Danh Ngôn

Mọi cuộc cách mạng trước tiên là một ý tưởng xuất hiện trong đầu óc của chỉ một người, và khi chính ý tưởng ấy nảy ra trong đầu óc của một người khác nữa, đấy là cái chìa khóa mở ra thời kỳ cách mạng.

Every revolution was first a thought in one man’s mind, and when the same thought occurs to another man, it is the key to that era.

Ralph Aldo Emerson , “History,” Essays, First Series, 1841

Thế gian này luôn luôn ấu trĩ: mỗi lần phát hiện một chút hấp dẫn nào đó của một cuộc cách mạng hay một bản hiến pháp mới, họ lại tưởng rằng thế giới sẽ không bao giờ còn tiếng khóc than.

The world are always childish, and with each new gewgaw of a revolution or new constitution that it finds, thinks it shall never cry any more.

Ralph Aldo Emerson , Journals, 1847

Một dân tộc bị áp bức có quyền nổi dậy và bức phá xích xiềng bất cứ khi nào họ có thể làm điều đó.

An oppressed people are authorized whenever thay can to rise and break their fetters.

Henry Clay , diễn văn đọc trước Hạ viện Mỹ, 4-3-1818

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Phê bình văn học thế kỷ XX (kỳ 23)

Thụy Khuê

Chương 12

Jean-Paul Sartre (1905-1980)

(Bài 3)

Văn chương là gì?

 

II- Tại sao viết?

Câu hỏi Tại sao viết? là nội dung của chương hai cuốn Văn chương là gì?.

Câu hỏi này sẽ được Sartre trả lời trên nhiều tầng:

Lý do sáng tạo

Để trả lời câu hỏi Lý do nào khiến con người sáng tác? Sartre dựa trên khả năng vén màn (dévoiler) của con người. Vén màn là mở màn ra hay lấy khăn phủ trùm sự vật đi, để cho hữu thể hiện ra trước mắt. Sartre dùng chữ être để chỉ hữu thể, cả người, lẫn vật. Người và vật đều là hữu thể, nhưng người khác vật vì có ý thức, vì vậy ông gọi người là hữu thể tự quy (être pour-soi), và vật là hữu thể tự tại (être en-soi) để phân biệt người với thế giới. Chỉ người mới có khả năng vén màn cho thấy thế giới. Sartre giải thích:

Mỗi nhận thức [perception] của ta đều đi kèm với ý thức [conscience] rằng thực tại con người là "vén màn được" [dévoilante], nghĩa là nhờ con người mà "có" hữu thể [être], hay con người là trung gian để cho những hữu thể [les choses] biểu lộ ra: chính sự hiện diện của ta trên thế giới đã làm gia tăng những quan hệ, chính ta liên lạc cái cây này với góc trời kia, nhờ ta mà mảnh trăng, dòng sông tối, vì sao chết đã hàng ngàn năm, được hiện ra trong sự nhất quán của một khung cảnh; chính vận tốc xe hơi, vận tốc máy bay của ta đã nối liền những lục địa; nhờ mỗi hành vi của chúng ta, mà thế gíới có một bộ mặt khác. Nhưng nếu ta biết rằng ta là những máy dò hữu thể, ta cũng lại biết rằng ta không làm ra hữu thể. Phong cảnh kia, nếu ta quay lưng đi, nó sẽ rơi vào bất động, không nhân chứng, trong sự bí mật thường trực của nó. Bất động thôi, chứ chẳng ai điên mà tin rằng nó sẽ bị huỷ diệt, chỉ có ta bị huỷ diệt và trái đất ở trong trạng thái ngủ quên cho đến khi có một ý thức khác đến đánh thức dậy. Vậy, ở niềm tin nội tại là ta có thể vén màn được, còn phải thêm vào điểm này: ta không chủ yếu [inessentiel] đối với sự vật mà ta vén màn.

Vết cắt

Truyện

Thái Bảo

Vừa chớm tháng 12 mà tuyết đã rơi hết lớp này đến lớp khác dày đặc, phủ một màu trắng lạnh lên thị trấn Patterson, tiểu bang Iowa. Tôi ngồi bất động, lảm nhảm đếm tuyết rơi. Hai giờ sáng. Đêm lặng. Dăm ba phút, bà chủ nhà Munro lại mở cửa ngóng ra. Sao con không chịu vào nhà. Trời lạnh chừng 36 độ F, nhưng tim tôi đã đóng băng. Vài tiếng đồng hồ trước, tôi mơ màng, hi vọng, háo hức khi hình dung căn nhà này như một chốn dừng chân. Thế mà… Trên tay tôi, một bức thư nhàu nát, không biết đã đọc bao lần. Tôi không muốn vào nhà nữa. Mong trời mau sáng, tôi lái xe quay lại thủ phủ Iowa, rồi bay về Minneapolis.

Ánh đèn ngoài sân hắt lên mặt tôi vàng èo ọt. Khác hẳn khuôn mặt hồng hào của ông già Noel treo ngay cửa chính. Mới ngưỡng bốn mươi, mặt tôi đã đầy nếp nhăn - dấu ấn thời gian hai mươi lăm năm dong ruổi khắp nước Mỹ hòng lý giải góc khuất cuộc đời. Ngày chia tay, tôi hứa với Thắm nếu không tìm được cha tôi sẽ về. Bao mùa Giáng sinh, tin cha vẫn mịt mù. Thư viết cho Thắm rồi để đó, đã đầy hộc tủ, và lớp bụi thời gian phủ trên những mảnh vụn khốn khó đời tôi.

Nhíu chân mày, có lẽ tôi lạnh, hằn rõ năm nếp nhăn vắt ngang vầng trán. Đôi giày bốt nhà binh đầy vết dầu mỡ ngọ ngoạy trong tuyết. Mới nửa tiếng, tuyết đã mon men từ ngoài sân lên thềm bậc cửa. Trời nắng hay mưa, tôi đều mang giày cao cổ. Chút di truyền gì đó từ người cha cựu chiến binh? Không hề. Chẳng qua tôi muốn khác người và ngầu hơn.

Bác sĩ trưởng khoa (kỳ 1)

Tiểu thuyết

Vũ Oanh

“… Bác sĩ trưởng khoa” không đơn thuần chỉ là cuốn tiểu thuyết hư cấu được hình thành trên nền tảng những đặc điểm của Chủ nghĩa hiện thực cổ điển rất phổ biến ở thế kỷ XX, đem đến cho người đọc những trang viết đầy cảm xúc, mà phía sau nó, còn một hồ sơ chuyên môn, được ghi chép trung thực bởi một nhà văn, vốn là chuyên gia phẫu thuật, dưới dạng những đoạn hồi ức như một thủ pháp đồng hiện, phơi bày những góc khuất của ngành y mà hầu hết người dân chưa từng biết đến. Đồng thời, cũng từ mặt trái của chuỗi bệnh viện công, người ta có quyền suy luận đến hiện trạng xã hội, một hiện trạng rất không bình thường, ẩn chứa nhiều rủi ro bất trắc, liên quan đến số phận cộng đồng nhưng lại bị giấu kín dưới lớp vỏ bọc hào nhoáng.

Vấn đề của “Bác sĩ trưởng khoa” là vấn đề thời đại. Tinh thần thời đại ấy bao quát mọi hoạt động xã hội. Nó dường như đã trở thành một hình thái văn hóa, đạo đức chi phối hành vi và nhân cách mỗi viên chức trong hoạt động chuyên môn hàng ngày. Nói như vậy, có nghĩa là, mỗi một kíp mổ và quá trình mổ xẻ trong bệnh viện nào đó, đều được xem như một công đoạn vận hành của cấu trúc xã hội. Vì thế, nó không dừng lại ở những y cụ như dao kéo, panh, bông gạc hay gây mê, hồi sức… mà còn là tâm thức xã hội, sự tử tế hay bất lương, và rộng hơn là triết lý sống mang trong mình nó tư tưởng nhân văn hay lạnh lùng vô cảm của cả một cộng đồng”.

Văn Việt trân trọng giới thiệu với bạn đọc toàn văn cuốn tiểu thuyết “Bác sĩ trưởng khoa” của nhà văn Vũ Oanh, do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2014

Văn Việt

Bi kịch của những giấc mơ

(Đọc Người mê, tiểu thuyết của Uông Triều – nxb Hội Nhà văn 2016)

Nguyệt Chu

clip_image002

Ý thức không kháng cự nổi vô thức và tiềm thức” là nét nổi bật của các nhân vật trong tiểu thuyết Uông Triều. Người mê là một trường hợp như thế. Sự mờ nhòe giữa ý thức, vô thức và tiềm thức đã đẩy nhân vật lên tới đỉnh điểm của một thế giới ảo giác và phi lý; khi mà sự tưởng tượng đã để lại dấu vết ám ảnh và nhức nhối trong cuộc đời thực.

Hãy bắt đầu câu chuyện bằng một lão già không tên. Nhận sổ hưu sau mấy chục năm làm công chức tẻ nhạt và một cơ thể vẫn còn cảm giác sung sức. Đã góa vợ và có một người con gái. Ghê sợ sự nhàm chán và mở lại quán cà phê của vợ. Sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra nếu không có cô giúp việc chính là bạn của con gái ông. Ông đã yêu như chưa bao giờ được yêu rồi rơi vào bi kịch của cái mà định kiến vẫn cho là “trâu già gặm cỏ non”. Ông lẽo đẽo theo đuổi tình yêu đơn phương ngay cả khi nàng đã có gia đình và cuối cùng nhảy xuống giếng tự tử trong cơn bấn loạn và tuyệt vọng.

Cuộc đời lão được dệt nên bằng sự tưởng tượng. Nó có thể được chia thành nhiều cấp độ, hiện hữu trong cả ý thức, vô thức và tiềm thức. Lão vốn dĩ là một ẩn ức. Thế nên ý thức của lão về đời sống và tình dục cũng là thứ ý thức khuyết tật, què quặt đầy mặc cảm (Tôi chưa già đâu, tôi vẫn còn khỏe). Lão sống phần lớn bằng những giấc mơ – cái vô thức khiến lão chứng tỏ được sức mạnh bản năng của mình. Và những cuộc đối thoại, đấu tranh, giằng co trong con người lão chính là sự trỗi dậy của tiềm thức. Khi thực sự yêu người con gái tên H. và vấp phải sự kháng cự của các lực lượng bên ngoài thì năng lượng libido của lão mới được giải tỏa theo đúng quy luật mà nhà phân tâm học S. Freud đưa ra, đó là: ẩn ức – dồn nén – thăng hoa.

Giấc mơ đầu tiên của lão là một sự kinh hoàng, mở đầu cho những diễn biến phức tạp, rối loạn và bế tắc trong đời sống tinh thần của mình, với mặc cảm tội lỗi và sự thanh minh. Không phải ngẫu nhiên khi giấc mơ ấy gắn liền với hình ảnh cái giếng lạnh lẽo, sâu hun hút.Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, giếng nước vốn là biểu tượng về khả năng sinh sản và đại diện cho giống cái – âm tính, nữ tính. Nó như một ám chỉ bởi ở đó xuất hiện hình ảnh bà vợ quá cố của lão “đung đưa trong lòng giếng. Những xúc tu mọc ra từ đầu bà ta như sợi dây tầm gửi bám chặt vào cơ thể ông”. Như thế, bà vợ - cái giếng là một thứ quyền lực nguyên thủy tối cao, một cái ngưỡng mà lão phải vượt qua để có thể đến với người con gái kia. Bà vợ - cái giếng là một sự đe dọa, uy hiếp đối với lão. Và lần đầu tiên lão phải đấu tranh sau bao nhiêu năm sống thầm lặng và chịu đựng. Sự phản kháng cho thấy lão có đủ khả năng để bứt phá khỏi giới hạn: “Ông cúi xuống cắn mạnh vào cái vòi lớn nhất, một dòng nước tanh lợm vọt ra. Người vợ của ông thét lên, những cái tua thụt vào đầu bà ta. Băng vải trắng lại quấn chặt bà ta như một xác ướp”. Rõ ràng, nếu lão không có mặc cảm tội lỗi, tức là lão không mang một ẩn ức bị kìm nén thì lão sẽ không thể có một giấc mơ về sự kết tội của bà vợ. Sự thanh minh của lão “bà đã bỏ đi nên tôi phải tìm tới cô ta, tôi không thể chịu đựng sự cô độc mãi được” là một lời chuộc lỗi, một sự biện hộ, bào chữa. Thế nên, rút cuộc giấc mơ kinh hoàng về bà vợ chẳng qua chỉ là sự tưởng tượng của lão khi đang đối diện với chính mình, với những ham muốn, dục vọng nhưng lại bị ràng buộc bởi muôn vàn những trách nhiệm và định kiến. Bởi vậy, những cái xúc tua quấn chặt lấy mình ông sẽ là gì nếu chẳng phải là những bố, mẹ, anh trai cô gái kia, biết đâu nó cũng sẽ chính là những bố, anh trai, con gái, cháu trai của lão? Giấc mơ đầu tiên này đẩy lão vào tình trạng bị dồn nén, bị căng cứng, như một trái bộc phá muốn phát nổ. Tất cả năng lượng của lão đều bị kiềm tỏa, bó chặt, bị hút dần qua những xúc tu.

Hồi ức Đỗ Trung Quân (kỳ 6)

Suốt đời tôi sẽ không thoát khỏi nỗi ám ảnh hình ảnh những cây thốt nốt lá nhọn tua tủa như những con quái vật sừng sững in bóng đen ngòm lên hoàng hôn đỏ máu. Tôi biết rõ đây là thứ cây cho ra thứ trái hiền lành làm rượu và làm đường, nhưng lá của nó bén như dao , đã từng cứa nát thân thể của đồng đội TNXP của tôi trên chiến trường K 1978
khi ấy tôi 23 tuổi.

... Sau cuộc thảm sát hơn 30 nữ TNXP mà hầu hết đều bị lính Polpot cưỡng hiếp, chặt đầu, mổ bụng, đóng cọc tre vào cửa mình. Từ chiến trường K tôi gửi lá thư nguyện vọng của anh em TNXP trong ống đạn theo xe quân đội về 222 Nguyễn Trãi cho chỉ huy trưởng Võ Viết Thanh cũng là thông tin tình hình chiến trường quân đội tất nhiên có vũ khí, chúng tôi thì không. "Nếu không phát súng để chiến đấu, tự vệ và thậm chí để tự sát khi sa vào tay địch, chúng tôi sẽ đào ngũ ..."

Sau này tôi mới biết không phát súng cho TNXP chỉ vì hầu hết là " lính ngụy " một phần là thanh niên sinh viên Sài Gòn. Lực lượng không đáng tin cậy nếu có vũ trang. Nhưng sau khi đánh giá tình hình chiến trường và được nghe báo cáo, ông Võ Văn Kiệt bí thứ thành ủy khi ấy quyết định, chỉ thị "giao vũ khí cho họ!".

Một trang máu lửa của một lực lượng "không đáng tin cậy" được mở ra. Họ thật sự là những người vệ quốc, chiến trường không có chủ nghĩa, hình ảnh những xác đồng bào la liệt dọc biên giới từ Tịnh Biên đến Sa Mát khiến họ vững tay súng. Khẩu M16 hay Ak 47 có lẽ cũng như nhau chỉ là phương tiện báo thù và giữ nước. Từ chiến trường này tôi nhận rõ mặt kẻ đứng sau từ những trang phục đen mang nhãn Trung Quốc, những trái mìn cóc made in China hiểm độc mà mức sát thương chỉ gây tàn phế cái mà bọn TQ muốn hậu chiến sẽ trả về cho xã hội những con người tàn phế càng nhiều càng tốt như một gánh nặng cho VN. Bọn khốn nham hiểm.

Có một bài thơ tôi viết từ chiến trường này, sau 30 năm nó được khắc lên tường của nhà tưởng niệm TNXP Bến Cầu - Tây Ninh. Chỉ vài năm sau đó, khi tác giả của nó đặt chân xuống mặt đường phản đối bọn xâm lược Trung Quốc cùng thanh niên Sài Gòn, bài thơ bị đục bỏ...

Trăng nguyên sơ (Kỳ 2)

Tiểu thuyết

Nam Dao

2. Vật quí hiếm

Vào quán cà phê tôi vẫn đến ngồi đợi tin Thụy, lại thấy con bé quanh quẩn. Nó bảo ‘‘xe cứu thương đến đưa bà cụ đi rồi, nhưng chắc chẳng sống được!”. Tôi làm như không nghe thấy, mở Palm ra tìm email .

23-02

… Đã tưởng chết. Cuộc hồi sinh nào chắc cũng chỉ ngỡ ngàng đến thế, hệt như khi mở mắt sau một cơn mê. Hiện thực là những móc nối của trí nhớ. Nhớ mầu xanh cây rừng, mầu bạc những đám mây xa. Nhớ vị chát của trái sung chưa chín. Nhớ hương thiên lý thoang thoảng. Nhưng nhớ nhất, là tiếng người, thứ âm thanh mà không còn thì chắc chẳng còn gì lưu luyến.

Trùm B ( mắt quắc lên, tròng sâu hoắm, răng chìa ra khi nói): Này anh bạn, anh không vào đây đào vàng thì anh tìm gì?

Những Người Đàn Bà Không Nhà và Những Câu Thơ

(Đi dự RMS của Homeless Women’s writings- Tháng 9/12/2016)

Trần Mộng Tú

Frank rủ tôi đi dự buổi Ra Mắt Sách của những phụ nữ vô gia cư, do trung tâm tạm cư Mary’s Place đỡ đầu và xuất bản cho họ.

Mary’s Place ở Seattle (Cơ quan thiện nguyện với 90% đóng góp của các công ty và tư nhân có hảo tâm và 10% của quỹ thành phố) có năm địa điểm là một cơ quan cung cấp mỗi ngày cho 250 người (mỗi địa điểm 50 người), cơm ngày ba bữa, chỗ ngủ hàng đêm. Họ là những phụ nữ, trẻ em trong tình trạng thiếu thốn, tổn thương cần được giúp đỡ. Những phụ nữ, trẻ em phải đối diện với: ly dị, bạo hành bởi người chồng, người cha; mất việc, không trả được tiền thuê nhà; thương tật, tâm thần,v.v… Những phụ nữ phần đông ở tuổi 50, nhưng đôi khi cũng có người còn khá trẻ. Họ là những người đã phải đối diện với bạo hành và sức khỏe xuy xụp. Nơi đây ngoài cung cấp một mái nhà ấm cúng, thức ăn, áo quần, những người đàn bà kém may mắn này được trung tâm săn sóc với những điều tốt đẹp nhất. Cũng có lớp dậy đan, dậy vẽ, thủ công, dậy viết Resume để xin việc, v.v

Kiểm soát quyền lực: “Có những người bán rẻ Tổ quốc vì quyền lợi cá nhân”

Vũ Ngọc Hoàng

Bài viết dưới đây có thể gây sửng sốt cho một số người, không phải vì nội dung, mà chủ yếu vì tác giả của nó – nguyên là một cán bộ cao cấp: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Ban Tuyên Giáo Trung ương – và là vì một bài như thế lại đàng hoàng đăng trên báo “lề phải”.

Tất nhiên, trong “thế giới lề phải”, người ta phải giữ liều lượng để tránh gây sốc cho những kẻ cầm quyền – ngay nhan đề vốn là “Có những người bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng cá nhân”, sau đó phải bỏ hai chữ “ngai vàng” để thay bằng “quyền lợi” đủ cho thấy điều ấy. Nhưng bài viết của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng rõ ràng đã khẳng định: (1) Quyền lực không được kiểm soát thì không thể tránh sụp đổ chế độ chính trị; (2) Hiện nay, ở nước ta “quyền lực về cơ bản chưa được kiểm soát”. Thế thì cái kết luận của tam đoạn luận trên không cần nói ra ai cũng biết!

Tờ báo có hứa hẹn sẽ đăng Phần 2 bàn về vấn đề kiểm soát quyền lực như thế nào, bằng cách nào. Chúng tôi xin hiến một cái kế cũ mèm mà thế giới văn minh đã thực hiện từ mấy trăm năm trước: Không có một thế lực chính trị nào được xem là mặc nhiên có quyền lãnh đạo đất nước, mà phải do nhân dân lựa chọn qua bầu cử! Nghĩa là phải bắt đầu bằng việc bỏ điều 4 Hiến pháp.

Nhưng chẳng phải đã có một ngài Chủ tịch nước đã thảng thốt kêu: “Bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát” đấy sao? Vâng, quả đúng! Nhưng đấy là sự kết thúc một chế độ chuyên quyền và là sự khai sinh một chế độ dân chủ. Sao lại không vui?

Văn Việt

 

"Có những người lúc đầu khi chưa có quyền lực thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân".

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, xung quanh một vấn đề mà ông luôn trăn trở - quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Quyền lực như “con ngựa” bất kham, người không đủ nhân cách mà giao cho họ cầm cương thì nó sẽ tung phá, gây đổ ngã và làm chết cả người ngồi trên yên ngựa. Quyền lực là "con dao" hai lưỡi, có thể phục vụ cho đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam.

Năm 2011, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cập, dù là mới thoáng qua, việc kiểm soát quyền lực. Rất tiếc là chủ trương đó chưa được triển khai thực hiện cụ thể. Trước và trong Đại hội XII, Tổng Bí thư của Đảng ít nhất đã hai lần nhấn mạnh phải kiểm soát quyền lực.

Gần hai năm trước, trong bài “Tham vọng quyền lực và sự tha hóa”, tôi có viết ý kiến về kiểm soát quyền lực và trả lời phỏng vấn của báo chí về việc này. Thời gian gần đây một số tờ báo có đặt vấn đề phỏng vấn tôi yêu cầu nói tiếp ý kiến về kiểm soát quyền lực. Đó là lý do khiến tôi viết tiếp bài này trao đổi thêm để bạn đọc tham khảo.

Ðã phát hành "Tưởng Niệm Nhà Báo Như Phong Lê Văn Tiến".

Thứ Tư, ngày 21 tháng 9 năm 2016

...

Và cũng để thấy một Như Phong mang rất nhiều căn cước: một nhà báo, một nhà văn, một nhà hoạt động cách mạng, một mưu sĩ mang dấp dáng “một phù thủy chính trị,” dù với căn cước nào thì vẫn có một mẫu số chung là lòng yêu nước bền bỉ của Như Phong, từ tuổi thanh xuân cho tới cuối đời. Anh là chất men và cũng là niềm cảm hứng cho nhiều thế hệ.

Fyi_ Sách trên Amazon:

https://www.amazon.com/Tuong-Niem-Phong-Tien-Vietnamese/dp/1537375156/ref=sr_1_1?s=books&ie=UTF8&qid=1474500775&sr=1-1&keywords=Tuong+Niem+nha+bao+nhu+phong

Bí quyết về nghề 800 năm tuổi ở Việt Nam

Marco Ferrarese

clip_image002

Mành bằng tre dùng để cán mỏng lớp đầu tiên của trang giấy đang sắp được hình thành. (Ảnh: Kit Yeng Chan).

 

Ở ngoài hiên của một căn nhà ở làng Suối Cỏ (Lương Sơn) cách Hà Nội 45 Km, hai phụ nữ đang ngồi xổm, nhúng tay vào nước đục trong một xô nhựa để chọn lọc các sợi bột giấy trắng.

Phía sau họ là 3 thùng nước ngâm vỏ cây để tách lấy sợi giấy. Họ đánh giá độ đồng đều của bột giấy mềm trước khi mang ép thành giấy dó, một loại giấy làm thủ công, không có hóa chất và có thể tồn tại, một cách đáng ngạc nhiên, tới 800 năm.

Một phụ nữ đứng dậy, lấy trong xô ra một cục bột giấy và bắt đầu dùng vồ đập. Khi bột giấy đã đủ mịn đều thì người phụ nữ kia rải nó lên một khung giá lọc, dùng một mành tre làm nó dẹt xuống tạo lớp đầu tiên cho tờ giấy. Trong việc làm giấy, cần nhất là phải kiên nhẫn.

Walden – Một mình sống trong rừng

Henry David Thoreau

Hiếu Tân dịch

___________________________________________________

Tác phẩm “Walden – Một mình sống trong rừng” của nhà văn-triết gia Mỹ Henry David Thoreau TK 19 do Hiếu Tân dịch vừa được trao Giải Sách Hay 2016 ở hạng mục Sách “Người trẻ chọn sách cho người trẻ”. Xin chúc mừng dịch giả và trân trọng giới thiệu với bạn đọc một chương của tác phẩm kinh điển này.

Chương 18

Kết luận

Các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân một cách khôn ngoan rằng nên đổi gió và thay đổi khung cánh sống. Ơn Trời, thế giới còn có nhiều nơi để đến. Cây dẻ ngựa không mọc ở New England, tiếng chim nhại cũng hiếm khi nghe thấy ở đây. Con ngỗng trời còn giang hồ hơn cả chúng ta, nó xơi bữa sáng ở Canada, ăn bữa trưa ở Ohio, và rỉa lông chuẩn bị nghỉ đêm ở một nhánh sông cạn miền Nam có nhiều lau sậy. Ngay cả con bò rừng bizon, trong chừng mực nào đó, sánh bước với các mùa, gặm cỏ trên đồng Colorado, cho đến khi một đợt có non và ngọt hơn đã sẵn chờ đợi nó ở Yellowstone. Tuy vậy chúng ta nghĩ rằng nếu thay các hàng rào bằng các bức tường đá trong những trang trại của chúng ta, thì từ nay sẽ có những ranh giới cho cuộc đời chúng ta và số phận của chúng ta đã được quyết định. Nếu bạn được bầu làm thư ký tòa thị chính, thì chắc chắn mùa hè này bạn không thể đến Tierra del Fuego[1]: tuy thế bạn vẫn có thể đến mảnh đất của ngọn lửa địa ngục. Thế giới này rộng lớn hơn những hình ảnh của chúng ta về nó.

Tuy nhiên, chúng ta nên thường xuyên nhìn qua lan can đuôi tàu như những hành khách hiếu kỳ, và không du hành như những thủy thủ ngu ngốc ngồi tước những dây thừng cũ lấy xơ gai. Phía bên kia Trái đất chỉ là nơi ở của người trao đổi thư tín với chúng ta. Hành trình của chúng ta chỉ là những chuyến đi vòng quanh, và các bác sĩ chỉ kê đơn cho những căn bệnh ngoài da. Người ta hối hả đến Nam Phi chỉ để săn hươu cao cổ, nhưng chắc chắn đó không phài là môn thể thao cần cho họ. Thử hỏi, một người sẽ dám bỏ ra bao nhiêu thời gian để săn hươu cao cổ nếu anh ta có thể? Săn chim dẽ giun và dẽ gà cũng là thú săn quí hiếm, nhưng tôi nghĩ nếu cao thượng hơn anh ta nên tự săn mình.

Hướng cái nhìn vào bên trong, và anh sẽ thấy

một nghìn xứ sở trong hồn anh

còn chưa được thăm dò.

Hãy thám hiểm chúng và

làm một chuyên gia của vũ-trụ-riêng-mình[2].

Châu Phi có nghĩa là gì? Phương Tây có nghĩa là gì? Chẳng phải đó là những khoảng trắng trong chiều sâu nội tâm của chúng ta, được vẽ trên bản đồ sao[3]? Mặc dù nếu tìm hiểu, chúng có thể là đen, như những bờ biển. Phải chăng chúng ta muốn đi tìm nguồn của sông Nile, sông Niger, sông Mississippi, hay Hành lang Tây Bắc của lục địa chúng ta? Chúng có phải những vấn đề làm nhân loại bận tâm nhất không? Có phải Franklin[4] là người duy nhất đã mất tích mà vợ ông phải hớt hải đi tìm? Ông Grinnell[5] có biết bản thân ông bây giờ đang ở đâu không? Bạn hãy là những Mungo Park, Lewis và Clark và Frobisher[6], của những sông biển, đại dương của chính bạn, thám hiểm những vĩ độ cao hơn của chính bạn, - với những thuyền đầy thịt ướp lạnh nếu cần, và chồng những thùng rỗng cao ngất trời để làm tín hiệu[7]. Đông lạnh chỉ được tìm ra để bảo quản thịt thôi sao? Không, hãy là một Columbus với toàn bộ những lục địa và những thế giới mới, bên trong bạn, khai thông những dòng kênh mới, không phài cho giao thương, mà cho tư tưởng. Mỗi con người là chúa tể của một vương quốc, so với nó, đế chế trần tục của Sa hoàng chỉ là một quốc gia nhỏ mọn, một cái gò mà băng giá để lại. Tuy nhiên người ta có thể là một nhà ái quốc mà vẫn là người không có lòng tự trọng, và hy sinh cái lớn hơn cho cái nhỏ hơn. Họ yêu đất làm nên nấm mồ của họ, nhưng không có sự cảm thông với linh hồn có lẽ vẫn còn đang thổi sinh khí vào cho đất sét của họ. Lòng yêu nước là con giòi nằm trong những cái đầu của họ. Ý nghĩa của cuộc thám hiểm khám phá Biển Nam cực[8] là cái gì, với tất cả trò phô trươngvà tốn phí của nó, nhưng một nhận thức gián tiếp về sự thật là, có những lục địa và những biển trong thế giới tinh thần mà mỗi con người là một eo đất hay một lối vào, vẫn chưa được anh ta khám phá, nhưng việc vượt hàng ngàn dặm, trên một con tàu của chính phủ, với năm trăm trợ thủ, qua rét mướt, qua bão tố và các bộ lạc ăn thịt người còn dễ hơn thám hiểm cái biển riêng tư, Đại Tây Dương và Thái Bình Dương của chính cá nhân anh ta.

"Erret, et extremos alter scrutetur Iberos.
        Plus habet hic vitæ, plus habet ille viæ
."[9]

Cứ để cho họ đi lang thang mà nghiên cứu châu Úc[10] xa xôi. Họ sẽ biết thêm đường, còn tôi sẽ biết thêm về Chúa,

Chẳng bõ công đi vòng quanh thế giới chỉ để đếm xem ở Zanziba có bao nhiêu mèo[11]. Tuy vậy hãy làm thế khi bạn chưa thể làm tốt hơn, may ra tìm thấy vài “lỗ hổng của Symmes[12]” và có thể từ đấy mà chui vào lòng quả đất. Anh và Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Bờ Biển Vàng và Bờ biển Nô lệ[13], tất cả đối diện với cái biển nội tâm này; nhưng không có con thuyền nào của những nước này dám vượt ra ngoài tầm nhìn từ đất liền, mặc dù chắc chắn nó là con đường hướng thẳng đến Ấn Độ. Nếu bạn học nói tất cả các thứ tiếng, và tuân theo phong tục của tất cả các dân tộc, nếu bạn đi du ngoạn xa hơn tất cả các nhà du ngoạn, được du nhập vào tất cả các vùng miền, và khiến con Sphinx[14] phải đập đầu vào đá, thậm chí tuân theo giáo huấn của một triết gia thời cổ, thì hãy Thám hiểm, khám phá Bản thân mình[15]. Cái này cần đến con mắt và thần kinh. Chỉ có kẻ thất bại và những kẻ đào ngũ là lao vào các cuộc chiến tranh, còn những kẻ hèn nhát đã bỏ trốn và đăng lính. Hãy xuất phát ngay trên con đường xa nhất về phía tây, không bị ngưng lại ở Mississippi hay Thái Bình Dương, cũng không dẫn tới một Trung Hoa lụ khụ hay Nhật Bản, mà đi theo đường tiếp tuyến với quả địa cầu này, mùa xuân và mùa đông, ngày và đêm, mặt trời lặn, mặt trăng lặn, và cuối cùng cả quả đất cũng lặn.

Nghe nói Mirabeau[16] phải tự thực hiện một vụ cướp đường để tìm hiểu “cần một quyết tâm đến mức độ nào để công khai chống đối lại những luật lệ thiêng liêng nhất của xã hội.” Ông tuyên bố rằng “một người lính chiến đấu trong hàng ngũ không cần đến một nửa lòng can đảm của một kẻ cướp thức ăn trên đường” – rằng “danh dự và tôn giáo chưa bao giờ ngăn được một quyết tâm cứng rắn và được xem xét kỹ càng.” Nghe thật kiên cường, nhưng thật vô ích, nếu không phải tuyệt vọng. Một người đầu óc lành mạnh hơn cũng thường tỏ ra công khai “bất tuân” những thứ tưởng là “những luật lệ thiêng liêng nhất của xã hội” do tuân theo những luật lệ còn thiêng liêng hơn, và như vậy đã thử quyết tâm của anh ta mà không cần phải làm khác bản tính của mình. Con người không nên có thái độ như thế đối với xã hội, nhưng để giữ mình anh ta chỉ cần tuân thủ những luật lệ của bản tính anh ta, những luật lệ ấy không bao giờ đối lập với một chính phủ công bằng chính trực, nếu anh ta có dịp đụng độ.

Tôi rời khỏi rừng cũng với lý do chính đáng như khi tôi đến. Tôi thấy dường như tôi còn có nhiều cuộc đời khác để sống, và không thể tiêu phí thêm thời gian cho cuộc sống này. Thật lạ là sao chúng ta có thể dễ dàng và vô cảm rơi vào một con đường đặc biệt nào đó, và tạo ra một lối mòn cho chính mình. Một tuần sau khi chân tôi dẫm thành lối mòn từ cửa nhà tôi đến bờ đầm, tôi mới thực sự sống ở đó; và mặc dầu đã năm sáu năm tôi không dẫm lên lối mòn ấy, vẫn dễ nhận ra nó. Thật ra, tôi nghĩ những người khác đã tình cờ đi vào đấy, và như vậy giữ cho nó vẫn còn. Mặt đất ở đấy thì xốp và in dấu chân người; và những con đường mà tâm trí con người đi cũng vậy. Những con đường trần thế mòn và bụi bậm làm sao, những vết lún của truyền thống và ước lệ mới sâu làm sao! Tôi đã không muốn đi lối mòn đến một căn lều, mà muốn đến trước cột buồm, đứng trên boong tàu của thế giới, vì ở đó tôi có thể trông thấy rõ nhất ánh trăng giữa những rặng núi. Bây giờ tôi không muốn đi xuống nữa.

Qua kinh nghiệm của mình, ít ra tôi đã học được như thế này: nếu con người can đảm bước đi tới mơ ước của mình và cố gắng sống cuộc sống mà anh ta đã hình dung, thì anh ta sẽ gặp thành công bất ngờ trong những giờ phút bình thường. Anh ta sẽ bỏ lại nhiều thứ sau lưng, sẽ vượt nhiều ranh giới vô hình; những quy luật mới, phổ quát và phóng khoáng hơn sẽ tự thiết lập xung quanh và bên trong anh; những quy luật cũ sẽ mở rộng ra và được hiểu theo một nghĩa phóng khoáng đáng ưa hơn; và anh ta sẽ sống với chứng chỉ về một cấp bậc cao hơn trong trật tự của hiện hữu. Anh càng sống đơn giản hơn thì những quy luật vũ trụ càng tỏ ra ít phức tạp hơn với anh, nỗi cô đơn sẽ không còn là nỗi cô đơn, nghèo khổ không còn là nghèo khổ, yếu đuối không còn là yếu đuối. Nếu bạn đã xây những lâu đài trong không khí, thì chúng không cần phải mất đi, chúng nên ở trên đó, nhưng bây giờ hãy xây nền bên dưới chúng.

Anh và Mỹ đã có một yêu cầu lố bịch, là bạn hãy nói sao cho họ hiểu bạn. Cả con người lẫn loài nấm độc đều không lớn lên như thế. Cứ như thể đây là điều quan trọng: những người khác hiểu bạn là không đủ, nếu họ không hiểu. Như thể Thiên nhiên chỉ có thể cho phép có một cách hiểu duy nhất, mà không thể cho phép loài cầm thú, loài biết bay và loài biết bò, và hush và whoa [17]mà một con trâu có thể hiểu, là tiếng Anh hay nhất. Như thể chỉ có ngu ngốc mới được an toàn. Tôi chỉ e cách diễn đạt của tôi còn chưa đủ ngông cuồng[18], có lẽ nó không lan man quá xa ra ngoài những giới hạn hẹp của kinh nghiệm hằng ngày của tôi, để nói đúng với sự thật mà tôi tin tưởng. Ngông cuồng ư! nó tùy thuộc bạn bị lùa vào chuồng như thế nào. Con trâu lang thang, đi tìm những đồng cỏ mới ở vùng khác, không ngông cuồng như con bò sữa đá cái xô, nhảy qua hàng rào sân chuồng và chạy theo con bê của nó, vào giờ vắt sữa. Tôi muốn nói không rào đón, như một người vừa tỉnh giấc nói với những con người cũng vừa mới tỉnh giấc; vì tôi tin rằng tôi có dông dài đến đâu cũng không đủ để tạo nền móng cho một diễn đạt chân thật. Người nào đã nghe một nhạc điệu mà sợ mãi không bao giờ dám nói lan man nữa? Đối mặt với tương lai hay khả năng, chúng ta nên sống phóng túng và khoan dung, mơ hồ không xác định, những đường nét của chúng ta ở phía ấy mờ ảo lãng đãng, những cái bóng của chúng ta toát mồ hôi khó thấy về hướng mặt trời. Sự thật dễ đổi thay trong những lời của chúng ta thường xuyên bộc lộ tính không thỏa đáng của lời tuyên bố dư thừa. Sự thật trong những lời nói ấy nhanh chóng bị chuyển dịch, chỉ cái nghĩa đen còn lại. Những lời biểu lộ tín ngưỡng và lòng mộ đạo của chúng ta mập mờ không rõ, nhưng nó có ý nghĩa và ngát hương như nhựa thơm frankincense đối với những tâm hồn siêu việt.

Tại sao ý thức của chúng ta cứ luôn luôn chìm vào mụ mị, và người ta ca tụng nó là lương tri thông thường? Lương tri thông thường nhất là lương tri của con người khi ngủ, biểu hiện bằng tiếng ngáy. Đôi khi chúng ta có xu hướng liệt những người nhanh trí (once-and-a-half-witted) vào loại gàn dở (half-witted), bởi vì chúng ta chỉ hiểu được một phần ba trí khôn của họ. Một số người cảm thấy có lỗi với vừng hồng buổi sáng, nếu họ dậy đủ sớm. Tôi nghe nói, người ta đòi hỏi rằng “phải hiểu những vần thơ của Kabir[19] theo bốn nghĩa khác nhau: ảo ảnh, linh hồn, trí tuệ và giáo lý phổ biến của Vệ Đà” nhưng ở nơi này, người ta có lý do để phàn nàn nếu tác phấm của một người cho phép nhiều hơn một cách hiểu. Trong khi Anh quốc cố gắng chữa trị cà rốt thối, tại sao không có ai tìm cách chữa trị bệnh óc-thối, đang ngập tràn kinh khủng hơn nhiều?

Tôi không cho rằng tôi đã đạt tới chỗ tối nghĩa, nhưng tôi sẽ tự hào nếu không tìm thấy lỗi tai hại trong những trang sách của tôi nhiều hơn lỗ hổng trong băng Walden. Khách hàng phương nam không thích màu xanh da trời của nó, chính là bằng chứng cho sự tinh khiết, như thể nó là bùn mà giả làm nước đá Cambridge, màu trắng, nhưng có mùi cỏ dại. Cái tinh khiết mà người ta thích là màn sương bao quanh trái đất, chứ không phải màu xanh da trời của ête trên cao.

Nhiều người thích kêu gào rằng người Mỹ chúng ta, người hiện đại nói chung, là lùn về trí tuệ so với những người cổ đại, hoặc với những người thời Elizabeth. Nhưng để làm gì nhỉ? Một con chó sống tốt hơn một con sư tử chết[20]. Một người có tự treo cổ lên không vì anh ta thuộc giống người Pygmy, mà không phải người Pymy to nhất? Mỗi người hãy cứ chăm lo công việc của mình, và cố gắng là chính bản thân mình.

Tại sao chúng ta cứ phải cuống cuồng lao tới thành công và bằng những cố gắng quyết liệt như thế? Nếu một người không theo kịp bước các bè bạn của mình, thì có lẽ anh ta nghe nhịp trống quân hành khác? Hãy để anh ta bước theo khúc nhạc mà anh ta nghe, dù nó chậm hay xa thế nào. Chẳng quan trọng anh ta chín sớm như một cây táo hay cây sồi. Tại sao anh ta cần biến mùa xuân của mình thành mùa hè? Nếu điều kiện để chúng ta sinh ra chưa đến, thì chúng ta có thể thay đổi thực tại nào? Chúng ta sẽ không bị chìm đắm trong một thực tại vô nghĩa. Chúng ta có nên nhọc công xây dựng trên đầu chúng ta một vòm trời bằng thủy tinh xanh, cho dù sau khi làm xong chúng ta chắc chắn sẽ say sưa ngắm nhìn bầu trời thực vô biên xa tít phía trên, như thể vòm trời thủy tinh không hề có?

Ở thành phố Kouroo[21] có một nghệ sĩ luôn hướng tới sự hoàn thiện. Một hôm anh nảy ra ý nghĩ làm một chiếc quyền trượng. Xét rằng trong một tác phẩm không hoàn thiện, thời gian là một thành tố, nhưng với một tác phẩm hoàn thiện, thời gian sẽ không còn ý nghĩa, anh tự nhủ, “Nó” sẽ phải hoàn thiện trên mọi phương diện, cho dù mình sẽ không thể làm thêm việc gì khác nữa trong đời mình. Anh đi ngay vào rừng lấy gỗ, quyết định rằng không thể làm nó bằng thứ vật liệu không thích hợp; và sau khi anh kiếm được rồi vứt đi hết cây gậy này đến cây gậy khác, các bạn anh dần dần bỏ anh ở lại một mình, vì họ già đi trong công việc và chết, nhưng anh không già đi chút nào. Cuộc sống độc thân vì mục đích và quyết tâm, lòng ngoan đạo ngày càng tăng của anh, đã cho anh một tuổi thanh xuân vĩnh cửu mà anh không biết. Vì anh không có cam kết gì với Thời gian, Thời gian ra khỏi đường đi của anh, và chỉ biết thở dài từ xa vì không thắng được anh. Trước khi anh tìm được chiếc gậy thích hợp về mọi mặt, thành phố Kouroo là một phế tích cũ nát, và anh ngồi trên một trong những cái gò của nó để hoàn thiện chiếc gậy. Trước khi anh tạo cho nó một dáng thích hợp thì triều đại Candahar chấm dứt, và bằng một đầu gậy anh viết lên cát cái tên ông vua cuối cùng của triều đại ấy, rồi tiếp tục công việc. Khi anh còn chưa kịp gọt nhẵn và đánh bóng chiếc quyền trượng, thì Kalpa[22] đã đi hết hành trình sao của nó; và trước khi anh đóng chiếc vòng sắt vào đầu gậy và khảm bằng đá quý, thần Brahma đã thức dậy và ngủ lại không biết bao nhiêu lần[23]. Nhưng tại sao tôi dừng lại để nhắc những chuyện này? Khi nhà nghệ sĩ hoàn thành tác phẩm của mình, nó bỗng hiện ra trước con mắt kinh ngạc của anh như vật đẹp nhất trong các sáng tạo của thần Brahma. Khi làm chiếc quyền trượng, anh đã tạo ra cả một hệ thống, một thế giới mới với những tỉ lệ đẹp đẽ và hài hoà; trong đó, các thành phố cũ và các triều đại cũ đã chết được thay bằng những thành phố và triều đại mới đẹp đẽ huy hoàng hơn. Và nay anh nhìn đống vỏ bào còn mới dưới chân anh, anh thấy đối với anh và tác phẩm của anh, thời gian trôi qua như một ảo ảnh, và khoảng thời gian trôi qua không nhiều hơn cần thiết cho một tia lửa duy nhất bật lên từ bộ óc thần Brahma để rơi trên và châm lửa cho mớ bùi nhùi của một bộ óc người trần. Chất liệu thanh khiết, nghệ thuật của anh thanh khiết, có thể nào tác phẩm của anh không tuyệt mỹ?

Không có gương mặt nào chúng ta gán cho một vấn đề tốt hơn là sự thật. Chì mình nó tỏ ra là tốt. Phần lớn chúng ta không ở nơi chúng ta đang ở, mà ở một vị trí giả. Thông qua sự yếu đuối của bản tính chúng ta, chúng ta tưởng tượng ra một cảnh ngộ, và đặt bản thân chúng ta vào đấy, và như vậy cùng một lúc chúng ta ở trong hai cảnh ngộ, muốn thoát ra lại khó gấp đôi. Lúc tỉnh táo chúng ta chỉ nhìn thấy một sự kiện, tức một cảnh ngộ. Ta nói điểu ta buộc phải nói, chứ không phải điều ta nên nói. Mọi sự thật đều tốt hơn cái làm cho ta tin. Gã lang thang Tom Hyde đứng dưới giá treo cổ, được hỏi có điều gì để nói không. “Hãy nói với các thợ may,” gã bảo, “thắt nút sợi chỉ trước khi khâu”. Hắn đã quên lời kinh cầu nguyện.

Cuộc đời bạn dù hèn mọn đến đâu, hãy đón nó và sống nó; đừng lảng tránh nó và gọi nó bằng những cái tên khó nghe. Nó không tệ hơn bạn đâu. Nó tỏ ra nghèo nàn nhất khi bạn giàu nhất. Người hay xoi mói sẽ tìm ra lỗi, dù ở ngay thiên đường. Hãy yêu cuộc sống của bạn, dù nó nghèo nàn thế nào. Bạn có thể có những giờ phút thích thú, xúc động, vinh quang, cho dù ở trong một ngôi nhà nghèo. Mặt trời lặn phản chiếu trong cửa sổ nhà tế bần cũng rực rỡ như biệt thự của người giàu; tuyết tan trước cửa nó cũng sớm như vậy trong mùa xuân. Tôi thấy chỉ có một tâm hồn bình thản mới có thể sống hài lòng ở đó, và có những ý nghĩ vui vẻ như trong lâu đài. Tôi thấy những người nghèo trong thành phố thường sống những cuộc đời độc lập hơn cả. Có lẽ họ đơn giản là đủ tuyệt vời để nhận mà không băn khoăn. Phần lớn người ta nghĩ họ đứng trên việc được thành phố cứu giúp, nhưng điều xảy ra thường xuyên hơn là họ đứng trên việc tự cứu giúp mình bằng những phương tiện bất lương, là điều tai tiếng hơn nhiều. Trồng sự nghèo khó như trồng cỏ trong vườn, như trồng cây ngải đắng. Đừng bận tâm tìm kiếm đồ mới, dù là quần áo hay bạn bè. Lật đổ cũ ra, quay về với chúng. Đồ không thay đổi; chúng ta thay đổi. Bán quần áo đi, giữ tư tưởng lại. Chúa sẽ thấy bạn không cần xã hội. Nếu tôi giam mình trong gác xép tất cả quãng ngày của tôi như một con nhện, thì đối với tôi thế giới cũng vẫn rộng lớn như thế, trong khi tôi có những tư tưởng quanh mình. Một triết gia[24] đã nói: “Người ta có thể rút một vị tướng ra khỏi một quân đoàn có ba sư và đưa nó vào tình trạng hỗn loạn; nhưng người ta không thể lấy tư tưởng ra khỏi một con người thấp hèn ti tiện nhất.” Đừng quá lo âu cố mong được phát triển đừng để bản thân anh bị nhiều ảnh hưởng chi phối, tất cả những cái đó là phung phí. Sự khiêm nhường như bóng tối làm nổi lên những ánh sáng siêu phàm. Những cái bóng nghèo khó và ti tiện tụ tập xung quanh chúng ta, “và, trông kìa, Sáng tạo mở ra trước tầm mắt chúng ta.[25]” Chúng ta luôn được nhắc nhở rằng nếu tài sản của Croesus[26] được ban cho chúng ta, thì những mục đích của chúng ta phải giữ nguyên như cũ, và những phương tiện của chúng ta về thực chất vẫn nguyên như cũ. Hơn nữa, nếu nghèo túng hạn chế những khả năng của bạn, nếu bạn không có tiền mua sách báo chẳng hạn, thì bạn vẫn còn những việc quan trọng và thiết yếu hơn; bạn buộc phải xử lý với những vật liệu mang đến nhiều đường và bột nhất. Đó là cuộc sống gần với xương, nơi nó ngọt nhất[27]. Bạn được bảo vệ để không trở thành một gã bông phèng. Không người nào bị thua tính hào hiệp của người ở tầng lớp cao hơn. Tiền bạc dư thừa chỉ có thể mua được những đồ thừa thãi vô dụng. Chẳng cần đến tiền bạc để mua một thứ cần thiết cho linh hồn.

Tôi sống trong góc một bức tường bằng chì, trong thành phần của nó có pha một ít hợp kim của kim loại chuông (bell-metal). Thường thường vào giờ nghỉ trưa của tôi vọng từ ngoài vào đến tai tôi tiếng tintinnabulum[28]. Đó là tiếng ồn của những người đồng thời với tôi. Những người láng giềng của tôi kể với tôi những cuộc phiêu lưu của họ cùng với những quý ông quý bà nổi tiếng, những nhân vật quan trọng nào họ gặp bên bàn tiệc, nhưng tôi không quan tâm đến những thứ ấy hơn là những nội dung của tờ báo hằng ngày Daily Times. Người ta chỉ quan tâm và trò chuyện chủ yếu về quần áo và phong thái, nhưng dù có mặc quần áo gì cho chúng thì ngỗng vẫn là ngỗng. Họ kể với tôi về California và Texas, về Anh và Ấn Độ, về Ngài gì gì đó của Georgia hoặc Massachuset, về những hiện tượng thoáng qua và phù du, cho đến khi tôi sẵn sàng nhảy ra khỏi sân của họ như Mameluke bey[29]. Tôi chỉ muốn biết thật ra tôi đang ở đâu, không bước đi đầy phô trương trong đám diễu hành ở chỗ đông người, mà dạo bước thậm chí cùng Người Thợ Xây vũ trụ, nếu tôi có cơ may; không sống trong cái thế kỷ Mười Chín đầy bồn chồn, lo lắng, lăng xăng tất bật, tầm thường vô vị này, mà đứng hay ngồi tĩnh lặng trầm tư trong khi nó trôi qua. Những người này cử hành lễ hội gì vậy? Tất cả đều đứng trong một ủy ban của những tổ chức nào đó, chờ đợi từng giờ bài diễn văn của ai đó. Trong những ngày này Chúa là người chủ tọa duy nhất, và Webster[30] là phát ngôn viên của người. Tôi thích suy xét, cân nhắc, hướng về điều gì mạnh mẽ và đúng đắn nhất thu hút tôi – không treo người trên cán cân mong nhẹ cân hơn - không tưởng tượng ra một cảnh ngộ, mà chấp nhận cảnh ngộ như thực tế; chỉ đi những con đường tôi có thể đi, và trên đó không sức mạnh nào cản trở được tôi. Nói chung tôi thích chỉ bắt đầu xây cái vòm khi đã có cái nền vững chắc. Chúng ta đừng chơi trên lớp băng mỏng[31]. Chỗ nào cũng có một cái đáy vững chắc. Tôi đọc thấy[32] có người khách bộ hành hỏi một cậu bé dưới đầm lầy trước mặt họ có cái đáy vững chắc không. Cậu bé trả lời rằng có. Nhưng ngay liền đó con ngựa của ông ta chìm đến tận yên. Ông ta trách thằng bé: “Tôi nghĩ cậu nói dưới cái đầm này có một cái đáy cứng.” Cậu bé trả lời “Có đấy chứ. Nhưng ông chưa đi được nửa đường đến đó.” Những cái đầm lầy và vũng cát lún của xã hội cũng vậy, nhưng phải đến lúc trưởng thành người ta mới biết. Chỉ những gì được nghĩ, nói và làm trong những trường hợp đặc biệt, hiếm hoi mới tốt. Tôi không thuộc loại người ngu ngốc đến mức đóng đinh vào giữa tấm ván có trét vữa, một việc làm như thế khiến tôi mất ngủ nhiều đêm. Hãy đưa tôi một cái búa, và cứ để tôi mò tìm khe để đóng. Đừng dựa vào lớp vữa. Đóng một cái đinh vào hết và đóng gập đầu đinh thật chắc chắn sao cho khi thức dậy giữa đêm nghĩ rằng công việc của bạn được làm thật mỹ mãn, - một việc mà bạn phải lấy làm xấu hổ nếu phải cầu đến Nàng Thơ. Như thế và chỉ thế Chúa mới giúp bạn. Mọi cây đinh nên được đóng như rivê trong cỗ máy của vũ trụ, và bạn là người thực hiện công việc ấy.

Hãy cho tôi sự thật, hơn là tình yêu, hơn là tiền bạc, hơn là danh tiếng. Tôi ngồi bên một chiếc bàn, rượu thịt ê hề, đầy rẫy cảnh xun xoe qụy lụy. Nhưng không có sự chân thành, không có sự thật, và tôi bụng đói bỏ đi khỏi bàn tiệc không ngồi được. Lòng hiếu khách lạnh như băng. Tôi nghĩ không cần nước đá để ướp lạnh nó. Họ nói với tôi về tuổi của rượu vang và danh tiếng của nho, nhưng tôi nghĩ về một thứ vang cũ hơn, mới hơn, và tinh khiết hơn, một loại nho tuyệt vời hơn, mà họ không có, và không thể mua. Kiểu cách, ngôi nhà, những mảnh đất, những trò “tiêu khiển” đối với tôi là vô nghĩa. Tôi đến thăm một ông vua, nhưng ông ta bắt tôi đợi ở sảnh ngoài, và cư xử như một người không có chút ý niệm gì về sự hiếu khách. Gần chỗ tôi có một người sống trong một hốc cây. Cung cách của ông thật vương giả. Nếu tôi đến thăm ông, thì câu chuyện chắc đã hay hơn.

Chúng ta còn định ngồi bao lâu dưới mái cổng để thực hiện những đức hạnh vô vị và mốc meo mà bất kỳ công việc nào cũng biến thành xấc xược? Giống như một người bắt đầu một ngày mới với sự nhẫn nại chịu đựng, rồi thuê một người khác xới khoai tây cho mình, và buổi chiều thì đi thực hành tính nhu mì Cơ Đốc, và từ thiện có chủ định! Hãy coi Trung Hoa niểm hãnh diện và tự mãn tự túc tù đọng của nhân loại. Thế hệ này tự chúc mừng nó là những kẻ cuối cùng của một dòng giống vinh quang; và ở Boston và London và Paris và Rome, nghĩ đến sự sa sút từ lâu của nó, nó nói về tiến bộ của nó trong văn học, nghệ thuật, và khoa học một cách tự mãn. Có những hồ sơ về các Hội Triết học, và công bố những bài tán tụng Những con người Vĩ đại! Đó là một Adam tốt đang ngẫm ngợi đức hạnh của chính mình. “Vâng , chúng ta đã làm được nhiều việc, đã ca những bài thánh ca, sẽ không bao giờ chết,” – tức là, chừng nào chúng ta còn có thể nhớ được chúng – các hội có học vấn và những con người vĩ đại của Assyria, - họ ở đâu nhỉ? Chúng ta là những triết gia trẻ trung biết bao, những nhà triết học thực nghiệm. Trong các độc gỉả của tôi không có ai đã sống đầy đủ cuộc sống của con người. Đây có lẽ chỉ mới là những tháng mùa xuân trong cuộc đời của loài người. Nếu chúng ta có sự “thèm của lạ” sau bảy năm chung sống vợ chồng, thì chúng ta vẫn chưa thấy con ve sầu bắc Mỹ[33] ở Concord. Chúng ta mới chỉ quen với lớp da mỏng của địa cầu mà chúng ta sống. Đa số chưa đào sâu đến sáu foot xuống dưới, cũng chưa nhảy cao chừng ấy khỏi mặt đất. Chúng ta không biết nơi chúng ta đang sống. Ngoài ra, chúng ta ngủ say gần hết nửa cuộc đời. Thế mà chúng ta tự đánh giá chúng ta khôn ngoan, và đã thiết lập được một trật tự trên mặt đất. Đúng, chúng ta là những nhà tư tưởng sâu sắc, chúng ta là những con người đầy tham vọng! Khi tôi đứng nhìn xuống con sâu đang bò giữa những lá thông trên nền đất rừng và đang cố gắng tự giấu mình khỏi tầm mắt của tôi, tôi tự hỏi tại sao nó lại có những ý tưởng hèn mọn đến thế, giấu cái đầu của nó khỏi tôi là người có thể là ân nhân của nó, truyền đạt những thông tin khích lệ cho loài của nó, thì tôi chợt nhớ về Ân nhân vĩ đại và Thông mình hơn đang nhin xuống loài người sâu bọ chúng ta.

Có một dòng cái mới lạ không ngừng chảy vào thế giới, thế nhưng chúng ta vẫn chịu đựng chấp nhận cái đần độn ù lì đến lạ lùng. Tôi chỉ cần nhắc đến loại thuyết giáo đạo đức vẫn còn vang lên cả trong những nước khai minh nhất. Có những lời vui và buồn như thế, nhưng chúng chỉ là điệp khúc của một bài thánh ca, được hát bằng giọng mũi, trong khi chúng ta tin vào điều thông thường và trung dung. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ có thể thay đổi quần áo. Người ta nói Đế quốc Anh rất rộng lớn và đáng kính, và rằng Hoa Kỳ là cường quốc hạng nhất. Chúng ta không tin rằng một đợt thủy triểu dâng lên hạ xuống đằng sau mỗi con người có thể cuốn trôi Đế quốc Anh như một mảnh vỏ bào, nếu con người ấy có thể chứa nó trong tâm trí mình. Ai biết được loại ve sầu bắc Mỹ nào sắp tới sẽ ra khỏi đất[34]? Chính phủ của cái thế giới mà tôi sống không bị sắp đặt, như chính phủ Anh, trong những cuộc trò chuyện sau bữa ăn bên chén rượu.

Cuộc sống trong chúng ta như nước trong dòng sông. Năm nay nó có thể dâng lên cao hơn mức con người từng biết, làm ngập lụt những vùng cao khát nước; thậm chí năm nay có thể là năm có nhiều sự kiện quan trọng, làm chết đuối tất cả lũ chuột nước của chúng ta. Nơi chúng ta ở không phải lúc nào cũng là đất khô. Tôi thấy sâu trong đất liền những bờ mà những dòng sông đã rửa từ xa xưa, trước khi khoa học ghi lại những dòng nước ngọt của nó.

Mọi người đã nghe câu chuyện được kể khắp nơi ở New England, một con rệp khỏe và đẹp chui ra từ một tấm ván khô của một cái bàn cũ bằng gỗ táo, chiếc bàn này đã ở trong bếp một người nông dân hơn sáu mươi năm, lúc đầu ở Connecticut, sau đó là Massachusetts. Nó nở ra từ một quả trứng ký gửi từ trước đó nhiều năm trong một cái cây sống - người ta đếm số lớp hàng năm bọc ra ngoài nó thì biết; nghe nó gặm trong nhiều tuần để chui ra, và may mắn nở ra được nhờ nhiệt của một bình trà. Ai nghe chuyện này mà không thấy niềm tin của mình vào sự hồi sinh và bất tử được củng cố thêm? Ai biết một sinh linh đẹp của loài bay được, mà trứng của nó bị chôn vùi nhiều năm dưới nhiều lớp vỏ gỗ đồng tâm trong sự sống khô chết của xã hội, lúc đầu ký gửi trong dác của một cây sống xanh tươi, dần dần biến đổi thành ra giống như nấm mồ bằng gỗ khô, - bây giờ qua bao nhiêu năm vẫn còn nghe tiếng gặm bên một gia đình người ngạc nhiên, khi họ ngồi quanh bàn tiệc ngày hội, - nó có thể bất ngờ đi ra từ giữa một đồ gỗ tầm thường nhất của xã hội, để cuối cùng hưởng cuộc sống mùa hè tuyệt vời cuả nó.

Tôi không khẳng định rằng John hoặc Jonathan[35] nắm bắt được tất cả điều này, nhưng đặc tính của ngày mai là thế, chỉ có thời gian trôi đi thì không bao giờ làm lóe rạng ra được. Ánh sáng làm lóa mắt chúng ta chính là bóng tối đối với chúng ta. Ngày chỉ rạng lên khi chúng ta thức dậy. Ngày còn dài để rạng lên. Mặt trời chỉ là một ngôi sao ban sớm[36].

* * *


[1] Tierra del Fuego (Tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “Đất Lửa”) quần đảo cực nam châu Nam Mỹ.

[2] Thơ William Habbington (1605-1664).

[3] Những miền chưa được khai phá thường được thể hiện trên bản đồ bằng màu trắng.

[4] John Franklin (1786-1847) nhà thám hiểm người Anh, mất tích ở Bắc cực, khi khảo sát Hành lang Tây Bắc.

[5] Henry Grinnell, người New York là người chủ trương và thuyền trưởng của đoàn thám hiểm đi tìm Franklin.

[6] Mungo Park (1771-1806?) là nhà thám hiểm châu Phi của Scottish; Lewis và Clark dẫn một đoần thám hiểm qua Louisiana Purchase đếb Bờ Tây; và Sir Martin Frobisher (1535?- 1594) nhà hàng hải và thám hiểm người Anh.

[7] Đoàn thám hiểm Grinnell đã tìm thấy 600 thùng thịt bảo quản do Franklin để lại ,

[8] Charles Wilkes dẫn đầu một đoàn thám hiểm các hòn đảo Nam cực của Thái Bình Đương từ 1839 đến 1842.

[9] Trích “Ông gỉà Verona”, Claudian (370?-405) nhà thơ La Mã.

[10] Iberians (Spaniards- Tây Ban Nha) được đổi thành Australian trong bản dịch của Thoreau.

[11] Thoreau đọc “Những hạng người” của Charles Pickering, (The Races of Man London, 1851), một cuốn sách mô tả chuyến đi vòng quanh thế giới, trong đó có đoạn thuật về những con mèo nhà ở Zanziba.

[12] Thuyền trưởng John Cleves Symmes năm 1818 có gợi ý rằng trái đất là rỗng và có lỗ ở hai cực.

[13] Một vùng đất ở Tây Phi giáp Vịnh Benin khét tiếng về buôn bán nô lệ.

[14] Con quái vật trong thần thoại Hy Lạp, giết những người không giải được câu đố của nó. Khi Oedipus giải được, nó đập đầu vào đá chết.

[15] Các triết gia cổ Hy Lạp thường kêu gọi: “Hãy biết mình.”

[16] Honore Riqueti, Bá tước de Marabeau (1749-1791) nhà cách mạng Pháp.

[17] Tiếng ra lệnh cho con trâu khi cày, như “vắt”,” họ” trong tiếng Việt.

[18] Nguyên văn: Extravagance: quá quắt, ngông cuồng, vô lý. Tác giả viết tách thành Extra-vagance. Extra:ra ngoài, vagance: gốc vagari= lan man, nghĩa là nói quá dông dài.

[19] Kabir là một nhà thần học, nhà thơ và nhà cải cách tôn giáo Ấn Độ thế kỷ 15.

[20] Cựu ước, Truyền đạo, chương 9:4

[21] Thoreau sáng tác truyện ngụ ngôn này đựa trên những truyền thuyết Ấn Độ.

[22] Trong văn học Hindu, Kalpa không phải là một ngôi sao, mà là một khoảng thời gian rất dài, 4.354.560.000 năm

[23] Một ngày đêm cùa Brahma kéo dài 2.160.000.000 năm.

[24] Khổng Tử, Luận ngữ: IX.25: Tử viết: “Tam quân khả đoạt soái dã, thất phu bất khả đoạt chí dã.” Tam quân không phải ba sư đoàn, mà là tiền quân, trung quân và hậu quân, theo binh pháp Trung Hoa.

[25] Joseph Blanco White (1775-1841) nhà thơ Anh, trích “Bóng đêm và cái chết.”

[26] Vua Lydia cổ đại, được coi là người giàu nhất thế gian.

[27] Càng gần xương, thịt càng ngọt (Tục ngữ Anh).

[28] Tiếng chuông kêu.

[29] Năm 1811 những người Mameluke bị bẫy vào trong mốt thành và bị những người Ai Cập tàn sát, nhưng một người đã nhảy lên ngựa và trốn thoát

[30] Daniel Webster (1782-1842) Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, bang Massachusetts, một diễn giả nổi tiếng.

[31] Kittly-benders: trò chơi của trẻ con, đi hoặc chạy trên lớp băng mỏng sắp vỡ.

[32] Câu chuyện này đăng trên một tờ báo Concord ngày 28 tháng Mười, 1828

[33] Ve sầu miền đông bắc Mỹ, sống dưới đất mười bảy năm dưới dạng ấu trùng, khi trưởng thành thì có cánh nhưng chỉ sống được mấy tuần mà thôi.

[34] Xem chú thích trên.

[35] John: danh từ chung để chỉ một người Anh trung bình. Jonathan: tên đùa gọi người Mỹ, sau này thay bằng “chú Sam”

[36] Hành tinh Venus gần Mặt Trời hơn Trái Đất, nên chúng ta thấy như nó di chuyển cùng với Mặt Trời. Khi Mặt Trời lặn ở đằng Tây, ta thường thấy Venus ở trên đỉnh, gọi là Sao Hôm, và khi Mặt Trời mọc ở đằng Đông vào buổi sáng, chúng ta lại thấy Venus lần nữa nên gọi là Sao Mai. Vậy theo nghĩa nào đó, Mặt Trời cũng là một thứ sao Hôm sao Mai.

Cái kết dường như khó hiểu, nhưng tác giả muốn là một kết thúc mở, để người đọc tiếp tục suy nghĩ. Khẩu hiện của thuyết siêu nghiệm là “Đơn giản nói KHÔNG với ĐÓNG”

Văn học miền Nam 54-75 (246): Thích Nhất Hạnh (16)

Nẻo về của ý - chương 11

STEVE, tôi xúc động quá khi nghe tin Cerbu tiên sinh qua đời. Điện tín của Steve khiến tôi bàng hoàng. Tôi không ngờ chúng ta lại mất người bạn thân đó một cách dễ dàng đến thế. Hôm rời Nữu Ước, vì vội vàng quá, tôi chỉ nói được lời từ giã với Anton qua điện thoại. Anton ân cần dặn tói nếu công việc xong xuối thì trở qua lại để lo thực hiện những điều chúng tôi đã bàn tính với nhau nhiều lần. Tôi đã nói cho Steve nghe về dự định đó, dự định mà Steve không tán thành cho lắm ấy: đó là việc tôi ở lại để cộng tác với các bạn mở một phân ban về văn minh và ngôn ngữ Việt Nam. Tôi cũng ưa việc làm ấy lắm bởi vì đó cũng là một cách làm việc cho xứ sở tôi. Đã có những phân ban về Nhật Bản, Trung Hoa và Triều Tiên nhưng về Việt Nam thì chưa có gì. Mà Việt Nam thì hiện giờ đang là một đối tượng nghiên cứu, một vấn đề nóng bỏng. Tôi nhớ lại ánh mắt sáng ngời và thái độ sốt sắng của Anton khi bàn tính về dự án ấy. Nhưng bây giờ thì hết rồi, bởi vì Anton đã học ở trường Đông Phương Ngữ ở Ba lê và đọc được tiếng Việt. Tôi đã yêu cái vẻ trẻ con dung dị của Anton nhiều quá. Ngồi đây viết cho Steve tôi còn hình dung được toàn thể con người của Anton một cách rõ rệt. Anton mất đi, để lại bao công trình dang dở. Tôi biết Anton còn có bao nhiêu tài liệu, bao nhiêu bản thảo. Không biết bạn nào sẽ lo liệu về tất cả những thứ đó. Hoặc để giữ gìn, hoặc để công bố. Những ngày cuối tháng Décembre, Anton đã khuyên tôi nên ở lại. Anton nói rằng thời thế ở Saigon chưa dung được tôi đâu. Tôi đã lưỡng lự rất nhiều, nhưng cuối cùng tiếng gọi của Phương Bối, của Nguyên Hưng và của các bạn trẻ bên này đã thắng. Thật ra tôi không lo lắng gì cho bệnh tình của Anton bởi vì sau ngày giải phẫu Anton vẫn có thể đàm luận cùng tôi với một sự nhiệt thành ít thấy. Tôi phải ngăn không cho Anton nói nhiều. Chính Anton mượn tôi cuốn Việt Nam Cổ Văn Học Sử của Nguyễn Đổng Chi vào dịp ấy. Hôm nói lời từ giã bằng điện thoại tôi có hứa "vài năm nữa" tôi qua lại. Thế nhưng người bạn của chúng ta hôm nay đã thành người thiên cổ rồi. Tôi biết Steve yêu Anton lắm, và các bạn của Steve cũng vậy. Hôm Anton vào nhà thương để giải phẫu đã có tới gần mười cô cậu tình nguyện hiến máu cho giáo sư của mình, có phải thế không?

“NGƯỜI MAN DI HIỆN ĐẠI” Nguyễn Văn Vĩnh và tính phức tạp của công cuộc hiện đại hóa thuộc địa ở Việt Nam – Phần 1

Kính thưa các quý vị độc giả!

Nhân 80 năm ngày nhà báo, dịch giả, Danh nhân Văn hóa Việt Nam Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, BBT Tannamtu.com đã trình bày trước các qúy vị một số tư liệu quan trọng cùng những hoạt động nhằm tưởng nhớ đến con người có sự nghiệp xuất sắc về văn hóa, văn học, ngôn ngữ, và tư tưởng dân chủ trong thế kỷ XX ở Việt Nam.

Phần lớn những tư liệu liên quan đến học giả Nguyễn Văn Vĩnh được công bố trên trang tin của chúng tôi, đều do những cơ duyên với cuộc đời đem lại. Chuyên môn nghiên cứu khoa học, lịch sử, văn hóa, xã hội, văn học hay ngôn ngữ… chúng tôi luôn ở mức độ hạn chế. 95% yêu cầu về tài chính dành cho các công việc liên quan đến đề tài, đều do tự thân với một giới hạn nhất định.

Nhấn mạnh thực tế này vì chúng tôi muốn đề cao sự may mắn, sự thiện tình, nhân duyên với nhiều người trong chính các quý vị, những người có tấm lòng quý hóa, trân trọng sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, từ đó, các bạn đã giúp chúng tôi đi được một chặng đường không ngắn trong việc bạch hóa những điều mà một giai đoạn dài, lịch sử và những người làm sử VN đã lảng tránh! Thậm chí, ngày hôm nay, họ vẫn tìm cách “né tránh” trước yêu của cầu lịch sử: phải đặt danh dự của nhà báo, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đúng vị trí như bản thân sự nghiệp của ông đã tự xác định.

THƯ MỜI

Tạp chí Tia Sáng trân trọng kính mời Ông/Bà  tới dự buổi tọa đàm “Trung Hoa và lch s đng hoá Bách Vit” với phần trình bày của diễn giả Trần Gia Ninh.

Thời gian: 15h thứ Bảy ngày 24 tháng 09 năm 2016

Địa điểm: Cà phê Trung Nguyên – 52 Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Rất hân hạnh được đón tiếp!


TẠP CHÍ TIA SÁNG

***


Tóm tắt nội dung

“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”, “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vậy?”... Đó là những chủ đề mà người Trung Hoa đang tranh luận sôi nổi trên mạng Internet của họ, và họ cũng chưa có câu trả lời thỏa đáng. Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó, vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt là một việc nên cùng nhau bàn thảo.

Nhà văn Nguyên Ngọc: "Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan"

Đức Tâm

clip_image001[7]

Nhà văn Nguyên Ngọc (ngồi giữa) chụp hình lưu niệm cùng cô trò trường THPT Nguyễn Hữu Huân - Thủ Đức - những người quý mến ông qua tác phẩm Rừng Xà Nu - Ảnh: ĐT

(TBKTSG Online) - Sáng ngày 17-9, nhà văn Nguyên Ngọc có buổi nói chuyện cùng các bạn trẻ TPHCM về Tây Nguyên, mảnh đất mà ông đã gắn bó hơn nửa cuộc đời. Câu chuyện nói về Tây Nguyên nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm trong bối cảnh hôm nay. TBKTSG Online lược ghi.

Tôi lên Tây Nguyên lần đầu năm 1950 và đến nay đã trải qua 66 năm gắn bó với mảnh đất này. Nơi đây không chỉ cứu sống và nuôi dưỡng tôi qua hai cuộc kháng chiến mà còn dạy tôi nhiều điều về minh triết trong cuộc sống.

Tây Nguyên rất đặc biệt, nhưng cũng rất đáng lo. Tôi mong mọi người hãy nghĩ, hãy đến Tây Nguyên và làm gì đó để cứu mảnh đất này.

Nói đến Tây Nguyên là nói đến rừng và làng. UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng. Rừng và làng chính là không gian văn hóa của Tây Nguyên. Không còn hai yêu tố này, sẽ không còn văn hóa Tây Nguyên, hoặc nếu có, cũng không còn là văn hóa thật.

Thế nhưng vấn đề quan trọng nhất hiện nay ở Tây Nguyên là sự đổ vỡ của các làng và rừng thì bị tàn phá.

Một cuốn sách lạ và quý

Nguyên Ngọc

Image result for “Cuộc cách mạng một cọng rơm”Các bạn đang chuẩn bị tái bản sách “Cuộc cách mạng một cọng rơm” bảo tôi viết thêm mấy lời giới thiệu. Tôi rất phân vân, bởi đối với nghề nông tôi là người ngoại đạo, có biết được gì mấy đâu. Song rồi nghĩ lại, có hai điều khiến tôi quyết định cầm bút.

Một là: “Cuộc cách mạng một cọng rơm” không chỉ nói chuyện kỹ thuật canh tác nông nghiệp, cũng không chỉ bàn chuyện thức ăn và cách ăn của con người…, dù về những điều đó tác giả đã nói tuyệt hay. Cuốn sách nhỏ này hóa ra là một tác phẩm lớn của một bậc hiền triết trong thời hiện đại, giữa thế giới hết sức chộn rộn và cực kỳ lộn xộn ngày nay. Masunobu Fukuoka chạm đến vấn đề lớn nhất và sâu xa nhất của con người từ khi trở thành xã hội, là mối quan hệ của con người với Tự nhiên. Từ những mẩu chuyện rất nhỏ, rất gần, rất cụ thể, thiết thân hằng ngày đối với mỗi người, từ “một cọng rơm” nhỏ nhoi mà ông trân trọng nhặt lên và ân cần trả lại cho đất, ông rà soát lại mối quan hệ sinh tồn, sinh tử đó, nhỏ nhẹ, từ tốn, nhưng đọc kỹ mà xem, kỳ thực rất ráo riết, rất quyết liệt và nghiêm khắc, ông chỉ ra con người đã làm tha hóa, suy đồi mối quan hệ đó như thế nào, đặc biệt ngày nay, ngày càng trở nên kiêu ngạo trước Tự nhiên, và đang tự dẫn mình đến hủy diệt.

Không quá chút nào khi Fukuoka gọi những điều ông nghĩ, làm và nói với chúng ta là một “cuộc cách mạng”. Cần lắng nghe ông, chăm chú suy nghĩ, nghĩ lại về những điều mỗi chúng ta đã từng nghĩ và tin, từng cho là đã xong rồi, nghĩ lại, nghĩ lại nữa, tự mình tìm một lối ra cho chính mình trong mớ bòng bong rối rít đang vây hãm chúng ta hôm nay. Và tất nhiên không chỉ để làm nông một cách khác, ăn uống một cách khác, mà là sống một cách khác. Fukuoka nghiêm trang đặt câu hỏi: thế nào là tiến bộ, thế nào là hiện đại; và căn bản hơn nữa: thế nào là hạnh phúc. Cuốn sách này cũng thật thú vị, bởi nó nói về hạnh phúc, điều ta tưởng đã hiểu, mà có khi hóa ra nhầm.

Còn một điều thứ hai khiến tôi muốn cầm bút nhân cuốn sách này: Tôi nhận ra Fukuoka quá gần, quá giống với Tây Nguyên “của tôi”, Tây Nguyên mà tôi gắn bó và đầy ưu tư. Bốn mươi mốt năm qua từ sau 1975, với sự tác động của ta, Tây Nguyên đã biến đổi hoàn toàn và theo hướng chẳng hề tốt chút nào, thậm chí rất đáng báo động. Rừng tự nhiên bị phá gần sạch. Tài nguyên mọi mặt cạn kiệt. Nước ở Tây Nguyên, vốn có ý nghĩa chi phối đối với toàn miền Nam Đông Dương, đang ngày càng thiếu nghiêm trọng. Trong 40 năm dân số Tây Nguyên đã tăng cơ học lên hơn 5 lần rưỡi, khiến người nơi khác đến, chủ yếu là người Kinh, chiếm 80% dân cư, người dân tộc tại chỗ chỉ còn 20%… Trong một tương quan như vậy, theo một thói quen kỳ quặc nhưng lại được coi là đương nhiên, luôn có khẩu hiệu “phấn đấu đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”, “người dân tộc thiểu số tiến kịp người Kinh”… Gắn bó với Tây Nguyên đã hơn 60 năm, tôi cho rằng có lẽ nên nghĩ và nói ngược lại: muốn khôi phục Tây Nguyên, muốn cứu Tây Nguyên hiện nay, người Kinh, ít ra và trước hết người Kinh ở Tây Nguyên, cần cố hết sức phấn đấu tiến cho bằng kịp người dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Trong cách họ nghĩ, cách họ sống với tự nhiên, cách họ làm nông nghiệp, cách hiểu ý nghĩa của cuộc đời và hạnh phúc làm người.

49 ngày Dương Nghiễm Mậu

Nam Dao

Lạnh chưa?

Rồi

Thế thì tốt!

Du nhắm mắt, cười mỉm trước vô tận. Bấc đèn dầu sắp lụi chập chờn hiu hắt. Mưa rả rich. Cả một cuộc đời bỗng thoắt biến thoắt hiện. Đầy ngẫu nhiên. Cứ tạm gọi là số mệnh. Hay nghiệp, đã mang lấy nghiệp vào thân.

Tự Truyện Nguyễn Du , Nghiễm cười, bắt đầu như thế.

Hay gần như thế!

Trắng Trên Đen 39&40

Ruben David Gonzalez Gallego

Vũ Thư Hiên dịch

NOVOCHERKASSK

Tôi ra đời ở Moskva. Moskva - thủ đô của nước Nga. Trong trường, chúng tôi đã được biết hết về Moskva. Chúng tôi ngân nga những bài hát ca ngợi Moskva, ngâm những vần thơ về Moskva. Người ta nói với chúng tôi rằng Moskva là thành phố đẹp nhất trần gian. Không biết có thật thế hay không, bởi vì tôi chỉ đi ngang qua Moskva, cũng như tôi đi ngang Sant-Peterburg. Tôi không cãi, rất có thể những gì người ta nói với chúng tôi về Moskva là đúng, thật nó là như thế. Có thể đúng nó là như thế. Nhiều người tin chắc nó là như thế, ít nhất thì những người Moskva tin chắc là như thế.

Tôi được thấy tận mắt ba thành phố trên thế giới: Novocherkassk, Berkley và Madrid. Đầu tiên là Novocherkassk.

Trắng Trên Đen 39&40

Ruben David Gonzalez Gallego

Vũ Thư Hiên dịch

NOVOCHERKASSK

Tôi ra đời ở Moskva. Moskva - thủ đô của nước Nga. Trong trường, chúng tôi đã được biết hết về Moskva. Chúng tôi ngân nga những bài hát ca ngợi Moskva, ngâm những vần thơ về Moskva. Người ta nói với chúng tôi rằng Moskva là thành phố đẹp nhất trần gian. Không biết có thật thế hay không, bởi vì tôi chỉ đi ngang qua Moskva, cũng như tôi đi ngang Sant-Peterburg. Tôi không cãi, rất có thể những gì người ta nói với chúng tôi về Moskva là đúng, thật nó là như thế. Có thể đúng nó là như thế. Nhiều người tin chắc nó là như thế, ít nhất thì những người Moskva tin chắc là như thế.

Tôi được thấy tận mắt ba thành phố trên thế giới: Novocherkassk, Berkley và Madrid. Đầu tiên là Novocherkassk.

THƠ NGU YÊN

Về tập thơ Độc quạnh vừa ra mắt, nhà thơ Ngu Yên tuyên bố: đây là tập thơ “quyết liệt từ giã dòng thơ cũ”. Đây là thơ “mang tính văn xuôi, bao gồm tính truyện ngắn, tiểu luận, tùy bút, thời sự, lịch sử”.

Tập thơ được “chia làm 3 phần, mỗi phần chia cho mỗi loại độc giả khác nhau”.

Văn Việt xin chúc mừng nhà thơ Ngu Yên và xin giới thiệu bài Độc quạnh cùng một số bài được rút từ phần 1, phần thơ “dành cho những ai đọc thơ với sự nhức đầu vừa phải”.

Hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy niềm hứng khởi mới mà Ngu Yên đem lại cho mình.

Bạn đọc có thể tìm mua Độc quạnh trên Amazon.com

Văn Việt