Danh ngôn

Trong mọi cộng đồng, chúng ta cần một nhóm thiên thần gây rối.

We need, in every community, a group of angelic troublemakers.

(Bayard Rustin – trích bài phát biểu tại New York City 1963)

Trong mọi trường hợp, chắc chắn rằng sự thiếu hiểu biết, đi kèm với quyền lực, là kẻ thù tàn bạo nhất có thể có của công lý.

It is certain, in any case, that ignorance, allied with power, is the most ferocious enemy justice can have.

(James Baldwin - No Name in the Street 1972)

Các cuộc cách mạng và các cá nhân có thể bị giết hại, nhưng bạn không thể giết chết các ý tưởng.

While revolutionaries and individuals can be murdered, you cannot kill ideas.

(Thomas Sankara, một tuần trước khi bị ám sát, 1987)

Không có cảm giác nào cô đơn hơn việc bị chính đất nước mình trục xuất.

There's not a more lonely feeling than to be banished by my own country.

(Kiyo Sato – Kiyo’s Story 2009)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Xuân Quỳnh: Sự thăng hoa Nhân ngày giỗ Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ (29/8/1988 – 2014)

Nguyễn Đức Tùng

Văn Việt: Cặp đôi tài hoa hiếm có trong văn chương Việt Nam mọi thời đại vẫn chiếm chỗ đặc biệt trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ. Văn Việt xin giới thiệu một bài viết mới nhất về Thơ Xuân Quỳnh nhân ngày giỗ thứ 26 của Quỳnh-Vũ, mà tác giả gửi đến như những nén nhang tưởng nhớ từ Canada, qua nửa vòng trái đất.

Tôi mới đọc Xuân Quỳnh gần đây. Với tôi, thơ chị ở quá xa, thuộc về một lịch sử khác, nhưng càng đọc càng thấy gần lại. Vì chị thường nói về thời gian:

Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế

Chỉ em là đã khác với em xưa

Thời gian là thước đo chiều kích của mối quan hệ giữa người làm thơ và người đọc. Nhà thơ sống dưới vùng trời khác, sinh ra trong một gia đình khác. Người đọc thơ đi lại, nói năng trên mảnh đất khác, giữa bạn bè khác, từ một lịch sử chính trị khác. Những kiến thức và suy luận không mấy khi giúp họ đến gần nhau. Nhưng sự xúc động, nỗi hồi hộp vui sướng, cảm giác bất an mơ hồ: chúng làm được điều ấy. Từ vòng vây của hữu hạn và cái chết, nhà thơ truyền cho người khác kinh nghiệm của đời sống mình.

Bằng cách nào?

Thơ Xuân Quỳnh, những bài hay nhất, viết về tình yêu và về mùa thu. Đó không phải chỉ là các chủ đề, chúng vượt ra ngoài khái niệm đề tài hay chủ đề. Đó là thăng hoa. Ký ức và sự thăng hoa của các kinh nghiệm trong ký ức ấy tạo ra ý nghĩa của thơ ca. Ý nghĩa ấy được nghe như một thứ âm nhạc sâu, từ bên trong. Đó là thăng hoa có tính thân mật, nối kết người đọc với nhà thơ, với tiếng nói nội tâm của mỗi người. Những bài thơ thành công dựa trên khả năng gắn bó giữa giấc mơ và người mơ giấc mơ ấy. Hình thức nghệ thuật và thể của thơ là nơi các xúc cảm và các kinh nghiệm siêu việt, hay siêu nghiệm, phô bày, hành xử, dệt nên thế giới khác, hiện thực khác. Nhưng nếu thời gian là sự chiêm nghiệm riêng tư giữa một người và một người, thì không gian là tương tác giữa một người và những kẻ đương thời, bạn bè, đất nước. Không gian ấy có thể phải tiêu biểu cho một giai đoạn lịch sử, những mất mát được ghi lại lặng lẽ, kín đáo, khiêm tốn. Sự khôn ngoan của các chi tiết, mà ngày nay chúng ta ít thấy.

Tuổi thơ con có những gì

Có con cười với mắt tre trong hầm

Không gian ấy nhỏ bé nhưng bất tận, vì là tâm cảnh của tuổi thơ. Là mùa thu: sự mơ mộng, mơ màng.

Cuối trời mây trắng bay

Lá vàng thưa thớt quá

Phải chăng lá về rừng

Mùa thu đi cùng lá

Các nhà phân tâm học, như trường phái Jung, quan niệm sự nối kết giữa hai người trong tình yêu chính là mối quan hệ biện chứng giữa nhân vật nam bên trong (animus) và nhân vật nữ bên trong (anima). Người đàn ông yêu một người đàn bà phóng chiếu lên người đàn bà ấy tất cả những giá trị mà anh ta cảm kích về người nữ của mình, và ngược lại khi một người đàn bà yêu một người đàn ông, cô cũng phóng chiếu lên người đàn ông ấy tất cả những giá trị mà người nam kia cần sở hữu. Hai người yêu nhau sống trong thế giới lý tưởng hóa, người này tạo lập nên một thế giới cho người kia, biến đối tượng yêu thương của mình thành một chủ thể có khả năng nhận thức thế giới lý tưởng ấy. Trong thơ Xuân Quỳnh, đó là cõi nguyên sơ:

Mây trắng bay đi cùng với gió

Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ

Thiên nhiên thật ra không phải là đối tượng của thơ Xuân Quỳnh: muốn nói về thiên nhiên thì phải tách rời ra khỏi nó, nhìn ngắm nó như một thực tại biệt lập.

Mưa đổ bụi êm đềm trên bến vắng,

Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;

Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng

Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.

(Anh Thơ)

Chị cũng không tìm cách trở về với thiên nhiên như các nhà thơ lãng mạn thời trước ở thành thị. Tôi không rõ tiểu sử Xuân Quỳnh, nhưng đọc chị tôi có ấn tượng về một người từng sống ở nông thôn. Ai đã sống ở nông thôn đều cảm được rằng con người với thiên nhiên là một. Thiên nhiên trở thành một phần của tâm hồn. Có hai khuynh hướng trong thơ trong mối quan hệ giữa nhà thơ và thiên nhiên, một khuynh hướng tự đồng hóa với thiên nhiên và khuynh hướng thứ hai, xem thiên nhiên là môi trường của những mối quan hệ và của những sự thật khác, nơi ký gởi thông điệp. Đọc thơ Xuân Quỳnh tôi nhận ra cách đây vài chục năm, mặc dù trong chiến tranh, xã hội miền Bắc mà chị sống trật tự, an bình. Trong ký ức của tôi, xã hội miền Nam nơi tôi lớn lên cũng an bình và trật tự như thế. An bình ngay trong thời buổi chiến tranh, và tôi luôn ngạc nhiên về nhận xét này.

Ngọn gió đông làm má ửng hồng

Giữa đường cày con sáo đứng bâng khuâng

Chị không chỉ là một người tình đang nhớ người yêu, mà trở thành người làm chứng của thiên nhiên, một thiên nhiên ngày càng biến mất. Hình ảnh con sáo đứng in bóng lên nền trời, là một nhu cầu hòa hợp, và trên hậu cảnh ấy, sự chia ly hiện ra như nhát cắt đau đớn.

Ngờ ngợ bóng ai xa

A! đúng rồi bóng cha

Tôi ôm người nức nở

Thơ như thế chưa thể gọi là thơ hay, nhưng nó gây xúc động. Đó là giọng thương cảm mà các nhà phê bình đương đại phương Tây thường chê trách, nếu không muốn nói là chế nhạo. Nhưng tôi tin rằng có thể có những quy luật tình cảm riêng, bởi vì lúc khác, nhớ mẹ, chị biết nén mình lại, khiến cho tâm sự có sức tỏa xa trong câu thơ:

Mẹ ơi mẹ từ trong lòng đất

Sự không thỏa mãn các nhu cầu tinh thần phát sinh nỗi cô đơn ở con người. Xuân Quỳnh là kẻ cô đơn, mặc dù có thể trong đời thực, chị sống yêu thương, chan hòa với người khác và bên chồng, bên con.

Sao mẹ chẳng sinh con ở dưới những cơn mưa

Lại sinh con nơi đảo khô cằn thế

Mặc dù chị nói về một hòn đảo nhỏ, trong hoàn cảnh cụ thể. Cô đơn đến nỗi khi muốn đến bên nhau, chị đâm ra vội vàng, có chút vụng về:

Tay ta nắm lấy tay người

Dẫu qua trăm suối ngàn đồi cũng qua

Tình yêu là động lực lớn chi phối cảm hứng của chị. Tình yêu ấy đi qua một đất nước như thế này:

Những đường ray chìm trong cỏ dại

Những nhà ga lau sậy um tùm

Đó là chị viết về cảnh vật trong chiến tranh. Trong những câu thơ ấy có cái bùi ngùi, tiếc nuối, buồn bã, thương xót. Tình thương cắt nghĩa chất hy sinh của chị trong nhiều bài thơ về tình yêu. Mặt khác, khi lên đỉnh cao, tình yêu bao giờ cũng vui, hân hoan rực rỡ, khi yêu, ai mà muốn điều gì khác, ngoài niềm vui, muốn được hét lên? Nhưng tôi không mấy khi tìm thấy điều ấy trong thơ Xuân Quỳnh, cũng như nhiều nhà thơ nữ khác cùng thời. Tính cách văn hóa của Việt Nam chăng? Chị đòi hỏi một cách khiêm tốn:

Chỉ riêng điều được sống cùng nhau

Niềm sung sướng với em là lớn nhất

Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực

Nói xong, chị quay đi, lo việc nhà cửa, chồng con:

Chúng tôi chỉ là những người đàn bà bình thường không tên tuổi

Quen việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày

Rõ ràng là ngược lại tư tưởng nữ quyền ngày nay. Nhưng có thể do tính chị kín đáo, để dành nói những điều mênh mông hơn vào lúc khác. Hay là một người có khả năng nổi loạn, nhưng chưa gặp đúng thời của mình.

Trước cây cỏ vô tư em chẳng giấu

Nỗi nhớ anh, nỗi nhớ khôn cùng

Như thế, nỗi nhớ hình như là cách thể hiện phổ biển nhất của tình yêu ở người phụ nữ Việt Nam. Người đàn bà xưa không mấy khi sống cho mình, mà sống nhiều hơn cho tương lai. Tương lai nào? Đoàn tụ, điền viên, hay ảo ảnh? Họ buộc phải như thế, hy vọng tìm ra sự thăng bằng. Chị tìm ở đâu?

Chớ thương em một mình vất vả

Em ở đây bạn bè đông đủ cả

Thật ra sự thăng bằng đến từ bên trong, tâm hồn của chị có bền vững rồi thì bạn bè mới hội tụ đông đủ được. Vì sự ổn định đến từ bên trong, nên gánh nặng của chị lớn, trĩu xuống.

Nào hạnh phúc, nào là đổ vỡ

Tôi thấy lòng lo sợ không đâu

Chị biết nghi ngờ, ghen tuông:

Lại hàng cây nghe tiếng thì thầm

Lời thành thật, dối lừa trên ghế đá

Có lúc giận dữ:

Dẫu trong em một tình yêu đã mất

Em không còn đủ sức nghĩ về anh

Nhưng có thể không phải thế, mà đó là lúc chị thoát khỏi ảo tưởng, đạt tới cái nhìn trong trẻo đối với sự thật.

Và trong em không thể còn anh

Nếu ngày mai em không làm thơ nữa

Là một trong những câu thơ bí mật của Xuân Quỳnh. Trong những câu như thế, phong cách riêng của chị lộ ra, nửa lãng mạn nửa hiện thực. Ngôn ngữ của chị gần như tự nhiên chứ không phải do rèn luyện. Một người như thế có thể hài lòng với từ vựng và văn phạm của mình: chị làm thơ có vần, và có những bài bảy chữ, tám chữ và lục bát hay, nhưng ít khi làm thơ tự do. Thơ tự do thiên về phá vỡ, từ bỏ. Ngôn ngữ của Xuân Quỳnh trước sau vẫn là ngôn ngữ đẹp của tình yêu, và vì tình yêu thường buồn, day dứt, thất vọng, nên nó có màu của mùa thu:

Cát trắng sông đầy cây ngẩn ngơ

Không gian xao xuyến chuyển sang mùa

Tên mình ai gọi sau vòm lá

Lối cũ em về nay đã thu

Khi so sánh với những câu thơ thuở trước, chẳng hạn của Ngân Giang:

Ải bắc quân thù kinh vó ngựa

Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi

Thì bút pháp Xuân Quỳnh vẫn đượm nét tiền chiến, lãng mạn, nhưng ngôn ngữ của chị đã phát triển lên một thứ bậc khác, của thời đại mình, hoặc đi trước một nửa bước. Trong đời sống và tình yêu, hình như chị không phải là người có lỗi, hay hoàn toàn có lỗi, thế nhưng thơ chị có mùi vị ăn năn. Xuân Quỳnh không đặt ra những câu hỏi siêu hình, chị không để lộ băn khoăn triết học về vai trò của thơ ca đối với cuộc đời. Như một người tự đối thoại, không cần biết ai lắng nghe, chị nói bằng tiếng nói tự đáy lòng. Chị hồn nhiên.

Trong thơ, đó là điểm mạnh và điểm yếu. Nói cách khác, chị đi tìm giọng nói của mình không mấy khó khăn. Đối với nhiều nhà thơ, phải mất nhiều năm trời, mới có thể nhận ra chất giọng thực sự của mình trong sáng tạo. Sự dễ dàng ở chị có cái giá của nó: chất giọng quý, tự nhiên, thì khó thay đổi.

Trong thơ trữ tình, giọng nói thường là của tác giả. Nhờ thế, nhà thơ có thể dùng một thứ ngôn ngữ tinh khiết nhất của thơ ca. Tuy nhiên ngay cả thế đi nữa, thì chất giọng tinh khiết ấy vẫn chỉ là giọng thơ ca chứ không phải là cá nhân. Mặt khác, giọng thơ ca lại không phải chỉ của một người, nó phức tạp hơn và là kết quả của sự tương tác giữa tâm hồn nhà thơ và nhiều yếu tố như truyền thống, văn hoá, xã hội, điểm nhìn. Nó cũng liên quan đến từ vựng và ngôn ngữ. Và kinh nghiệm sống, và tất nhiên, học tập, rèn luyện.

Ngoài ra, giữa kỹ thuậttay nghề cũng có sự khác biệt. Càng viết về sau tay nghề của nhà thơ càng lên nhưng kỹ thuật mà chị áp dụng cho từng bài không có nhiều thay đổi. Thơ tình dĩ nhiên là nói về quan hệ nam nữ, nhưng tôi ít thấy nhà thơ nào xác lập một quan hệ sóng đôi cân đối nhiều như Xuân Quỳnh.

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

Khởi đầu hay quá, nhưng ám ảnh về quan hệ sóng đôi khiến chị không thể không phạm vào khuyết điểm thông thường, là lập lại. Có phần dễ dãi:

Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau – rạn vỡ

Có hai mô thức của thơ tình, một về hạnh phúc, một về khổ đau. Trong mỗi bài thơ của chị có thể thấy được cả hai, thể hiện bằng sự thương thân mình. Nhờ khuynh hướng tự thương thân, chị có thể nhận ra từng chi tiết nhỏ trong đời sống hàng ngày, nhặt chúng lên trong tay, những hoa lá cỏ cây, giọt mưa, bầu trời. Thời gian, sự trôi đi, sự mất mát là ám ảnh thường trực. Trong thơ Xuân Quỳnh, không gian là người đàn ông, thời gian là người đàn bà. Nam giới là xã hội hiện đại, nữ giới là sự hồi tưởng, là bền vững, là sự kế tục. Bằng hồi tưởng, người nữ tự ý thức về mình. Khả năng này rất mạnh ở Xuân Quỳnh, biểu hiện trong thơ của chị dưới dạng thức trầm tư (meditative). Con người vừa sống vừa suy nghĩ, có khi sống nhiều hơn, có khi suy nghĩ nhiều hơn. Dạng thức trầm tư trong thơ Xuân Quỳnh làm thời gian của chị trôi chậm lại, làm cho người nữ trong thơ trữ tình tiến gần về phía người đàn ông, giúp nhà thơ tham dự vào quá khứ và tương lai, nhưng quá khứ nhiều hơn. Cần chú ý rằng trong khi thơ trữ tình của các nhà thơ hiện thực hướng nhiều vào tương lai thì phong cách trầm tư của Xuân Quỳnh giữ chị lại phía bên này của nữ tính cổ điển. Và nữ tính bản năng. Thời gian trong thơ Xuân Quỳnh chưa phải là thời gian hiện đại, chị chưa tự đánh mất chính mình, vì thế bao giờ chị cũng trở lại được với các biên giới của hiện hữu. Vì thế, khi đọc thơ chị, người đọc cảm nhận một điều gì mong manh, đáng thương mà nhân từ. Theo tôi, có một vài nhà thơ nữ khác cũng theo khuynh hướng này, ví dụ Lâm Thị Mỹ Dạ. Thơ Xuân Quỳnh trộn lẫn nhiều thứ, ở nhiều bài là những trộn lẫn cái chưa chín chắn, có cảm giác như đang tìm đường, trong khi ở một số bài khác, là sự hòa hợp trên mức cao giữa truyền thống và cách tân thẩm mỹ.

Đắng cay gởi lại bao mùa cũ

Thơ viết đôi dòng theo gió xa

Hình tượng thơ ca gồm nhiều loại, nhưng quan trọng hoặc phổ biến hơn cả, hoặc cả hai, là tỷ dụ hay hiển dụ (simile) và ẩn dụ (metaphor), cả hai đều thuộc nhóm so sánh. Trong khi ẩn dụ là sự dịch chuyển của hình tượng thì hiển dụ bao giờ cũng chỉ thẳng tính chất so sánh ấy một cách hiển nhiên. Có lẽ vì lý do ấy mà nhiều người nghĩ rằng phương pháp ẩn dụ mạnh hơn phương pháp hiển dụ. Thật ra không phải vậy. Đó chỉ là hai phương cách khác nhau với những điểm mạnh và yếu riêng biệt. Xuân Quỳnh sử dụng rất tài tình các ẩn dụ:

Chỉ có thuyền mới biết

Biển mênh mông dường nào

Nhưng các so sánh hiển nhiên, chị dùng nhiều hơn và thuần thục hơn:

Tình ta như dòng sông

Ngay trong một bài thơ, chị có thể dùng cả hai phương pháp cho một hình tượng, có khi thành công, có khi không thành công, và trong trường hợp thứ hai này, sự hỗn hợp làm cho khí lực bài thơ yếu hẳn đi:

Những đêm trăng hiền từ

Biển như cô gái nhỏ

Chữ của chị không mới, khối lượng từ vựng (diction) khá giới hạn. Tôi không chắc lắm chị có chịu ảnh hưởng của ai không, nhưng dấu ấn của các nhà thơ hàng đầu đương thời ở miền Bắc không thấy rõ lắm trong thơ chị. Có vài câu học trò:

Khi lớn khôn ước mơ càng cháy bỏng

Vai kề vai nghe rộn tiếng tim yêu

Trải tâm tư dưới trời trăng sáng

Cuộc đời ơi, đẹp biết bao nhiêu!

Cái dễ dãi ấy cũng bình thường, nhiều nhà thơ mới viết cũng bắt đầu như thế. Có điều lạ, đối với tôi, là chị thường trở đi trở lại với chúng, sự vụng về ấy, ngay cả khi đã viết những câu giản dị mà diễm tuyệt, gần như bất tử:

Tình ta như dòng sông

Đã yên ngày thác lũ

Giản dị trong văn chương là gì ? Đó là sự phức tạp đã sống sót.

Rõ ràng là giọng thơ của người biết nén lại, đã chín, của một người bị cuộc đời xay đập nhiều lần, học được cách nói năng điềm đạm, dồn năng lượng vào chữ. Nếu được sống lâu hơn, tiếp xúc nhiều hơn với một xã hội khác, tự do hơn, bay bổng hơn, ít ngăn nắp hơn, thơ chị sẽ còn nhiều khám phá thú vị và bứt phá ngoạn mục.

Về phương pháp hiện thực, Xuân Quỳnh thể hiện mình có phần khó khăn:

Sóng đồng chiêm – ôi cái sóng đồng chiêm

Ai bảo sóng đồng không đáng sợ

Trong một bài thơ được nhiều người nhắc đến, với những câu khá hay:

Ngọn gió lào cát trắng của đời tôi

Tôi của cát của gió lào khắc nghiệt

Có lẽ chị đang vào Quảng Bình hay Quảng Trị, gần vĩ tuyến mười bảy, như hầu hết các nhà thơ miền Bắc thời ấy. Ngay khi chị hứa hẹn:

Em mới về em chưa thấy gì đâu

Chỉ có cát và gió lào quạt lửa

Thì cái kết của bài thơ vẫn đoán được:

Tôi sẵn lòng đem hiến cả đời tôi

Cho cát trắng và gió lào quạt lửa

Sở dĩ như thế vì phương pháp sáng tác mà chị theo sát không cho phép chị tạo ra những bước ngoặt thi pháp. Cũng như những người đi trước chị, vào lúc ấy, chẳng hạn:

Rạo rực khắp trời ánh sáng đi lên

Thì tất nhiên câu tiếp theo và kết thúc bài thơ sẽ phải là:

Anh đã mất gì? Đã mất bóng đêm

(Chế Lan Viên)

Thông minh nhưng mà sáo. Hình như có một sự lẫn lộn giữa khuynh hướng hiện thực và phong cách tự sự. Chỉ khi nào chị từ bỏ lối mô tả cổ điển và bước sang giao tiếp thẩm mỹ hiện đại, thơ chị vượt lên:

Lối đi quen bỗng lạ

Cỏ lật theo chiều mây

Những người không sống hay lớn lên như chị trong thời gian 1954-1975 ở miền Bắc, nhất là lúc chiến tranh, nên đọc Xuân Quỳnh. Vì khác với nhiều người, thơ chị viết về cuộc đời thường, có riêng, có chung, có bề rộng, bề sâu. Đọc chị, tôi nghĩ đến một nếp sống hay một môi trường hạnh phúc. Mặc dù đối với những người yêu tự do, nó không hấp dẫn.

Thơ Xuân Quỳnh biểu lộ năng lượng dồi dào như chính tuổi trẻ của chị, đáng kính trọng, vươn lên trong gian khó. Chị yêu cuồng nhiệt, và nếu cần, có thể nói:

Nếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố

Đẩy xa nữa, chị sẽ chạm vào khuynh hướng hài hước đương đại, hoặc khuynh hướng hài hước pha lẫn bi kịch. Thơ chị nhiều câu cũng có tính chất vui chơi (playful) và, mặc dù không thể hiện rõ trong các bài trữ tình, có lẽ nhờ vậy mà chị viết được một số bài thơ hay cho thiếu nhi.

Có một nỗi xao xuyến, tao loạn, ngổn ngang, gãy đổ trong những dòng tâm sự dịu dàng. Chị kẹt vào giữa hai thế giới: một bên là khuynh hướng nữ tính truyền thống, không những được nuôi dưỡng bởi không gian văn hóa thời kỳ ấy mà còn được bảo trợ, kỳ lạ thay, bởi toàn bộ nếp sống xã hội chủ nghĩa mà chị lớn lên trong đó, một bên là khuynh hướng nữ quyền tự do âm ỉ. Chị có thể không có nhiều điều kiện bay nhảy như những đồng nghiệp khác, nhưng đừng hiểu lầm: chị có vẻ sống thanh thản. Vì cái tự tin của chị tiêu biểu cho một lớp người, một thế hệ, theo phong cách của họ.

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Truyền thống, nhưng vẫn mới, vì lối nói trực tiếp. Ngay cả mới như Minh Đức Hoài Trinh ở miền Nam cũng phải dùng đến nghệ thuật ám chỉ:

Người ấy đi về xứ

Chim kia bay về xứ

Đại dương trôi về xứ

Gió cuốn lá về xứ

Bốn câu thơ lạ, mềm mại nhưng ác liệt. Còn phong cách Xuân Quỳnh: thùy mị, thu mình, nghĩ về anh trước, nghĩ đến em sau. Thật ra, theo kinh nghiệm của tôi, sự khiêm tốn ở người nữ chưa hẳn là khiêm tốn: nó cao hơn thế.

Có khi chị chạm được vào kho tàng văn xuôi của thơ:

Đêm đầu tiên tôi trở về quê cũ

Chưa thấy mặt người thân, chưa gặp được xóm làng

Dễ mà khó. Tôi không biết chị có viết thơ xuôi bao giờ không. Đọc một số nhà thơ nữ miền Bắc cùng hoàn cảnh với chị hoặc sau đó một thế hệ, như Lý Phương Liên, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, tôi có ấn tượng về truyền thống nhẫn nại, ít bộc lộ tính cách cá nhân góc cạnh, mạnh mẽ, như những nhà thơ cùng phái cùng thời với họ ở miền Nam:

Chúng ta là những người nữ xinh đẹp

Xinh đẹp hơn mọi loài trên trái đất

(Nhã Ca)

Ngược lại, chị trong trẻo, tha thiết, bồi hồi.

Lời yêu mỏng mảnh như màu khói

Mà câu tiếp theo:

Ai biết lòng anh có đổi thay?

Không nâng lên được, vì câu trước đã quá toàn hảo. Ngoài câu đó ra, bài Hoa Cỏ May là tuyệt bích, là một trong vài bài hay nhất của chị. Trong thơ, thông tin nén chặt lại so với ngôn ngữ thường ngày, nhưng chính toàn bộ bài thơ, chứ không phải chỉ là thông tin trong đó, sẽ làm nên năng lượng của nó. Tôi cũng có ý đi tìm dấu vết ảnh hưởng của thơ Lưu Quang Vũ lên Xuân Quỳnh và ngược lại. Nhưng tôi lại tìm thấy sự đồng điệu. Còn ảnh hưởng của họ lên nhau, nếu có, cũng rất tinh tế. Họ giống nhau ở lối đi vào chi tiết một cách thi vị, ở tình cảm lắng sâu, mô tả lược giản. Lưu Quang Vũ, bài Em vắng:

Tình yêu của anh ở sau cửa kính

Tình yêu của anh đi với mùa hè

Còn chị?

Quá khứ của em ngoài cánh cửa

Gương mặt anh, gương mặt các con yêu

Nhưng họ lại khác nhau, nhờ vậy mà có sự tương ứng, thậm chí hô ứng. Trong cùng một bài thơ nói trên, anh nhớ người đi vắng:

Tấm gương soi vào khoảng trống

Ngọn đèn soi gian phòng vắng

Tấm áo em trên thành ghế im lìm

Từ xa, chị trả lời

Em có đem gì theo đâu

Em gửi lại cho anh tất cả

Có chứ. Chị mang theo những niềm vui, nỗi buồn, nhầm lẫn và bí mật của kiếp người. Nào đâu những giấc mơ đẹp, lý tưởng cứu nước, thế giới đại đồng, chỉ là ảo ảnh, chẳng có nghĩa gì. Nhưng tình yêu ở lại.

Chỉ còn anh và em

Là của mùa thu cũ

Đọc câu thơ này, tôi thấy xúc động như gặp một lời tiên tri về số phận kỳ lạ của hai nhà thơ Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh, sau khúc quanh kia, thấy họ đứng bên kia đường, tay trong tay, giữa những cúc vàng nở rộ, chuẩn bị ra đi, nhưng lại không ngớt ngoái nhìn chúng ta. Nhắn nhủ, hay thương xót.

Nhà thơ Auden có một ý nổi tiếng rằng: các nhà thơ chết đi khi sự nghiệp của họ đã hoàn thành. Nhưng Xuân Quỳnh thì khác, công việc của chị hãy còn dang dở.

Thời đại ngày nay cũng khác. Thơ Xuân Quỳnh không trả lời được hết mọi câu hỏi, vả lại cũng không một nhà thơ nào làm được thế, nên những người yêu nhau có thể đi tìm câu trả lời ở những nơi khác.

Cuốn sách nói về tuổi trẻ chúng tôi

Nằm khiêm tốn giữa muôn nghìn cuốn khác

Tuy vậy, khi chúng ta trở về, cái bóng của thơ Xuân Quỳnh vẫn còn đổ dài trên trang sách để mở của quê hương: thơ chị là một phần của, hay là một trong những, tuổi trẻ chúng ta.

2011-2014

(Bản mới, nhân ngày giỗ Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ)