Danh Ngôn

Trong giáo dục không có gì kinh hoàng bằng mức độ dốt nát mà nó tích lũy lâu dài dưới dạng những kiến thức xơ cứng.

Nothing in education is so astonishing as the amount of ignorance it accumulates in the form of inert facts.

Henry Adams (1838-1913). The Education of Henry Adams, 25, 1907

Một chút học vấn ít ỏi, thật ra, có thể là một điều nguy hiểm, nhưng thiếu học vấn [giáo dục] là một đại họa cho bất cứ một dân tộc nào.

A little learning, indeed, may be a dangerous thing, but the want of learning is a calamity to any people.

Frederick Douglass, diễn văn đọc ở lễ ra trường tại Trường Trung học Da màu, Baltimore, Maryland, 22 tháng Sáu 1894

Người tự do không thể làm một người dốt nát lâu dài. (The free man cannot be long an ignorant man.

William McKinley, diễn văn đọc tại Pittsburgh, Pennsylvania, 3 tháng Mười Một 1897

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Văn học miền Nam 54-75 (311): Nhã Ca (3)

Tập Thơ Nhã Ca Mới

Đề tựa tập Thơ Nhã Ca

Nguyên Sa

Nha Ca Tho

Đàn bà của những ngày tháng thế kỷ 20 chẳng còn chấp nhận làm đối tượng của dục vọng, nguồn gốc của tội lỗi, đồ vật bài trí, do hôn nhân mang lại đặt bên chiếc thoi tơ, trên chiếc võng theo sau, cạnh những dụng cụ nấu bếp và chức phận thiết yếu là sản xuất con cái thuộc một giống cố định nào đó. Người đàn ông tuổi trẻ này còn mô tả với bạn bè bằng những từ ngữ có chất sống của cặp mắt thèm khát, cái nhìn xâm chiếm về những phần khác nhau cũng như về toàn diện cơ thể “giống thứ nhì”. Người đàn ông trưởng thành kia thắc mắc hoài nghi khả năng người đàn bà qua hình ảnh tưởng tượng về đứa con trai đến chậm. Người thứ ba ngạc nhiên đau xót hay phẫn nộ về thái độ không chấp nhận vị trí “đồ vật bài trí“ của người đàn bà.

Những cái nhìn xâm chiếm, sự mô tả khoan khoái, nỗi thắc mắc cổ điển, sự ngạc nhiên, đau xót hay phẫn nộ truyền thống đều nói lên sự chậm trễ của ý thức nam giới về một mối tương quan giữa sự hiện hữu của tha nhân đã và đang được đặt lại từ phía bên kia.

Trong mối tương quan đặt lại ấy, cái gọi là đồ vật cung cấp khoái lạc, bài trí gia đình, sản xuất con cái, không còn chấp nhận vị trí “đồ vật” nữa mà đã xác nhận như một chủ thể ý thức cũng biết nhìn ngắm, phán đoán, con trai… “Đổi họ thay tên viết văn làm báo” người thiếu nữ, qua hành vi vứt bỏ, đã ý thức được sự đổi thay của bản ngã trên con đường dài “cơm áo dạy mồm ăn lơ nói láo” sự sụp đổ, sự hư vô hoá của thế giới dĩ vãng, thế giới của sự cam phận. Trong cái nhìn ném lại đằng sau, chỉ còn “tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ, ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ.” Từ chuyến đi chủ động vào cuộc đời, nhà thơ khởi hành vào những cuộc di chuyển tình ái. Người đàn bà trong thi ca cổ điển than khóc vì bị bỏ quên trong cung vắng, bị lỡ bước sang ngang, than trách sự lãnh đạm, phụ rẫy, đợi chờ sự cứu vớt gia ân, hồi tâm của đàn ông, ngươi-đàn-bà-đồ-vật đó không có mặt trong chủ thể Nhã ca.

Nhã ca xác nhận tư cách người của đàn bà ở “cuối cơn điên”, ở “đầu giấc ngủ”, trong cuộc thiêu đốt “tuổi thanh xuân” cùng với “lỡ lầm”. Người đàn bà ý thức và tự do không chấp nhận bị quên và phản ứng lại: “Và một bận có một người nhắc lại, tôi cố tìm nhưng chẳng nhớ tên ai.” Nếu người đàn ông có quyền quên người đàn bà thì quyền đó không phải chỉ có một chiều mà có sự đảo ngược.

Cũng vậy, không chấp nhận vai trò thụ động của con thú bị săn, chủ thể tự do mang tên Nhã ca “sắp anh vào hàng ngũ tình nhân” chọn đối phương làm đề tài để “làm một bài thơ nói đến tên anh.” Người mẹ trong thơ Nhã ca không phải chỉ sinh sản và nuôi con như một bổn phận, một dĩ nhiên, mà còn biết toan tính biến đối phương thành đồ vật. Hélène của Le Sang des Autres nêu lên câu hỏi “đẻ con có làm cho cuộc đời phong phú hơn không?” và suy nghĩ: ”Để cho đứa trẻ sinh ra, đều vô lý như nhau”. “Chồng và vợ”, dưới mắt Simone de Beauvoir, chỉ là những nhân vật cổ điển lố bịch của những hài kịch, truyện kể, v.v. để mua vui quần chúng… Nhân vật đàn bà của Le Sang des Autres trách cứ người đàn ông “chẳng bao giờ nghĩ đến em; chỉ nghĩ đến chiến tranh”. Béatrice của Tous les hommes sont mortels “chỉ thích nhưng đều cấm đoán”. Francoise của L’invitée cho rằng “trẻ tuổi trong thời đại này chẳng có gì thích thú” vì chiến sĩ và những người không chiến đấu đều có chung nỗi lo âu siêu hình về sự hủy diệt. Còn Ivich của l’âge de raison “thù luân lý”, “thích đùa rỡn, uống rượu”, biết thẩm định giá trị của những tên đàn ông luyến ái đồng tính vì “những kẻ đó ít ra can đảm là không giống mọi người”.

Chọn lọc, xác nhận, trong chủ quan tính và tự do, nữ tính hay cá tính đàn bà của mình, giải toả, đập vỡ những huyền thoại trong đó mình bị giam giữ, chinh phục lại tư thế của chủ thể tự do, đảm nhận từ điều kiện xác thịt, nhục dục đến thân phận làm người, ý nghĩa sự sống, cứu cánh cuộc đời xuyên qua hoàn cảnh của thời đại như chiến tranh cũng như xuyên qua tình ái, đó là hình ảnh của người đàn bà trong văn chương hiện đại cũng như trong thi phẩm của Nhã ca.

Nhưng người bạn cùng chủ trương Hiện đại, tạp chí đăng những bài thơ đầu tiên của người thơ nữ giới này, đã nói đến kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ, sự hoà điệu của âm thanh, sức sống của hình ảnh. Nhã ca của âm thanh, sức sống của hình ảnh. Nhã ca của “hồn đứng im như tượng”, của “bầy chim én cũ qua thành phố” của những ngày tháng mà “đời sống ôi buồn như cỏ khô. Này anh em cũng tựa sương mù, khi về tay nhỏ che trời rét. Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ” mà Trần Dạ Từ đã mang tới “tạp chí của những ngày tuổi trẻ” không phải là một người lạ mặt với thế giới ngôn ngữ thi ca.

Những thời gian và những bài thơ đến sau cho phép tôi nhìn thấy sự cấu thành của một linh hồn nấp sau “bình thịt xương”, nói theo một nhà thơ tiền chiến, là âm thanh, hình ảnh kỹ thuật ngôn ngữ. Thực chất thi ca của Nhã ca chính là sự xác nhận một chủ thể tự do, sự chọn lựa một cá tính đàn bà vượt trên thụ động tính vì thiết lập với đối phương một tương quan đi lại, chối từ tương quan chịu đựng, vị trí đồ vật với những huyền thoại đúc kết bởi phong tục, tập quán, luân lý cổ truyền, thái độ của đàn ông thành một vòng đai trùng trùng vây hãm. “Tôi bỏ nhà đi năm mười chín tuổi’’. Nhã ca không chấp nhận sự sắp đặt bản thân như một đồ vật bởi những chuỗi động tác quen thuộc: bị trêu chọc, được gả chồng, để dạy con “sự thật kia, con nói đi con”, còn biết “mẹ nghe củi mục trôi đầy giấc con”. Và bên cạnh chiếc nôi, vẫn có nỗi thắc mắc “đầu ai tiếng gõ nghe còn nhặt thưa”.

Chính những yếu tính ý thức về nữ tính đó, phối hợp với một ngôn ngữ thi ca sử dụng vững vàng đã mang lại cho tôi sự thích thú, ít khi có, trong việc viết những dòng chữ mở đầu một tác phẩm thi ca.

Chớ nhìn tôi, bởi vì tôi đen

mặt trời đã nạm cháy tôi

anh em tôi đã ruồng bỏ đi

buộc tôi canh vườn nho cho họ

còn vườn nho của riêng tôi

tôi không hề canh giữ

Hỡi gió bấc hãy nổi, hỡi gió nam hãy tới

hãy thổi vào vườn tôi cho vườn nức hương thơm

hãy nguyện cho chàng vào

và ăn hết những trái chín của vườn

Hãy để tôi như một cái ấn trong lòng chàng

như một cái ấn trên tay chàng

vì ái tình mạnh mẽ như sự chết

vì lòng ghen tàn bạo như địa ngục

vì đó là sức nóng của lửa

và vì ngọn lửa đó của đức Giê-hô-va

Salomon

(Nhã ca, 1, 4, 8 Cựu ước)

BẠT cho tập NHÃ CA MỚI

Dương Nghiễm Mậu

Sau những cơn bão lướt qua, Sàigòn lạnh. Tôi nhớ Hànội vào mùa này, tôi nhớ Huế cũng vào mùa này. Tối nay tôi trở về nhà sớm. Những đêm giới nghiêm vẫn còn kéo dài. Tôi nhận đưọc một tấm thiếp trên bàn làm việc. Tấm thiếp cưới báo tin Kim lập gia đình. Trên đó, ngoài những hàng chữ in, Kim viết cho tôi một mẩu thư nhỏ. Anh Nghiễm ơi... giờ hạ huyệt đã đến, anh hãy vứt xuống đó một viên đất và một bông hồng... Một viên đất và một bông hồng. Tôi cười thầm, tôi chỉ có hai bàn tay không, chẳng có gì để vứt xuống. Những dĩ vãng dù trôi đi, nhưng dấu vết vẫn còn đó. Tôi chẳng biết phải làm gì để xóa đi, chôn đi. Cuộc phiêu lưu đã kẻo dài trong nhiều năm.... Tôi đã sống thế nào trong suốt thời gian qua. Bây giờ còn một ít kỷ niệm. Kim còn có nhớ. Chắc Kim đã quên. Nào có hề chi. Nói như thơ Nhã: tôi như loài rong, Chìm dưới vùng ăn năn.

nhacamoi-1

Từ những kỷ niệm của Kim gợi đến, từ những thời gian tôi gặp và thân với Từ, Từ nhắc với tôi về một người con gái Huế, người con gái đó tên Vân. Nói đến Huế, tôi nhớ lại những ngày đầu tiên rời Hànội vào sống ở Huế. Những trận mưa kéo dài âm ỉ làm rêu thối mặt đất, làm váng đen mặt tường vôi vàng cũ, làm hẹp thấp bầu trời. Những bữa cơm khô như đá sỏi bên những người thân yêu. Tôi đã khóc ở Huế. Tôi nhớ Huế. Nhớ mãi. Huế, một vẻ buồn bưng bít dồn nén từ những dãy núi lầm lì, từ những cánh đồng cát trắng nhem nhuốc từ những cơn gió Lèo khô nóng, từ những mùa đông bất chợt ào xuống với con mưa tầm tã. Vẻ buồn bưng bít dồn nén còn đọng lại nơi chính cuộc sống của hơn trăm năm một đế đô với những thành quách, hào lạch và nỗi u uất bao nhiêu người sống trong những lề thói, tập tục, phong cách... Huế buồn chất ngất cô đơn với thế giới bên ngoài. Vân, tên của người làm thơ Nhã Ca, đã sống, lớn lên ở đó. Và Vân bỏ Huế, Vân làm thơ, Vân bắt đầu một cuộc sống khác. Tôi không hiểu những người đã rời Huế nghĩ gì về Huế. Phần tôi, tôi thù oán Huế nỗi thù oán cay đắng, vì Huế vừa bí ẩn vừa đáng yêu vừa đáng ghét. Điều ấy hãy nhìn vào mắt những người con gái Huế. Đôi mắt sâu hút vừa quyến rũ vừa đe doạ, vừa hiền lành vừa hung ác cuồng nhiệt. Khuôn mặt Huế, đời sống Huế. Khuôn mặt Vân, đời sống Vân, đó là một sự thực thơ. Nàng đã đứng dậy nàng đã đi.

Đọc thơ của Nhã, những mòn hết tuổi thơ, niềm hối tiếc, ăn năn, mất thời gian, lỡ nụ cười, buồn như cỏ khô, thở dài, ưu phiền, môi sầu, lãng quên, nghẹn ngào rất thường ở đâu tôi đã gặp, nhưng ở trong thơ của Nhã Ca nó khác hẳn, lạ hẳn.

Sau cơn say váng vất kéo dài, tôi thức dậy. Tôi đã hỏi một người bốn mươi tuổi: Khi các anh bằng tuổi tôi các anh có buồn không, bây giờ chúng tôi buồn quá. Người đó nói với tôi: Khác các cậu bây giờ. Cậu thất tình phải không. Tôi gật đầu: Nhiều thứ nữa.

Nhiều thứ nữa. Đọc thơ Nhã, tôi càng thấm thía với những gì tôi nghĩ. Nhã, cũng như tôi, các bạn hữu tôi... chúng tôi đều buồn.

Có người bảo tôi lấy vẻ buồn làm dáng. Tôi không thấy vậy. Suốt quãng đời đã qua tôi chưa có một câu chuyện gì vui đẽ kể lại, một hạnh phúc làm vốn liếng. Những ngày nào Nhã vừa đặt chân xuống Saigon, sống khốn khổ giữa những bạn hữu nghèo đói, những ngày Từ nằm phơi mình ở Ngã tư Bảy Hiền, Bình Thới... bên những chồng giấy báo cũ. Những ngày chui lủi nơi căn phòng một bin-đinh. Những ngày Từ vào tù và Nhã bế cháu Sớm Mai hốc hác đi tìm tin chồng... Cuộc sống riêng tư mỗi ngưỡi và đời sống xã hội, tất cả đó là những chua xót, dầy vò... sự thật đó hiện diện trong thơ Nhã. Thơ Nhã là đời sống Nhã, là hình bóng chúng tôi.

Một buổi chiều, khi ở phố, tôi gặp nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Sau đó, chúng tôi cùng về một đường. Trên xe, Anh Nguyễn Mạnh Côn hỏi tôi: Anh có mơ ước viết một tác phẩm thơ mộng hay không. Tôi nói có. Tôi vẫn mơ ước viết một tác phẩm thơ mộng, về một mối tình chẳng hạn. Nhưng tôi vẫn chưa viết được, chừng như chúng tôi mất đi sự say mê hào hùng...

Thơ Nhã là cơn váng vất đau buồn âm ỉ, như giọt cường toan trên vách đá xanh đen. Tôi đã mất say mê hào hùng, đó là sự thật. Tôi nghĩ điều mơ ước của tôi về một tác phẩm thơ mộng sẽ mãi mãi là ước vọng. Thơ Nhã, khuôn mặt mới của thơ mộng, hạnh phúc... khuôn mặt thiểu não, tiều tụy... đó là khuôn mặt thật của thơ mộng, hạnh phúc trong đời sống chúng tôi.

Bây giờ Kim đã lập gia đình, người ta bảo như vậy là phản bội. Làm rất nhiều thơ, văn, trong nhiều năm, bây giờ Nhã mới in được tập thơ đầu cho mình. Sau những năm trôi nổi hằn học, chúng tôi mỗi lúc một buồn bã hơn, một độc ác tàn nhẫn hơn: những độc ác, tàn nhẫn từ trong tâm hồn mình, với chính mình. Chúng tôi đã chẳng dấu giếm gì điều đó. Bao nhiêu thần thoại đã bị hủy thiêu. Trước thực tế, chúng tôi kiêu hãnh làm loài sâu bọ, một kiêu hãnh rất Người, Đọc thơ Nhã trước đó, phải chấp nhận thái độ này, thái độ mà, với chúng tôi thật đau khổ, nhưng chúng tôi không thề làm gì khác.

Nhã nói với tôi: Anh có thế viết gì cho tập thơ của Nhã. Tôi đã viết, một cách vụn vặt, một vài mẩu ngắn rời rã. Tôi vốn chủ quan. Nghĩ cho cùng chẳng nên viết gì. Nghĩ cho cùng Nhã cũng chẳng nên in thơ. Hoàn cảnh nầy còn viết văn, làm thơ gì nữa... chẳng qua mình làm cho khuây vậy thôi. Như thế, chắc Nhã không buồn lòng vì những gì tôi viết. Và Kim, chắc em đã hài lòng.

12-1964

dương nghiễm mậu

Nguồn: http://vietmessenger.com/books/?title=nhacamoi