Danh ngôn

Trong mọi cộng đồng, chúng ta cần một nhóm thiên thần gây rối.

We need, in every community, a group of angelic troublemakers.

(Bayard Rustin – trích bài phát biểu tại New York City 1963)

Trong mọi trường hợp, chắc chắn rằng sự thiếu hiểu biết, đi kèm với quyền lực, là kẻ thù tàn bạo nhất có thể có của công lý.

It is certain, in any case, that ignorance, allied with power, is the most ferocious enemy justice can have.

(James Baldwin - No Name in the Street 1972)

Các cuộc cách mạng và các cá nhân có thể bị giết hại, nhưng bạn không thể giết chết các ý tưởng.

While revolutionaries and individuals can be murdered, you cannot kill ideas.

(Thomas Sankara, một tuần trước khi bị ám sát, 1987)

Không có cảm giác nào cô đơn hơn việc bị chính đất nước mình trục xuất.

There's not a more lonely feeling than to be banished by my own country.

(Kiyo Sato – Kiyo’s Story 2009)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

Suy nghĩ của tôi về đổi mới toàn diện triệt để giáo dục và đào tạo

Trần Đình Sử

 

Đã đúng ba năm chẵn tính từ ngày có nghị quyết Trung ương kì họp thứ 8 khoá 11 Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 4/11/2013) về giáo dục đào tạo. Đây có thể coi là nghị quyết nêu vấn đề “sâu sắc” nhất, “kiên quyết” nhất, “bức thiết” nhất, “dứt khoát” nhất, “quyết liệt” nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.

Tuy nhiên cũng giống như nhiều nghị quyết khác của Đảng, nghị quyết này cũng từ trên xuống, không dựa từ cơ sở lên, thiếu điều kiện từ cơ sở để thực hiện, nói một cách khác là nghị quyết duy ý chí, cho nên thực hiện bao giờ cũng tốn kém, lúng túng và bất cập, mà kết quả không lấy gì làm hứa hẹn. Cần phải nói ngay rằng nghị quyết ngay từ khi ra đời đã không phải được dư luận đồng thuận. Sau khi nghị quyết ra đời cũng có nhiều ý kiến phản biện, trước hết là vấn đề triết lí giáo dục. GS Phạm Minh Hạc cho rằng triết lí giáo dục đã nằm trong đường lối của Đảng rồi, không cần thảo luận nữa, tuy nhiên nhiều trí thức cho rằng đào tạo con người phải đặt lên đầu mục tiêu con người nhân văn, dân tộc và tự do, trong khi đó mục tiêu của chúng ta nhấn mạnh ở việc đào tạo nhân lực, đào tạo nhân tài. Có một số ý kiến cho rằng nếu mục tiêu đào tạo ra con người theo kiểu “con ngoan, trò giỏi”, sau thành công dân ngoan, làm việc giỏi theo kiểu vâng lời, bảo sao nghe vậy thì đó không thể là người công dân của một nước phát triển. Cho đến nay vấn đề triết lí giáo dục vẫn chưa ngã ngũ. Trên thực tế, khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” vẫn còn được đem thờ trong nhà trường là một điều phi lí, trong khi khẩu hiệu của Unesco học để biết, học để sáng tạo, học để sống và để chung sống vẫn chưa thật sự đi vào nhà trường. Điều này cho thấy tư tưởng thủ cựu trong giáo dục Việt Nam hiện rất nặng nề, cản trở giáo dục Việt Nam thay đổi.

Vấn đề thứ hai tôi muốn nêu lên là để thực hiện một nghị quyết lớn như thế chúng ta hầu như thiếu việc tổ chức nghiên cứu khoa học giáo dục và cập nhật các kinh nghiệm giáo dục tiên tiến trên thế giới. Các việc làm của Bộ Giáo dục và Đào tạo như dự án về ngoại ngữ tiếng Anh, dự án về trường học mới VNEN đều là dự án có tính khép kín, xã hội nói chung là không biết, không ai được biết và tham gia ý kiến. Chỉ sau khi đã tiêu hết tiền (86 triệu đô la) của dự án, sau khi các địa phương tỏ ra bất mãn với dự án ấy đề nghị dừng thì xã hội mới biết. Ở đây phải nói rằng cách làm khép kín là rất cũ. Chúng tôi đã nêu kinh nghiệm của việc đổi mới giáo dục lần trước là do thiếu sự đồng thuận của xã hội, bởi vì thiếu công bố thông tin. Lần này lại lặp lại. Tôi nghe nói các vị chuyên gia, lãnh đạo giáo dục sang Columbia hình như vẫn không tiếp cận được chương trình và sách giáo khoa đem về dịch tham khảo, mà họ chỉ tiếp cận ý tưởng rồi về triển khai riêng có tính chất nhóm. Cách triển khai đã có tiền của Ngân hàng Thế giới cho nên họ không cần tham gia của các chuyên gia giáo dục trong nước. Vì quá tin vào một phương án VNEN, cho nên trong thời gian ấy không có phương án khác được thực hiện. Nếu có bây giờ chúng ta đã có các kết quả bổ sung cho nhau. Đến bây giờ thời gian không còn nữa. Bây giờ kêu gọi chắt lọc cái tốt của VNEN để kết hợp với cái khác thì lấy đâu ra? VNEN là nhà trường phát huy năng lực tự quản và năng lực tự học của học sinh đối với các lớp học ghép các trình độ khác nhau, thích hợp với vùng núi, học sinh ít. Áp dụng cho lớp học sinh đông như Việt Nam là không ổn, phần lớn học sinh thực hiện theo lối diễn chứ không thực có tự học và tự quản. Trò diễn này chúng tôi đã thấy nhiều rồi. Vấn đề là phải làm sao cho học sinh Việt Nam biết tự học. Đây vẫn là vấn đề mà nhiều nhà giáo Việt Nam từ thời các thứ trưởng đáng kính như các GS Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ đã nêu mà chưa có kết luận khoa học và thực tiễn. Thêm nữa, thiếu nhân tố khêu gợi và gây cảm hứng của thầy thì quá trình học tập của học sinh khó mà khởi động, sẽ không được thực hiện đầy đủ.

Tôi cho rằng để thực hiện một nghị quyết lớn như nghị quyết 29 thì cần triển khai một lúc nhiều đề tài về khoa học giáo dục, từ mục tiêu, phương pháp dạy học, cách thi, tổ chức thi, cách ra đề, cách soạn chương trình mới, phương pháp ra đề mở, cách tích hợp các môn học tự nhiên và xã hội, công bố các dự kiến để lấy dư luận trong xã hội. Cách làm việc của Bộ là có một nhóm nhỏ khép kín, danh sách ấy do ai phụ trách, gồm những chuyên gia nào cũng không thấy công bố. Vì thế cho nên khi đưa ra, về môn Sử đã bị dư luận không đồng tình. Và vì lí do đó mà cho đến nay chương trình tổng thể vẫn chưa thông qua được. Mà chương trình này chưa thông qua thì chương trình bộ môn cũng chưa thể biên soạn.

Các trường đại học cũng rất quan tâm, nhưng họ không được giao việc, hoặc chỉ giao các việc phụ như đề xuất form của sách giáo khoa, mà không đề cập nội dung. Tôi cho rằng một núi công việc còn nguyên chưa đụng đến, ví như tích hợp các môn xã hội, các môn tự nhiên, việc tích hợp đó có thể có những variant nào, variant nào có ưu điểm, hình như chưa ai biết. Trong bộ môn Ngữ Văn trước đây chương trình phân bố theo lịch sử văn học. Khi làm chương trình, tôi muốn thay mô hình đó nhưng bị quan điểm bảo thủ phản đối. Nay dạy theo năng lực nghe nói đọc viết, vậy chương trình các lớp sẽ phân hoá như thế nào, chưa thấy ai nghiên cứu và đề xuất, mà thiếu nguyên tắc ấy thì khó mà xây dựng chương trình Ngữ Văn từ lớp 6 đến lớp 9 và từ lớp 10 đến lớp 12. Một việc rất lớn như vậy mà chúng ta thiếu chiến lược động viên trí tuệ xã hội vào công việc. Cứ nhìn cung cách làm dự án này tôi nghĩ rằng kết quả của đợt đổi mới giáo dục này có thể sẽ không đạt kết quả mong muốn.

Bây giờ thì thời gian đã quá muộn. Chỉ còn một năm 2017, mà năm 2018 đã phải có sách làm theo lối cuốn chiếu để đổi mới giáo dục, tôi cho là vội vã và sẽ thất bại. Sách mới chưa có điều kiện thẩm định, thí điểm, rút kinh nghiệm, giáo viên chưa được bồi dưỡng, bồi dưỡng như cách chúng ta đã làm trước đây đã không có kết quả thì tôi cho rằng lần này nếu không thay đổi thì vẫn không có kết quả. Chính vì vậy tôi đề nghị lùi thời gian thực hiện chương trình mới lại, không theo kế hoạch 2018, vì đề ra chúng ta sẽ phải chạy cho kịp, và lúc đó sẽ bộc lộ thêm nhiều khiếm khuyết nữa.

Về dự án dạy tiếng Anh, là lĩnh vực ngoài chuyên môn của tôi không góp ý. Chỉ xin nêu một chuyện: Mới đây Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ công bố sẽ thực hiện dự án dạy tiếng Trung như là ngoại ngữ thứ nhất, còn tiếng Anh được coi là ngôn ngữ thứ hai. Tôi xin nói ngay cách hiểu ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai như thế là trái với cách dùng thông thường được giới ngữ học chấp nhận. Đối với nước ta, tiếng Việt là ngôn ngữ duy nhất đối với người Kinh và là ngôn ngữ thứ hai đối với người dân tộc thiểu số, tiếng Anh là ngoại ngữ thứ nhất, do đó không có chuyện tiếng Trung là ngoại ngữ thứ nhất. Một nhà lãnh đạo mà dùng khái niệm sai lệch như thế là không nên, gây hiểu lầm trong xã hội.

Bây giờ xin góp ý về chủ trương thi trắc nghiệm. Quyết định thi trắc nghiệm trong kì thi quốc gia năm 2017 là một quyết định hơi vội, khiến học sinh và giáo viên bị động, chuẩn bị không kịp. Nếu cách thi sẽ chỉ đạo cách học theo nguyên tắc thi thế nào học thế ấy thì học sinh sẽ học theo lối trắc nghiệm, không học trình bày mạch lạc theo logic. Thêm nữa, có nhiều phương án trắc nghiệm. Chúng ta đã nghiên cứu hết các phương án chưa mà đã quy định hình thức trắc nghiệm? Theo tôi biết, về môn Ngữ Văn lối trắc nghiệm vẫn sử dụng lâu nay tỏ ra rất sơ lược, chưa đi vào cơ chế đọc hiểu văn học của hoạt động đọc. Nếu không nghiên cứu mà đến khi phải sử dụng trắc nghiệm ở môn Ngữ Văn thì học sinh và giáo viên chắc chắn sẽ lúng túng. Trắc nghiệm môn xã hội chưa tích hợp hoặc tích hợp sẽ là vấn đề mới, tôi chưa biết bộ đã tổ chức nghiên cứu như thế nào mà quyết định ra đề trắc nghiệm. Đề tự luận môn Ngữ Văn không có gì mới, học sinh có thể làm được, nhưng các môn xã hội khác là cả một vấn đề đáng lo. Bây giờ thì Bộ đã quyết định rồi, các trường đều phải thực hiện. Nhưng tôi vẫn lo là chưa chuẩn bị chu đáo sẽ nảy sinh sự cố không mong muốn.

Trên đây là một số ý kiến nêu ra để trao đổi, mong là sẽ có ích cho việc thực hiện nghị quyết 29 Trung ương về giáo dục đào tạo. Nếu có gì chưa ổn xin được lượng thứ.

9 tháng 11 năm 2016