Danh Ngôn

Những nhà văn xuất chúng luôn luôn là những nhà phê bình nghiêm khắc nhất đối với chính tác phẩm của mình.

(The best authors are always the severest critics of their own works.)

Lord Chesterfield, chính khách, nhà văn Anh. (1694-1773). Thư gởi con trai, 6 tháng Năm 1751

Tôi có một nhà phê bình đòi hỏi quá quắt hơn các bạn: đấy là cái tôi thứ hai của tôi.

(I have a critic who is more exacting than you: it is my other self.)

Jean Meisonier, họa sĩ Pháp. Trong tuyển tập của Alice Hubbard, An American Bible, tr. 192, 1946

Hỏi một nhà văn đang sáng tác ông ta nghĩ gì về các nhà phê bình cũng giống như hỏi một cột đèn cảm thấy thế nào về các con chó.

(Asking a working writer what he thinks about critics is like asking a lamppost how it feels about dogs.)

Christopher Hampton, nhà soạn kịch sinh tại Bồ Đào Nha 1946 hiện sống tại Anh. Trong Sunday Times, (London), 16 tháng Mười 1977

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Văn học miền Nam 54-75 (252): Sơn Nam (2)

Văn hóa tinh thần Nam Bộ trong văn xuôi của Sơn Nam

Như Trang

Sơn Nam là cây bút khá quen thuộc trên văn đàn Nam Bộ từ hơn 60 năm nay. Trước năm 1975, Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc được xem là hai cây bút văn xuôi tiêu biểu chuyên viết về văn hóa và con người Nam Bộ. Sơn Nam được mệnh danh là "Pho tự điển sống về miền Nam", tác phẩm của ông là kho lưu trữ bảo tồn những giá trị văn hóa dân tộc. Tiếp cận di sản của Sơn Nam từ góc nhìn văn hóa sẽ giúp ta phát hiện thêm nhiều điều kỳ thú về đời sống tinh thần của những con người mở đất ở cực Nam Tổ quốc.

I. Vài nét về Sơn Nam và văn hóa Nam Bộ

1.1. Vài nét về văn nghiệp Sơn Nam

Sơn Nam sinh năm 1926 tại tỉnh Kiên Giang. Từ thời thơ ấu, ông đã được may mắn chiêm ngưỡng những vẻ đẹp hoang sơ của vùng đất cực Nam Tổ quốc. Sau này, những câu chuyện li kì trên đất rừng Cà Mau cứ ám ảnh ông và chảy vào trang văn của ông rất tự nhiên. Sơn Nam từng học trung học ở Cần Thơ - thủ phủ miền Tây. Đến đây, ông lại có thêm cơ hội mở rộng tầm nhìn để từ đó phát hiện ra những bản sắc của quê hương mình. Sau Cách mạng tháng Tám, Sơn Nam tham gia kháng chiến, đi đó nhiều nơi, lượm lặt thêm vô số chuyện lạ để sau này sáng tác văn học. Sau 1955, Sơn Nam lên Sài Gòn chính thức gia nhập làng báo. Ông trở thành một trong những cây bút chủ lực của văn học miền Nam.

Sơn Nam tự đánh giá mình là "Một tay viết lì lợm, không giống ai, chịu thiếu thốn vật chất rất giỏi mà vẫn đi theo con đường đã chọn: Quay về cội nguồn văn hóa dân tộc mà chính xác là đặc trưng của Nam Bộ, bằng lối văn mộc mạc, chữ nghĩa gần gũi đời sống thực tế" [3, tr. 67]. Sơn Nam viết rất sung sức, để lại cho đời rất nhiều tác phẩm viết về miền Nam.

Về khảo cứu: Nói về Miền Nam (1967); Gốc cây, cục đá và ngôi sao (1969); Văn minh miệt vườn (1970); Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên Địa hội và cuộc Minh Tân (1971); Lịch sử khẩn hoang Miền Nam (1973); Cá tính Miền Nam (1974); Tìm hiểu đất Hậu Giang (1974); Gia Định xưa (1984); Lịch sử An Giang (1988); Đình miếu và lễ hội dân gian (1992); Bến Nghé xưa (1992); Đồng bằng sông Cửu Long-Nét sinh hoạt xưa (1993); Người Sài Gòn (1994); Sài Gòn lục tỉnh xưa (1998); Ấn tượng 300 năm (1998) v.v..

Về văn xuôi: ông viết khoảng 10 tiểu thuyết và rất nhiều truyện ngắn. Tiêu biểu như: Chuyện xưa tình cũ (1958), Hương rừng Cà Mau (1962) Chim quyên xuống đất (1963), Hình bóng cũ (1964), Vọc nước giỡn trăng (1965), Hai cõi U Minh (1965), Vạch một chân trời (1968), Ngôi nhà mặt tiền (1992), Biển cỏ Miền Tây (1993), Âm dương cách trở (1993)... Văn Sơn Nam thường viết về đề tài phong tục Nam Bộ, nhất là miền Tây. Cách hành văn giản dị, đôi lúc hóm hỉnh rất trí tuệ. Văn Sơn Nam mang bản sắc phương ngữ Nam Bộ. Chính những yếu tố này đã tạo cho văn của ông có một phong cách riêng rất rõ nét.

1.2. Vài nét về văn hóa Nam Bộ

Nam Bộ là vùng đất mới, có lịch sử phát triển khoảng hơn 300 năm. Khi người Việt mới từ miền Bắc và miền Trung vào, nơi đây vẫn còn hoang vu. Địa hình bị chia cắt những hệ thống sông rạch chằng chịt. Bên cạnh những khó khăn về giao thông, lũ lụt, thú dữ, muỗi vắt... mảnh đất này cũng ban cho con người nhiều ưu đãi hơn bất kỳ vùng đất nào khác trong cả nước. Đồng lúa bạt ngàn, màu mỡ, cá tôm ê hề, ăn không hết thì buôn bán sang xứ khác. Nhìn bề ngoài, người dân Nam Bộ có vẻ quá nghèo khổ khi sống trong những căn chòi "xập xệ, nát vách lủng nóc" [8, tr.177], "vách lá te tua, trống trải quá" [8, tr.20]. Tuy "nếp sống cực khổ nhưng nhàn rỗi", làm chơi ăn thiệt, không phải vất vả lo chuyện miếng ăn như người Bắc Bộ.

Trong điều kiện sống như vậy, người dân Nam Bộ cũng hình thành những cá tính riêng, không hoàn toàn giống với con người miền Trung, miền Bắc. Con người Nam Bộ phóng khoáng, cởi mở, thường vung tay quá trán, chơi quá đà. Khách tới thường đãi đằng chu đáo, tiệc tùng liên miên, bất kể sơ, thân. Họ có tính cách hào hiệp, sẵn lòng giúp đỡ người khác mà không tính thiệt hơn (Lục Vân Tiên, Hớn Minh). Họ coi trọng tình nghĩa, trước sao sau vậy, không quanh co, hai lòng (như Tử Trực, Nguyệt Nga). Người nông dân Nam Bộ có tính cách bộc trực, chất phác, nghĩ sao nói vậy, nói sao làm vậy. Đặc biệt, họ khá năng động, sáng tạo, nhờ đó, tạo ra nền kinh tế năng động ở miền Nam ngày nay. Chúng ta có thể bắt gặp hầu hết nhưng tính cách ấy trong các tác phẩm của Sơn Nam.

Ta có thể tiếp cận những yếu tố văn hóa trong văn xuôi Sơn Nam trên hai phương diện: vật chất và tinh thần. Chúng ta hiểu, văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể) bao gồm những ý niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, chuẩn mực, hành vi đối xử, văn học nghệ thuật... Trong phạm vi của một bài viết, chúng tôi chủ yếu nhấn mạnh đến ba yếu tố: Một là, cách thức ứng xử cùng với một số phong tục của người dân nơi đây. Hai là, các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng và những ý niệm của người Nam Bộ về mối quan hệ Thiên - Địa - Nhân. Ba là, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, qua hoạt động này, có thể thấy được quan niệm sống của người dân Nam Bộ.

II. Một số phương thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ

2.1. Văn hóa ứng xử

Một trong những biểu hiện quan trọng của văn hóa tinh thần là cung cách ứng xử của con người với môi trường sống. Đó là cách cư xử giữa con người với con người, con người với thiên nhiên. Văn hóa ứng xử thể hiện trong ngôn ngữ, giọng điệu, nét mặt, cử chỉ, hành động... Truyện của Sơn Nam đã giúp cho bạn đọc có những kiến thức khá thú vị về văn hóa ứng xử của người bình dân Nam Bộ thuở trước.

Trong văn hóa cư xử giữa người với người, cung cách của người Nam Bộ có sự thống nhất trong đa đạng. Nét chung của họ là bộc trực, nghĩ sao nói vậy, kiệm lời, không hoa hòe, giả tạo, không quá quỵ lụy... Đôi lúc, ta cũng gặp những kiểu cách ăn nói riêng, như lối ăn nói ngạo mạn của Hai Điền, thằng Cẩu (Bà Chúa Hòn), Bảy Tiểu (Cậu Bảy Tiểu), lão Henri (Hình bóng cũ)... Hoặc giọng điệu ngang tàng, nghĩa hiệp như tướng cướp Tư Hiền thủ lĩnh Đảng Cánh buồm đen. Các nhân vật có chữ nghĩa thường có phong thái giao tiếp điềm đạm, thích triết lý về Phật giáo như Lục cụ Tăng Liên (Chiếc ghe ngo) hoặc có vẻ cao đạo như ông kiểm lâm "Rốp" (Sông Gành Hào)... Trong văn xuôi của Sơn Nam, ta cũng gặp kiểu cách ăn nói của người Miên, người Hoa, người Pháp, người Mỹ... và đủ mọi thành phần khác nhau trong xã hội Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Điều đó cho thấy có sự lai tạp văn hóa rất lớn diễn ra trên vùng đất năng động này.

Thuở mới mở đất, con người Nam Bộ gặp rất nhiều khó khăn, sông nước hoang vu, đi lại khó khăn nên họ rất "thèm người". Vì họ có tính hiếu khách nên bất cứ ai tới làng, dù chưa rõ gốc tích cũng đều được dân làng đón tiếp chu đáo. Trong Ruộng Lò Bom, nhân vật Tư Cồ từ xa mới đến đã được dân làng đón tiếp niềm nở: "Mới đây, trong xóm lại xuất hiện một tay "anh hùng mới," gọi nôm na là Tư Cồ, vì hắn to lớn xác, vai u thịt bắp. Tư Cồ khoe khoang rằng đã phiêu bạt khắp Nam Kỳ, lục tỉnh, biết làm đủ thứ nghề. Hắn ta còn nói thêm: - Tôi nghèo vì muốn sống ngang dọc chớ nếu cần làm giàu như thiên hạ thì mấy hồi... Và tôi làm mướn qua tháng qua ngày chỉ vì tôi không muốn làm chủ. Người làm mướn sung sướng trăm bề: không lo xa, có nhà ở, cơm ăn. Khi chán ông chủ này thì mình giựt nợ, làm tôi tớ cho ông chủ khác". Những người như Tư Cồ không phải là hiếm ở Nam Bộ thuở trước. Họ sống giang hồ, phiêu bạt, chán chỗ này, đến chỗ khác, đi đâu cũng có đất sống, cũng được đón tiếp chu đáo, chẳng lo cơm áo gạo tiền. Ở vùng đất này, không có khái niệm "dân ngụ cư" như ở Bắc Bộ.

Ở Nam Bộ, khi khách tới nhà, chủ thường mời cơm rượu, tiệc tùng liên miên, nếu khách không ăn uống nhậu thì bị chê là không thật lòng. Có thể thấy cung cách hiếu khách của người dân nơi đây qua việc ông Chòi Mun tiếp thầy Chà: "Nghèo thì nghèo chớ tối hôm đó ông Chòi Mun dám chống xuồng lại tiệm mua chịu nửa lít rượu đãi khách. Về nhà, ông bắt hai con cá lóc đốt lửa nướng trui. Và châm ngọn đèn dầu mù u để chờ đợi." (Ông Chòi Mun). Trong Một vũng máu tầm thường, để biết được người mới đến như thế nào, dân làng cử người ra thách uống rượu. Dân trong xóm kéo đến xem tửu lượng của kẻ lạ mặt: "Dân chúng bu lại đen nghẹt trước cửa quán. Rót rượu ra chén xong, ông Hai Lộc lên tiếng:- Tư Tôm cứ uống! Xóm này hiếu khách lắm. Nãy giờ chú em ở đâu tôi không rõ". Tư Tôm thú nhận mình không chỉ có tài uống rượu mà còn có tài "độn thổ". Để chứng minh "tài năng" của mình, Tư Tôm đột nhập một ngôi nhà lúc ban đêm, giết chết một con chó. Sáng hôm sau, chủ nhà và tên trộm "hòa cả làng", dân trong xóm vui vẻ tiếp nhận thêm một thành viên mới. Điều đó cho thấy, người dân ở đây có lòng vị tha, cởi mở và sẵn sàng cưu mang những kẻ xa lạ, có thành tích bất hảo.

Người dân Nam Bộ sống nhờ vào thiên nhiên nên có mối quan hệ mật thiết với chim muôn, cây cỏ, sông nước. Họ sống dựa vào con nước, tới mùa nước nổi thì đưa trâu đi đến nơi cao ráo, mọi hoạt động bị đình trợ, nước rút thì trở lại trồng trọt trên lớp phù sa mới (Mùa len trâu). Sông lạch chằng chịt, đi lại khó khăn nhưng người dân không né tránh mà vẫn gắn bó với sông nước. Họ sáng tạo ra ba kiểu chạy thuyền buồm để thích nghi với mỗi khúc sông khác nhau (Ba kiểu chạy buồm, Vẹt lục bình...). Đối với thú dữ, họ có cách ứng xử "kính nhi viễn chi". Theo họ, giết cọp, giết sấu... là "sát sanh" nhưng buộc phải giết do nhu cầu sinh tồn. Khi giết xong thì phải thờ "Bất luận là sấu hay cọp, hễ nó hại mình thì mình giết nhưng giết được rồi thì mình nên thờ..." , "phải để nó tu tâm dưỡng tính trong kiếp sau. Tôi không ưa sát sanh" (Sông Gành Hào) [11, tr.201]. Chỉ có ở Nam Bộ, ta mới thấy phổ biến hình thức thờ cúng những con thú dữ như cọp, sấu... Đây là hình thức ứng xử với môi trường thiên nhiên của người dân nơi đây.

Trải qua một quá trình đấu tranh sinh tồn rất gian nan, bền bĩ, người dân Nam Bộ đã hình thành nên một mối quan hệ gắn bó thân thiết giữa con người với con người và con người với thiên nhiên. Họ sống gần gũi với thiên nhiên và thuận theo lẽ tự nhiên để mong có cuộc sống bình yên giữa chốn cùng trời cuối đất này. Có thể thấy triết lý đó trong truyện Cao khỉ U Minh. Chủ nhà Tư Huỳnh nài ép nhân vật "tôi" phải ăn thật nhiều cá. Ông triết lý theo kiểu miệt vườn: cá ăn lăng quăng - muỗi để sống, con người ăn cá để sống, rồi muỗi đốt lại con người để sống. Muỗi sinh sốt rét, muốn chữa thì phải ăn nhiều cá: "Bịnh ở đâu thì thuốc ở đó". Nhân vật Hai Khị cũng đúc kết nên một quy luật tự nhiên khác trong rừng U Minh: "Xưa kia, thiên địa tuần hoàn theo luật riêng. Hết cọp, khỉ sống hoài thành... chúa sơn lâm". Ông Cai Thoại giết cọp nhiều quá nên làm khỉ sinh đẻ nhiều, "làm thay đổi luật trời đất". Bởi vậy, nhiệm vụ của ông Hai Khị là giết bớt khỉ để cân bằng sinh thái. Tóm lại, họ quan niệm vạn vật nhất thể, có chi phối ảnh hưởng lẫn nhau nên từ đó sinh ra cách cư xử hài hòa giữa ba yếu tố Thiên - Địa - Nhân.

2.2. Sinh hoạt tín ngưỡng

Văn xuôi của Sơn Nam cũng phản ánh hình thức sinh hoạt tín ngưỡng của người dân Nam Bộ trong quá trình đi mở cõi. Họ là những con người ít học và đa số chưa thấm nhuần các triết lý tôn giáo nhưng vẫn thành thật tin ở thần thánh. Có thể thấy niềm tin chất phác của họ qua lời của nhân vật chú Tư Đức trong truyện Sông Gành Hào: "Tôi chưa hiểu hai tiếng tín ngưỡng là gì. Tôi tin Trời, tin Phật, thờ cha kính mẹ, quý mến ông già bà cả". Hình như họ tin tất cả các loại thần thánh. Điều đó cho thấy khả năng dung hợp văn hóa của con người Nam Bộ.

Con người Nam Bộ sống trong địa bàn sông nước nên có nhiều sinh hoạt văn hóa liên quan tới sông nước. Mỗi năm khi mãn mùa lúa, người Khmer Nam Bộ thường làm lễ tạ ơn nước, vì nhờ nước mà lúa được xanh tươi, con người no ấm. Trong lễ hội này, người ta tổ chức đua thuyền. "Chiếc ghe ngo" "là hiện thân của rắn thần Naga, linh hiển lắm. Hồi đức Thích Ca ngồi thiền bên bờ hồ giữa rừng, rắn Naga là thần ác. Hôm ấy mưa to gió lớn, đức Thích Ca cảm hóa được rắn. Rắn bèn quấn tròn chung quanh và ngẩng đầu lên cao để che mưa gió cho đức Thích Ca. Từ đó về sau, người Miên khoét thân cây sao, theo hình rắn hằng năm bơi đua trên sông để mừng mùa nước nổi". Đoạn văn trên cho ta thấy có sự tương đồng trong văn hóa Phật giáo của người Miên và người Việt ở Nam Bộ. Người dân không chỉ tin thờ Trời, Phật, người đã khuất mà còn thờ cả những vật dụng đã từng gắn bó với con người như chiếc ghe ngo. Như lời Lục cụ phát biểu:"Thôi, cứ lấp đất lại cho chiếc ghe đó yên thân, khỏi bận hồn người xưa. Nay mai, vài chục năm nữa, chiếc ghe của chùa mình cũng vậy. Vạn vật đều biến đổi. Duy chỉ có nụ cười của Đức Quan Âm bốn mặt... Bốn mặt của ngài bốn phía để cứu khổ chúng sinh, khuyên ai nấy trầm tĩnh vì sự đời mãi đổi thay, thay đổi." [9, tr. 208]. Sơn Nam còn đề cập đến tục cúng đất, cúng thần, cúng tổ, ma chay... Bất cứ ngành nghề gì cũng có ngày cúng tổ. Ngư dân muốn bắt được nhiều tôm cá thì phải chọn ngày tốt gọi là ngày Bổ tróc (ngày săn bắt) để cúng. "Xây nò thì phải hạ thủy đúng ngày bổ tróc, như người cất nhà xem ngày để gác đòn dông" (Con Bà Tám) [8, tr.30].  

Người dân rất tin vào sự tồn tại của thế giới bên kia. Họ cho rằng những hồn ma không siêu thoát sẽ luôn lẩn quất bên cạnh những người thân hoặc những kẻ gây ra cái chết cho mình. Trong Hình bóng cũ, thi sĩ Hoài Hương tin rằng người chết "Họ có thể gặp tôi bất cứ giờ phút nào, bất chấp cả những bức tường ngăn cách." [6, tr.348-349], Trong Chim Quyên xuống đất, nhân vật giáo Sĩ mỗi lần nhắm mắt lim dim là nghe tiếng nói của những người đã khuất:"... Tuy nát thây, trở thành cát bụi nhưng thằng Lợi cứ ngồi dậy trong quách; tay đập muỗi rừng, nó cười, nó buồn rười rượi, đòi được đầu thai..." [5, tr.520]... Luật nhân quả cũng được Sơn Nam thể hiện sinh động trong tiểu thuyết Bà chúa Hòn. Bá Vạn giết chết hai cha con Chúa Hòn, cuối cùng hắn cũng bị hại bởi Mười Hấu và thằng Cẩu. Trước khi Bá Vạn nhắm mắt xuôi tay, ông ta đã nhìn thấy hồn nạn nhân trở về đòi công lý, cuối cùng ông nhận ra " Cuộc đời tội lỗi của tôi... Thôi ông Đạo Đất nói đúng. Mọi người đều trở về với đất" [6, tr.312]. Để tránh được các nghiệp chướng ở đời, nhân vật cô Huôi đã chọn con đường đi tu.Các truyện Chim quyên xuống đất, Hình bóng cũ, Mây trời và rong biển... cũng phản ánh sinh động quy luật ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ. Nhiều tác phẩm của Sơn Nam mang triết lý dân gian và có kết cục giống như truyện cổ tích.

2.3. Sinh hoạt văn nghệ

Sống trên một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, người dân Nam Bộ không phải lo lắng nhiều về vấn đề cơm áo. Cái nghèo của họ là cái nghèo phong lưu, thời gian nhàn rỗi nhiều, ăn chơi thỏa sức. Một số vùng đất đai phì nhiêu, không cần bón phân, mãn mùa lúa, đến mùa dưa hấu trồng ngay trên ruộng, một vốn bốn lời nên "họ tha hồ ăn xài suốt tháng giêng cờ bạc, đờn ca vọng cổ lai rai đến lúc tháng ba sa mưa" [10, tr.11]. "Mấy tay khá giả" thì thường "đánh ghe ra chợ Rạch Giá đánh me, đánh vổ. Hết tiền thì ngồi nhà đờn ca vọng cổ hoặc nói chuyện tiếu lâm" (Ông già xay lúa) [11, tr.155]. Hát hò trở thành một hình thức vui chơi giải trí những lúc nhàn rỗi và "cốt để khuây khỏa nỗi nhớ nhà". Ở đây, có nhiều hình thức sinh hoạt văn nghệ, nhưng phổ biến nhất là ca vọng cổ, hát huê tình, hát bội - cải lương...

Hát vọng cổ: người dân Nam Bộ thường hát vọng cổ trong các buổi nhậu nhẹt tiệc tùng, "ban đêm họ đốt đuốc ngoài sân để ăn uống, ca hát". Rượu vào, lời ra, khí thế hát hò tưng bừng. Vọng cổ có âm điệu buồn, thích hợp để bộc lộ nỗi nhớ nhà của những người tha phương. Đó cũng cách thức để họ bộc lộ những nỗi lòng thầm kín trong tình yêu, chuyện riêng tư gia đình đến chuyện nhân tình thế thái ngoài xã hội. Khán giả của họ cũng là những bạn nhậu hoặc đàn bà, trẻ con. "Cả bọn vỗ tay rôm rốp. Tiếng ca vọng cổ bắt đầu. Anh tài tử nọ hớp miếng rượu, gỡ con khô cá sặc nướng, vừa nhai vừa nghĩ ngợi. Khi câu rao đờn ghi - ta vừa dứt, nhạc sĩ gõ vào thùng đàn một tiếng "cốp" thì anh tài tử nọ cũng vừa nuốt xong một miếng khô. Anh ta ca một câu khá dài, đại khái nói về tâm sự bi hùng của tráng sĩ Kinh Kha" (Ngày mưa đầu mùa)[11, tr. 50].

Đi kèm với lời ca vọng cổ là phần đệm nhạc, họ có gì đệm nấy, có khi gõ đũa vào thùng thiếc, vào mâm chén cũng thành ra nhạc hẳn hoi. Có khi sang trọng hơn, nhạc cụ là đàn kìm, đàn ghi ta. Truyện ngắn Ông già xay lúa miêu tả một khung cảnh khá điển hình cho hình thức sinh hoạt văn nghệ của người dân Nam Bộ. Ông Năm đang xay lúa, bên cạnh ông là tiệc rượu. Ai làm cứ làm, ai hát cứ hát, ai đánh đàn cứ đánh: "Kế bên ông Năm, đờn Kìm trổi giọng không, na ná như tiếng gà mổ vào nia. Đờn "ghi ta" hòa theo, tuy nhanh nhưng buông rõ rệt từng giọng đồng, kém dồn dập hơn giọng đờn ở bên Tây Ban Nha tuyệt vời" [11, tr.157].

Hò huê tình (hò đối đáp) là một nét đặc sắc trong văn hóa sông nước Nam Bộ. Trong truyệnNgày xưa tháng chạp, ông Ba giảng giải chuyện hát hò "sành điệu" của ông thời trai trẻ: "Hồi đó, hò có lớp lang đầu đuôi... Mới vô là cây dạo đầu. Chúc mừng lẫn nhau, chúc mừng chủ ruộng, tạ ơn Thần Nông. Điều đó ai cũng đạt được. Thiếu một hai vần, hò thiếu hơi chưa phải là dở" [8, tr.172-173]. Hết đời này sang đời khác, hình thức hát huê tình vẫn được duy trì. Người lớn tuổi truyền đạt lại cho người trẻ tuổi, như việc ông Năm Lượng dạy "cái nghề hát huê tình!"cho chàng trai Điệu. "Người ta xúm nhau thách đố, cười thật lớn, châm chọc thật đau, cho qua quên mệt nhọc, để rồi quên tất cả... Huê tình là chuyện ngàn xưa ai ai cũng có, cũng ưa.(...) Chỉ ngại là khi về nhà một mình trong phòng the cửa kín mà nghĩ chuyện xằng bậy." (Vọc nước giỡn trăng) [8, tr.280].

Nhiều triết lý của người Nam Bộ được thể hiện qua các câu hát hò. Trong truyện Con Bảy đưa đò, chàng trai giang hồ xứ Bình Thủy đã bộc lộ chí lớn của mình trong lời đối đáp với cô Bảy: "Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã / lâm nguy bất cứu mạc anh hùng / Nàng còn nghĩ phận chữ tùng / thì trao dây xích buộc vòng sao đây". Chỉ qua một đêm hát đối đáp với người con trai lạ, cô Bảy thề giữ trọn "một tấm lòng" và cứ ở vậy tới già để chờ người con trai kia. Khác nào Kiều Nguyệt Nga giữ vẹn tấm lòng chung thủy với Lục Vân Tiên chỉ sau một lần gặp mặt. Qua đó, ta thấy được tính cách coi trọng tình nghĩa thủy chung của người dân Nam Bộ.

Hát bội cũng là một hình thức sinh hoạt văn nghệ được hầu hết người Nam Bộ thời trước ưa thích. Thuở ấy, "dân mình thì nghèo lắm, đình chưa cất, hương chức làng chưa có. Bởi vậy chỉ có hát bội là cách giải trí độc nhất của người đi khai phá đất mới" .Trong truyện Hát bội giữa rừng, để thấy được lòng ham mê hát bội của người dân, tác giả đã tạo ra một bối cảnh rất rùng rợn: dưới sông cá sấu ghếch mỏ nhìn, trên bờ cọp trông xuống, người xem hát ngồi trên xuồng trong một hàng rào bằng cây tràm giữa sông. Người Việt mời người Miên cùng chung tay góp gạo nuôi gánh hát. Ban ngày, mọi người đi làm, ban đêm đi ghe xem hát bội, đối với họ, đó là ngày hội lớn": "Xóm Khoen Tà Tưng rộn rịp còn hơn Tết. Suốt ba bốn ngày liên tiếp họ dựng rạp, xốc nọc dưới sông. Mấy ánh chị đào kép mới tới vô cùng mừng rỡ, họ cởi áo ra tiếp tay. Nhà cất xong bây giờ đến lợp lá, lót sàn. Đêm hát ra mắt vui quá là vui..." [10, tr.20].

Ngoài các hình thức hát hò nêu trên, ta còn thấy có nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa khác nữa trong truyện của Sơn Nam. Đó là lối kể chuyện hài kiểu bác Ba Phi, lối nói thơ, ra thai đố, hội đua thuyền... Một số truyện viết về đô thị Sài Gòn có hình thức sinh hoạt văn hóa đa dạng hơn nhưng đã bị lai tạp nền văn minh phương Tây khá nhiều.

C.G. Jung đã có lý khi cho rằng: "Tác phẩm nghệ thuật như một cái cây mọc lên từ mảnh đất nuôi dưỡng nó". Mảnh đất Nam Bộ bạt ngàn, màu mỡ đã ươm mầm, nuôi dưỡng những trang văn của Sơn Nam. Và ngày nay, đọc lại những trang văn ấy, ta vẫn cảm nhận được những sinh thể quá khứ đang cựa quậy, nói cho ta biết rất nhiều điều về nếp sống văn hóa của cha ông. Trong thời buổi hội nhập thế giới ngày nay, nhiều giá trị văn hóa thay đổi rất nhanh. Nhưng những giá trị văn hóa Nam Bộ sẽ được bảo tồn nếu chúng ta luôn làm nóng lại những tác phẩm của Sơn Nam.

Như Trang (Đà Lạt)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Hạnh (2007), Văn hóa như nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 01.

2. Trần Thị Hạnh (2010), Sự hướng thiện của các nhân vật trong tiểu thuyết Sơn Nam,Tạp chí  Khoa học Công nghệ - Đại học Đà Nẵng, số 6 (41)

3. Phan Hoàng (1998), Sơn Nam - nhà văn, nhà Nam Bộ học, sách Phỏng vấn người Sài Gòn, NXB Trẻ.

4. Hoàng Lâm (1991), Trò chuyện với nhà văn Sơn Nam, báo Văn nghệ, số 16 (02)

5. Sơn Nam (2006), Vạch một chân trời - Chim quyên xuống đất, NXB Trẻ.

6. Sơn Nam (2007), Bà Chúa Hòn, NXB Trẻ.

7. Sơn Nam (2007), Sài Gòn xưa - Ấn tượng 300 năm - Tiếp cận với Đồng bằng sông Cửu Long, NXB Trẻ.

8. Sơn Nam (2009), Biển cỏ miền Tây và Hình bóng cũ, NXB Trẻ

9. Sơn Nam (2011), Hương rừng Cà Mau, tập 1, NXB Trẻ.

10. Sơn Nam (2012), Hương rừng Cà Mau, tập 2, NXB Trẻ

11. Sơn Nam (2012),  Hương rừng Cà Mau, tập 3, NXB Trẻ

12. Võ Văn Thành (2009), Sơn Nam - cây đại thụ của văn học, văn hóa Nam bộ, Tạp chí Xưa & Nay, số 337.

13. Nguyễn Q. Thắng (sưu tầm, biên soạn, giới thiệu) (2007 - 2008), Văn học Việt Nam - nơi miền đất mới. NXB Văn học, H.

14. Đỗ Thị Minh Thúy (1997), Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, NXB Văn hóa -Thông tin, H.

Nguồn: http://tapchivan.com/tin-van-hoc-viet-nam-van-hoa-tinh-than-nam-bo-trong-van-xuoi-cua-Son-nam-(nhu-trang)-742.html