornton
- Sáu Nghệ
- Sergio Bitar
- Shaimaa El Sabbagh
- Shakespeare
- Shannon Van Sant
- Sheikha A
- Sheila Fischman
- Sheila Ngoc Pham
- Sheri Berman
- Shigeeda Yutaka
- Shirin Ebadi
- Shukshin
- Simon Johnson
- Sire Apm Lukwesa
- Slavoj Žižek
- Sohaniim
- Son Kieu Mai
- Song Chi
- Song Hà
- Song Nguyễn
- Song Phạm
- Song Phan
- Song Thao
- Sophie Trịnh
- Số đặc biệt
- Sơn Ca
- Sơn Hoàng Liên
- Sơn Kiều Mai
- Sơn Nam
- Stalin
- Stefan Dege
- Stefano Harney
- Stephan Koester
- Stephen B. Young
- Steve Earle
- Susan Sontag
- Suzuki Katsuhiko
- Sương Nguyệt Minh
- Sương Quỳnh
- Svetlana Alexievich
- Svetlana Alexievitch
- Svetlana Alexiévitch
- Sylvia Plath
- T. Đ.
- T.Vấn
- Tạ Anh Thư
- Tạ Chí Đại Trường
- Tạ Duy Anh
- Tạ Tỵ
- Tạ Văn Tài
- Tạ Văn Thông
- Tạ Xuân Hải
- Tadeusz Rósewicz
- Tam Ích
- Tamarchenko
- Tàn Tuyết
- Tanaami Keiichi
- Taras Shevchenko
- Tarik Khaldi
- Tawada Yoko
- Tawfiq Zayyad
- Tăng Quang
- Tâm An
- Tâm Bình
- Tâm Chánh
- Tâm Don
- Tâm Thường Định
- Tâm Việt
- Tấn An
- Teolinda Gersão
- Teresa Mỹ Chúc
- Thạch Đạt Lang
- Thạch Quỳ
- Thạch Thảo
- Thái Bá Tân
- Thái Bá Vân
- Thái Bảo
- Thái Hà
- Thái Hạo
- Thái Kế Toại
- Thái Kim Lan
- Thái Mai Lan
- Thái Ngọc San
- Thái Phan Vàng Anh
- Thái Sinh
- Thái Thanh
- Thái Thanh Sơn
- Thái Thăng Long
- Thái Tuấn
- Thái Văn
- Thái Văn Đào
- Thái Vũ
- Thanh Chung
- Thạnh Đà
- Thanh Hằng
- Thanh Hằng - Anh Khoa
- Thành Lộc
- Thanh Nam
- Thanh Ngọc
- Thanh Phương
- Thanh Tâm Tuyền
- Thanh Thảo
- Thanh Thuỷ
- Thanh Trúc
- Thanh Tùng
- Thanh Xuân
- Thanhhà Lại
- Thảo Dân
- Thao Dinh
- Thảo luận
- Thảo Nguyên
- Thảo Trường
- Thảo Vy
- Thẩm Đống
- Thẩm Hoàng Long
- Thận Nhiên
- Thân Trọng Mẫn
- Thân Trọng Sơn
- Thế Dũng
- Thế Giang
- Thế Quân
- THẾ THANH
- Thế Uyên
- Thi Hoàng
- Thi Nguyên
- Thi sỹ ỦA
- Thi Vũ
- Thích Nhất Hạnh
- Thích Nữ Chân Không
- Thích Phước An
- Thích Quảng Độ
- Thierry Leclère
- Thierry Lentz
- Thiên Di
- Thiên Điểu
- Thiền Lâm
- Thiền Nguyễn
- Thiên Thai
- Thiện Tùng
- Thiện Ý
- Thiền Zen Paul Vân Thuyết
- Thiết Thạch
- Thiếu Khanh
- Thiều Mai Lâm
- Tho Nguyen
- Thọ Nguyễn
- Thomas A. Bass
- Thomas Bo Pedersen
- Thomas Mahler
- Thomas S. Mullaney
- Thông Đặng
- Thơ
- Thơ Marie Howe
- Thụ Nguyên
- Thu Phong
- Thu Vàng
- Thuận
- Thuần Ngô
- Thuận Paris
- Thuận Thiên
- Thục Quyên
- Thụy An
- Thùy Dung
- Thụy Khuê
- Thùy Linh
- Thụy My
- Thủy Tiên
- Thư Bạn Đọc
- Thường Quán
- Thy An
- Tịch Ru
- Tiet Hung Thai
- Tiền Giang
- Tiêu Dao Bảo Cự
- Tiêu Kiện Sinh
- Tiêu Toàn
- Tiểu Tử
- Tiểu Vũ
- Tillman Miller
- Timothy Brennan
- Timothy Garton Ash
- Timothy Snyder
- Tina Hà Giang
- Tino Cao
- Tobi Trần
- Tom Fawthrop
- Tomas Tranströmer
- Tô Đăng Khoa
- Tô Hải
- Tô Hoàng
- Tố Hữu
- Tô Lan Hương
- Tô Ngọc Vân
- Tô Thẩm Huy
- Tô Thùy Yên
- Tô Văn Trường
- Tôi Đây
- Tôn Thất Thông
- Tôn Thất Tùng
- Tống Văn Công
- Trà Bình
- Trà Đóa
- Trà Nhiên
- Tracy K. Smith
- Tran Dinh Dung
- Tran Nam Dung
- Trang Châu
- Trang Hạ
- Trang Thanh
- Trang Thế Hy
- Trangđài Glassey Trầnguyễn
- Trangđài Glasssey-Trầnguyễn
- Trao đổi
- Trầm Tử Thiêng
- Trần Anh Hùng
- Trần Bá Đại Dương
- Trần Bang
- Trần Bình Nam
- Trần C. Trí
- Trần Cao Lĩnh
- Trần Cao Tường
- Trần Công Tâm
- Trần Công Tín
- Trần Dạ Từ
- Trần Dần
- Trần Doãn Nho
- Trần Dũng Thanh Huy
- Trần Duy
- Trần Duy Phiên
- Trần Duy Trung
- Trần Đăng Khoa
- Trần Đăng Tuấn
- Trần Đĩnh
- Trần Đình Bút
- Trần Đình Hoành
- Trần Đình Lương
- Trần Đình Sơn Cước
- Trần Đình Sử
- Trần Đình Thắng
- Trần Đình Triển
- Trần Đình Trợ
- Trần Độ
- Trần Đồng Minh
- Trần Đức Anh Sơn
- Trần Đức Nguyên
- Trần Đức Thảo
- Trần Đức Tiến
- Trần Đức Tín
- Trần Đức Toản
- Trần Gia Huấn
- Trần Gia Ninh
- Trần Hà Linh
- Trần Hạ Tháp
- Trần Hạ Vi
- Trần Hải
- Trần Hạnh
- Trần Hậu
- Trần Hoài Anh
- Trần Hoài Thư
- Trần Hoàng Phố
- Trần Hoàng Trúc
- Trần Hoàng Vy
- Trần Hùng
- Trần Huy Bích
- Trần Huy Mẫn
- Trần Huy Minh Phương
- Trần Huy Quang
- Trần Huyền Sâm
- Trần Huỳnh Duy Thức
- Trần Hữu Dũng
- Trần Hữu Khánh
- Trần Hữu Quang
- Trần Hữu Tá
- Trần Hữu Thục
- Trần Khánh Triệu
- Trần Kiêm Đoàn
- Trần Kiêm Trinh Tiên
- Trần Kim Trắc
- Trần Kỳ Trung
- Trần Lam
- Trần Lê Hoa Tranh
- Trần Lê Sơn Ý
- Trần Lương
- Trần Lý Trí Tân
- Trần Mạnh Hảo
- Trần Mạnh Tuấn
- Trần Minh Phi
- Trần Minh Quốc
- Trần Mộng Tú
- Trần Nam Anh
- Trần Nam Bình
- Trần Ngân Hà
- Trần Nghi Hoàng
- Trần Ngọc Cư
- Trần Ngọc Hiếu
- Trần Ngọc Tuấn
- Trần Ngọc Vương
- Trần Nguyên Đán
- Trần Nhã Thụy
- Trần Nhương
- Trần Phong Giao
- Trần Phong Vũ
- Trần Quang Đức
- Trần Quang Lộc
- Trần Quốc Anh
- Trần Quốc Nam
- Trần Quốc Thuận
- Trần Quốc Toàn
- Trần Quốc Trọng
- Trần Quốc Vượng
- Trần Quyết Thắng
- Trân Sa
- Trần Song Hào
- Trần Thành
- Trần Thanh Ái
- Trần Thanh Cảnh
- Trần Thanh Huy
- Trần Thanh Vân
- Trần Thắng
- Trần Thế Vĩnh
- Trần Thị Băng Thanh
- Trần Thị Diệu Tâm
- Trần Thị Lai Hồng
- Trần Thị Lam
- Trần Thị NgH.
- Trần Thị Nguyệt Mai
- Trần Thị Phương Phương
- Trần Thị Thanh Thoả
- Trần Thị Thu Hoài
- Trần Thị Trường
- Trần Thiện Đạo
- Trần Thùy Mai
- Trần Tiến
- Trần Tiễn Cao Đăng
- Trần Tiến Dũng
- Trần Tiễn Khanh
- Trần Tố Nga
- Trần Trọng Dương
- Trần Trọng Thức
- Trần Trọng Vũ
- Trần Trung Chính
- Trần Trung Đạo
- Trần Tuấn
- Trần Từ Mai
- Trần Vàng Sao
- Trần Văn Chánh
- Trần Văn Chung
- Trần Văn Đỉnh
- Trần Văn Khê
- Trần Văn Minh
- Trần Văn Nam
- Trần Văn Thọ
- Trần Văn Thủy
- Trần Văn Tý
- Trần Vấn Lệ
- Trần Việt Hà
- Trần Viết Ngạc
- Trần Vinh Dự
- Trần Vũ
- Trần Vũ Hải
- Trần Vương Thuấn
- Trần Vương Thuận
- Trần Wũ Khang
- Trần Xuân Hoài
- Trần Xuân Kiêm
- Trần Xuân Linh
- Trần Xuân Lĩnh
- Trần Xuân Thảo
- Trần Ý Dịu
- Trần Yên Hòa
- Trần Yên Nguyên
- Trên
- Trên Facebook
- Trên Facebook/Minds
- Trên kệ sách
- Trên trang diaCRITICS
- Trí Hiệu Dân
- Triều Anh
- Triều Hoa Đại
- Triêu Nhan
- Triều Sơn
- Triệu Tử Dương
- Trịnh Anh Tuấn
- Trịnh Bá Phương
- Trịnh Bách
- Trịnh Cao Hòa Thanh
- Trịnh Chu
- Trịnh Công Sơn
- Trịnh Cung
- Trịnh Duy Kỳ
- Trịnh Hữu Long
- Trịnh Kim Tiến
- Trịnh Lữ
- Trịnh Minh Tuấn
- Trịnh Sơn
- Trịnh Thanh Thủy
- Trịnh Thu Tuyết
- Trịnh Vĩnh Phúc
- Trịnh Xuân Thuận
- Trịnh Xuân Thủy
- Trịnh Y Thư
- Trọng Anh
- Trọng Phú
- Trọng Thành
- Tru Sa
- Trúc Giang
- Trúc Thông
- Trúc Ty
- Trump
- Trung Bảo
- Trung Dũng Kqd
- Trung Dũng Kqđ
- Trùng Dương
- Trung Đào
- Trung Trung Đỉnh
- Trư Sa
- Trường An
- Trương Anh Ngọc
- Trương Anh Thụy
- Trương Chính
- Trương Duy Nhất
- Trương Đăng Dung
- Trương Điện Thắng
- Trương Đình Phượng
- Trương Hồng Quang
- Trương Huy San
- Trường Minh
- Trương Ngọc Chương
- Trương Nguyên
- Trương Nguyện Thành
- Trương Nhân Tuấn
- Trương Phượng
- Trương Quang
- Trương Quang Đệ
- Trương Quang Nhuệ
- Trương Quang Vĩnh
- Trương Thanh Thuận
- Trương Thị An Na
- Trương Thị Ngọc Hân
- Trương Thiên Phàm
- Trương Thu Hiền
- Trương Tố Hoa
- Trương Trọng Nghĩa
- Trương Tửu
- Trương Văn Dân
- Trương Văn Vĩnh
- Trương Vũ
- Trương Xuân Thiên
- Tú Mỡ
- Tù Quốc Hoài
- Tù Sâm
- Tú Trung Hồ
- Tuấn Duy
- Tuấn Khanh
- Tuân Nguyễn
- Tuấn Thảo
- Tuệ Anh
- Tuệ Đăng
- Tuệ Nguyên
- Tuệ Nhân
- Tuệ Nhật
- Tuệ Sĩ
- Tuệ Sỹ
- Tùng Dương Cola
- Tung Nguyen
- Turner
- Túy Hồng
- Tuyết Nghi
- Tư
- Từ Dung
- Tư liệu
- Tử Linh
- Từ Mai Trần Huy Bích
- Từ Quốc Hoài
- Từ Sâm
- Từ Thức
- Tưởng
- Tương Lai
- Uejima Onitsura
- Umberto Eco
- Uông Tăng Kỳ
- Uông Triều
- Uyển Ca
- Uyên Nguyên
- Uyên Nguyễn
- Uyên Thao
- Uyên Vũ
- V. Erofiev
- Vàng A Giang
- Varlam Shalamov
- Vasco Gargalo
- Vasily Makarovich
- Vasyl Stus
- Văn
- Văn Biển
- Văn Cao
- Văn Chinh
- Văn Công Hùng
- Văn Giá
- Văn học
- Văn học Miền Nam 54-75
- Văn Như Cương
- Văn Quang
- Văn Tâm
- Văn Văn Của
- Văn Việt
- Văn;
- Văn.
- Vấn đề hôm nay
- Vận Động Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội 2016
- Vân Hạ
- Vân Phi
- Velcrow Ripper
- Veronica Melkozerova
- Vi Lãng
- Vi Trần
- Vi Yên
- Viet Thanh Nguyen
- Viên Linh
- Việt Bách
- Việt Bình
- Việt Dzũng
- Việt Khang
- Việt Lang
- Việt Phương
- Viktor Astafyev
- Viktor Maslov
- Vinh Anh
- Vĩnh Điện
- Vĩnh Hảo
- Vĩnh Quyền
- Virginia Heffernan
- Virginia Woolf
- Vladimir Nabokov
- Vladimir Voronov
- Võ An Đôn
- Võ Anh Minh
- Võ Anh Thơ
- Võ Bá Cường
- Võ Đắc Danh
- Võ Định Hình
- Võ Đức Phúc
- Võ Hồng
- Võ Huy Tâm
- Võ Hương Quỳnh
- Võ Kỳ Điền
- Võ Ngàn Sông
- Võ Phiến
- Võ Thị Hảo
- Võ Thị Thu Hằng
- Võ Tiến Cường
- Võ Tòng Xuân
- Võ Trí Hảo
- Võ Văn Quản
- Võ Văn Tạo
- Võ Văn Thôn
- Võ Xuân Quế
- Võ Xuân Sơn
- Volker Weidermann
- Volodymyr Vynnychenko
- Volodymyr Zelenskyy
- Vũ
- Vũ Bằng
- Vũ Biện Điền
- Vũ Cao Đàm
- Vũ Cát Tường
- Vũ Đình Hòe
- Vũ Đình Huỳnh
- Vũ Đình Liên
- Vũ Đình Phòng
- Vũ Đức Khanh
- Vũ Đức Phúc
- Vũ Đức Sao Biển
- Vu Gia
- Vũ Hà Văn
- Vũ Hạnh
- Vũ Hoàng Chương
- Vũ Hoàng Thư
- Vũ Hồng Ánh
- Vũ Huy Ngọc
- Vũ Huy Quang
- Vũ Khắc Hoè
- Vũ Khắc Khoan
- Vũ Kim Hạnh
- Vũ Kim Thu
- Vũ Lâm
- Vũ Lập Nhật
- Vũ My Lan
- Vũ Ngọc Giao
- Vũ Ngọc Hoàng
- Vũ Ngọc Tâm
- Vũ Ngọc Tiến
- Vũ Nho
- Vũ Oanh
- Vũ Quang Việt
- Vũ Quí Hạo Nhiên
- Vũ Quốc Ngữ
- Vũ Quỳnh Hương
- Vũ Quỳnh Nh.
- Vũ Thành Sơn
- Vũ Thanh Tâm
- Vũ Thanh Tùng
- Vũ Thành Tự Anh
- Vũ Thế Khôi
- Vũ Thị Hải
- Vũ Thị Nhuận
- Vũ Thị Phương Anh
- Vũ Thị Phương Lan
- Vũ Thị Thanh
- Vũ Thị Thanh Mai
- Vũ Thư Hiên
- Vũ Tiến Lập
- Vũ Trọng Khải
- Vũ Trọng Phụng
- Vũ Tuấn Hoàng
- Vũ Từ Trang
- Vũ Tường
- Vũ Viết Tuân
- Vũ Xuân Tửu
- Vương Bích Ngọc
- Vương Đan
- Vương Hỗ Ninh
- Vương Huy
- Vương Ngọc Minh
- Vương Tiểu Nhị
- Vương Trí Nhàn
- Vương Trọng
- Vương Trùng Dương
- Vương Trung Hiếu
- Vy Thảo
- W. H. Auden
- Wa Praong
- Walt Whitman
- Walter Isaacson
- Wayne Karlin
- Wells
- Wendy Barker
- Wiesiek Powaga
- Wilhelm Schmid
- Will Nguyen
- William Carlos Williams
- William Nee
- William Stafford
- William Stanley Merwin
- Winston Phan Đào Nguyên
- Wislawa Szymborska
- Władysław Reymont
- Wolf Biermann
- Wolfgang Borchert
- Wynn Gadkar Wilcox
- Xì Trum
- Xie Tao
- Xuân Ba
- Xuân Diệu
- Xuân Dương
- Xuân Đài
- Xuân Minh
- Xuân Phượng
- Xuân Sách
- Xuân Thọ
- Xuân Vũ
- Xương Văn
- Y Chan
- Ỷ Lan
- Ý Nhi
- Y Uyên
- Yanis Varoufakis
- Yasmine M’Barek
- Yevgeny Yevtushenko
- Yên Ba
- Yên Khắc Chính
- Yến Năng
- Yên San
- Yên San Thụy Miên
- Yên Thao
- Yiyun Li
- Yoko Ogawa
- Yōko Ogawa
- Yoko Tawada
- Yosano Akiko
- Young Sang Lee
- Yuliya Ilchuk
- Yuno Bigboi
- Yves Sintomer
- Yvette Tan
- Zac Herman
Một lá cờ hiệu đỏ và một chiếc rìu chờ đến giờ của nó (trích “Kết thúc của con người đỏ”)
Svetlana Alexievitch
Nguyên Ngọc dịch
Người mẹ
Aaaah… Tôi không thể chịu được nữa! Điều cuối cùng tôi nhớ, là một tiếng kêu. Ai đã kêu lên? Tôi không biết. Tôi, hay bà hàng xóm của tôi, bà đã nghe mùi hơi đốt trên chiếu nghỉ. Chính bà đã gọi cảnh sát. (Bà đứng dậy và đến gần cửa sổ.) Ấy là vào mùa thu. Cách đây không lâu, tất cả đã ngả vàng… Bây giờ thì mọi thứ đã đen, vì mưa. Ngay cả ban ngày, cứ như ánh sáng còn xa, rất xa, mới buổi sáng trời đã tối sầm. Ở nhà, tôi bật tất cả đèn lên, và để vậy suốt ngày. Tôi không bao giờ có đủ ánh sáng. (Bà trở lại và ngồi xuống cạnh tôi.)
… Tôi bắt đầu bằng cách nghĩ là tôi đã chết. Khi còn nhỏ, tôi đã thấy nhiều người chết, rồi tôi đã quên… (Bà lau nước mắt.) Tôi tự hỏi vì sao tôi khóc. Tôi đã biết tất cả về cuộc đời mình, tôi biết nó… Trong giấc mơ của tôi, đầy những con chim đảo tròn bên trên tôi. Chúng va vào cửa sổ. Tôi thức dậy với cảm giác có ai đó ở đầu giường tôi. Ai đó đứng ở đấy. Tôi muốn quay đầu lại để xem là ai… Và một thứ nỗi sợ, linh cảm không nên làm thế. Bị cấm. (Bà dừng lời.) Nhưng đấy không phải là điều tôi muốn nói… Không phải ngay bây giờ. Bà bảo tôi kể về tuổi thơ của tôi. (Bà vùi mặt vào hai bàn tay.) Thế này. Tôi nghe một mùi rất êm dịu, mùi của đất mẹ, đất mẹ ghẻ… Tôi thấy những ngọn núi, và một cái tháp canh bằng gỗ với một người lính ở trên đó, mùa đông thì mặc áo lót lông thú, mùa hè áo khoác. Và những chiếc giường sắt, đầy giường sắp hàng cạnh nhau… Trước đây tôi có cảm giác nếu tôi kể điều đó cho ai, tôi sẽ muốn trốn người ấy, không bao giờ gặp lại nữa. Quá ư riêng tư, tất cả những cái ấy… Đã chôn vùi rất sâu, ở nơi sâu nhất trong tôi… Tôi chưa bao giờ sống một mình, tôi đã lớn lên trong một trại giam ở Kazakhstan, nó có tên là Karlag, rồi sau trại, là ở khu an trí. Trong một trại mồ côi, rồi trong một trung tâm, và sau đó ở một nhà cộng đồng… Luôn luôn có những thân thể ở quanh tôi, nhiều đôi mắt. Tôi chỉ có một ngôi nhà cho riêng tôi năm bốn mươi tuổi. Khi chồng tôi và tôi, chúng tôi nhận một căn hộ hai phòng, các con tôi đã lớn. Tôi đã quen cuộc sống ở trung tâm, tôi đập cửa các nhà láng giềng để vay bánh mì, muối, diêm, họ không thích tôi về chuyện đó. Nhưng tôi chưa bao gờ sống một mình, và không thể quen được với chuyện ấy… Và tôi lại luôn thích nhận được thư. Tôi chờ thư. Đến giờ vẫn thế… Một trong những người bạn gái của tôi đã đi sang chỗ con gái bà ở Israel, bà viết thư cho tôi, hỏi những gì đã xảy ra bên này, cuộc sống sau chủ nghĩa xã hội ra sao… Cuộc sống thế nào ư? Chuyện là, khi người ta đi trên một phố ta đã biết, chỉ còn thấy những cửa hàng Pháp, Đức, Ba Lan. Tất cả đều được viết bằng tiếng nước ngoài. Tất, áo sơ mi, giày bốt, mọi thứ đều nhập từ nước ngoài… Bánh quy và xúc xích nhập khẩu… Không tìm thấy chút gì là xô viết nữa. Ở đâu tôi cũng nghe nói đi nói lại đời là một trận đánh, trong đó kẻ mạnh thắng người yếu, rằng đấy là quy luật của tự nhiên. Phải tự mọc lấy sừng và móng, tự làm ra một lớp giáp, kẻ yếu thì chẳng ai cần đến. Ở đâu cũng vậy, phải chen lấn, phải chiến đấu. Là chủ nghĩa phát xít! Là chữ thập ngoặc! Tôi, tôi ở trong trang thái bị sốc… và tuyệt vọng. Thế giới này không phải là thế giới của tôi. Ở đây, tôi không ở nhà tôi. (Bà im lặng.) Chỉ mong sao tôi có ai đó bên tôi… Chồng tôi ư? Ông ấy đã bỏ tôi. Tuy nhiên, tôi yêu ông (Đột nhiên, bà cười.) Chúng tôi cưới nhau vào mùa xuân, anh đào dại đang ra hoa và hoa đinh thì làm nụ. Và ông ra đi vào mùa xuân. Nhưng ông đến thăm tôi… Ông đến thăm tôi trong các giấc mơ của tôi, ông không thể nói với tôi lời vĩnh biệt… Ông nói với tôi, ông nói với tôi điều gì đó… Nhưng ban ngày, im lặng khiến tôi điếc và mù… Quá khứ, với tôi, nó như một con người, một sinh linh sống…Tôi nhớ, khi tạp chí Novy Mir đăng Một ngày của Ivan Denissovitch của Soljénitsyne, mọi người đều đọc. Tất cả đều bàng hoàng. Người ta chỉ nói đến chuyện đó. Tôi, tôi không hiểu vì sao cái đó khiến họ quan tâm đến thế, tại sao họ ngạc nhiên như vậy. Tôi đã quen với tất cả những cái đó. Là hoàn toàn bình thường đối với tôi… Những người bị giam ở các trại tập trung, chuồng phân. Và khu vực[1]…
… Bố tôi bị bắt năm 1937, ông làm việc trong ngành hỏa xa. Mẹ tôi chạy khắp nơi, bà làm vung cả trời đất lên để chứng minh ông không có tội, đấy là một nhầm lẫn. Tôi, bà đã quên mất tôi. Khi bà nhớ đến sự tồn tại của tôi và bà muốn loại bỏ tôi đi, thì đã muộn. Bà đã nuốt đủ thứ tệ hại nhất, bà đã tắm nước bỏng… Và tôi đã được sinh ra trước hạn. Nhưng tôi đã sống sót. Tôi không biết vì sao, nhưng tôi đã thoát hiểm nhiều lần. Khối lần! Rồi mẹ tôi cũng bị bắt, và cả tôi, người ta không thể bỏ tôi một mình trong nhà, tôi bốn tháng tuổi. Mẹ tôi đã có đủ thời gian gửi hai chị tôi về quê, ở nhà một người dì, nhưng chúng tôi nhận được một giấy triệu tập của NKVD[2], và phải đưa các chị trở về Smolensk. Các chị bị bắt giữ khi vừa xuống tàu. “Bọn trẻ sẽ vào trại mồ côi. Có thể chúng sẽ trở thành Thanh niên Cônsômôn[3].” Thậm chí họ không cho chúng tôi địa chỉ của các chị. Khi chúng tôi gặp lại, các chị đã có chồng, có con… nhiều năm sau, rất nhiều năm sau… Ở trại, tôi sống với mẹ cho đến ba tuổi. Mẹ kể rằng những đứa trẻ ít tuổi thường chết. Mùa đông, người ta xếp những đứa trẻ chết trong những thúng tô nô lớn, và chúng nằm đó cho đến mùa xuân. Chúng bị chuột ăn. Mùa xuân, người ta chôn chúng… Người ta chôn những gì còn lại. Đến ba tuổi, những đứa trẻ bị tách khỏi mẹ và đưa vào những lán riêng. Các ký ức của tôi bắt đầu từ bốn tuổi… không, đúng hơn là năm. Đấy là những hình ảnh… Buổi sáng, qua dây thép gai, chúng tôi nhìn thấy các mẹ của chúng tôi bị điểm danh trước khi được đưa đi lao động ở bên ngoài khu vực, nơi chúng tôi không được phép đến. Khi người ta hỏi tôi: “Cháu từ đâu đến, cháu bé?”, tôi trả lời: “Từ khu vực”. Bên ngoài khu vực, là một thế giới khác, một cái gì đó không thể hiểu và khủng khiếp không tồn tại đối với chúng tôi. Sa mạc, cát, stipa[4] khô. Tôi tưởng sa mạc ấy lan đến vô tận, đến chân trời, và không có thế giới nào khác thế giới của chúng tôi. Những người lính của chúng ta canh giữ chúng tôi, và chúng tôi tự hào về họ. Họ có những ngôi sao trên mũ… Tôi có một người bạn, Roubik Tsirinski. Cậu ấy dẫn tôi đi thăm các mẹ bằng cách chui qua một lỗ trong dây thép gai. Trong khi những người khác sắp hàng để đi đến căng tin, chúng tôi nấp sau cửa. Roubik hỏi tôi: “Cậu không thích kacha[5] sao?”. Lúc nào tôi cũng đói và tôi thích kacha, nhưng tôi sẵn sàng làm tất cả để được gặp mẹ. Và chúng tôi lẻn vào lán của các mẹ. Lán trống, các mẹ đi lao động. Chúng tôi biết, nhưng cứ đi, và tôi ngửi mọi thứ. Những chiếc giường sắt, thùng tô nô bằng sắt để đựng nước uống, cái cốc ở đầu một dây xích… Mọi thứ đều có mùi của các mẹ… Chúng có mùi đất và mùi mẹ. Có những lần, chúng tôi gặp vài bà nằm, các bà ho. Một bà khạc ra máu. Roubik nói với tôi đó là mẹ của Tomotchka, đứa bé nhất trong chúng tôi. Bà mẹ ấy đã chết sau đó ít lâu. Rồi chính Tomotchka cũng chết, và rất lâu tôi tự nhủ phải nói chuyện đó với ai. Vì mẹ nó đã chết, cả nói nữa. (Bà im lặng.) Khi tôi kể lại cho mẹ nhiều năm sau, bà không tin. “Nhưng con mới bốn tuổi thôi mà!” Tôi nói với mẹ là bà ấy đi giày bằng vải đánh xi gót gỗ, và bà làm những thứ áo lớn với những mẩu vải. Điều ấy cũng khiến mẹ ngạc nhiên, và bà khóc. Tôi nhớ… Tôi nhớ mùi miếng dưa tây không lớn hơn chiếc cúc quần bà mang đến cho tôi gói trong một mảnh giẻ. Và cái lần bọn con trai gọi tôi để chơi với một con mèo, và tôi không biết đó là cái gì. Có ai đấy đã mang nó ở ngoài về bởi vì ở trong khu vực không có mèo. Chúng không sống sót được vì không có mẩu thức ăn thừa nào, người ta nhặt tất. Lúc nào người ta cũng nhìn xuống đất để tìm một thứ gì đó ăn được. Người ta ăn cỏ, vỏ cây, người ta liếm những hòn sỏi. Chúng tôi rất muốn cho con mèo một thứ gì đó ngon, chúng tôi chẳng có gì cả, chúng tôi bèn nuôi nó bằng nước miếng của chúng tôi sau bữa ăn, và nó ăn cái ấy! Nó ăn cái ấy… Tôi cũng nhớ ngày mẹ muốn cho tôi một cái kẹo. “Này, Ania, mẹ có một cái kẹo cho con!”, bà nói qua hàng rào dây thép gai. Bọn gác đẩy lui bà, bà ngã xuống… và chúng nắm lấy mái tóc đen dài của bà mà kéo bà trên mặt đất… Tôi khiếp sợ, tôi không có chút ý nghĩ thế nào là một cái kẹo. Không đứa nào trong chúng tôi biết nó thế nào. Tất cả chúng tôi đều sợ, những đứa khác hiểu rằng phải giấu tôi đi, và chúng đã đẩy tôi vào giữa. Bao giờ chúng cũng để tôi ở giữa… “Ania của bọn mình không đứng nổi trên đôi chân.” (Bà khóc.) Tôi không hiểu vì sao tôi khóc… Tôi đã biết tất cả chuyện đó… Tôi biết nó, cuộc đời tôi… Thôi, được… Tôi đang nói gì nhỉ? Tôi chưa xong những gì tôi muốn nói…
Những nỗi sợ, chúng tôi có rất nhiều, những nỗi sợ lớn và nhỏ… Chúng tôi sợ lớn lên, chúng tôi sợ đến năm tuổi. Đến năm tuổi, người ta đưa chúng tôi vào trại mồ côi, và chúng tôi biết là rất xa. Rất xa các mẹ… Tôi, tôi nhớ người ta đã đưa tôi vào trại số 8, ấp số 5. Ở trên ấy, toàn là số, và thay vì các đường, là các dãy. Dãy một, dãy hai… Người ta đưa chúng tôi lên một xe tải và mang chúng tôi đi. Các bà mẹ chạy theo sau, các bà bám lên lá chắn thành xe, các bà hét lên, các bà khóc. Tôi nhớ lúc nào các bà mẹ cũng khóc, còn trẻ con thì hiếm khi. Chúng tôi không bao giờ làm những chuyện thất thường và bậy bạ. Chúng tôi không cười. Chỉ ở trại mồ côi tôi mới học khóc. Ở đấy, họ đánh chúng tôi rất nhiều. Họ nói với chúng tôi: “Chúng mày, có thể cho chúng mày ăn đòn, thậm chí giết chúng mày, vì mẹ chúng mày là những kẻ thù!”. Còn bố chúng tôi, chúng tôi không biết các ông. “Mẹ mày là một con đàn bà độc ác!”. Tôi nhớ mặt cái bà cứ nói đi nói lại mãi câu đó. “Mẹ cháu tốt! Mẹ cháu đẹp! – Mẹ mày ác. Bà ấy là kẻ thù của chúng ta!”. Tôi không nhớ rõ có thật bà ấy nói từ “giết” không, nhưng là một thứ gì đó như thế… Những từ loại đó. Những từ khủng khiếp. Thậm chí tôi sợ nhớ những từ ấy. Chúng tôi không có những nhà giáo dục cũng không có các cô giáo, chúng tôi không biểt các từ ấy, chúng tôi có các bà chỉ huy. Bao giờ họ cũng cầm những chiếc thước dài trong tay, họ đánh chúng tôi để phạt chúng tôi, hay chỉ thế thôi, chẳng vì chuyện gì hết… Tôi muốn họ đánh tôi cho đến khắp người chỉ còn là lỗ và họ thôi cho tôi ăn đòn. Tôi không có lỗ, mà ngược lại toàn những mụn mủ. Tôi thích thế… Bạn tôi là Oletchka có những cái đinh ghép xương bằng kim loại trong cột sống nên người ta không được quyền đánh nó. Ai cũng thèm được như nó… (Bà nhìn rất lâu ra cửa sổ.) Tôi chưa bao giờ nói chuyện này với ai. Tôi sợ. Sợ gì? Tôi không biết… (Bà trở nên trầm tư.) Chúng tôi rất thích ban đêm. Cứ muốn vội cho đến đêm. Một đêm đen, thật đen. Đêm, Frossia canh chúng tôi. Bà tốt, bà kể cho chúng tôi chuyện tiên, chuyện cô bé quàng khăn đỏ, trong túi bà bao giờ cũng có những hạt lúa mì mà bà phát cho những đừa nào khóc. Lila là đứa khóc nhiều hơn cả, nó khóc buổi sáng, buổi tối. Chúng tôi đứa nào cũng có ghẻ và những cái nhọt to tướng trên bụng, nhưng Lila có những mụn rộp dưới cánh tay, chúng đầy mủ và chúng vỡ ra. Tôi nhớ bọn trẻ con tố giác lẫn nhau, người ta khuyến khích chúng làm chuyện đó. Lila là đứa báo cáo nhiều hơn cả… Khí hậu Kazakhstan khắc nghiệt, mùa đông dưới bốn mươi, mùa hè trên bốn mươi. Lila chết vào mùa đông. Giá mà nó sống được tới những ngọn cỏ đầu tiên… Mùa xuân, nó sẽ không chết. Nó không… (Bà không nói hết được câu.)
Ở lớp, người ta chủ yếu dạy chúng tôi yêu đồng chí Stalin. Bức thư đầu tiên của tôi, là tôi viết cho ông, ở Kremlin. Chuyện diễn ra thế này: chúng tôi vừa biết viết, người ta phát cho chúng tôi những tờ giấy trắng, và người ta đọc cho chúng tôi viết cho Người Dẫn đường kính yêu của chúng ta. Chúng tôi rất yêu ông, chúng tôi tin chắc ông sẽ trả lời chúng tôi, và gửi quà cho chúng tôi. Đầy những quà! Chúng tôi ngắm ảnh ông, chúng tôi thấy ông thật đẹp! Người đẹp nhất trên trái đất. Chúng tôi thậm chí tranh nhau xem đứa nào được hiến bao nhiêu năm của đời mình cho chỉ một ngày sống của ông. Ngày 1 tháng Năm, người ta phát cho chúng tôi những lá cờ hiệu đỏ, và chúng tôi vừa diễu hành vừa phất cờ vui vẻ. Vì tôi là đứa bé nhất, tôi đi cuối hàng, và tôi luôn sợ sẽ không đủ cờ hiệu. Lúc nào người ta cũng lặp lại với chúng tôi: “Mẹ của các cháu, là Tổ quốc!”. Và chúng tôi hỏi những người lớn chúng tôi gặp: “Mẹ tôi ấy, ở đâu?”. Chẳng ai biết… Bà mẹ đầu tiên đến, là mẹ của Melnikova. Bà có giọng rất tuyệt, bà hát cho chúng tôi những bài hát ru: “Ngủ đi, con xinh của mẹ, ngủ đi! Đèn đã tắt, cửa không còn kêu, con chuột đã ngủ sau lò sưởi…”. Chúng tôi không biết những bài hát ru, và bài hát ấy đã khắc vào tâm trí chúng tôi. Chúng tôi nói với bà: “Nữa đi, hát nữa đi!”… Tôi nhớ khi bà ngưng hát, tất cả chúng tôi đã ngủ. Bà nói với chúng tôi rằng các mẹ của chúng tôi rất tốt, rẩt đẹp. Rằng tất cả các bà mẹ đều đẹp. Rằng tất cả các bà đều hát bài hát đó. Vậy nên chúng tôi chờ mẹ của chúng tôi… Rồi, nỗi thất vọng thật kinh khủng. Bà đã nói dối. Các bà mẹ khác đã đến. Họ xấu, bệnh tật, họ không biết hát. Và chúng tôi khóc… chúng tôi khóc nức nở. Không phải vì niềm vui được gặp mẹ, mà vì thất vọng. Từ đó, tôi ghét những lời nói dối. Tôi không thích những giấc mơ. Không nên an ủi chúng tôi bằng những lời nói dối. Không nên nói dối chúng tôi, nói với chúng tôi: mẹ cháu vẫn sống, mẹ cháu không chết. Sau đó, chúng tôi khám phá ra bà không đẹp, hay chúng tôi không hề có mẹ…
Chúng tôi rất im lặng. Tôi không nhớ những cụộc trò chuyện của chúng tôi. Tôi chỉ nhớ những tiếp xúc vật chất. Khi bạn Valia Knorina chạm vào tôi, tôi biết nó nghĩ gì, bởi vì chúng tôi đều suy nghĩ về cùng một thứ. Chúng tôi biết về nhau những chuyện rất riêng tư: đứa nào đái dầm trên giường, đứa nào la hét trong giấc ngủ, đứa nào nói đớt. Tôi, tôi không ngừng lấy thìa đẩy một chiếc răng lên. Bốn mươi cái giường sắt trong cùng một phòng… Buổi tối, người ta bảo chúng tôi: “Tay chắp lại đặt dưới má! Tất cả quay sang phải!”. Chúng tôi phải chấp hành cùng một lúc. Cùng nhau. Chúng tôi hợp thành một cộng đồng, có thể là một cộng đồng súc vật, cộng đồng những con gián, nhưng chúng tôi đã được nuôi lớn lên như thế đó… (Bà quay sang phía cửa sổ để tôi không nhìn thấy được mặt bà.) Đêm, khi đã đi nằm, chúng tôi bắt đầu khóc. Tất cả cùng nhau. “Những người mẹ tốt của chúng tôi đã đến…”. Một đứa con gái nói: “Mình không yêu mẹ mình! Tại sao bà không đến thăm mình?”. Tôi cũng thế, tôi giận mẹ. Và buổi sáng chúng tôi đồng ca: (Bà hát.)
Nắng dịu dàng
Âu yếm tường Kremlin cổ.
Đất nước rộng lớn chúng ta thức dậy
Trong dịu êm ban mai…
Một bài hát hay. Cho đến hôm nay, tôi còn thấy hay.
Ngày lễ ưa thích của chúng tôi, là Mồng một tháng Năm. Ngày hôm đó, người ta phát cho chúng tôi váy và áo khoác mới. Tất cả giống hệt nhau. Thế là chúng tôi cố chiếm hữu, chúng tôi làm một dấu hiệu nhỏ, dù chỉ là một cái nút thắt hay một nếp gấp, để chứng tỏ là của chúng tôi… là một phần của chúng tôi. Người ta bảo chúng tôi gia đình của chúng tôi, ấy là Tổ quốc, rằng nó nghĩ đến chúng tôi. Trước mặt bọn trẻ con sắp hàng trong sân, người ta kéo lên một lá cờ đỏ lớn và người ta đánh trống. Một lần, có một vị tướng đến chúc mừng chúng tôi. Thật tuyệt! Đối với chúng tôi, tất cả mọi người chia thành binh lính và sĩ quan, và ông này là một vị tướng! Với những cái sọc trên quần. Chúng tôi đã trèo lên bục cửa sổ để nhìn ông ngồi trong chiếc xe của ông và vẫy tay từ giã chúng tôi. “Cậu có biết thế nào là một ông bố không?”. Một buổi tối Valia Knorina hỏi tôi. Tôi không biết. Nó cũng không biết. (Bà im lặng.) Có Stiopka… Nó tự ôm ghì lấy mình bằng chính hai cánh tay nó và khiêu vũ trong hành lang như đang nhảy với ai đó. Nó tự nhảy với chính nó. Người ta thấy kỳ, nhưng nó, nó chẳng chú ý đến ai. Rồi một buổi sáng, nó chết, nó không ốm, và nó chết, đột ngột. Chúng tôi đã nghĩ đến nó rất lâu… Người ta bảo nó là con một cán bộ quân sự lớn, cũng là một vị tướng. Sau đó, tôi cũng vậy, tôi bắt đầu có mấy mụn rộp dưới cánh tay, khi chúng vỡ ra, rất đau đến nỗi tôi khóc. Igor Koroliov đã ôm tôi trong một cái tủ hốc tường. Chúng tôi học lớp sáu. Rồi tôi lành, tôi đã thoát ra được. Thêm một lần nữa… (Giọng bà vỡ ra. Bà gần như thét lên.) Bà nghĩ rằng ngày nay có ai quan tâm đến chuyện đó. Ai, nào? Cho tôi biết là ai? Đã từ lâu chẳng còn ai quan tâm đến chuyện đó, người ta cóc cần. Đất nước chúng ta không còn tồn tại và sẽ không bao giờ còn tồn tại, nhưng chúng tôi, chúng tôi vẫn mãi ở đó… Già cỗi, gớm ghiếc… Với những ký ức kinh tởm và những đôi mắt của những con thú bị săn đuổi của chúng tôi… Chúng tôi tồn tại! Còn lại chút gì của quá khứ chúng ta? Đúng là Stalin đã tưới máu đất này, là Khroutchev đã trồng ngô trên đó, và mọi người đã chế nhạo Brejnev. Còn những người anh hùng của chúng ta? Bây giờ trong các báo người ta nói rằng Zoïa Kosmodemianskaïa[6] bị chứng tâm thần phân lập do bệnh viêm màng não co thắt hồi bé, và rằng đấy là một cơn xung động đốt nhà. Một người bệnh tâm thần. Rằng Alexandre Matrossov đã lao mình vào trước mũi súng liên thanh của kẻ thù không phải để cứu các đồng chí của anh, mà do say rượu. Và Pavel Kortchaguine[7] không còn là một người anh hùng... Đấy là những ôn binh xô viết! (Bà hơi bình tĩnh lại.) Tôi, tôi vẫn tiếp tục mơ về trại. Hôm nay nữa, tôi vẫn không thể nhìn thấy một con chó béc giê Đức mà không run. Tôi sợ những người mặc quân phục… (Nói trong nước mắt.) Tôi không thể chịu được nữa… Tôi đã mở hơi đốt, tôi đã mở bốn vòi. Tôi đóng các lá cửa con, tôi kéo màn lại. Tôi chẳng còn có gì… có gì khiến tôi sợ chết… (Bà im lặng.) Khi người ta còn có một cái gì đó níu giữ mình lại… Như mùi một đứa trẻ, chẳng hạn… Tôi thậm chí không có cây dưới các cửa sổ của tôi, chỉ có các mái nhà… (Bà im lặng.) Tôi đã đặt một bó hoa trên bàn, tôi mở đài… Tôi thấy tôi ở dưới đất, tôi nằm trên mặt đất… và vẫn nghĩ đến một cái trại… Tôi vượt qua cửa, một cái cửa bằng sắt, và nó rít lên khi đóng lại sau lưng tôi. Tôi tự do, người ta đã thả tôi. Tôi bước đi tự nhủ đi nhủ lại không được nhìn lại phía sau. Tôi sợ đến chết có ai đó chạy theo tôi và bắt tôi trở lại. Phải trở lại nơi đó. Được mấy bước, tôi thấy một cây bạch dương bên đường. Một cây bạch dương bình thường… Tôi chạy đến nó, tôi ôm chặt nó trong hai tay tôi. Năm đầu tiên, mọi thứ đều làm tôi hạnh phúc đến thế! (Bà im lặng hồi lâu.) Một người láng giềng nghe mùi hơi đốt… Cảnh sát đã phá cửa… Tôi tỉnh lại ở bệnh viện, và ý nghĩ đầu tiên của tôi là: “Tôi đang ở đâu”. Trại giam? Cứ như là tôi không bao giờ có một cuộc đời khác, cứ như tôi không hề biết có cái khác. Trước tiên là các tiếng động trở lại và sau đó, tôi cảm thấy đau… Tất cả đều làm tôi đau: một chút cử động, thở, động bàn tay, mở mắt. Thế giới, là cơ thể tôi. Rồi, thế giới ấy lớn lên, nó được kéo giãn lên cao; tôi thấy một nữ y tá mặc bờ lu trắng, trần nhà trắng… Rất lâu tôi mới trở lại được. Bên cạnh tôi có một cô gái trẻ đang hấp hối, mấy ngày cô mới chết, người cô đầy những ống, cô có một ống ở trong miệng, cô thậm chí không thể kêu lên. Người ta đã không cứu được cô, tôi không biết vì sao. Tôi nhìn những cái ống ấy, và tôi hình dung chi tiết tất cả… Thế đấy, tôi nằm ở đấy… Tôi chết… Nhưng tôi không biết là tôi đã chết và tôi không tồn tại nữa. Tôi đã đi sang bên kia… (Bà ngừng lời.) Bà đã chán chưa? Không chứ? Cứ nói với tôi đi. Tôi có thể im lặng…
Mẹ… Mẹ đã đến tìm tôi khi tôi học lớp năm. Bà đã ở trong một trại mười hai năm, chúng tôi sống chung ba năm, và người ta đã chia cách chúng tôi chín năm. Bà bị đưa đi an trí, và bà được phép mang tôi theo. Đấy là một buổi sáng… Tôi đi trong sân thì có ai đó gọi tôi: “Ania! Anietchka!”. Không có ai gọi tôi như thế, người ta không bao giờ gọi chúng tôi bằng tên tục. Tôi thấy một người đàn bà tóc đen, và tôi hét lên: “Mẹ!”. Bà siết tôi vào hai tay bà, và cả bà cũng hét lên: “Cứ tưởng như là cha con!”. Khi tôi còn nhỏ, tôi rất giống cha tôi. Hạnh phúc bao nhiêu! Bao nhiêu xúc động! Bao nhiêu niềm vui! Trong mấy ngày, đầu óc cứ quay cuồng lên, không bao giờ tôi còn cảm thấy được một hạnh phúc như thế! Bao nhiêu cảm xúc ấy... Nhưng rồi rất nhanh… Rất nhanh, rõ ra là chúng tôi chẳng hề hiểu nhau. Chúng tôi xa lạ với nhau. Tôi muốn nhanh chóng được vào đoàn thanh niên Cônsômôn để đấu tranh chống những kẻ thù vô hình đang muốn phá hủy cuộc sống tuyệt vời đến thế của chúng ta. Mẹ nhìn tôi mà khóc… Bà không nói gì cả. Lúc nào bà cũng sợ. Ở Karaganda người ta phát cho chúng tôi giấy tờ và gửi chúng tôi đến an trí ở thành phố Biélovo. Rất xa, quá cả Omsk rất xa. Tận cùng Sibérie… Chúng tôi mất một tháng mới đến nơi. Những cuộc đi tàu lửa, chờ, chuyển đường. Trên đường đi, chúng tôi trình diện với NKVD, và người ta đưa chúng tôi đi xa hơn nữa: cấm cư trú ở những vùng biên giới, gần những cơ sở quân sự, gần các thành phố lớn. Có cả một danh sách dài những nơi bị cấm. Cho tới hôm nay, tôi vẫn không thể chịu được khi nhìn thấy ánh sáng ở các cửa sổ, buổi tối. Đêm, người ta đuổi chúng tôi khỏi các nhà ga và chúng tôi đi trên các đường phố. Những cơn lốc thốc tuyết, một cái lạnh tê người. Trong các nhà người ta thắp đèn, có những con người được sưởi ấm, người ta uống trà. Phải đập cửa thôi… Đấy là chuyện kinh khủng nhất… Không ai muốn cho chúng tôi trú qua đêm. Mẹ tôi bảo: “Chúng ta bốc mùi trại giam” (Bà khóc mà thậm chí không biết.) Ở Biélovo, chúng tôi ở nhà dân, trong một cái hầm đào ngầm dưới mặt đất. Sau đó chúng tôi lại ở trong một hầm khác, nhưng lần này, là chúng tôi ở nhà của chúng tôi. Tôi mắc bệnh lao, tôi yếu đến nỗi không đứng được trên hai chân mình, tôi có những cơn ho khủng khiếp. Tháng Chín… Là mùa tựu trường, nhưng tôi không thể bước đi. Tôi nằm nhà thương. Tôi nhớ ở nhà thương, lúc nào cũng có một ai đó chết. Sonia, Vania, Slavik… Những người chết không làm tôi sợ, nhưng tôi không muốn chết. Tôi thêu rất giỏi, tôi cũng vẽ, mọi người đều khen tôi: “Cháu thật có khiếu, cháu phải tiếp tục đi…”. Và tôi tự nhủ: “Vậy thì tại sao tôi phải chết?”. Và tôi khỏi bệnh, tôi không biết do phép lạ nào… Một hôm tôi mở mắt, và tôi thấy một cành anh đào dại trên chiếc tủ đầu giường của tôi. Tôi không biết ai đã mang nó đến, nhưng tôi hiểu rằng tôi sẽ sống… Tôi về nhà, trong cái hầm dưới mặt đất của chúng tôi. Trong thời gian đó, mẹ tôi lại bị một cơn đột quỵ nữa. Tôi không nhận ra mẹ… Tôi thấy một người đàn bà già. Ngay ngày hôm đó người ta đưa bà vào bệnh viện. Ở nhà chẳng có gì ăn, nhưng tôi không dám nói với ai… Khi người ta tìm thấy tôi nằm dưới đất, tôi chỉ còn thở thoi thóp. Ai đó đã mang đến cho tôi một cốc sữa dê ấm… Suốt đời tôi, suốt đời tôi, tôi chỉ còn cách cái chết hai ngón tay, và tôi đã sống sót (Bà lại quay về phía cửa sổ.) Khi tôi đã lấy lại được chút sức lực, Hội Chữ thập đỏ đã mua cho tôi một cái vé và đặt tôi lên một chuyến tàu… Họ cho tôi về quê tôi, ở Smolensk. Ở trại mồ côi. Tôi đã trở về nhà tôi (Bà khóc.) Tôi không biết vì sao tôi khóc. Tôi đã biết nó rồi, cuộc đời tôi… Tôi biết rõ nó mà…
Mười sáu tuổi, tôi bắt đầu có những người bạn, những người theo đuổi tôi… (Bà cười.) Có những cậu đẹp trai tán tỉnh tôi. Những người đã trưởng thành. Nhưng tôi có một điều gì đó rất kỳ: hễ tôi khiến một ai đó thích tôi, là tôi hoảng sợ. Tôi lo sợ khi thấy mình được để ý, được chú trọng. Không thể nào tán tỉnh tôi, bao giờ tôi cũng dắt theo một bạn gái đến các cuộc hẹn hò. Nếu người ta mời tôi đi xem phim, tôi đến rạp với một ai đó. Trong cuộc hẹn hò đầu tiên với người chồng tương lai của tôi, tôi đi cùng hai bạn gái. Về sau, nhiều lần anh ấy nhắc lại chuyện đó…
Ngày Stalin chết… Người ta bắt cả trại mồ côi sắp hàng và người ta hạ cờ đỏ xuống. Chúng tôi đứng nghiêm suốt thời gian tang lễ kéo dài sáu hay tám tiếng… Một số bị ngất. Tôi khóc… Tôi biết sống không có mẹ. Nhưng không có Stalin?… Tôi không biết vì sao, tôi sợ sẽ có chiến tranh… (Bà khóc.) Sau bốn năm, khi tôi đã học kiến trúc, mẹ từ nơi an trí trở về. Không phải về mãi. Bà đến với một chiếc va li nhỏ bằng gỗ đựng một cái cà mèn thiếc (tôi vẫn còn giữ ở đâu đó, tôi không thể ném nó đi), hai cái thìa bằng nhôm, và một đống bít tất thủng. “Con không phải là một người nội trợ giỏi”, bà bảo tôi. “Con không biết vá”. Tôi biết vá, nhưng tôi hiểu những cái lỗ ấy không thể vá. Không thợ may nào trên thế giới làm được… Tôi có một học bổng mười tám rúp, và mẹ có lương hưu mười bốn rúp. Đối với chúng tôi, thế là thiên đường: bánh mì tha hồ, và chúng tôi còn tiền mua chè. Tôi có một bộ quần áo thể thao và một chiếc váy hoa cà do tôi tự may lấy. Mùa đông và mùa thu, tôi đến trường trong bộ đồ thể thao. Và tôi thấy… Tôi cảm thấy chúng tôi đã có đủ những gì chúng tôi cần. Khi tôi đến một nhà bình thường, của những người bình thường, tôi choáng: có lắm thứ thế để làm gì nhỉ? Bao nhiêu là thìa, nĩa, cốc. Tôi kinh hãi vì những thứ đơn giản nhất... Chẳng hạn, tại sao lại có đến hai đôi giày? Cả tới hôm nay, tôi thờ ơ với chuyện quần áo và vật dụng trong đời sống hằng ngày. Hôm qua, cô con dâu của tôi gọi cho tôi bảo nó tìm một cái lò nấu màu hạt dẻ. Nó đang làm lại nhà bếp của nó toàn màu hạt dẻ – và đồ gỗ, rèm, chén bát. Như trong một cửa hiệu ngoại quốc. Và nó nói hàng giờ trên điện thoại. Nhà nó đầy những quảng cáo và báo, nó đọc tất cả các mục rao vặt. Con muốn cái này! Cả cái kia nữa! Ngày trước, tất cả các nhà đều bày biện giản dị, nói chung người ta sống giản dị. Còn bây giờ? Con người đã trở thành một cái bụng… Một cái dạ dày. Tôi-muốn-tôi-muốn-tôi-muốn!… (Bà khoát một cử chỉ bất lực.) Tôi ít đến nhà con trai tôi. Ở nhà chúng nó, mọi thứ đều mới và sang trọng. Như trong một văn phòng. (Bà im lặng.) Chúng tôi xa lạ với nhau. Những người thân xa lạ… (Bà im lặng.) Tôi thích có những ký ức về mẹ hồi còn trẻ. Nhưng tôi không có… Tôi chỉ nhớ mẹ ốm. Mẹ con tôi chưa hề bao giờ hôn nhau, chưa bao giờ trao cho nhau những cái hôn, những lời âu yếm… Các bà mẹ của chúng tôi đã mất chúng tôi hai lần: lần thứ nhất khi người ta bứt chúng tôi còn bé khỏi tay mẹ, lần thứ hai khi mẹ tìm lại được chúng tôi đã trưởng thành. Chúng tôi là những kẻ xa lạ đối với các bà, người ta đã đổi khác con của các bà… Chúng đã được nuôi dưỡng bởi một bà mẹ khác. “Mẹ của các cháu, là Tổ quốc! – Bố của cháu đâu, cháu bé? – Ông ấy luôn ở tù. – Còn mẹ cháu? – Mẹ cháu đã ở tù rồi.” Chúng tôi chỉ hình dung bố mẹ chúng tôi ở trong tù. Đâu đó, rất xa… Không bao giờ gần chúng tôi. Có một lúc tôi đã muốn trốn khỏi mẹ tôi để trở lại trại mồ côi. Bà muốn gì… Họ không đọc báo và không đi dự các cuộc biểu tình, họ không nghe đài. Họ không thích những bài hát làm bừng cháy trái tim tôi. (Bà hát.) “Kẻ thù không bao giờ làm ta cúi đầu, Moskva, tình yêu của tôi, niềm say mê của tôi…”. Tôi, đường phố lôi cuốn tôi. Tôi yêu những cuộc diễu binh, tôi yêu những cuộc trình diễn thể thao lớn. Tôi vẫn còn nhớ niềm hứng khởi đó! Ta nhịp bước cùng mọi người, ta là một bộ phận của một cái gì đó lớn lao, mênh mông... Ở đấy, tôi hạnh phúc. Nhưng với mẹ thì không. Và cái đó, tôi sẽ mãi mãi không thể tìm bắt lại được. Mẹ mất rất nhanh, tôi chỉ âu yếm bà và ôm hôn bà có một lần. Khi nhìn thấy mẹ trong quan tài, tôi bỗng nghe thức dậy trong mình biết bao trìu mến, và tình yêu! Bà nằm đấy, với đôi bốt dạ cũ của bà… Bà không có giày, cũng không có dép mềm, và tôi không thể đi cho bà giày dép của tôi, chân bà phù lên quá to. Tôi đã nói bao nhiêu lời trìu mến với bà, bao nhiêu thổ lộ cùng bà…Tôi cảm thấy bà vẫn còn đó... Tôi tin điều đó!
(Bà đi vào bếp, rồi gọi tôi: “Bữa ăn đã dọn. Tôi luôn cứ phải ăn một mình, ít ra một lần tôi muốn ăn với một ai đó”.)
Không bao giờ nên quay về quá khứ… Mà tôi thì cứ trở lại đó thường xuyên. Tôi muốn quá… Suốt năm mươi năm. Tôi trở về đó suốt năm mươi năm… Ngày thì trong suy tưởng, đêm thì trong giấc mơ.
Tôi thường mơ nhất là về mùa đông… Khi trời giá đến không thấy một con chó, một con chim. Không khí giòn như thủy tinh, và khói từ các ống khói dựng thẳng lên trời như một cái cột. Hay, vào cuối mùa hè, cỏ không mọc nữa, phủ một lớp bụi nặng. Và cuối cùng, tôi… tôi đã quyết định đi về đó. Đang cải tổ, Gorbachev, các cuộc mít tinh… Biểu tình ở ngoài đường, mọi người đều rất bằng lòng. Có thể viết những gì mình muốn, hét lên những gì mình muốn. T-ự d-o! Không quan trọng gì tương lai nào chờ chúng ta, quá khứ, phần nó, đã đi qua. Người ta chờ một điều gì đó khác… Trong không khí có sự sốt ruột… Và cả nỗi sợ. Đã lâu, tôi sợ mở đài phát thanh buổi sáng: nếu người ta đã chấm dứt mọi sự? Tôi không thể tin. Họ sẽ ào đến trong đêm, họ lôi mọi người đến sân vận động. Như đã diễn ra ở Chilê… Chỉ một sân vận động đã đủ cho tất cả bọn “láu cá bé con” rồi, nhưng đứa khác tự chúng sẽ câm mồm. Nhưng không có ai đến… không có ai lùa chúng tôi đi… Các báo bắt đầu đăng ký ức của những người tù Goulag. Với những bức ảnh của họ. Những đôi mắt ấy! Những đôi mắt của những con người đó! Cứ như họ nhìn chúng ta từ thế giới bên kia. (Bà im lặng.) Và tôi quyết định rằng tôi muốn… rằng tôi phải đi đến nơi đó. Để làm gì? Tôi không hề biết. Nhưng phải đi… Tôi đã xin nghỉ. Một tuần qua, hai tuần… Tôi không quyết định được. Tôi tìm ra đủ lý do: đến chỗ nha sĩ, sơn lại cái bậu cửa sổ ở hiên. Những chuyện vớ vẩn… Và một buổi sáng… Tôi đang sơn bậu cửa sổ và tôi tự nhủ “Ngày mai, tôi đi Karaganda.” Chấm hết. Là gì vậy, Karaganda? Một thảo nguyên trống rỗng và trơ trụi kéo dài hàng trăm cây số, toàn bộ bị thiêu cháy về mùa hè. Dưới thời Stalin, người ta đã xây hàng chục trại giam trên thảo nguyên đó: Steplag, Karlag, Aljir… Pestchanlag… Người ta đã đưa đến đó hàng trăm nghìn zek[8]. Những người nô lệ xô viết. Khi Stalin chết, người ta đã phá các lán, gỡ dây thép gai, và nơi đây đã trở thành một thành phố. Thành phố Karaganda… Là thế đó, nơi tôi đi đến… Một chuyến đi dài. Trên tàu, tôi làm quen với một phụ nữ, một nữ giáo viên đến từ Ukrain. Bà đi tìm mộ bố, đây là lần thứ hai bà đi Karaganda. “Bà đừng lấy làm phiền, bà bảo tôi. Ở trên ấy, họ đã quen thấy đổ đến từ khắp thế giới những con người kỳ quặc nói chuyện với đá.” Bà có một bức thư, bức thư duy nhất bà nhận được từ trại giam “… dẫu sao không có gì trên thế giới đẹp hơn lá cờ đỏ của chúng ta…”. Bức thư kết thúc như vậy. Bằng những từ đó. (Bà trở nên tư lự.) Người phụ nữ đó… Bà kể cho tôi bố bà đã đã ký những lời thú tội của ông như thế nào và ông nhận ông là một gián điệp Ba Lan. Viên dự thẩm đã lật ngược một cái ghế đẩu, y cắm một cái đinh vào một trong các chân ghế, và bắt bố bà ngồi lên đó và quay ông trên cái trục ấy. Y đã có được lời thú tội như thế đó. “Đồng ý, tôi đúng là một tên gián điệp...”. Viên dự thẩm muốn biết là gián điệp cho ai. Bố bà đã hỏi thế thông thường thì người ta làm gián điệp cho ai. Người ta cho ông chọn giữa Đức và Ba Lan. Ông đã chọn Ba Lan… Ông biết bốn từ Ba Lan: dziękuję bardzo và wszystko jedno[9]. Bốn từ. Tôi… Tôi, tôi không biết chút gì về bố tôi. Một lần, mẹ tôi có lỡ miệng nói rằng ông đã bị điên vì tra tấn… Hình như ông cứ hát suốt… Có một người đàn ông trẻ cùng toa với chúng tôi. Chúng tôi đã khóc, khóc suốt đêm. Sáng ra người đàn ông trẻ nhìn chúng tôi và nói: “Thật tàn bạo, các câu chuyện của các bà! Cứ như trong một phim kinh dị!”. Anh ta mười tám hay hai mươi tuổi. Lạy Chúa! Tất cả những gì chúng tôi đã trải qua… Và chúng tôi không thể kể những cái đó với ai hết. Chỉ đúng giữa chúng tôi thôi.
Khi chúng tôi đến Karaganda, ai đó nói đùa: “Tất cả ra ngoài! Mang theo đồ đạc!”[10] Một số người cười, những người khác khóc… Ở ga… Những từ đầu tiên tôi nghe; là: “Đĩ rạc… Điếm… Đồ đểu…”. Ngôn ngữ quen thuộc của các trại. Các từ lập tức trở lại với tôi. Tức khắc. Tôi rùng mình. Tôi không khống chế được những cơn run bên trong. Có gì đó cứ run lên bên trong tôi những ngày tôi ở đó. Tôi không nhận ra được thành phố, tất nhiên, nhưng vừa ra khỏi những khối nhà cuối cùng, thì bắt đầu một cảnh quan quen thuộc. Tôi đã tìm thấy lại tất cả… Vẫn là vùng stipa khô cằn ấy,… bụi trắng ấy… Và một con diều hâu, rất cao trên nền trời… Các làng đều có những tên quen thuộc… Volny, Sangorodok… Đấy đều là những trại xưa. Tôi tưởng tôi đã quên, nhưng hóa ra tôi nhớ hết. Trong xe buýt, một cụ già ngồi cạnh tôi, cụ biết tôi không phải người ở đây. “Cô tìm ai? – Ơ… Có đúng đã có một trại ở chỗ này? – Cô muốn nói các lán? Người ta đã phá các lán cuối cùng cách đây hai năm. Gạch đem làm các kho chứa dụng cụ, các nhà tắm. Đất đã được bán để xây nhà nghỉ. Dây thép gai dùng ngăn vườn. Con trai tôi có một khu đất ở đây. Mà, cô biết không, chẳng dễ chịu lắm đâu… Mùa xuân, tuyết tan và mưa xuống, xương trồi lên chen với khoai tây. Chẳng ai khó chịu vì chuyện đó, người ta quen rồi. Ở đây, xương ấy à, cứ như sỏi, khắp nơi… Người ta ném chúng dọc các đám đất, người ta bước lên trên. Người ta giẫm lên. Người ta quen! Vừa đào xuống, cứ là lúc nhúc…”. Tôi đứt hơi, tôi tưởng tôi sắp ngất đi. Cụ già quay về phía cửa sổ: Kia, ngoài kia, đằng sau cái cửa hàng này, người ta đã lấp một nghĩa trang. Và ngoài kia nữa, đằng sau các nhà tắm.” Tôi không còn thở được. Tôi đã chờ đợi những gì? Được thấy những kim tự tháp? Những đài tưởng niệm? Dãy một đã trở thành chẳng biết là cái gì… Dãy hai cũng thế… Tôi nhìn qua cửa xe, nhưng tôi không trông thấy gì hết, nước mắt khiến tôi mù. Ở chỗ dừng xe buýt người ta bán dưa chuột, cà chua… từng xô đầy nhục quế. “Cây nhà lá vườn của tôi đây! Tôi hái ngay vườn nhà!” Lạy Chúa… Tôi phải nói rằng… Tôi không còn thở được, một cách vật chất. Có một điều gì đó diễn ra trong tôi, da tôi khô khốc, và móng tay tôi trở nên giòn. Một điều gì đó đã xảy ra trong cơ thể tôi. Tôi muốn nằm ra đất và cứ ở đó, không động đậy. Không bao giờ trở dậy nữa. Thảo nguyên… Cũng giống như biển… Tôi bước đi, tôi bước đi hàng giờ và cuối cùng tôi đổ sụp xuống bên cạnh một cây thập tự nhỏ bằng sắt chôn sâu vào đất. Tôi hét lên. Tôi bị một cơn động kinh. Không có ai ở quanh đó… Chỉ có những con chim. (Dừng một lúc ngắn) Tôi ở một khách sạn. Buổi tối, ở nhà ăn, ầm ĩ như địa ngục… Tôi đã ăn tối ở đấy một lần… Ở bàn ăn của tôi, hai người đàn ông bắt đầu tranh cãi, họ hét đến vỡ tiếng. Người thứ nhất nói: “Tôi luôn luôn là cộng sản. Phải xây dựng chủ nghĩa xã hội! Không có Magnitka và Vorkouta[11], thì ai đánh gãy cổ Hitler?”. Người thứ hai: “Tôi, tôi đã thảo luận với các người già ở đây, tất cả bọn họ đã làm việc hay phục vụ, tôi không biết nói thế nào, phục vụ trong các trại… Nấu bếp, canh gác, hay trong các đội đặc biệt… Ở đây không có công việc gì khác, và cái sự đó nuôi sống khá con người ta: có lương bổng, có các khẩu phần và có trang thiết bị. Trại giam, đối với họ, là một công việc! Họ là những viên chức. Và anh vừa nói với tôi về tội ác! Về tâm hồn và về tội lỗi. Những người bị giam, là nhân dân. Và những người tống họ vào trại giam và canh gác họ, cũng là nhân dân, không phải những bọn chiếm đóng hay người ở đâu tới, không. Cũng nhân dân ấy cả. Nhân dân của chúng ta. Bây giờ, mọi người đều mặc một bộ áo tù nhân. Tất cả bọn họ đều là nạn nhân. Thủ phạm duy nhất, là Stalin. Những, hãy suy nghĩ lại một chút… Chỉ là một vấn đề toán học đơn giản. Hàng triệu những zek ấy, phải vây đuổi họ, bắt họ, tra hỏi họ, vận chuyển họ, bắn bỏ họ nếu họ rời khỏi hàng. Phải có người làm những việc đó chứ! Người ta đã tìm được những người đó, hàng triệu người thực thi…”. Người phục vụ mang đến cho họ một chai, một chai nữa… Còn tôi, tôi nghe họ. Họ uống nhiều, nhưng họ không say. Tôi như tê liệt, tôi không thể bỏ đi… Người thứ nhất: “Người ta kể với tôi về đêm, khi các lán đã trống không và đóng kín, người ta nghe những tiếng kêu thét và những tiếng rên rỉ từ trong ấy…”. Người thứ hai: “Nói mê đấy thôi! Có cả một huyền thoại đang được sinh ra… Bi kịch của chúng ta, là ở ta, nạn nhân và đao phủ là cùng những con người ấy.” Và nữa: “Stalin đã tìm thấy nước Nga với một cái cày, và ông đã để lại nước Nga với bom nguyên tử…”. Tôi đã không chợp mắt ba ngày ba đêm. Tôi đã bước đi, bước đi trên thảo nguyên suốt ngày, cho đến tối, cho đến những ánh đèn đầu tiên.
Một lần, tôi được một một người đàn ông cho đi nhờ xe, ông khoảng năm mươi hay có thể hơn, ông đã uống rượu và rất lắm lời. “Bà đi tìm mộ phải không? Tôi hiểu, ta sống trong một cái nghĩa trang, có thể nói thế! Nhưng chúng ta, chúng ta không thích nghĩ quá nhiều đến quá khứ. Kiêng! Những người già đã chết, đấy là bố mẹ chúng ta, và những người còn sống thì im lặng. Họ đã tiếp nhận một nền giáo dục kiểu Stalin, bà biết đấy. Gorbachev, Elsine… Cái đó, là hôm nay. Nhưng ai biết ngày mai sẽ có những gì? Sự thể rồi sẽ ra sao…”. Dần dần tôi biết rằng bố ông là một sĩ quan “có cỡ”. Dười thời Khroutchev, ông đã muốn đi khỏi nơi đây, nhưng người ta không cho phép. Mọi người đều phải cam kết bằng văn bản viết không tiết lộ các bí mật Quốc gia, những người đã ở tù cũng như những người đã tống người khác vào tù và canh giữ họ. Không thể cho phép ai được đi hết, tất cả họ đều đã biết quá nhiều chuyện. Ông còn nghe nói người ta không cho những người đã áp tải các đoàn tù đến đây được trở về. Ừ, quả đúng thế, ở đây, họ thoát khỏi chiến tranh, nhưng chiến tranh, người ta có thể trở về, còn ở đây, thì không bao giờ… Khu vực, hệ thống, vùi lấp họ mãi mãi. Những kẻ duy nhất có thể rời khỏi cái chốn đáng nguyền rủa này sau khi đã thi hành xong án là những tên vô lại, những tên giết người. Những tên cướp. Tất cả những người khác sau đó sống chung, đôi khi trong cùng một ngôi nhà, cùng một khối nhà. Họ không ngừng lặp lại: “A, ta thề với ngươi, cuộc sống không phải là cái bánh phủ kem!”. Ông đã gợi lại những ký ức tuổi thơ… Những cựu tù nhân đã cùng mưu tính để cắt cổ một người cai tù cũ từng tàn bạo như dã thú như thế nào. Khi say, họ tổ chức những cuộc đánh nhau chính quy thật sự. Bố ông uống như hũ chìm, ông ấy rên rỉ: “Đ.m…! Cả cuộc đời ta, họ đã bắt ta câm mồm! Ta chỉ là hạt cát…”. Đang là đêm. Hai chúng tôi chạỵ trên thảo nguyên, tôi, con gái một nạn nhân và ông, con trai một… Gọi cái đó thế nào? Một đao phủ? Một đao phủ nhỏ… Những đao phủ lớn không thể thiếu những tên nhỏ. Cần nhiều đao phủ nhỏ để làm cái công việc bẩn thỉu. Và thế đấy. Chúng tôi đã gặp nhau, và chúng tôi đã nói về những gì? Khi chúng tôi không biết chút gì về bố mẹ chúng tôi, họ đã nín câm cho đến chết. Họ đã mang bí mật của họ theo họ. Nhưng hẳn là tôi gây một ấn tượng nào đó đối với người đàn ông ấy, tôi đã khuấy lên một điều gì đó trong ông. Ông đã kể với tôi rằng bố ông không bao giờ ăn cá bởi vì cá có thể ăn thịt người. Khi người ta ném một con người hoàn toàn trần truồng xuống biển, sau vài tháng, chỉ còn những khúc xương rất sạch. Rất trắng. Làm sao ông ấy biết chuyện đó? Khi ông tỉnh, ông không nói, nhưng khi ông uống, ông thề có trời cao đất dày rằng ông chỉ làm việc bàn giấy. Rằng bàn tay ông sạch… Không một vết máu… Con trai muốn tin ông. Nhưng vậy thì, tại sao ông không ăn cá? Nó khiến ông buồn nôn… Sau khi bố ông chết, ông đã tìm thấy những giấy tờ chứng minh ông ấy đã làm việc nhiều năm ở gần biển Okhotsk. Ở đấy nữa, cũng có những trại giam… (Bà lặng im.) Ông tài xế của tôi đã nhậu, nó khiến ông không giữ lời… Rồi ông nhìn tôi, ông nhìn tôi kỹ đến mức ông tỉnh rượu, và ông sợ. Tôi biết rằng ông sợ. Đột nhiên, ông trở nên gây gổ, ông đã hét lên một điều gì đó: “Thôi, đủ rồi! Đừng có đào xác chết lên nữa!”. Và tôi hiểu… Những đứa con, không ai bắt chúng phải ký giấy tờ, nhưng tự chúng hiểu phải nín lặng. Khi chia tay, ông chìa bàn tay của ông ra cho tôi. Tôi không nắm lấy… (Bà òa khóc.) Tôi đã tìm, tôi đã tìm cho đến ngày cuối… Và ngày cuối ai đó đã nói với tôi: “Đi thăm bà già Katérina Demtchouk đi. Bà ấy sắp chin mươi tuổi rồi, nhưng vẫn còn nhớ mọi chuyện đấy”. Người ta đã đưa tôi đến nhà bà. Một ngôi nhà gạch, với một hàng giậu lớn. Tôi gõ cửa. Bà ra. Một bà cụ rất già, gần như mù. “Người ta bảo tôi bà có làm việc ở trại mồ côi? – Vâng, tôi đã là giáo viên. – Chúng tôi không có giáo viên, chỉ có những nữ chỉ huy.” Bà không trả lời. Bà đi ra và bắt đầu tưới vườn rau bằng một ống tưới. Tôi ở lại đó… Tôi không đi… Bà bèn đưa tôi vào nhà, bất đắc dĩ. Có một cây thập tự ở lối vào và một tượng thánh ở một góc nhà. Tôi nhớ giọng bà... Không phải khuôn mặt, mà giọng nói… “Mẹ mày là một kẻ thù. Người ta có quyền cho mày ăn đòn, thậm chí giết mày!”. Tôi đã nhận ra bà… Hay là tôi muốn nhận ra bà? Tôi đã có thể không đặt câu hỏi với bà, nhưng tôi đã làm: “Có thể bà nhớ tôi? – Không, không… Tôi không nhớ ai hết… Các cô còn nhỏ, các cô không lớn lên. Và chúng tôi, chúng tôi nhận được những chỉ thị.” Bà đã pha trà, bà dọn bánh quy giòn. Tôi đã nghe bà than thở: con trai bà nghiện rượu, các cháu bà cũng nhậu. Chồng bà chết đã lâu, bà có một món lương hưu nhỏ nhoi. Bà bị đau lưng. Già thì chẳng hay ho gì. Và tôi tự nhủ: thế đấy, chúng tôi lại gặp nhau sau năm mươi năm… Tôi tưởng tượng là chính bà… Và tôi hình dung ra cảnh ấy… Chúng tôi đang đối diện với nhau. Rồi sao đây? Tôi cũng vậy, tôi đã mất chồng, lương hưu của tôi cũng ít ỏi, tôi cũng đau lưng… Chúng tôi đều già, và đấy là tất cả. (Bà im lặng hồi lâu.)
Hôm sau tôi ra đi… Còn lại những gì cho tôi? Rối loạn và hận thù… Tôi không biết nhằm vào ai? Và tôi tiếp tục mơ về thảo nguyên, khi vùi dưới băng tuyết, khi phủ đầy hoa mào gà đỏ. Nơi từng là các lán, nay có một quán cà phê, xa ngoài kia là các nhà nghỉ nông thôn. Những con bò gặm cỏ. Lẽ ra tôi đã không nên trở lại nơi này. Không! Biết bao nhiêu nước mắt đắng cay, bao nhiêu đau khổ… Để làm gì? Tất cả những cái đó đã từng có để làm gì? Hai mươi hay năm mươi năm nữa, rồi tất cả sẽ bị dẫm đạp lên, nghiền thành bụi, cứ như chúng tôi không hề tồn tại. Còn lại hai dòng trên một trang sách giáo khoa. Một đoạn. Mốt Soljénitsine, lịch sử theo cách nhìn của ông, đang đi qua. Ngày trước người ta đi tù vì Quần đảo Goulag[12]. Người ta đọc lén, người ta đánh máy, người ta chép tay. Tôi đã tin… Tôi tin chắc nếu hàng nhiều nghìn người đã đọc nó, thì mọi thứ đã khác. Rằng sẽ đến thời của hối lỗi và nước mắt. Mà điều gì đã xảy ra? Người ta đã xuất bản tất cả những gì đã được viết bí mật, người ta đã nói to tất cả nhưng gì đã nghĩ thầm. Rồi sao? Những cuốn sách ấy đã phủ bụi ở các hiệu sách. Người ta không chú ý đến chúng nữa… Ngay cả con đường tôi ở ngày xưa cũng không còn. Đấy là đường Lénin. Bây giờ, mọi thứ đã khác: quần áo, con người, tiền. Những từ mới. Từng có những các đồng chí và, bây giờ, là các ngài, nhưng ở ta, khó mà quen được. Mọi người đều tìm những nguồn gốc quý tộc. Là mốt lớn! Những ông hoàng và những bá tước không biết chui ở đâu ra. Trong khi ngày trước, người ta tự hào vì thuộc gia đình nông dân hay công nhân. Mọi người đều làm dấu chữ thập và ăn chay. Người ta tranh cãi hết sức nghiêm túc xem chế độ quân chủ có thể cứu được nước Nga không. Người ta yêu Sa hoàng, cái ông Sa hoàng hồi năm 1917 là trò chế diễu của bất cứ cô nữ sinh nào. Đất nước này xa lạ với tôi. Hoàn toàn xa lạ! Ngày trước, khi bạn bè ngồi lại với nhau, người ta bàn về sách, về sân khấu... Bây giờ, người ta nói về những thứ mới mua được. Về giá hối đoái. Và người ta kể chuyện khôi hài. Chẳng nể gì tất, có thể cười tất cả. “Bố ơi, Stalin là ai thế? – Là sếp của chúng ta. – Con tưởng chỉ những người man dã mới có sếp chứ!”. Ở đài phát thanh Arménie, ai đó hỏi Stalin còn để lại những gì? Và đài trả lời: “Hai cái quần đùi, một đôi ủng, vài cái áo lính, có một cái rất oai, bốn rúp và bốn mươi cô pếch tiền Liên Xô. Và một đế chế khổng lồ.” Câu hỏi thứ hai: “Làm thế nào mà những người lính Nga có thể đến được Berlin?”. Trả lời: “Vì họ quá sợ nếu tháo lui”. Tôi đã ngưng đi thăm mọi người. Gần như tôi không còn ra đường. Ra đường thì thấy gì? Triều đại Mammom! Giá trị duy nhất còn lại là giá trị của cái ví tiền. Mà tôi, tôi nghèo.Tất cả chúng tôi đều nghèo, thế hệ chúng tôi. Những người xô viết cũ… Chúng tôi không có tài khoản ở ngân hàng cũng chẳng có bất động sản. Tất cả những gì tôi có đều là xô viết, những thứ đó không đáng giá một xu. Tư bản của chúng tôi là nỗi đau khổ của chúng tôi, những gì chúng tôi đã sống qua. Tôi có hai giấy chứng nhận, viết trên giấy vở học trò: “… phục hồi danh dự…” và “… phục hồi danh dự…”, “… do không cấu thành tội phạm…”. Cho bố và cho mẹ. Trước đây… trước đây, tôi tự hào về cậu con trai của tôi… Nó là phi công trong quân đội, nó đã tham gia chiến tranh ở Afganistan. Bây giờ nó là người bán hàng ở chợ. Một vị chỉ huy có hai huân chương. Ngày trước người ta gọi là đầu cơ, bây giờ là dịch vụ. Nó bán rượu vodka và thuốc lá ở Ba Lan, và nhập quần áo. Vải len thô! Hay nó bán hổ phách ở Ý, và nhập đồ ngũ kim: bồn vệ sinh, vòi nước, ống giác. Xì! Khi tôi nghĩ rằng trong gia đình không bao giờ có người làm nghề buôn bán! Chúng tôi khinh bỉ loại người đó. Có thể tôi là một tàn tích của homo sovieticus[13], nhưng còn hơn những thứ buôn gian bán lận thảm hại ấy…
… Bà biết không, tôi phải thú thật với bà trước đây, tôi thích mọi người hơn… Những con người đó, họ giống tôi… Tôi đã sống cái đất nước này với toàn bộ lịch sử của nó. Nhưng cái đất nước hôm nay, nó chẳng là gì đối với tôi cả, nó không phải là đất nước tôi. (Tôi thấy bà đã mệt. Tôi tắt máy ghi âm. Bà cho tôi số điện thoại của con trai bà.) Này, bà đã hỏi tôi… Con trai tôi sẽ kể cho bà phiên bản của nó… Câu chuyện của nó… Tôi biết giữa chúng tôi có một vực thẳm, cứ như bao nhiêu thế kỷ chia cách chúng tôi… (Trong nước mắt.) Bây giờ, bà để tôi nghỉ. Tôi muốn ngồi một mình.
Người con trai
Rất lâu, ông cấm tôi mở máy ghi âm. Rồi đột ngột, chính ông tự đề nghị: “Cái này, bà có thể ghi… Không phải chuyện gia đình nữa, những xung đột bố mẹ - con cái, mà là Lịch sử với một chữ L hoa. Đừng kể tên tôi. Tôi không sợ, nhưng cái đó khiến tôi khó chịu.”
… Bà đã biết tất cả… Nhưng có thể nói gì về cái chết? Chẳng nói được gì có ý nghĩa đâu. Đấy là một điều hoàn toàn không ai biết...
Cả hôm nay nữa, tôi vẫn rất thích các phim xô viết, chúng có một điều gì đó không tìm thấy trong các phim hôm nay. Và tôi rất yêu cái “một điều gì đó”, từ khi tôi còn rất bé. Nhưng tôi không xác định được đó là cái gì. Tôi say mê lịch sử và tôi đọc nhiều, thời đó mọi người đều đọc nhiều… Những cuốn sách về Tchéliouskine và Tchkalov… Về Gagarine và Koroliov[14]. Nhưng rất lâu tôi không hề biết chút gì về năm 1937[15]. Một hôm tôi hỏi mẹ ông nội tôi ở đâu. Bà đã ngất đi. Và bố tôi đã bảo tôi: “Đừng bao giờ đặt câu hỏi đó cho mẹ”. Tôi là một đoàn viên tháng mười nhỏ, một thiếu niên tiền phong[16]. Chẳng quan trọng gì chuyện tôi có tin tất cả những thứ ấy hay không. Có thể tôi tin. Rõ là tôi không bao giờ suy nghĩ về chuyện đó… Tôi đã là Cônsômôn. Những bài hát quanh một lửa trại: “Nếu bạn anh không còn là bạn anh nữa, nếu người ấy trở thành kẻ thù của anh…”. Và cứ thế (Ông đốt một điếu thuốc.) Ước mơ của tôi? Tôi muốn làm lính. Bay! Thật tuyệt vời, thật huy hoàng. Tất cả các cô gái đều mơ lấy một người lính. Nhà văn yêu thích của tôi là Kouprine[17]. Là sĩ quan! Với một bộ quân phục đẹp… Chết anh hùng… Những cuộc chơi giữa đàn ông, tình bạn. Thật hấp dẫn, chúng tôi nhìn cái đó với niềm hăng hái của tuổi trẻ. Và bố mẹ khuyến khích chúng tôi. Tôi được nuôi lớn bằng những cuốn sách xô viết… “Con người là vĩ đại hơn cả”, “Con người, hai tiếng ấy vang lên kiêu hãnh[18]!” Người ta nói với chúng tôi về một con người không tồn tại… Nó không có trong tự nhiên. Không, không bao giờ hiểu vì sao thời ấy lại lắm người lý tưởng chủ nghĩa như vậy. Bây giờ họ đã biến mất. Thế hệ Coca-Cola thì có thể có lý tưởng gì? Họ là những người thực dụng. Sau khi tốt nghiệp trường quân sự, tôi đã phục vụ ở Kamtchatka. Trên biên giới. Nơi chỉ có tuyết và núi. Điều duy nhất tôi luôn yêu trên đất nước tôi là tự nhiên. Phong cảnh… Cái đó thì được! Sau hai năm, người ta gửi tôi đến Viện Hàn lâm quân sự, và tôi đã ra trường hạng ưu. Lại lên sao. Một con đường công danh trước mắt tôi. Quyền được an táng với nghi lễ quân đội. (Giọng thách thức.) Còn bây giờ? Thay cảnh rồi… Vị đại tá quân đội đã trở thành con buôn. Tôi bán đồ ngũ kim Ý… nếu ai đó tiên đoán cho tôi như thế mươi năm trước, tôi sẽ chẳng thèm trả lời cái vị Notradamus ấy, tôi sẽ cười vào mũi anh ta! Tôi đã là một người Xô viết hoàn hảo: yêu tiền bạc, là xấu hổ, cái phải yêu, là các giấc mơ. (Ông đốt một điếu thuốc.). Có lắm điều người ta quên… Thật tiếc… Người ta quên vì người ta đi nhanh quá. Như trong một ống kính vạn hoa. Lúc đầu, tôi mê Gorbachev, rồi sau đó ông làm tôi thất vọng. Tôi đã đi biểu tình, và tôi đã hò hét với mọi người: “Eltsine, vâng! Gorbachev, không!”. Tôi hét: “Đả đảo điều 6[19]!”. Thậm chí tôi còn dán áp phích. Người ta chỉ làm mỗi chuyện nói và đọc, đọc và nói. Bố mẹ chúng tôi, phần họ, họ muốn nói tất cả và đọc tất cả. Họ mơ ước một chủ nghĩa xã hội nhân bản… có khuôn mặt người… Còn chúng tôi, những người trẻ? Chúng tôi cũng vậy, chúng tôi mơ tự do. Nhưng ý tưởng về tự do của chúng tôi thuần túy là lý thuyết. Chúng tôi muốn sống như ở phương Tây. Nghe nhạc, ăn vận như họ, đi du lịch khắp thế giới. “Chúng tôi muốn những thay đổi… Những thay đổi…” Victor Tsoï hát. Người ta không biết người ta đang cắm cổ phóng đến đâu. Mọi người đều mơ ước… Nhưng trong các cửa hàng thực phẩm, chỉ còn những liễn đựng đầy nhựa bạch dương và bắp su muối. Những bó lá cây thắng. Phiếu cung cấp để mua bột nhão, dầu ăn, mì hột… thuốc lá… Người ta có thể giết nhau ở chỗ sắp hàng mua vodka! Nhưng người ta xuất bản các nhà văn bị cấm, Platonov, Grossman… Người ta rút khỏi Afganistan. Tôi còn sống, và tôi nghĩ chúng ta đã chiến đấu ở bên đó, chúng tôi đã là những người anh hùng. Khi chúng tôi trở về trong đất nước của mình, chúng tôi không còn Tổ quốc. Thay vào đó, một đất nước mới không còn biết dùng chúng tôi làm gì. Quân đội tan rã, người ta chửi những người lính, coi họ là những kẻ sát nhân. Chúng tôi không còn là những người bảo vệ, chúng tôi trở thành sát nhân. Người ta đổ mọi thứ lên lưng chúng tôi: Afganistan, Vilnius, Bakou. Tất cả máu đã đổ xuống. Buổi tối, ở thành phố, tốt nhất là đừng ra đường, có nguy cơ bị đánh vỡ mặt. Người ta giận dữ vì người ta không có gì ăn, không có gì để đặt trên lưng. Không ai hiểu gì hết. Trong trung đoàn chúng tôi, máy bay không bay: không còn chất đốt. Các đội bay ở dưới mặt đất, đánh bài và nốc. Với một suất lương sĩ quan, có thể mua mười khoanh bánh mì. Một trong các bạn tôi đã tự bắn một phát vào đầu. Tôi, tôi có hai đứa con, một con chó và một con mèo… Làm sao để sống? Chúng tôi nuôi con chó bằng phô mai trắng thay vì thịt, còn chúng tôi, chúng tôi ăn mì hột suốt nhiều tuần... Tất cả những cái đó đã xóa nhòa trong ký ức… Vâng, phải ghi lại, khi còn có người nhớ chuyện ấy. Chúng tôi, những sĩ quan… Chúng tôi dỡ hàng ở các toa xe lửa, chúng tôi làm gác dan… Chúng tôi rải nhựa đường. Cùng tôi có những nhà khoa học, những bác sĩ, những nhà phẫu thuật. Và cả một nghệ sĩ dương cầm của dàn nhạc giao hưởng. Tôi đã học xây các lò sưởi bằng gốm và bọc sắt các cánh cửa… Và cứ thế. Sau đó người ta đã bắt đầu lao vào kinh doanh… Một số đi nhập khẩu máy tính, số khác gột rửa quần jean (Ông cười.) Hai người thỏa thuận: một người đi mua một bồn rượu vang, người kia đem bán lại. Giao ước đã ký. Và người thứ nhất đi tìm tiền, trong khi người kia tử hỏi anh ta có thể tìm ra cái bồn rượu vang ấy ở đâu… Có vẻ như một chuyện đùa, nhưng là thực tế. Tôi đã thấy những con người như vậy, họ mang giày bát két thủng và họ bán những chiếc trực thăng… (Dừng một lát.)
Nhưng chúng tôi đã sống sót… Chúng tôi đã thoát ra được! Và đất nước đã thoát ra được! Chúng ta biết gì về tâm hồn? Chỉ chính xác là nó tồn tại… Đối với tôi và các bạn tôi, sự thể khá tốt. Một người có một xí nghiệp xây dựng, người khác có một cửa hàng thực phẩm, anh ta bán phô mai, thịt, xúc xích. Người thứ ba bán đồ gỗ. Một số có vốn ở nước ngoài, những người khác có nhà ở Síp. Một người nguyên là nhà khoa học, người kia là cựu kỹ sư. Đấy là những người thông minh, có văn hóa. Trên các báo, người ta kể rằng những người Nga mới đeo dây chuyền vàng nặng mười ký lô và đi xe có chắn bùn bằng vàng khối và bánh bằng bạc. Tất cả, đều là chuyện văn hóa dân gian! Những người thành đạt trong kinh doanh là tất cả những gì ai đó muốn, trừ là những tên ngu xuẩn. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau… Chúng tôi mang đến rượu cô nhắc ngon, nhưng chúng tôi uống vodka. Đến tảng sáng, tất cả đều say mèm, chúng tôi ôm nhau và chúng tôi hát vang những bài ca Cônsômôn: “Cônsômôn tình nguyện, tình bạn làm nên sức mạnh chúng ta…”. Chúng tôi nói về thời chúng tôi là sinh viên, khi chúng tôi đi thu hoạch khoai tây[20], hoặc giả những khúc đoạn kỳ cục trong cuộc sống quân đội của chúng tôi. Tóm lại, chúng tôi nhắc lại thời xô viết. Bà hiểu không? Và các cuộc trò chuyện kết thúc bằng: “Hôm nay, là cái thứ giả trang lố lăng. Chúng ta cần một Stalin!”. Và tuy nhiên, như tôi đã nói với bà, chúng tôi đã thoát ra tốt. Vậy thì, thế nào? Này nhé, đối với tôi… Ngày 7 tháng Mười, là ngày hội. Tôi kỷ niệm một cái gì đó vĩ đại. Và tôi tiếc cái gì đó ấy, tôi tiếc vô cùng. Nói đúng ra… Một mặt có tiếc nuối, mặt kia là sợ. Mọi người muốn rời đất nước, ra đi. Kiếm được tiền, và thoát thân. Còn con cái chúng tôi? Tất cả bọn chúng đều mơ ước đi học để làm trong ngành tài chính. Nếu ta hỏi chúng về Stalin, thì là khoảng trống hoàn toàn. Chúng chỉ có một ý tưởng mơ hồ… Tôi đã cho con trai tôi đọc Soljénitsine, nó cứ cười bò ra! Tôi nghe nó nói đùa… Đối với nó, kết tội một người là gián điệp làm việc cho ba tổ chức bí mật, là lố bịch. “Bố ơi, không một viên dự thẩm nào trong số này biết viết cho đúng! Cứ mỗi từ lại sai chính tả. Ngay cả từ “bắn” y cũng viết sai, họ không biết viết từ đó…”. Chúng sẽ không bao giờ hiểu được chúng tôi, mẹ tôi và tôi, bởi chúng không sống dù chỉ một ngày ở Liên xô. Con trai tôi… Mẹ tôi… Tôi… Chúng tôi sống trong những đất nước khác nhau, dù tất cả chúng đều có tên là nước Nga. Chúng tôi được kết nối với nhau bằng những mối dây lệch lạc. Quái dị. Tất cả, chúng tôi cảm thấy bị phản bội.
… Chủ nghĩa xã hội, là thuật giả kim. Một ý tưởng giả kim… Người ta lao tới nhanh nhẹn, và người ta đã tới có Trời biết là đâu. “Phải thưa với ai khi vào Đảng cộng sản? – Với một thầy thuốc tâm thần.” Cả phòng phá lên cười. Nhưng còn họ… Bố mẹ tôi… Mẹ tôi… Họ muốn hiểu rằng cuộc đời họ đã sống là quan trọng chứ không thảm hại, họ đã tin ở một điều gì đó đáng để mà tin. Song người ta đã nói gì với họ? Bất cứ lúc nào người ta cũng lặp đi lặp lại với họ rằng chỉ là cứt đái và họ chẳng có gì sất ngoài những tên lửa ghê tởm và những chiếc xe tăng của họ. Họ sẵn sàng đẩy lui bất cứ kẻ thù nào. Và họ sẽ làm thế thật! Nhưng tất cả đã sụp đổ mà chẳng có chiến tranh. Và không ai có thể hiểu vì sao. Chuyện đó, phải suy nghĩ… Nhưng người ta không dạy chúng tôi làm việc đó. Mọi người chỉ nhớ duy nhất có nỗi sợ… Người ta chỉ nói đến chuyện đó. Tôi đã đọc ở đâu đó rằng nỗi sợ, ấy là một hình thức của tình yêu. Tôi ngờ chính Stalin đã nói thế… Hôm nay, các bảo tàng trống không, nhà thờ thì đầy người, bởi vì người ta cần những nhà tâm lý liệu pháp, những buổi liệu pháp tâm lý. Bà tưởng Tchoumak và Kachpirovski[21] chữa trị cơ thể? Họ chữa trị tâm hồn. Hàng trăm nghìn người ngồi trước tivi nghe họ, như bị thôi miên… Đó là ma túy! Có một cảm giác cô đơn, bơ vơ khủng khiếp… Ở mọi người, từ người lái taxi và nhân viên văn phòng cho đến nghệ sĩ nhân dân và viện sĩ hàn lâm. Họ cảm thấy kinh khủng cô độc… Cuộc sống đã thay đổi toàn bộ. Bây giờ, thế giới không còn chia thành Trắng và Đỏ, người đi tù và kẻ tống họ vào tù, hay giữa người đã đọc Soljénitsine và người không đọc ông, mà thành kẻ có thể mua được và người không thể mua được. Và cái đó có khiến bà thích không? Không, rất đương nhiên rồi… Tôi cũng không, cái đó tôi không thích. Bà và tôi, chúng ta là những người lãng mạn… Và cái thế hệ ngây thơ những năm 1960 ấy? Cái giáo phái những con người thanh liêm ấy… Họ tưởng một khi chủ nghĩa cộng sản biến đi rồi, người Nga sẽ làm ngay việc học hỏi tự do… Nhưng cái đầu tiên họ muốn học, là sống. Học sống! Thử tất cả, liếm tất cả, nếm tất cả… Ăn ngon, mặc mốt… Du lịch… Họ muốn được thấy cây cọ và sa mạc. Lạc đà. Chứ không đốt cháy và tự thiêu hủy nữa, luôn lao tới một nơi nào đó, vung một ngọn đuốc và một chếc rìu lên. Không... Sống, đơn giản thế thôi… như những người khác… ở Pháp, ở Monaco… Bởi vì không bao giờ có thể biết rồi sẽ xảy ra những gì! Người ta đã cho chúng ta đất, nhưng rồi người ta có thể lấy lại, người ta đã cho phép chúng ta làm thương nghiệp, nhưng người ta sẽ có thể tống ta vào tù… Tịch thu các nhà máy của chúng ta, các cửa hiệu của chúng ta. Nỗi sợ ấy vẫn mãi ở đó, xoắn vào óc ta. Nện vào nó. Vậy nên phải kiếm tiền, nhanh nhất có thể… Không ai còn nghĩ đến bất cứ cái vĩ đại, cao cả nào nữa. Cái vĩ đại, ta đã xực khá rồi đó! Người ta muốn một cái gì đó con người bình thường, hằng ngày… cái bình thường, bà hiểu không? Cái vĩ đại, người ta có thể nghĩ đến nó khi có dịp, lúc người ta đã nhậu đôi chút… Chúng ta đã là những người đầu tiên bay vào vũ trụ… Chúng ta chế tạo những xe tăng tốt nhất, nhưng chúng ta không có bột giặt và giấy vệ sinh. Và những phòng vệ sinh chết tiệt cứ rò rỉ suốt ấy! Người ta giặt các bao ni lông và phơi trên ban công. Có được một cái đầu đọc vidéo, cứ như là có một chiếc trực thăng riêng! Một cậu con trai mặc quần jean không gây ham muốn, chỉ khiến tò mò. Rất trang trí. Lạ lẫm. Thế đấy, cái giá trả cho các tên lửa và các tàu vũ trụ của chúng ta! Vì một Lịch sử lớn. (Nghỉ một lúc.) Tôi làm chi bà say vì những thứ ấy, đúng không? Mọi người đều muốn nói lúc này, nhưng chẳng ai muốn nghe ai…
Ở bệnh viện, mẹ tôi có một bà nằm cạnh… Khi tôi đi vào phòng, bà là người tôi nhìn thấy trước tiên. Một lần, tôi nhận thấy bà định nói gì đó với cô con gái bà nhưng không làm được, Mmm… Chồng bà bước vào, bà cố nói với ông, cũng không được. Bà quay lại phía tôi…. Mmm…Bà chụp lấy cây nạng của bà và phang lên đồ truyền máu, lên giường của bà… Bà không ý thức là bà đang phang, đang đập vỡ. Bà muốn nói… Nhưng nói với ai hôm nay? Với ai, nào, bảo cho tôi xem? Và là một con người thì không thể sống trong một sa mạc…
Tôi luôn yêu bố tôi. Ông lớn hơn mẹ tôi mười lăm tuổi. Ông đã tham gia chiến tranh. Nhưng chiến tranh không nghiền nát ông như những người khác, ông không gắn với nó như với sự kiện quan trọng nhất trong đời ông. Ông tiếp tục đi săn, đi câu. Ông là người khiêu vũ đẹp. Ông cưới vợ hai lần, và cả hai lần đều với những người đàn bà đẹp. Này nhé, một kỷ niệm ngày bé: chúng tôi đi xem phim, và bố tôi dừng tôi lại: “Nhìn xem mẹ con đẹp quá!”. Ông không bao giờ có cái kiểu kiêu căng thú vật và gây gổ của những người đã qua chiến tranh. “Tôi bắn. Hắn gục. Hắn phun máu khắp.” Về chiến tranh, ông kể những chuyện vô hại. Những chuyện ngốc ngếch. Ngày chiến thắng, ông đi vào một làng cùng một cậu bạn để tìm gái, và họ bắt được hai tên Đức trốn trong một cái hố vệ sinh, chúng ngập trong ấy đến cổ. Dù sao họ đã không giết chúng! Chiến tranh đã chấm dứt, đã có khối người chết như thế. Nhưng không thể đến gần chúng… Bố tôi đã gặp may, ông đã có thể bị giết trong chiến tranh, ông đã không bị. Với người anh trai ông, sự thể đã khác… Khi Iéjov cầm đầu NKVD, trong những năm 1930, ông bị đưa đến khu mỏ ở Vorkouta. Mười năm không được phép thư từ. Vợ ông bị đồng nghiệp của ông quấy rối, và bà đã gieo mình từ tầng bốn. Con trai của họ đã lớn lên ở nhà bà ngoại. Nhưng bác Vania đã trở về… Không còn răng, với một bàn tay khô kiệt và một lá gan cường phát. Ông đã bắt đầu làm việc lại trong nhà máy của ông, ở vị trí cũ, trong phòng cũ, ở bàn giấy cũ… (Ông đốt một điếu thuốc nữa.) Và người đã tố giác ông ngồi đối diện với ông. Mọi người đều biết chuyện, và bác Vania cũng biết… Họ đi họp và đi biểu tình, như trước. Họ đọc báo Pravda, họ tán thành đường lối của Đảng và chính phủ. Những ngày lễ, họ ngồi cùng bàn uống vodka. Và cứ thế. Đấy là cuộc sống của chúng ta. Bà có tưởng tượng một tên đao phủ và một nạn nhân Auschwitz cùng làm việc trong một văn phòng và lĩnh lương ở cùng một quầy? Đeo cùng một loại huân chương sau chiến tranh, và hôm nay cùng lĩnh một lương hưu… (Ông im lặng.) Tôi chơi thân với con trai bác Vania. Anh không đọc Soljénitsine, và ở nhà anh không có cuốn sách nào về các trại giam. Anh đã chờ bố anh, nhưng một con người khác đã trở về. Một tàn tích con người. Hoàn toàn bị thắng cương và lạc điệu… Ông mất rất nhanh. “Con không biết người ta có thể sợ đến thế nào đâu, ông nói với con trai. Con không biết điều đó…”. Ông đã tận mắt thấy một viên dự thẩm, một tay cường tráng cao lớn, dúi đầu một người vào một cái xô phân và chận xuống cho đến khi anh ấy sặc sụa... Bác Vania, phần bác, họ đã treo bác hoàn toàn trần truồng lên trần nhà, và họ rót nước ammoniac vào mũi, vào miệng, vào tất cả các lỗ trên thân thể bác… Viên dự thẩm đái vào tai bác vừa rống lên: “Nói đi, khai ra cho ta tên tuổi bọn ranh con đó đi!”. Và bác Vania đã khai. Bác đã ký mọi thứ họ muốn. Nếu bác không làm thế, thì cả bác, họ cũng sẽ dúi đầu bác vào xô phân của bác. Về sau, ở các lán của trại giam, bác đã gặp một vài người trong số những người bác đã khai tên ra... Họ tự hỏi ai đã tố giác họ... Tôi không thể phán xét. Bà cũng không, bà không thể. Bác Vania đã được đưa về xà lim trên một cái cáng, người tắm trong nước đái và máu của mình. Trong cứt của mình. Tôi không biết con người kết thúc ở đâu. Bà có biết không?
… Ôi, họ thật đáng thương, những người già của chúng ta, đương nhiên rồi… Họ nhặt các chai rỗng trên các sân vận động, họ bán thuốc lá trong tàu điện ngầm. Họ bới các thúng rác. Nhưng họ không vô tội đâu, tất cả những người già ấy. Thật kinh khủng khi nghĩ đến điều đó. Chướng tai. Chính tôi, cái đó khiến tôi sợ. (Ông im lặng.) Nhưng tôi không bao giờ nói chuyện đó với mẹ tôi… Tôi đã thử. Bà lên cơn…
(Ông muốn dừng câu chuyện của chúng tôi lại, nhưng rồi thay đổi ý kiến.)
… Nếu tôi đọc chuyện này ở đâu đó, hay nghe người ta kể, tôi sẽ không tin. Nhưng trong cuộc sống, có những điều… Như trong các tiểu thuyết trinh thám tồi. Tôi đã gặp một ông Ivan D. nào đó… Bà muốn có tên ông ấy? Để làm gì? Ông ấy, ông ấy chết đã lâu, nhưng con cái ông... Những đứa con trai không phải trả lời về bố chúng, một tục ngữ xưa đã nói thế. Vả chăng chúng cũng đã già, cả chúng nữa. Cháu, chắt của ông ấy? Đối với những đứa cháu, tôi không biết nói sao, chứ còn với những đứa chắt, chúng nó, thậm chí chúng không biết Lénin là ai… Ông nội Lénin đã bị quên. Đã là lịch sử xưa. (Ngừng một lúc.) Được rồi, tôi muốn nói với bà về cuộc gặp ấy… Tôi vừa lên trung úy, và tôi sắp cưới cháu gái ông. Chúng tôi đã mua nhẫn cưới và váy trắng cô dâu, Anna… Tên cô ấy như thế. Đấy là một cái tên đẹp, phải không? (Ông lại đốt thêm một điếu thuốc nữa.) Đấy là cháu gái ông, cháu gái cưng. Ở nhà, mọi người đều gọi cô là “Adobée”. Chính ông đã tìm ra cái tên ấy… Có nghĩa là “cưng”. Và về hình thức, cô giống ông, thậm chí rất giống. Tôi, tôi đến từ một gia đình xô viết bình thường bao giờ cũng sống khó cho trọn tháng, trong khi nhà họ, họ có đèn chum pha lê, đồ sứ Trung Hoa, thảm, những chiếc xe Jigouli mới keng… Đại sang. Họ còn có một xe Volga cũ mà ông già không muốn bán. Và vân vân… Tôi đã ăn ở ở nhà họ. Buổi sáng, người ta uống trà trong phòng ăn, với những cái giá ly bằng bạc. Đấy là một đại gia đình, với các dâu rể… Một trong những người rể của ông là giáo sư. Khi ông già nổi giận với anh ta, ông lặp đi lặp lại mãi câu: “Những người như nó, ta bắt nó ăn cứt của nó”. Một cách nói kỳ quặc… Nhưng lúc đó, tôi không hiểu… Tôi không hiểu! Mãi về sau tôi mới nghĩ lại. Về sau. Ông tiếp những thiếu niên tiền phong đến ghi các ký ức của ông và tìm ảnh cho các bảo tàng. Hồi tôi ở đấy, ông ốm và không đi ra ngoài nữa, nhưng thời gian trước, ông diễn thuyết ở các trường, ông thắt khăn quàng lên cổ cho các học sinh giỏi. Một cựu chiến binh đáng kính. Mỗi ngày lễ, có một tấm giấy chúc mừng lớn trong thùng thư của ông, và tất cả các tháng, ông nhận một bưu kiện thực phẩm đặt biệt. Một lần, tôi đi nhận bưu kiện ấy cùng ông… Trong một nhà hầm, người ta phát cho chúng tôi xúc xích ngắn, một lọ dưa chuột và cà chua muối của Bulgarie, cá ướp nhập khẩu, jambon Hungarie đóng hộp, đậu Hà Lan, gan cá tuyết… Thời đó, đấy là những sản phẩm khan hiếm. Của ưu đãi! Tôi, ông chấp nhận tôi ngay. “Ta rất thích quân nhân và ta chẳng ưa gì đám thường dân!”. Ông cho tôi xem khẩu súng săn quý báu của ông và hứa sẽ di tặng nó cho tôi. Tất cả các bức tường trong căn hộ mênh mông của ông treo đầy những bộ sừng tuần lộc, có những con vật nhồi rơm trên các giá. Những chiến lợi phẩm của các cuộc săn. Ông là người say mê săn bắn, ông từng là sếp hiệp hội săn bắn và câu cá của thành phố trong mười năm. Còn gì nữa? Ông nói nhiều về chiến tranh… “Bắn một mục tiêu xa trong một trận đánh, là một chuyện. Ai cũng làm được… Nhưng bắn một người nào đó… Khi con người ấy đứng đó, cách cậu ba mét…”. Ông luôn tuôn ra những câu như vậy. Ngồi với ông không chán. Tôi rất thích ông, ông già ấy.
Tôi đến vào kỳ nghỉ. Ngày cưới đến gần. Đang giữa mùa hè, và tất cả chúng tôi đều ở datcha[22] lớn của ông. Một trong những datcha xưa ấy... Không phải ba trăm mét vuông đất theo quy định. Tôi không nhớ chính xác là bao nhiêu, nhưng thậm chí có cả một khu rừng nhỏ. Những cây thông già. Loại datcha cấp cho viên chức cao cấp dùng vào những công việc đặc biệt. Cho các viện sĩ hàn lâm, các nhà văn. Khi tôi thức dậy thì ông đã ở ngoài vườn. “Tôi có một tâm hồn nông dân. Tôi đã đi bộ từ Tver đến Moskva, đi dép vỏ lanh.” Buổi tối, ông thường ngồi một mình trên hiên, hút thuốc. Người ta không giấu tôi rằng ông đã ra viện về nhà để chờ chết, ông bị ung thư phổi không thể mổ. Ông không ngừng hút thuốc. Ông từ bệnh viện trở về với một cuốn Kinh Thánh. “Tôi, kẻ suốt đời là người duy vật, vậy mà tôi đã quay về với Chúa trước khi chết.” Cuốn Kinh Thánh ấy là do các bà nữ tu chuyên chăm những người ốm nặng ở bệnh viện cho ông. Ông mò đọc với một cái kính lúp. Buổi sáng ông đọc báo và sau giấc ngủ trưa, đọc các hồi ký chiến tranh. Loại sách ấy ông có cả một tủ: Joukov, Rokossovski... Ông rất thích kể ông đã được thấy tận mắt Gorki, Maïakovski, những người anh hùng của Tchéliouskine như thế nào… Ông hay lặp lại: “Điều nhân dân muốn, là được yêu mến Stalin và ăn mừng ngày 9 tháng Năm!”. Tôi tranh luận với ông… Cải tổ đã bắt đầu, mùa xuân của dân chủ Nga… Tôi là một thằng nhãi con! Một hôm, chúng tôi ngồi riêng với nhau, mọi người đã đi vào thành phố. Hai người đàn ông trong một datcha trống, với một bình vodka. “Ta cóc cần các ông bác sĩ! Ta đã sống cuộc đời ta! – Một chút vodka chăng? – Thì đi! Và ông thả phanh… Tôi đã không hiểu ngay… Tôi đã không biết rằng cái cần có ở đây là một ông linh mục. Khi một con người nghĩ đến cái chết… Sự thể bắt đầu bằng một cuộc trò chuyện. Chúng thông thường những năm ấy: chủ nghĩa xã hội, Staline, Boukharine… Di chúc của Lénin, mà Stalin đã giấu Đảng… Tất cả những chuyện vẫn bàng bạc trong không khí, trên báo chí. Chúng tôi đã uống. Tự ông hăng lên. “Cậu chỉ là một thằng nhóc thò lò mũi! Câu chưa thấy gì sất! Ta sẽ nói với cậu một điều hay: người Nga, không được trao cho họ tự do. Họ sẽ làm hỏng tất. Cậu hiểu không?”. Và một tràng tục tĩu. Một người Nga không thể cố thuyết phục một người Nga khác mà không chửi tục như một lão đánh xe ba gác. Tôi phải kiểm duyệt. “Nhét cái đó cho tốt vào trong sọ…”. Tôi, đương nhiên rồi… Tôi đang sốc. Ông bị kích động: “Phải tóm hết chúng nó và tống chúng đến các lò mổ, tất cả cái bọn to mồm ấy! Với xẻng và cuốc! Cái cần đối chúng, là một trận Khủng bố ra trò. Không có Khủng bố, mọi thứ sẽ đổ nhào trong nháy mắt.” (Dừng một hồi lâu.) Người ta cứ tưởng quái vật phải có sừng và móng. Vậy mà trước mắt ta đấy một con người… một con người bình thường… Ông xì mũi, ông ốm, ông uống vodka… Và tôi tự nhủ… Lúc đó, là lần đầu tiên tôi nghĩ đến chuyện ấy… Bao giờ cũng là những nạn nhân còn lại để làm chứng, còn những tên đao phủ, chúng, chúng im lặng. Chúng bốc hơi trong thiên nhiên, chúng chìm trong một vực thẳm vô hình. Chúng không có tên, không tiếng nói. Chúng biến mất không để lại dấu vết. Ta không biết chút gì về chúng.
Trong những năm 1990, còn có những đao phủ còn sống... Chúng sợ… Tên một viên dự thẩm đã tra tấn viện sĩ Vavilov đã xuất hiện trên báo, tôi còn nhớ, y tên là Alexandre Khvat. Người ta còn đăng vài tên nữa. Và chúng đã hoảng sợ khi nghĩ rằng người ta sẽ công bố các tài liêị lưu trữ và giải mật. Chúng hoảng hốt. Không ai tiến hành các nghiên cứu và làm các thống kê, nhưng đã có hàng chục vụ tự sát. Trong cả nước. Người ta đổ lỗi tất cả những chuyện đó cho sự sụp đổ của đế chế, cho tình trạng khốn khổ… Nhưng tôi đã nghe nói về những vụ tự sát của những người hoàn toàn sung túc và tuyệt đối được trọng vọng. Không có lý do rõ ràng. Họ chỉ có một điểm chung duy nhất: họ đều đã làm việc cho các cơ quan mật vụ. Hoặc lương tâm họ đã thức dậy, hoặc họ sợ gia đình họ biết sự thật. Họ sợ sệt, họ hoảng hốt. Họ không hiểu nổi điều gì đang xảy ra, tại sao lại sinh ra cái khoảng trống rỗng quanh họ… Họ là những con chó trung thành! Những tên tay sai tốt… Đương nhiên, không phải tất cả đều run. Có thể tôi nhớ nhầm, nhưng trên báo Pravda, hay trên Ogoniok, đã đăng lá thư của một tên cựu bảo vệ có vũ trang của các trại giam. Tên ấy, nó không sợ! Y kể ra tất cả các thứ bệnh y đã mắc phải khi làm việc ở Sibérie, nơi y canh giữ những “kẻ thù của nhân dân” suốt mười lăm năm. ÔI, y đã khó nhọc bao nhiêu… Y than thở… Công việc thật nặng nề, chúng bị muỗi ăn thịt và phải chịu đựng cái nóng, và mùa đông, rét buốt da. Người ta phát cho lính những cái áo khoác nhỏ mỏng tang (chính xác là ngôn ngữ của y “những chiếc áo khoác nhỏ mỏng tang”), trong khi đám thượng cấp dạo chơi với áo lông lót và bốt dạ. Và bây giờ thì, những kẻ thù của nhân dân mà người ta không loại trừ đến tận gốc đang ngóc đầu dậy… Đấy là phản cách mạng! Bức thư của y tràn ngập hận thù… (Ngừng một lúc.). Có nhưng cựu tù nhân đã trả lời y. Họ không còn sợ, họ dám nói. Họ kể rằng, trong các trại giam, chúng trói tù nhân trần truồng vào các cây và trong hăm bốn tiếng họ bị ruồi ăn thịt đến mức chỉ còn những bộ xương. Mùa đông, những “người yếu lả” không hoàn thành đủ suất việc thường nhật bị dội nước. Và hàng chục bức tượng nước đá cứ đứng đó trước cổng trại, cho đến mùa xuân. (Ngưng một lúc.) Không ai bị phán xử! Không ai cả! Những tên đao phủ đã kết thúc cuộc đời của chúng với danh nghĩa hưu trí được trọng vọng... Bà có muốn tôi nói với bà? Chẳng nên bỏ công kêu gọi người ta hối cải. Đừng có mà đi kể những chuyện về nhân dân của chúng ta và trái tim vĩ đại của nó...Không ai sẵn sàng hối cải hết. Đấy là một công việc thiêng liêng, sự hối cải! Tôi, này nhé, tôi đi nhà thờ, nhưng về chuyện thú tội, tôi không quyết được. Thật khó khăn… Nói cho đúng, người ta chỉ thương xót chính mình. Chứ không cho ai khác. Ừ, vậy là… Ông già cứ loanh quanh trên hiên. Ông rống lên… Nghe những chuyện ông nói, tôi dựng tóc gáy. Hồi đó tôi đã biết không ít chuyện. Tôi đã đọc Chalamov… Nhưng ở đây, trên bàn có một cái bát đựng sôcôla… Một bó hoa… Một khung cảnh hoàn toàn an bình. Và sự đối lập ấy càng khiến mọi thứ dữ dội hơn. Thật khủng khiếp, và thật hay. Nói cho trung thực, thậm chí tôi tò mò hơn là sợ. Bao giờ người ta cũng muốn… ghé nhìn xuống vực. Vì sao? Thì con người là thế…
“Khi được nhận vào NKVD, tôi tự hào kinh khủng. Với món lương đầu tiên, tôi mua một bộ com lê đẹp…”
“Đấy là một công việc thiêng liêng... Có thể so sánh nó với chiến tranh. Nhưng chiến tranh, thì thư thái. Khi ta giết một tên Đức, nó hét lên bằng tiếng Đức. Trong khi bọn này, chúng hét bằng tiếng Nga… Đấy là, có thể nói, những chàng trai của chúng ta… Bắn bọn Lituanie hay Ba Lan dễ hơn. Còn bọn này, chúng rống lên bằng tiếng Nga: “Đồ súc sinh ngu xuẩn! Lũ đần độn đáng thương! Làm nhanh lên!”. Đ.m. nó...! Và chúng tôi, chúng tôi đẫm đầy máu, chúng tôi chùi tay lên chính tóc mình. Có những lần, người ta phát cho chúng tôi những tạp dề bằng da. Đấy là công việc của chúng tôi… Chúng tôi là viên chức. Cậu, cậu còn trẻ… Cải tổ, cải tổ…! Cậu tin những kẻ đánh cuộc dẻo mồm ấy… Cứ để mặc chúng hò hét “Tự do! Tự do!”. Cho chúng đùa ngịch đôi chút trên các quảng trường… Chiếc rìu vẫn còn đấy. Một chiếc rìu, nó phục vụ chủ nó. Đừng quên điều đó! Đ.m…! Ta, ta là một người lính! Người ta ra lệnh cho ta, và ta vâng lệnh. Ta hạ sát những con người. Nếu người ta ra lệnh cho cậu, cậu cũng sẽ vâng lời, cậu cũng thế. Cậu-sẽ-làm, mẹ kiếp! Ta giết những kẻ thù. Những tên phá hoại. Có một công văn chính thức viết rõ: “Án ở mức tối cao vì an ninh xã hội”… A, đấy là công việc, ta không nói với cậu sao! Nếu tên ấy không bị bắn chết ngay, nó sẽ đổ xuống, nó rống như một con lợn… Nó khạc ra máu… Khó chịu nhất, là bắn một tên cứ đùa vui. Hoặc giả nó đã thành điên, hoặc nó khinh anh. Những tiếng rú và những lời chửi rủa như mưa cả hai phía. Không được ăn trước khi làm việc đó. Ta, ta không thể... Và lúc nào cũng khát. Muốn uống cả một lít nước, như sau một cuộc say rượu. Đ…m…! Cuối ngày, người ta mang đến cho bọn ta hai cái xô, một xô vodka, một xô nước hoa. Vodka, người ta cho bọn ta sau, không phải trước. Cậu đã đọc ngược lại ở đâu đó phải không? Ối giào, bây giờ người ta nói bất kể thứ gì! Bọn ta rửa bằng nước hoa đến thắt lưng. Mùi máu rất dai, là mùi đặc trưng, như mùi… Nó hơi giống mùi tinh dịch… Ta có một con chó béc giê, vậy đó, khi ta đi làm về, nó không đến gần ta! Mẹ kiếp đ.m.…! Nhưng tại sao cậu không nói gì hết? Cậu là một thằng nhóc, cậu chưa nhìn thấy gì hết… Cậu biết không, rất hiếm, nhưng có khi ta vớ được một tên lính thích giết người… Người ta rút nó khỏi toán hành hình và chuyển nó đi nơi khác. Người ta không thích những tên như vậy. Nhiều đứa là trai tráng nông thôn, như ta. Chúng vững hơn dân thành phố. Chịu đựng tốt hơn. Và quen với cái chết hơn: có những đứa đã chọc tiết lợn ở nhà, hay giết bê. Còn gà, thì mọi người đều đã làm… Cái chết, phải tập dượt với nó… Những ngày đầu, người ta cho bọn ta nhìn. Lính thì chỉ dự các cuộc hành quyết, hay đi theo những người bị án. Có nhưng cậu bị điên ngay, họ không chịu được. Đương nhiên rồi! Ngay giết một con thỏ, cũng phải có thói quen nhất định, không phải ai cũng làm được. Đ.m…! Người ta bắt người đó quỳ xuống, và bắn bằng súng ngắn gần như đặt sát vào thái dương trái… gần tai. Cuối ngày, bàn tay ta thòng xuống như một cái giẻ cũ. Nhất là ngón tay trỏ cứ nhừ ra. Bọn này cũng vậy, bọn này có một kế hoạch phải hoàn thành, như mọi nơi khác. Như ở nhà máy. Lúc đầu, bọn này không đạt được. Không đạt được về mặt cơ thể. Bọn này bèn triệu các bác sĩ tới, một hội đồng bác sĩ, và họ quyết định làm mát xa cho những người lính, mỗi tuần hai lần. Mát xa bàn tay phải và ngón trỏ tay phải. Ngón trỏ là bắt buộc, nó bị nhừ nhiều nhất khi ta bắn. Tôi, tôi chỉ hơi bị điếc tai phải, vì người ta bắn bằng bàn tay phải.
“Người ta phát cho bọn này những tấm bằng danh dự “Vì đã hoàn thành những công cán đặc biệt của Đảng và chính phủ”… “Vì lòng trung thành với lý tưởng của Đảng của Lénin và Stalin...”. Những tấm bằng in trên giấy rất đẹp ấy, ta đầy một tủ. Mỗi năm một lần, người ta đưa gia đình ta đến một nhà nghỉ. Thực phẩm tuyệt hảo… nhiều thịt, chăm sóc y tế… Vợ ta không biết chút gì về công việc của ta. Chỉ biết là một công việc bí mật và trách nhiệm cao. Ta cưới vợ vì tình yêu.”
“Trong chiến tranh, người ta tiết kiệm đạn. Nếu ở gần biển, người ta chất đầy một sà lan, nhét đầy như một thùng tô nô cá mòi… Chỉ nghe những tiếng thét vang lên từ dưới hầm, đấy là tiếng gầm của thú vật”..., “Variag kiêu hãnh của chúng ta sẽ không bao giờ đầu hàng, không ai cầu xin” [23]… “Người ta cột tay họ bằng dây thép gai hay cột vào chân họ một hòn đá. Nếu trời tốt và biển lặng, ta thấy chìm xuống rất lâu… Sao cậu cứ nhìn ta thế, cái thằng thò lò mũi xanh kia? Hả? Đ.m…! Cùng rót thêm một ly nữa đi! Đấy là công việc của bọn ta. Bọn ta là viên chức… Nếu ta kể cho cậu những cái ấy, là để cậu hiểu nó thật đắt giá với chúng ta, chính quyền xô viết ấy! Vậy nên, phải bảo vệ nó, giữ lấy nó… Buổi tối, bọn ta trở về, trong những xà lan trống. Trong cái im lặng chết. Mọi người đều tự nhủ: khi ta đã lên bờ, họ sẽ… ta… Chết tiệt…! Suốt nhiều năm, ta đã giữ dưới gầm giường của ta một chiếc va li nhỏ luôn sẵn sàng, với quần áo để thay, một cái bàn chải đánh răng, một cái dao cạo râu. Và một khẩu súng ngắn dưới gối… Ta sẵn sàng tự bắn một phát vào đầu. Ta sống như vậy đó, thời ấy. Lính cũng như nguyên soái. Về mục này, bằng nhau cả.”
Khi chiến tranh nổ ra, ta lập tức xin ra mặt trận. Chết trận thì chẳng có gì ghê gớm. Ta biết ta chết vì Tổ quốc. Đơn giản và rõ ràng. Ta đã giải phóng Ba Lan, Tiệp Khắc… Chết tiệt! Ta đã kết thúc chiến tranh ở Berlin. Ta có hai huân chương và các huy chương. Chiến thắng! Sau đó, ta bị bắt. Họ có những danh sách đen đâu vào đó… Có hai cách chết đối với một người tchéka[24]: do bàn tay kẻ thù, hay bàn tay NKVD. Ta xơi bảy năm. Ta đã thụ án trọn vẹn. Này nhé, tới hôm nay nữa, ta dậy từ sáu giờ sáng, như trong tù… Vì sao họ bắt ta? Họ không nói với ta… Đ.m….!”.
(Ông vò bao thuốc rỗng một cách kích động.)
Có thể ông nói dối. Không, không, ông không nói dối… Tôi không tin. Sáng hôm sau, tôi bịa một cái cớ nào đó và tôi ra đi. Tôi vắt chân lên cổ mà chạy. Và không có đám cưới. Không còn chuyện đám cưới… Tôi không thể đặt chân trở lại trong ngôi nhà đó. Tôi không thể. Tôi trở về đơn vị. Vị hôn thê của tôi không hiểu gì cả. Cô viết nhiều thư cho tôi. Cô đau khổ… Còn tôi… Nhưng không phải tôi đang nói về chuyện tình yêu của tôi. Đấy là một chuyện khác. Tôi muốn hiểu… và bà cũng vậy, bà muốn hiểu những con người ấy là ai. Có phải đúng thế, không? Dẫu sao… Một tên sát nhân, là chuyện đáng nghĩ, người ta đã nói bao nhiêu, đấy không thể là một con người bình thường. Rất hấp dẫn… gợi tò mò. Cái ác, nó thôi miên… Đã có hàng trăm cuốn sách về Hitler và về Staline. Về tuổi thơ của họ, đời sống gia đình họ, về vợ họ… Rượu vang và thuốc là họ ưa thích… Mỗi chi tiết nhỏ đều khiến ta quan tâm. Ta muốn biết họ là ai… Tamerlan, Gengis Khan. Và những bản sao của họ… những bản sao nhỏ. Đám này nữa, chúng cũng làm những việc kinh tởm, chỉ có đôi đứa đã trở thành điên. Tất cả những người khác đều có một cuộc sống bình thường, họ ôm hôn vợ, họ chơi cờ… Họ mua đồ chơi cho con… Và mỗi người trong số họ tự nhủ: đấy không phải là tôi. Không phải là tôi kẻ đã treo người ta lên trần nhà, làm phụt não họ ra, không phải là tôi kẻ đâm những cây bút chì vót nhọn vào bầu vú đàn bà. Không phải tôi, đấy là hệ thống. Ngay cả Staline cũng nói thế: “Không phải ta quyết định, đấy là Đảng.” Ông nói với con trai ông: “Con tưởng rằng Staline, là ta? Không! Staline, là ông ấy!”. Và ông chỉ chân dung ông trên tường. Không phải ông, mà chân dung ông. Guồng máy chết đã vận hành toàn lực trong nhiều chục năm… Aaa, đấy là một lô gích thiên tài! Những đao phủ, những nạn nhân, và cuối cùng, đao phủ cũng trở thành nạn nhân. Cứ như những cái ấy không phải do những con người sáng chế ra… Một sự tinh xảo đến thế, chỉ có thể tồn tại trong tự nhiên. Bánh xe quay, và không có kẻ có tội. Không! Mọi người đều muốn được người ta thương cảm. Rốt cục, tất cả họ là nạn nhân. Tất cả!… Hồi đó, tôi còn trẻ, tôi sợ, và tôi đã câm nín. Hôm nay, tôi sẽ đặt cho ông ấy những câu hỏi… Tôi cần biết… Tại sao? Với tất cả những gì tôi biết về những con người, tôi sợ chính tôi. Tôi khiến tôi sợ. Tôi là một kẻ nào đó bình thường, yếu đuối... Tôi vừa đen vừa trắng… và tất cả các màu… Trong các trường học xô viết, người ta dạy chúng tôi con người căn bản là thiện. Nó tuyệt đẹp. Cả hôm nay nữa, mẹ tôi tin rằng những hoàn cảnh ghê tởm làm cho con người ghê tởm. Nhưng con người là tốt. Nhưng không phải thế… Không, không phải thế! Suốt đời mình, con người đu đưa giữa thiện và ác. Hoặc là mày đâm một cây bút chì vào bầu vú, hoặc mày bị người ta làm điều đó. Chọn đi! Nào, chọn đi! Bao nhiêu năm đã qua, mà tôi không sao quên được cảnh ấy... Ông rống lên: “Ta xem tivi, ta nghe đài phát thanh… Có những người giàu mới và những người nghèo mới! Những người này ăn trứng cá hồi, họ mua các hòn đảo và máy bay, những người kia không đủ tiền mua bánh mì trắng. Nhưng chuyện đó sẽ không kéo dài lâu! Người ta sẽ quay lại đó, quay về với Staline. Chiếc rìu vẫn ở đó, nó chờ giờ của nó... Đừng quên điều ấy! Cậu đã hỏi ta (tôi đã hỏi ông) một con người còn là một con người trong bao nhiêu lâu, cái đó kéo dài bao lâu… Thế thì, ta sẽ nói với cậu: một cái chân ghế vào lỗ đít, hay một chiếc đinh vào bìu dái, là không còn con người! Ha, ha! Không còn nữa!Chỉ còn cứt!”.
(Để ngừng chuyện.)
Xong, chúng ta đã lục tung Lịch sử… Hàng nghìn phát hiện, hàng tấn sự thật. Quá khứ, với những người này, là một cái hòm đầy thịt người và một thùng tô nô đầy máu, với những người khác, là một thời đại lớn… Ngày nào chúng ta cũng làm chiến tranh với nhau trong các nhà bếp của chúng ta. Nhưng, chẳng bao lâu nữa, bọn trẻ sẽ lớn lên. Những con sói nhỏ, như Staline nói. Chẳng bao lâu, chúng sẽ lớn…
(Ông từ biệt tôi lần nữa, rồi đột ngột lại nói.)
Cách đây không lâu, tôi đã xem những bức ảnh tài tử trên internet. Những bức ảnh chiến tranh, sẽ tầm thường nếu ta không biết đó là về chuyện gì. Đấy là một toán SS ở Auschwitz… Những sĩ quan và những lính thường. Có rất nhiều cô gái. Họ chụp vào buổi tối, trong các cuộc dạo chơi. Họ trẻ và vui (Dừng một lúc.) Và những bức ảnh các nhân viên Tchéka của chúng ta, trong các bảo tàng. Một hôm nào đó, hãy nhìn họ thật kỹ: ta sẽ thấy có những người có khuôn mặt đẹp… Đầy thần cảm… Thời gian khá dài, người ta đã bảo chúng ta đấy là những vị thánh…
Tôi rất muốn đi khỏi đất nước này, hay ít ra cho các con tôi đi khỏi nơi đây. Chúng tôi sẽ đi. Chiếc rìu của ông chủ chờ giờ của nó… Tôi không quên gì hết…
Vài ngày sau, ông gọi điện thoại cho tôi để cấm tôi công bố lời chứng của ông, và từ chối không giải thích vì sao. Sau đó tôi biết ông đã di cư sang Canada cùng gia đình. Tôi gặp lại ông mười năm sau, và lần này, ông đã cho phép tôi. Ông bảo tôi: “Tôi vui lòng vì đã ra đi đúng lúc. Có một thời mọi người đều rất thích người Nga, nhưng bây giờ, người ta lại đã bắt đầu sợ. Điều ấy có khiến bà sợ không, bà ấy?”.
[1] Trong bản tiếng Pháp là zone “khu vực”. Đây là từ chỉ vùng được khoanh lại quanh các trại giam, nằm trong sự kiểm soát của các trại giam ấy. (ND)
Những chú thích có (ND) là của người dịch. Những chú thích khác là của tác giả.
[2] NKVD: Cơ quan Mật vụ Liên xô. (ND)
[3] Cônsômôn: Đoàn thanh niên cộng sản Liên xô.(ND)
[4] Stipa: Dạng cây dương xỉ. (ND)
[5] Kacha: Cháo tấm.(ND)
[6] Nữ thanh niên Cônsômôn bị phát xít Đức treo cổ trong chiến tranh lúc 18 tuổi, được coi là anh hùng Liên Xô. Alexandre Matrossov cũng là một thanh niên anh hùng Liên xô trong chiến tranh năm 1940.
[7] Nhân vật nổi tiếng trong tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy” xuất bản năm 1932, của Nicolaï Ostrovski (1904-1936). Bị mù vì những vết thương khi chiến đấu trong binh đoàn kỵ binh của Boudionny, ông đã viết cuốn sách của mình dù bị mù. Là hình tượng người cộng sản kiên định trước mọi thử thách.
[8] Zek: Cách viết tắt trong tiếng Nga từ năm 1922, chỉ một người tù.
[9] “Cám ơn” và “thế nào cũng mặc”.
[10] Công thức quen thuộc để xua tù nhân ra khỏi khám. Đối với một người Nga, nó lập tức gợi nhớ đến các trại giam.
[11] Magnitka: Tên nhà máy thép ở Magnitogorsk, do tù nhân xây dựng. Trại tù ở Vorkouta cũng nổi tiếng xấu xa.
[12][12] Quần đảo Goulag: Tác phẩm nổi tiếng của Soljénitsine viết về các trại tù của Stalin ở Sibérie. (ND)
[13] Con người xô viết. (ND)
[14] Tchéliouskine là một chiếc tàu bị kẹt trong băng, bị đắm năm 1934. Thiên anh hùng ca về những người phi công đã cứu sống thủy thủ đoàn đã trở thành truyền thuyết. Valérie Tchkalov (1904- 1938) là một phi công nổi tiếng. Sergueï Koroliov (1907-1966), một kỹ sư, là một trong những người tham gia thiết kế súng Katioucha nổi tiếng, rồi chuyến bay của Gagarine vào vũ trụ.
[15] Tức năm đại khủng bố, đỉnh cao đàn áp của Stalin.
[16] Những đoàn viên tháng Mười, thiếu niên tiền phong và Cônsômôn là tương đương (theo lối cộng sản) của đoàn viên sói con và hướng đạo.
[17] Alexandre Kouprine (1870-1938): Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông, Cuộc đấu (xuất bản năm 1905) viết một cách hiện thực về cuộc sống trong quân đội Sa hoàng (chính ông là sĩ quan trong quân đội này trước khi tập trung vào nghề văn). Sau mấy năm lưu vong ở Pháp, ông trở về Liên Xô năm 1936.
[18] Câu này là của Gorki.
[19] Điều luật về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
[20] Mùa thu hoạch, nói chung sinh viên được gửi về nông thôn để giúp công việc đồng áng, không nhận tiền công.
[21] Thầy pháp nổi tiếng hồi đầu những năm 1990.
[22] Nhà nghỉ nông thôn ở Nga. (ND)
[23] Bài hát nổi tiếng viết năm 1917 ca ngợi tuần dương hạm Variag, đã đối mặt với nhiều tàu Nhật trong chiến tranh Nga-Nhật, và đã tự đánh chìm để không rơi vào tay quân thù.
[24] Nhân viên mật vụ Liên Xô. (ND)