Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

Văn chương hải ngoại: nỗi chữ – nỗi quê (1)

 Tùy luận của Trần Doãn Nho

Khó quan niệm một cộng đồng sống đầy đủ mà lại ngưng cảm nghĩ, mà bị cưỡng chế, mà bị cưỡng bức vào sự câm nín, không có được những thể hiện nghệ thuật tư tưởng.

 (Võ Phiến/Văn Học Nghệ Thuật, số ra mắt 4/1978)

Văn học hải ngoại, một mặt, là sự sống còn của những người thua cuộc; mặt khác, là một vết thương tự-gây (self-inflicted) của dân tộc. Cũng là thông điệp: sự thất bại của một chiến thắng.

(TDN)

 

Đầu tháng 9/1993, tôi rời khỏi Việt Nam, trong tâm trạng một đi không trở lại. Sau hơn ba thập niên bon chen phấn đấu để tồn tại, dù vẫn chập chờn lạc lõng trong thân phận một người xa lạ, hải ngoại đã trở thành một phần đời thân thiết của tôi. Khi tôi đến, thế giới văn chương đã ở đó, lao xao, rộn ràng. Những sản phẩm chữ nghĩa khiêm tốn, nghèo nàn thuở ban đầu – phản ứng có điều kiện trước hoàn cảnh ngặt nghèo của những người tị nạn – đã lớn lên thành một nền, một thực thể, một hiện diện. Dù xa khuất, xa vắng và xa xăm với cội với nguồn, nó đẫm mùi quê. Thì, quê đâu chỉ là giàn thiên lý, con đường làng, con chim hót đầu rào hay cây ổi cây chuối. Quê còn là chữ, là tiếng, là giọng, là mùi…

Tôi yêu tiếng nước tôi khi mới ra đời

Tôi càng yêu tiếng nước tôi hơn khi tôi đánh mất… nước tôi.

Người bỏ đi đâu dễ bạc lòng.

1.

Niềm… hải ngoại

Trải qua một “quá trình” bàn cãi chữ nghĩa: văn học di dân, văn học ngoài nước/nước ngoài, văn học lưu vong, văn học nhập cư… , cuối cùng, văn học hải ngoại – một chóm chữ “ba phải” và “nhạt chất chính trị”, theo Nguyễn Mộng Giác[1] – trở thành từ vựng, được thường xuyên sử dụng trên báo chí trong cũng như ngoài nước, để chỉ nền văn học của những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài sau biến cố 1975. Nó, theo Đặng Tiến, lần đầu tiên xuất hiện trên một cuốn sách do nhà xuất bản Sông Thu (Mỹ) phát hành năm 1985 với tựa đề Truyện ngắn hải ngoại, dần dần trở thành quen thuộc ở hải ngoại: Nhìn lại 30 năm văn học hải ngoại (Nguyễn Vy Khanh), Tuyển tập văn chương hải ngoại (nxb Tân Thư), chẳng hạn. Và cả ở báo chí trong nước: Văn học hải ngoại 20 năm đầu thế kỷ 21 (Văn chương Việt), Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại (VNExpress), Văn học hải ngoại một Việt Nam khác nhìn từ thế giới (tạp chí Thái Nguyên), Văn học hải ngoại cũng là máu thịt của dân tộc (Tuổi Trẻ), Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại (Nguyễn Huệ Chi), Đọc văn học Việt Nam hải ngoại (Hoàng Ngọc Hiến), Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại (sứ quán CHXHCNVN ở Hoa Kỳ đăng lại bài từ VNExpress); riêng trang mạng Văn Việt (2014) do Văn Đoàn Độc Lập chủ trương, có chuyên đề đặc biệt về “Văn Học Hải Ngoại”, vân vân.

Nhà văn Nguyên Ngọc, người chủ xướng Văn Đoàn Độc Lập và tạp chí Văn Việt, viết:

Chưa bao giờ trong lịch sử chúng ta lại có hơn hai triệu người ở nước ngoài như hiện nay. Tôi không thảo luận về nguyên nhân của thực tế này, chỉ nhấn mạnh rằng đó là một thực tế lịch sử sống động và to lớn. Những người Việt Nam ở nước ngoài trong mấy chục năm qua đã hoàn thành một khối lượng văn học không thể phủ nhận được. Đó là một bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại, chẳng có gì phải bàn cãi. Cùng với văn học trong nước, văn học hải ngoại làm nên diện mạo của văn học Việt Nam ngày nay. Sẽ cực kỳ thiếu sót nếu biết văn học Việt Nam ngày nay mà không biết văn học Việt Nam hải ngoại. [...] Thiếu nó, thì văn học chúng ta sẽ khuyết đi một mảng rất lớn và rất quan trọng của khuôn mặt con người Việt trong thời sóng gió hung bạo của lịch sử dân tộc như chúng ta đã, và đang, trải qua. Văn học Việt Nam do vậy sẽ què quặt.”[2]

Thì là thế! Đơn giản là hiện có hai nền văn học: văn học trong nước và văn học hải ngoại, “chẳng có gì phải bàn cãi”!

Hải ngoại là gì vậy?

Hải ngoại ( 海外 = outre-mer = overseas = bên ngoài biển) đơn giản chỉ có nghĩa là ở nước ngoài. Ra hải ngoại là ly hương (diaspora). Ly hương không là một hiện tượng đặc thù, từ đầu thế kỷ 20 cho đến trước 1975, đối với người Việt: đi du học, đi lính, đi làm ăn. Xa quê nhưng không có cảm giác mất quê. Xa, vẫn có thể trở về. Nhưng sau biến cố 1975, hải ngoại đột nhiên mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Trong một giai đoạn lịch sử cực đoan kéo dài gần hai thập niên, hải ngoại không chỉ là một không gian địa lý, mà là hy vọng, là cứu chuộc, là dung thân. Là gian nan trốn chạy, vượt thoát, từ bỏ, và… đánh mất. Là hành trình tử sinh, là gánh định mệnh, là kiếp khác. Đi cái đã. Chết, cũng đi. Để đến một nơi chẳng có gì ngoài những cái “không”: không chính phủ, không ngân sách, không công an, không trường ốc, không đất đai, không tiếng Việt, không chữ Việt và không… tương lai. Cũng đành. Vì không thể sống nỗi dưới một chế độ mà mục tiêu lớn nhất sau chiến tranh là gây ra/gây thêm một cuộc chiến tranh khác. Là thực hành một lý thuyết, chứ không phải băng bó vết thương. Ngược lại, khoét sâu vết thương. Kẻ cầm quyền luôn luôn đặt toàn xã hội trong tình trạng báo động qua các biện pháp quyết liệt diễn ra thường trực: cấm, đốt, dọa, bắt, phá, rình, giấu… Sau này, dù là “ra đi có trật tự” (Orderly Departure Program/ODP), người đi vẫn mang tâm trạng của “thoát ra”, của “một đi không trở lại”. Hải ngoại, rốt cuộc, là hạnh phúc và nỗi đau. Một hạnh phúc đau đớn.

Hãy nhắc lại trường hợp Mai Thảo, một trong những khuôn mặt tiêu biểu của Văn Học Miền Nam:

Người Mỹ rút khỏi Sài Gòn năm 1975. Do các bài viết chống cộng trước đó, tôi bị liệt kê trong sổ đen những nhà văn có nguy hại cho chế độ. Hầu hết các nhà văn có tên trong danh sách ấy đều bị bắt đi tù, nhiều người bị chết trong tù vì thiếu ăn, thiếu thuốc men. Tôi thì may mắn hơn, được dân chúng chăm sóc và che chở. [...] Không có tình thương yêu của họ tôi đã không thể sống còn ở Việt Nam. Cộng sản ra thông báo là bất cứ ai tán trợ những nhà văn có tên trong sổ đen sẽ bị bắt giữ. Hệ thống an ninh của họ rất chu đáo. Họ chỉ định những người hàng xóm canh chừng nhau và báo cáo lên chính quyền địa phương. Nhưng vẫn có nhiều người liều mạng để che chở cho tôi. Họ che giấu tôi trong 8 căn nhà khác nhau trong vòng hai năm trời. Tôi sống trong hầm tối vì bất cứ ánh sáng hay sinh hoạt nào bị hàng xóm phát hiện sẽ gây hiểm nguy cho gia chủ. [...] Cộng sản đã lục soát một số nhà nhưng không hiệu quả, và họ đã không tìm ra tôi. Tôi sống như một con vật trong bóng tối, ẩn mình trong suốt hai năm. [...] Vào cuối năm 1977 [...] một đêm tối trời, một người mặc áo đen đi xe Honda, đậu dưới một gốc cây sau căn nhà, hướng dẫn tôi ngồi lên xe gắn máy và lặng lẽ chạy ra hướng bờ sông Sài Gòn, nơi có một chiếc thuyền đánh cá nhỏ đang chờ. Tôi được bảo nên chèo ghe, giả bộ như một ngư dân. Sau 2 hoặc 3 giờ đồng hồ, tôi lại được chuyển sang một thuyền máy trên biển. Bây giờ thì người đàn bà chủ tàu bảo tôi có thể hút thuốc. Tôi nhìn một lần chót thành phố Sài Gòn và bật khóc vì hiểu rằng tôi chẳng còn bao giờ thấy lại nữa. Người dân miền Nam, hết sức gắn bó với một thành phố mang tên Sài Gòn. Tôi có cảm tưởng đã quay lưng lại với di sản của chính mình. Trên biển cả, tôi có cảm giác được phóng thả. Tôi đã là một con người tự do.”[3]

Trước Mai Thảo, có Cao Tần:

Ôi trong ví những người dân mất nước

Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ

Ôi trong trí mỗi anh hùng thuở trước

Còn dậy trời lên những buổi tung cờ

Du Tử Lê:

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi sao trở lại quê nhà

Và vô số những người khác…

Ly hương, trong hoàn cảnh như thế, mọi người chỉ có một nhu cầu: sống còn. Tất cả các thứ khác đều là chuyện “ruồi bu”, kể cả một thứ vừa vu-vơ vừa viển-vông vừa vớ-vẩn là văn học. “Từ ngày bỏ nước ra đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chương nữa” [...] “Ai lại nghĩ xây dựng một sự nghiệp văn nghệ trong vòng vài trăm ngàn người, tản mát khăp mặt địa cầu, mỗi ngày một xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc,” theo Võ Phiến. Viết, với ông, chỉ là để thỏa mãn một “nhu cầu lẩm cẩm[4] (Thư gửi bạn/1976).

Mà rồi không phải thế.

Hồn Việt Nam (10/1975), một trong những tờ báo đầu tiên ở hải ngoại, lúc đầu, chấp nhận vai trò của người thua cuộc. Trong bài mở đầu, người chủ trương, nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh, viết: “Trước những biến chuyển của đất nước, trước những vui buồn, những ngơ ngác, hân hoan của mỗi người, trước những đau khổ, nhục nhã của cuộc ly hành, chúng tôi có bổn phận phải làm gì để chia sẻ.” Mục đích của tờ báo chẳng có gì ngơài mong muốn “trở thành mối liên lạc giữa kẻ ở với người đi” và giữ gìn “văn hóa và dân tộc”.

Tóm lại, đã thua rồi thì chịu thua thôi, còn mưu cầu gì nữa.

Nhưng rồi, tin tức dồn dập trong nước dần dần lọt ra ngoài: các trại tù cải tạo, chiến dịch đốt sách, đàn áp văn nghệ sĩ, phong trào đánh tư sản, bắt bớ tu sĩ… Cả miền Nam hoàn toàn bị đặt dưới gọng kềm của kẻ chiến thắng. Lượng người vượt biên vượt biển mỗi ngày mỗi gia tăng. Tin dữ đã làm thay đổi hẳn lập trường ban đầu của tờ báo. Đến tháng 10/77, Hồn Việt Nam ra bộ mới, với một ban biên tập mới, ngoài Minh Đức Hoài Trinh, còn có Trần Tam Tiệp, Phạm Hữu, Vũ Phong. Tờ báo chuyển hướng sang đấu tranh chính trị. “Quê hương Việt Nam đang sống trong đau khổ, uất hẹn, tủi nhục, người Việt tha hương không thể thụ động khoanh tay, cúi đầu.” (Thư Tòa soạn). Ngôn ngữ thay đổi: trên báo xuất hiện những nhóm chữ “phục quốc, nội công, ngoại kích, mất nước”. Hồn Việt Namđã báo động và phản ảnh những biến đổi tâm thức của người Việt hải ngoại: từ ý hướng hòa hợp dân tộc, xây dựng lại đất nước sau chiến tranh, chuyển sang thái độ trực diện, đối đầu.”[5]

Yếu tố chính trị, quả thật, đã là động cơ thúc đẩy sự ra đời của cộng đồng người Việt hải ngoại, mà sự hiện diện của nó tự dưng trở thành đối kháng với bộ máy cai trị chuyên chế ở trong nước.

Cùng với nó là văn học.

Cũng là lẽ đời, lẽ thường, lẽ tự nhiên.

Đỗ Quyên, nhà thơ, xuất thân ở Hà Nội: “Bản chất của một nền văn học ở ngoài lãnh địa quốc gia rõ ràng thay đổi theo thời gian, tức là qua mỗi thế hệ. Với Văn học Việt Hải ngoại, đúng là từ 1975 cho tới buổi hôm nay 2007, vấn đề Hải ngoại – Chính quốc đã và đang không hề chỉ là về mặt địa lý. Nói “thẳng tưng” ra, nó là chính trị. [...] Tương quan đối kháng Ta-Địch đã và đang còn làm nên “máu” của dòng chính nói trên.”[6]

Nói thì nói vậy, chứ trên hết thảy, văn học hải ngoại (chứa đựng trong nó) là một… nỗi niềm.

 

2.

Từ chợ đến… văn học nghệ thuật

Vài ngày sau khi đến định cư ở một thành phố nhỏ, thuộc một tiểu bang lạnh giá vùng Bắc nước Mỹ, nơi chỉ có khoảng vài ngàn người Việt ở rải rác trong một vùng toàn người… ngoại quốc, lần đầu tiên tôi chạm mặt với thế giới chữ nghĩa ở một nơi bất ngờ: chợ. Thu tóm trong không gian chật chội của một ngôi nhà thuê cũ kỹ, giọng Huế chen Quảng, Bắc chen Nam, đậm đà mùi ruốc mùi nước mắm mùi cá thịt, mùi rau cải mùi tiêu mùi hành mùi trà và mùi nhạc… boléro, chợ là nơi của quy tụ, của gặp gỡ, của chia xẻ. Giữa những tanh tao lao xao chen chúc ồn ào, tôi tìm thấy một số “vật thể” nhỏ bé nằm thầm lặng ở một góc nhỏ lãng quên, gần quầy tính tiền: báo tiếng Việt. Sản phẩm văn hóa dành cho những đứa con lạc loài ở xứ người, được bỏ mối tại các chợ/tiệm, chung đụng với chả giò, gỏi cuốn, chè, bánh trái. Lâu quá, thèm chữ, không cần quan tâm đến hình thức “nghèo nàn” của nó, tôi cầm báo đọc ngấu nghiến, từ những trang quảng cáo (chiếm phần lớn) cho đến tin tức thời sự quốc tế, thời sự cộng đồng, từ những bài thơ “con cóc” cho đến những bài thơ tình ướt át, từ những truyện ngắn in lại của các tác giả cũ cho đến đoản văn của những cây bút hoàn toàn xa lạ. Chao ơi, tiếng Việt! Đọc chúng, tôi ngẩn ngơ nghe thấm khắp châu thân hơi hướm quê nhà: một tổng hợp kỳ lạ giữa mùi và tiếng.

Trong quá trình tồn tại (và phát triển) của nó, dẫu loại báo này – được quen miệng gọi là “báo chợ” – mang một hình ảnh tiêu cực do cách phát hành ở một nơi không mấy thích hợp, sau này lại càng tệ hại hơn khi có tờ, nói như Nguyễn Vy Khanh, trở thành “báo chửi” (chửi nhau trở thành một cái “mẹo” quảng cáo), sự hiện diện của nó đã đóng một vai trò không thể thiếu trong sự kết nối những người xa xứ thành một cộng đồng văn hóa. Nó là sự tiếp tục không ngưng nghỉ của những “tờ báo” xuất hiện trong các trại tị nạn vào những tháng tiếp sau biến cố 4/75. Theo nhà văn Mai Kim Ngọc, bước đi chập chững đầu tiên của văn học hải ngoại được thực hiện trong các trại tỵ nạn: những bản tin chỉ dẫn cách sống. Đó đơn giản là những tờ giấy quây ronéo, tập trung vào mục rao vặt, nhắn tin tìm thân nhân và thông báo từ cơ quan đảm trách trại tị nạn. Nhu cầu viết và đọc không có gì khác hơn là giúp người những người hốt hoảng di cư nắm bắt tin tức cần thiết cho sự sống còn.

Hồi ấy, chúng tôi không nghĩ đến văn học… và có lẽ đồng bào tôi cũng chưa nghĩ đến văn học. Tất cả những viết lách tôi thấy là những chuyện rất thiết thực, những bản tin chỉ dẫn nội quy của trại, những cẩm nang cho những người sắp rời trại về cách sinh hoạt trong một thành phố Mỹ, những chuyện đi xe buýt, chuyện gọi điện thoại, chuyện mua bán tại siêu thị vân vân và vân vân. Tóm lại những chuyện thuần túy thực dụng và cấp thời, chính xác và ngắn gọn như ngôn ngữ của những hoàn cảnh cấp cứu... Tuy tất cả những gì viết ra không phải là văn học, nhưng rất nhiều tác phẩm chúng ta đã viết với mục đích thực dụng, vẫn có giá trị văn học, không trực tiếp thì gián tiếp. Khi rời khỏi đất nước, ít ai trong số người đó nghĩ tới chuyện rồi đây sẽ sống ra sao. Lẽ cố nhiên, lúc đó chả còn đầu óc đâu mà nghĩ tới văn chương nữa. Nhiệm vụ chủ yếu đối với chúng tôi là sống được cái đã, bởi lẽ phải bắt đầu tất cả từ con số không?[7]

Tờ báo đầu tiên là Chân Trời Mới do Phạm Kim Khánh xuất bản vào tháng 5/1975 tại đảo Guam, “thọ” đúng ba tháng khi người Việt cuối cùng rời đảo Guam vào định cư trong lục địa Hoa Kỳ.[8] Một tờ khác, là Đất Lành. Võ Phiến, trong bài “Xuất trại”, nhắc nhở đến tờ báo này: “Đất Lành cuối tháng 8-75, liên tiếp mấy số liền, có những bài đăng ở trang nhất, cố gắng giải thích, khuyên nhủ, dỗ dành, mỉa mai, rồi... hăm dọa, nhằm thúc đẩy dân tỵ nạn mạnh dạn ra đi lập lại cuộc đời mới.”[9] Từ những Chân Trời Mới, Đất Lành, dần dà, người Việt đã thực hiện và phát hành những tờ báo càng ngày số lượng càng nhiều và càng có vẻ “báo chí” hơn về cả hình thức lẫn nội dung, sau khi được nhận định cư ở Hoa Kỳ và các nước khác. Hình thức làm “báo phát không” (free circulation newspapers) này đã từng được ví von như hiện tượng “trăm hoa đua nở” trên mọi nẻo đường… hải ngoại. Bất cứ ở đâu có cộng đồng người Việt là ở đó có báo đủ dạng đủ loại, từ đấu tranh, hội đoàn, tin tức thời sự, văn chương đến tôn giáo. Một món ăn tinh thần bổ dưỡng miễn phí. Nhiều nhất chắc chắn là ở Hoa Kỳ, sau đó là Canada, Pháp, rồi đến các nước khác ở Tây Âu cũng như ở Đông Âu và Úc châu.

Hầu hết báo chí đều có tính cách tổng hợp. Ngoài quảng cáo là nguồn nuôi sống tờ báo chiếm lĩnh phần chính, còn lại là tin tức, bình luận thời sự, các mục tạp nham khác và cuối cùng, pha thêm chút thơ, truyện cho màu mè. Đi xa hơn, một số báo định kỳ như Trắng Đen, Người Việt, Hồn Việt, Việt Nam Hải Ngoại ở Mỹ, Dân Quyền, Lửa Việt (Canada), Độc Lập (CHLB Đức), Người Việt Tự Do (Nhật) cho công bố các sáng tác của những nhà văn di tản. Dần dần chúng được xuất bản thành sách sau đó. Ly hương (tập truyện) của Võ Phiến và Lê Tất Điều, Ngừng bắn giờ thứ 498 (Lê Tất Điều), Trọn vẹn (Võ Phiến), do Người Việt phát hành, có thể là những tác phẩm đầu tiên, đánh dấu thời kỳ mở đầu cho một nền văn học không mong mà có.

Theo với cuộc sống dần dà ổn định, phần văn học nghệ thuật trong các tờ báo được chăm chút cẩn thận, càng ngày càng trở thành một trong những yếu tố thu hút độc giả. Bùi Vĩnh Phúc ghi lại một kỷ niệm như sau về nhà văn Nguyễn Mộng Giác: “Tôi biết anh [Nguyễn Mộng Giác] là vào khoảng năm 1984, khi anh đang phụ trách trang nghệ thuật của báo Đồng Nai tại Quận Cam. Trang báo được anh chăm chút một cách cẩn thận. Từ cách thiết kế các tiết mục văn nghệ, các bài vở cho đến chính nội dung của các bài vở ấy. Một lần, anh Giác cho đăng làm hai hay ba kỳ chuyện vừa Ngựa Nản Chân Bon mà anh đã viết trên đảo tỵ nạn Kuku, Galang, trong những ngày chờ được định cư tại một nước thứ ba [...] Đọc được truyện ngắn (đúng hơn là truyện vừa ấy), tôi thật thích, vì, đối với tôi, nó đáp ứng được những khát khao về mặt thẩm mỹ trong văn học mà đã từ lâu, ít ra từ những ngày cuối tháng Tư, 1975 cho đến lúc ấy, tôi không có dịp được nếm trải, được tiếp cận.”[10]

Cho đến nay, mặc dầu báo đủ loại đầy dẫy trên mạng, hình thức làm báo chợ “nguyên thủy” như thế vẫn còn tồn tại. Tất nhiên với hình thức và nội dung được cải tiến nhiều và phong phú hơn. Dù bị khuất lấp bởi quảng cáo và tin tức, báo nào cũng có thơ văn đủ loại. Nhiều tờ phát hành song song hai loại, vừa báo giấy bỏ chợ lại vừa cho lên mạng, với sự cộng tác đều đặn (kiểu này hoặc kiểu khác) của những cây bút thời danh, trở thành tạp chí tổng hợp, đủ để sưởi ấm tấm lòng yêu văn chương của nhiều hạng độc giả.

Một số nhà văn thành danh, hay tác phẩm xuất sắc được đăng lần đầu tiên, đôi khi không phải từ/ trên những tạp chí thuần túy văn chương, mà từ/trên những tờ báo bỏ chợ như thế. Với sự điều hành và/hay cộng tác của những nhà văn nhà báo chuyên nghiệp thời Việt Nam Cộng Hòa di tản, một số tạp chí “thuần túy” văn học nghệ thuật, dần dà xuất hiện. Tất cả điều này tạo nên một môi trường văn chương lan tỏa trong cộng đồng người Việt hải ngoại, vừa kích thích sáng tác vừa là nhân tố tạo nên một lớp người viết mới càng ngày càng đông đảo. Nhờ đó, một dòng văn học tồn tại ngoài đất nước trở thành hiện thực.

Để độc giả, nhất là thế hệ trẻ, dễ hình dung, xin liệt kê một số tạp chí, dù không đầy đủ lắm, nhưng khá điển hình:

Ở Pháp, có Hồn Việt Nam (Minh Đức Hoài Trinh) 1975, Quê Mẹ (Võ Văn Ái) 1976.

Ở Canada, có Làng Văn (Nguyên Hương và Nguyễn Hữu Nghĩa) 1984; Trăm Con (Trân Sa) 1992.

Ở Úc, có Việt Luận (Nguyễn Chánh Sĩ) 1983, Tạp chí Việt (Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn) 1998.

Ở Hoa Kỳ, thì rộn ràng hơn nhiều:

Đất Mới (Huy Quang, Vũ Đức Vinh, Nguyễn Văn Giang, 7/1975) với sự cộng tác của Thanh Nam, Mai Thảo;

Lửa Việt (Nguyễn Ngọc Bích) 1976, với sự cộng tác của Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Ðỗ, Hùng Lân, Võ Phiến, Viên Linh, Trần Phong Vũ, Nguyễn Đức Nam, Kim Y, Vi Khuê, Huyền Vũ...;

Hồn Việt (Nguyễn Hoàng Đoan), 1976 với sự đóng góp bài vở của Lê Tất Điều, Võ Phiến, Thanh Nam, Tạ Ký, Nhất Tuấn, Cung Tiến, Nguyên Sa, Túy Hồng;

Người Việt (Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu), 1978;

Văn Học Nghệ Thuật (Võ Phiến) 1978;

Thời Tập (Nguyễn Hữu Hiệu, Viên Linh), 1979;

Nhân Chứng (Du Tử Lê), 1983 với sự cộng tác của Nhật Tiến, Nguyên Sa, Lê Huy Oanh, Phạm Duy, Vũ Khắc Khoan, Đặng Phùng Quân…;

Nhân Văn 1982, do một nhóm trẻ chủ trương với chủ nhiệm Phi Ngọc Anh và chủ bút Hoàng Nguyên Khôi và sự cộng tác của những cây bút mới về sau trở thành những cây bút hải ngoại tiếng tăm như Tưởng Năng Tiến, Trần Diệu Hằng, Phan Ni Tấn, Nguyễn Mạnh Trinh…;

Văn (Mai Thảo 1982, Nguyễn Xuân Hoàng 1997);

Văn Học (Nguyễn Mộng Giác) 1986;

Tân Văn (Hà Thúc Sinh) 1988;

Thế Kỷ 21 (Vương Hữu Bột, Phạm Phú Minh) 1989;

Hợp Lưu (Khánh Trường) 1991;

Hương Văn (Bùi Bích Hà, Huy Trâm) 1993;

Tạp Chí Thơ (Khế Iêm) 1994;

Khởi Hành (Viên Linh) 1996;

Văn Tuyển (Nguyễn Phúc Sông Hương) 1998;

Sóng Văn (Nguyễn Sao Mai) 1999;

Văn Phong (Tạ Cự Hải, Nguyễn Minh Nữu) 1999;

Phố Văn (Nguyễn Xuân Thiệp) 2000;

Chủ Đề (Nguyễn Trung Hối) 2000;

Thư Quán Bản Thảo (Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn) 2001;

Gió Văn (Hàn Song Tường, Nguyễn Thị Thanh Bình) 2003;

Nguồn (Trần Anh Lan, Song Nhị) 2004;

Tân Văn (Nguyễn Văn Lục) 2007;

Văn Học Mới (Hà Nguyên Du) 2018;

Ngôn Ngữ (Luân Hoán, Song Thao, Nguyễn Vy Khanh) 2019;

Gió Đông giai phẩm (Đông Âu)[11]

Vân vân.

3.

Chế chữ       

Tong giai đoạn đầu tiên, một trong những trở ngại mà báo chí hải ngoại phải đối phó là: không có máy đánh chữ Việt, không có nhà in Việt cũng không có máy vi tính Việt. May, chữ “quốc ngữ” sử dụng bảng chữ cái La Mã, nên không đến nỗi “vô kế khả thi” như chữ Hán, chữ Phạn. Chỉ cần in ra chữ Tây, bỏ dấu vào, thành chữ Ta.

Báo Người Việt (California) chẳng hạn.

Năm 1978, khởi đầu với một máy chữ “IBM Selectric” đi mượn và bốn ngàn ($4,000) đô la tiền vốn, hai nhà báo Đỗ Ngọc Yến và Lê Đình Điểu đã lao vào một cuộc kinh doanh và cũng là một nghĩa vụ: thực hiện một tờ báo tiếng Việt cho cộng đồng di dân. Cũng như mọi tờ báo khác trong thời kỳ này, báo in ra bằng chữ không dấu, dùng bút mực bỏ dấu (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) từng chữ một, đồng thời cắt, dán để hoàn tất tờ báo trước khi sao ra nhiều bản, phân phát đi các nơi. Mãi đến năm 1986, Người Việt mới thoát khỏi công việc tốn thời gian này nhờ “Việt Diplomat”, bộ gõ tiếng Việt do “VN Labs”, một công ty nhu liệu do kỹ sư Nguyễn Việt (Victor Nguyen) thành lập vào năm 1984, tọa lạc tại San Jose, tiểu bang California. Mời đọc một trích đoạn từ bài Typing in Tongues (Gõ phím ra Giọng nói)[12] của Maria L. La Ganga, ký giả báo Los Angeles Times ngày 16/6/1989, viết về công trình này của Victor Nguyễn:

Đối với các nhân viên của Người Việt, tờ báo tiếng Việt quan trọng ở Quận Cam, việc xuất bản một số báo đã là công việc hết sức vất vả trước khi Victor Nguyen xuất hiện. Viết bài không phải là vấn đề; đánh máy chữ mới là vấn đề. Và chính tiếng Việt - với vô số dấu trên gần như mọi chữ - là nguyên nhân cốt lõi của sự phức tạp đó. Cho đến gần đây, chưa có phần mềm máy tính nào giải quyết được sự phức tạp của tiếng Việt. Vì vậy, các nhân viên của báo Người Việt phải gõ bài vào máy điện toán mà không có dấu, sau đó in ra bản chính của từng bài viết và quảng cáo, rồi tự tay bỏ dấu trước khi đem báo đi in. Ruth Talovich, một biên tập viên của tờ báo phát hành năm-ngày-một-tuần, nhận xét: “Nhìn tất cả những chữ trên trang báo và tưởng tượng phải đi xuyên suốt hết để thêm dấu vào trên từng chữ một. Hãy nhìn những dấu móc trên chữ U [Ư] và chữ O [Ô], những dấu mũ trên chữ E [Ê]. Chỉ cần lướt qua một trang thôi là sẽ thấy nó tốn thì giờ biết chừng nào.”

Người kỹ sư trẻ tài năng này không ngừng ngang đó. Maria L. La Ganga cho biết tiếp:

Vào năm 1986, khi tạp chí Người Việt bắt đầu sử dụng Diplomat, nhu liệu này chỉ có tiếng Việt; ngày nay [1989], nó cho phép các nhu liệu tiếng Anh “nói” được 23 ngôn ngữ khác nhau, từ tiếng Albania đến tiếng Urdu. Và ông Nguyen đã rời bỏ môi trường doanh nghiệp để dành thời gian cho VN Labs, công ty của ông tại Newport Beach chuyên sản xuất sản phẩm đa ngôn ngữ này. [...] Ông Nguyễn cho biết, với các nhu liệu và máy tính cá nhân trước đây, “người dùng muốn viết hoặc xuất bản bằng ngôn ngữ của mình thì không thể làm được. Nhưng giờ đây, với (các chương trình) của chúng tôi, họ có thể sử dụng tất cả tính năng của các bộ xử lý văn bản tiếng Anh hiện có – và quan trọng hơn nữa là nhu liệu dàn trang – để viết bằng ngôn ngữ của mình.”

1986 đúng là “năm bản lề” của báo chí tiếng Việt hải ngoại. Nó thay đổi hẳn cung cách viết lách và xuất bản sách vở báo chí mọi loại, góp phần quan trọng cho sự phát triển mạnh mẽ của một nền báo chí và văn học non trẻ ở ngoài xứ sở.

Ngoài Nguyễn Việt, còn có Hồ Thành Việt, tức John Hồ (1955–2003). Trước năm 1975, Việt là sĩ quan Tiểu đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến, quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Di tản sang Mỹ năm 1975, anh theo học “California State University”, Fullerton. Tốt nghiệp kỹ sư vi tính, anh thành lập “Công Ty Nhu Liệu VNI” (VNI Software Company). Gần như cùng thời điểm với Nguyễn Việt, anh phát hành bộ chữ VNI, lúc đầu được sử dụng với MS-DOS, về sau, dùng chung với những hệ điều hành khác như Microsoft Word, WordPerfect, Ventura Publisher… Năm 1995, công ty VNI phát hành nhu liệu “VNI-Tân Kỳ for Windows” bao gồm kiểu chữ và cách nhập dữ liệu dùng cho Windows Workstation 3.1 và Windows 95. Năm 2000, bộ “VNI-Tan Viet 2000 UNICODE” được cải tiến để sử dụng được trên mọi hệ điều hành.

Sau này, vào năm 1993, Hội Chuyên Gia Việt Nam (Vietnamese Professionals Society) cũng sản xuất ra một nhu liệu tiếng Việt mới, VPSKeys, thiết kế cho hệ điều hành Windows 3.1; nhu liệu này về sau cũng trở thành phổ biến trong ngành báo chí cũng như cho các máy vi tính cá nhân.

Báo Người Việt (số ra mắt 15/12/1978, bỏ dấu bằng tay)

Bài giới thiệu Victor Nguyễn trên báo Los Angeles Times  ngày 16/6/1989)

 

Tạp chí “thuần túy” văn học đầu tiên ở hải ngoại: Văn Học Nghệ Thuật (bỏ dấu bằng tay)

Ngoài ra, tưởng cũng nên nhắc đến “Vietnet”, một nhóm các nhà khoa học máy tính trẻ gốc Việt được thành lập vào năm 1986. Máy tính thời kỳ đó chỉ hỗ trợ tiêu chuẩn mã hóa ký tự ASCII (American Standard Code for Information Interchange = Mã tiêu chuẩn Mỹ trong Trao đổi Thông tin). Trong khi chưa có nhu liệu tiếng Việt, để liên lạc với nhau trong nhóm, các thành viên đã đã kiến tạo một danh sách điện thư, kết nối các cộng đồng người Việt hải ngoại thông qua giao tiếp điện tử, bằng cách sử dụng các ký tự có sẵn trong ASCII để biểu thị những dấu thanh trong tiếng Việt. Sau đó, họ chuyển danh sách email này đến một diễn đàn thảo luận có tên là: soc.culture.vietnamese (SCV).

Mẫu dưới đây là thư của một thành viên gửi cho các thành viên khác trong diễn đàn này, hỏi về cách đặt tên trong tiếng Việt:

Tiện lợi và đơn giản: biến chữ Tây thành chữ Ta, không cần bỏ dấu!

Những ai chưa từng biết qua cách viết này cũng có thể đọc và tạm hiểu nội dung của nó. Chẳng hạn câu trích ra sau đây:

Okay, trong Tu+’ Ddu+’c, “Co^ng, Dung, Ngo^n, Ha.nh”, “Dung” co’ nghi~a gi` ha? ba` con? (Dung nhan?) = Okay, trong tứ đức “Công, Dung, Ngôn, Hạnh”, “Dung” có nghĩa gì hả bà con? (Dung nhan ?)

Quy tắc viết được gọi là quy ước “SCV” hoặc ”VIQR” (Vietnamese Quoted-Readable) được quy định như sau:

Dấu . = nặng; ` = huyền; = sắc; ? = hỏi; ~ = ngã

Các nguyên âm đặc biệt: o+ = ơ; u+ = ư, a^ = â ; a( = ă dd = đ

Quy ước “VIQR đã trở thành tiêu chuẩn mà nhiều công dân trực tuyến Việt Nam trong thời hoàng kim của các nhóm tin và diễn đàn tin dùng, và vẫn còn được nhiều người sử dụng cho đến tận ngày nay.”[13]

Khi vừa đến định cư (1993), tôi đã từng đọc khá nhiều tài liệu chính trị, xã hội và văn chương viết dưới dạng này, được gửi qua email, trong đó có Tạp Chí Văn Chương Liên Mạng của Phạm Chi Lan. Chính tôi cũng đã tập sử dụng hình thức này để trao đổi thư từ, cũng như ghi chép tài liệu cất giữ trong máy tính.

Lược qua vài nét như thế để thấy những khó khăn lớn lao của người viết văn làm báo hải ngoại trong thời gian đầu trước khi phát triển thành một nền báo chí hoàn chỉnh.

4.

Bỗng… Little Saigon

Quá trình báo chí đó diễn ra gần như song song với quá trình hình thành các cộng đồng người Việt ở nhiều nơi trên đất nước Hoa Kỳ. Đặc biệt, là tiểu bang California.

Từ tháng 5/1975, khoảng vài ngàn người Việt tị nạn được chuyển đến trại Pendleton (căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, San Diego, California). Được cư dân địa phương giàu lòng nhân ái giúp đỡ, họ lần lượt đi định cư rải rác trong các thành phố Santa Ana, Garden Grove, Westminster, Costa Mesa và các vùng phụ cận. Đến năm 1979, gần 100 cơ sở thương mại của người Việt xuất hiện quanh quanh trên đường Bolsa (Westminster), đường First (Santa Ana) và đường Westminster (Garden Grove), tạo thành một khu sinh hoạt riêng biệt, “Khu Việt Nam”. Năm 1980, ký giả Du Miên vẽ tấm bản đồ ghi rõ địa chỉ từng cơ sở thương mại, đặt tên nó là “Phố Sài Gòn”. Đầu năm 1981, Rosa Kwong, trong một bài viết về sinh hoạt Tết Nguyên Đán đăng trên nhật báo Orange County Register, dịch chữ “Phố Sài Gòn” là “Little bit of Saigon”, sau, thu gọn thành “Little Saigon”. Ngày 9.2.1988, Hội Đồng Thành Phố Westminster thông qua Quyết Nghị số 58, công nhận khu phố trên đại lộ Bolsa là “Little Saigon”. Ngày 17.6.1988, Thống Đốc California, ông George Deukmejian, đã đến cắt băng khánh thành các bảng chỉ dẫn “Little Saigon, Next Exit” được “California Department of Transportation” (Bộ Công Chánh Cali) dựng ở hai xa lộ 405 và 22 dẫn vào hai đường Brookhurst và Magnolia.

Từ đó, Little Saigon thu hút di dân Việt khắp nơi về định cư, biến vùng đất ngoại ô của khu Bolsa-Garden Grove vắng vẻ và yên tĩnh thành một đô thị phát triển với chùa chiền, nhà thờ, thánh thất và các cơ sở thương mại, các đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, các trung tâm ca nhạc... Đó cũng là nơi khởi nghiệp của những chính trị gia người Mỹ gốc Việt tham gia vào dòng chính của nền chính trị Hoa Kỳ qua các chức vụ dân cử như: nghị viên, dân biểu, thị trưởng...[14]

Little Saigon, một bất ngờ lớn của hải ngoại!

Như một điểm quy tụ nhân tâm, Little Saigon đột nhiên trở thành “ngôi nhà” của cộng đồng người Việt tị nạn, không những của cư dân ở đó mà còn của cư dân ở nhiều nơi trên thế giới. Khái niệm “nhà” mà nỗi mong ước “về nhà” là một hiện thực vượt ra ngoài nơi chốn mà người ta đang sống, theo Trangdai Glassey-Tranguyen. Trong biên khảo Articulating Refug-endity in VietnAmerica and the Diasporas 1975-2015: From Ethnic Autonomy to Global Visibility (Diễn đạt Bản Sắc-Tị Nạn trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt và các cộng đồng hải ngoại 1975–2015: từ Tự Trị Sắc Tộc đến Hiện Diện Toàn Cầu) nghiên cứu về văn chương của người Việt hải ngoại nhân kỷ niệm 40 năm chấm dứt chiến tranh Việt Nam, cô viết: “Vai trò của cộng đồng văn hóa trong VietnAmerica [Vietn(am)-America][15] một ảnh hưởng sâu sắc đến kinh nghiệm của những di dân và người tị nạn, cung cấp một không gian vừa hữu hình vừa mang tính tưởng tượng nhằm (tái) tạo một quê nhà trong quá khứ và một quê nhà xuyên quốc gia mới (transnational home). Nơi chốn đã từng là quê nhà của cộng đồng ấy vẫn mãi là quê nhà trong trái tim họ.”[16]
Các tác giả Sanjoy Mazumdar, Shampa Mazumdar, Faye Docuyanan và Colette Marie McLaughlin, trong tiểu luận Creating a Sense of Place: The Vietnamese-Americans and Little Saigon (Sáng tạo ra một Ý Nghĩa về Nơi Chốn: Những người Mỹ gốc Việt và Tiểu Sài Gòn) cũng có một cái nhìn tương tự. Theo họ, ở Hoa Kỳ, “Kinh nghiệm của người Việt Nam là câu chuyện về sự đau đớn và mất mát, mất nước, mất nhà, mất gia đình, mất văn hóa và căn cước.” Cho nên, Little Saigon xuất hiện như là “trung tâm của căn cước và sự gắn bó của cộng đồng.” Nó đã trở nên, “không chỉ là trung tâm thương mãi mà còn là trọng điểm xúc động của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.” Vì thế, những người Việt nào không cư trú ngay tại Little Saigon, thì đến “Little Saigon giống như thực hiện một cuộc hành hương. Đối với họ, đó là một ngôi nhà thay thế, một ngôi nhà ngoài quê nhà (a home away from home), một nơi chốn họ có thể dễ dàng đến để có được một chuyến về thăm nhà. [...] Đối với một cộng đồng người tị nạn đã mất quê hương, trong đó có thủ đô Sài Gòn, việc thành lập Little Saigon tượng trưng cho niềm hy vọng từ ‘không nhà’ (homeless) trở thành ‘có nhà’ trở lại (a ‘home’ again). Cuối cùng, chính sự hiện diện của Little Saigon đã truyền tải một cách đầy biểu tượng đến xã hội sở tại khao khát của cộng đồng di dân Việt Nam muốn bám rễ thường trực trên vùng đất tạm dung mới (trong đất Mỹ) trong lúc vẫn duy trì được bản sắc dân tộc riêng của họ thông qua sự chuyển dịch thành công tôn giáo, văn hóa và doanh nghiệp của họ.”[17]

Thủ đô văn học

Một trong những bản sắc dân tộc riêng được biểu hiện trong văn hóa nghệ thuật. Sau 1975, hầu hết những khuôn mặt trí thức văn hóa cũng như văn nghệ sĩ của miền Nam, sớm hay muộn, đều lần lượt tìm cách thoát ra hải ngoại.[18] Phần lớn trong số đó đều đến, hay tìm cách đến, định cư ở vùng Quận Cam. Đây là nguồn nhân lực tiên phong gây dựng nên nền móng báo chí cũng như văn học nghệ thuật hải ngoại. Các tờ báo, các tạp chí văn học nghệ thuật và các trung tâm băng nhạc lớn, nhỏ đều tọa lạc tại Little Saigon. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi phần lớn các tổng biên tập đầu tiên của ngành truyền thông tiếng Việt tại Little Saigon đều là những cây bút kỳ cựu của Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Nhận xét về vai trò của những nhà văn này đối với văn học hải ngoại, Trangdai Glassey-Tranguyen viết:

Trong khi ghi nhận nỗ lực, sự hiện diện và đóng góp của tất cả các nhà văn, tôi cho rằng chính những nhà văn đã thành danh (the established and committed writers) trong đó có nhiều người nay đã qua đời là những người tạo ra các tác phẩm có ý nghĩa then chốt đối với việc hình thành bản sắc tị nạn Việt Nam (Vietnamese refug-endity), bởi khả năng của họ nhằm truyền tải những hiện thực đã trải qua và các triển vọng một cách mạnh mẽ nhất.[...] Các nhà văn này kiến tạo một không gian để phản ánh chính những kinh nghiệm và quan điểm riêng của họ, cũng như của đồng hương và cách nhìn của cộng đồng văn hóa của họ về đời sống tại VietnAmerica và trong các cộng đồng di dân khác. Họ chủ động vận dụng tối đa khả năng sáng tác: tự xuất bản, xây dựng các hội đoàn văn chương, thành lập các nhà xuất bản và các chương trình viết lách, xây dựng các cơ sở truyền thông và tạp chí văn học, tiếp tục các sáng tác mà họ đã khởi viết từ miền Nam Việt Nam trước năm 1975, và mở ra một cầu nối giữa văn học “tị nạn” của người Mỹ gốc Việt với văn học lai và/hoặc văn học của các thế hệ 1.5 và các thế hệ sinh sau tại Hoa Kỳ.”[19]

Quận Cam tràn trề Việt Nam. Nó việtnam đến nỗi, một nhà văn ra đi từ miền Bắc, Phạm Thị Hoài, hiện định cư ở Đức, xem nó như một hình ảnh đặc trưng của xu hướng bảo tồn văn hóa:

Cộng đồng Việt nhỏ bé ở bên ngoài lại có một phẩm chất đặc biệt: nó bảo tồn rất nhiều khía cạnh văn hoá Việt mãnh liệt và cuồng nhiệt hơn ở chính quốc. Một lúc nào đó, tôi e rằng các học giả muốn truy tìm dấu tích lịch sử dân tộc Việt, thay vì đi Hà Nội có lẽ phải đến Quận Cam. Cội rễ có thể bị bật tung tại chính chỗ phát sinh, nhưng lại dai dẳng sống sót ở những vùng biên xa xôi nhất. Việt Nam hải ngoại là một vùng biên như thế.”[20]

Một trách móc ưu ái!

Nguyễn Hưng Quốc, một nhà nghiên cứu văn học ở Úc, chẳng chút đắn đo khi khẳng định chắc nịch:

Sau năm 1975, không còn hoài nghi gì nữa, California, đặc biệt là Nam California, đã dần dần nổi lên như một trung tâm của nền văn học hải ngoại. Đó là nơi tập trung nhiều người Việt nhất đồng thời cũng là nơi người Việt làm ăn buôn bán tấp nập và thành công nhất. Những cái “nhất” ấy là cơ hội thuận tiện cho việc thương mại hóa văn học bằng tiếng Việt. Hầu hết các tạp chí văn học lớn đều nằm ở Nam California, từ Văn đến Văn Học, Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, Khởi Hành, và Thế Kỷ 21. Số lượng các tạp chí tương đối có tầm vóc nằm ngoài California rất hiếm, và trừ Làng Văn ở Canada, đều yểu mệnh, có khi chỉ hoạt động yếu ớt được vài ba năm, kể cả tạp chí Việt ở Úc. Các nhà xuất bản cũng vậy, từ Văn Nghệ đến Thanh Văn, Văn Mới, Văn Khoa, Tân Thư, Đại Nam và Xuân Thu đều nằm ở California. Chỉ có một số ít nhà xuất bản lớn nằm ngoài California như An Tiêm (Pháp), Làng Văn (Canada), Cành Nam (Washington D.C.), v.v. Nhưng phần lớn đều nhờ đến một trung tâm phát hành chính là nhà Văn Nghệ ở California. Chính vì thế, trong một thời gian dài, nói đến văn học hải ngoại, người ta nghĩ ngay đến California. California trở thành thủ đô của văn học Việt Nam hải ngoại.”[21]

Vùng đất “nhỏ bé” ấy gánh trên mình vai trò của… hai “thủ đô”: thủ đô tị nạn và thủ đô văn học. Thiệt tình!

Cũng chỉ là cách nói tượng trưng. Văn học hải ngoại đâu chỉ Little Saigon (hay Quận Cam) hay Cali(fornia).[22] Các sinh hoạt văn học nghệ thuật còn nằm nhiều nơi trong nước Mỹ, ở những thành phố lớn: Boston, Dallas, Houston, San Jose, Washington DC… ; mỗi nơi đều tìm cách xây dựng các “Tiểu Sài Gòn” riêng cho từng địa phương.

Tiếp sức cho những Little Saigon ở Mỹ, còn có Pháp với Paris; Paris không chỉ là một thủ đô văn hóa mà còn là biểu tượng cho tự do dân chủ và nhân quyền. Đó là nơi quy tụ một số lượng lớn các khuôn mặt trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam nổi tiếng của nhiều thế hệ, hoặc đã định cư nhiều thập nhiên trước 1975, chẳng hạn như Trần Thiện Đạo, Đặng Tiến, hai cây bút thường viết cho tạp chí Văn, Sài Gòn (mà tôi biết), hoặc đến tị nạn sau 1975. Không kém Hoa Kỳ, Pháp là nơi xuất hiện nhiều tài năng văn chương hải ngoại như Đỗ Quỳnh Dao, Đặng Mai Lan, Miêng, Mạch Nha, Mai Ninh, Trần Thị Diệu Tâm và Phan Thị Trọng Tuyến, những nhà văn nữ đem lại cho vườn văn học Việt Nam ở hải ngoại một nét trẻ trung, tươi mát, theo Liễu Trương;[23] hay Trần Vũ, một nhà văn tài hoa và độc đáo. Đó cũng là nơi có đài phát thanh RFI (Radio France Internationale), mà chương trình văn học nghệ thuật do nhà biên khảo Thụy Khuê phụ trách, đã từng là một chiếc cầu nối văn học nghệ thuật trong và ngoài nước khi việc giao lưu trong và ngoài nước hãy còn rất khó khăn do chính sách cấm đoán của nhà cầm quyền cộng sản. Cũng là nơi của hai tạp chí mạng Diễn Đàn ForumĂn Mày Văn Chương, được điều hành bởi những trí thức vốn là thành phần thiên tả trước 1975, sau trở thành bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền Việt Nam. Cũng là nơi “Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam Paris” đã được thành lập vào năm 1994 quy tụ rất nhiều nhân sĩ trí thức và văn nghệ sĩ như Trần Văn Cảnh, Hồ Trường An, Trần Thanh Hiệp, Lê Mộng Nguyên, Vũ Quốc Thúc, Từ Thức, Nguyễn Đăng Trúc, Liễu Trương, Phan Thị Trọng Tuyến...

Còn có Úc. So với Hoa Kỳ và Pháp, chỉ trừ vài ba khuôn mặt là thuộc giới văn nghệ sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa, phần lớn, nếu không muốn nói là hầu hết, những người sáng tác nổi tiếng tại Úc trong thời gian qua đều cầm bút sau năm 1975. Đó là nơi xuất hiện hai tạp chí thuần túy về văn học đầu tiên của cộng đồng người Việt Nam tại Úc: Việt (báo giấy 1998-2001, 8 số) và Tiền Vệ (báo mạng 2002-2018), do Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn chủ trương. Điểm đặc biệt là cả hai tạp chí đều nghiêng về các khía cạnh lý thuyết văn học và phổ biến những sáng tác có xu hướng cách tân, gây ảnh hưởng khá lớn lao đối với dòng văn học ở trong và ngoài nước. Tạp chí Văn Học tại California đã dành một số đặc biệt (số 41, 6/1989) “giới thiệu những cây bút trẻ ở Úc”: Hoàng Ngọc-Tuấn, Thường Quán, Cao Huy, Cheo Reo và Uyên Nguyên. Úc cũng là nơi cư trú của nhà văn Nam Lê, mà tác phẩm “The Boat” (Thuyền) của ông đoạt gần chục giải thưởng quốc tế, đã là một niềm hãnh diện cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Còn có Canada. Là láng giềng của Hoa Kỳ, Canada là nơi mà sinh hoạt báo chí mọi loại phát triển không thua gì ở Hoa Kỳ, trong đó có một số tạp chí để lại nhiều dấu ấn của văn học hải ngoại như Làng Văn, Trăm Con. Đó là nơi định cư của một số văn nghệ sĩ nổi tiếng như Luân Hoán, Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Chính, Trần C. Trí… ; là nơi có Kim Thúy, nhà văn nữ đoạt nhiều giải văn học ở Canada, và cũng là nơi ra đời của Ngôn Ngữ, tờ tạp chí văn học giấy duy nhất vẫn còn tồn tại ở hải ngoại cho đến giờ, do Song Thao, Luân Hoán, Nguyễn Vy Khanh chủ trương. Đó cũng là nơi thành lập “Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do”, một tổ chức y khoa, nhưng lại quan tâm đến văn học nghệ thuật qua các “Giải Thưởng Văn Học” được trao cho các công trình biên khảo, nghiên cứu, nghị luận có giá trị về các lãnh vực văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội của những người Việt tị nạn.

Còn có Đức. Đức là nơi định cư của một số cây bút ra đi từ miền Bắc như Thế Giang, Lê Minh Hà, Phạm Kì Đăng… và nhất là Phạm Thị Hoài, người sáng lập ra tạp chí mạng Talawas lừng danh một thời.

Còn có Ba Lan, nơi xuất phát tạp chí mạng Đàn Chim Việt, hiện vẫn còn tiếp tục hoạt động.

Và ở nhiều nước Âu châu khác.

5.

Văn chương giấy

Cá nhân tôi, sau 18 năm ngậm ngùi quên chữ quên nghĩa ở trong nước, vừa bước chân ra hải ngoại là tôi cầm bút lại ngay. Viết, viết, viết… rồi gõ, gõ gõ… cho đến bây giờ.

Trước hết là viết cho báo giấy. Các tạp chí văn học nghệ thuật giấy ở hải ngoại thì rất nhiều (như đã liệt kê ở phần trên), nhưng tôi chỉ có cơ hội cộng tác với một vài tờ, nhiều nhất là Văn Học (chủ biên: Nguyễn Mộng Giác), kế đó là Thế Kỷ 21 (cb: Phạm Phú Minh), rồi là Hợp Lưu (cb: Khánh Trường), Văn (cb: Nguyễn Xuân Hoàng), Thư Quán Bản Thảo (cb: Trần Hoài Thư), và hiếm hoi hơn, tạp chí Việt (cb: Nguyễn Hưng Quốc) – những tạp chí được Nguyễn Vy Khanh xem là “dòng chính” của văn học hải ngoại.

Mặc dầu lai lịch của những tạp chí này có thể tìm thấy dễ dàng trên Internet, tôi cũng xin ghi lại vài dòng tóm tắt ở đây, để độc giả tiện hình dung khi tiếp tục theo dõi “tùy luận” này:

- Văn Học: là tên tiếp nối của tạp chí Văn Học Nghệ Thuật (bộ cũ từ tháng 4/1978 đến 8/1978 và bộ mới từ tháng 5/1985 đến tháng 1/1986, chủ nhiệm: Võ Phiến). Số Văn Học đầu tiên ra tháng 2/1986. Trong quá trình tồn tại 22 năm (1986-2008), tạp chí này trải qua nhiều đời chủ nhiệm và chủ bút: Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Châu Văn Thọ, Trịnh Y Thư và cuối cùng, Cao Xuân Huy. Toàn bộ các số báo của tạp chí này đã được “số hóa” và lưu trữ tại một vài trang mạng, chẳng hạn trên trang mạng Ngưoi Viet News: https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/TapChiVanHoc.php.

- Văn: vốn là một trong những tạp chí văn chương hàng đầu ở Sài Gòn trước 1975, được Mai Thảo cho tục bản ở Mỹ vào năm 1982 tại Mỹ, phát hành được tất cả 160 số. Số đầu tiên có đăng hai bài thơ mới nhất của Thanh Tâm Tuyền (lấy bút hiệu là Trần Kha) gửi ra từ trong trại tù cộng sản. Đầu năm 1996, do tình trạng sức khoẻ, Mai Thảo chuyển lại cho Nguyễn Xuân Hoàng tiếp tục cho đến số 163. Đầu năm 1997, Nguyễn Xuân Hoàng ra Văn (bộ mới), số 1, phát hành cho đến số 123 & 124, tháng 3&4/2007, thì đình bản.

- Thế Kỷ 21: do công ty “Người Việt” sáng lập, số 1 phát hành tháng 5/1989, trải qua nhiều đời chủ nhiệm và chủ bút: Vường Hữu Bột (Đỗ Quý Toàn), Phạm Phú Minh, Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Hoàng Ngọc Tuệ, Đỗ Việt Anh. Tạp chí đóng cửa vào tháng 9/2008, sau đó chuyển sang báo mạng với danh xưng mới Diễn Đàn Thế Kỷ. Toàn bộ các số báo của tạp chí này cũng đã được “số hóa” và lưu trữ tại: https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/TheKy21.php?thuvien=220-223

- Hợp Lưu: Do Khánh Trường làm chủ nhiệm, số 1 ra mắt tháng 10/1991. Tính cho đến số 83 (6&7/2005), báo trải qua nhiều đời chủ biên: Khánh Trường, Phùng Nguyễn, Trần Vũ. Đến số 84 khi Đặng Hiền làm chủ biên, thì Hợp Lưu chuyển hướng khỏi chủ trương “hợp lưu” ban đầu.

- Thư Quán Bản Thảo: một tạp chí bất định kỳ, do Trần Hoài Thư làm chủ biên cùng với Phạm Văn Nhàn và Cao Vị Khanh, về sau hoàn toàn do Trần Hoài Thư đảm trách với sự cộng tác của Phạm Văn Nhàn. Số ra mắt (số 1) phát hành vào tháng 10/2001 với chủ đề “Đại Khủng Bố 9/11” ở New York và số cuối cùng (108), tháng 12/2023, là một giai phẩm, tái bản tập Hạt Vàng Đã Mất của Mai Thảo. Nói chung, mỗi số là một chuyên đề về Văn Học Miền Nam, hoặc văn chương, hoặc tác giả, hoặc tạp chí. Thư Quán Bản Thảo dành số 82 (tháng 11/2018) chọn Trần Doãn Nho làm chuyên đề. Một số lớn các tạp chí Thư Quán Bản Thảo đã được đích thân Trần Hoài Thư “sốhóa”, lưu trữ ở: https://tranhoaithu42.com/tap-chi-thu-quan-ban-thao/

- Việt: do Phan Việt Thủy, Hoàng Ngọc-Tuấn và Nguyễn Hưng Quốc chủ trương, số 1 ra đầu năm 1998 cho đến số 8 (giữa năm 2001) thì chuyển qua tạp chí mạng là Tiền Vệ (2001-2018). Việt được lưu trữ cùng với trang Tiền Vệ ở: https://tienve.org/home/activities/viewActivities.do

- Nhật báo Người Việt: tờ báo có tuổi thọ lâu nhất của báo chí hải ngoại, tồn tại từ tháng 12/1978 cho đến nay. Tôi phụ trách mục “Văn Học Nghệ Thuật” hàng tuần cho tờ báo từ đầu năm 2017 cho đến nay, thế chỗ cho hai nhà thơ Viên Linh (1938-2024) và Du Tử Lê (1942-2019). Ngoài báo giấy lưu hành ở vùng Little Saigon và phụ cận, Người Việt còn phát hành trên mạng. Bài vở “Văn Học Nghệ Thuật” được cập nhật hàng tuần ở: https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/

Trong các tạp chí trên, ngoài Người Việt, tôi còn cộng tác thường xuyên với Văn HọcThế Kỷ 21 qua nhiều thể loại: nhận định văn học, truyện ngắn, thơ, bút ký, tùy bút, tùy luận, tạp bút.

Trong một thời gian khá dài, tôi nằm trong Ban Biên Tập của Thế Kỷ 21, cùng với chủ biên Phạm Phú Minh thực hiện một số chủ đề, hoặc văn học hoặc chính trị, cũng như tham gia các buổi hội thảo văn học do Phạm Phú Minh và nhật báo Người Việt chủ xướng. Khi Thế Kỷ 21 đóng cửa, chuyển sang báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ, tôi cũng là cộng tác viên thường xuyên.

Ở tạp chí Văn Học, ngoài các bài vở khác, tôi đã từng phụ trách mục “Tin Văn” trong gần bốn năm (từ 2001 đến 2004) với bút hiệu Thế Quân, cho đến khi Nguyễn Mộng Giác thôi làm chủ bút. Khi biết mình bị bệnh nan y (2004), anh có nhã ý mời tôi làm chủ bút thay thế anh, nhưng vì bận bịu với công ăn việc làm và cũng vì ở xa môi trường sinh hoạt văn học ở quận Cam, nên tôi từ chối. Về sau, anh giao cho Cao Xuân Huy.

6.

Văn chương mạng

Mạng lưới toàn cầu xuất hiện là một bước nhảy thần kỳ của thời đại internet. Những computer, iPhone, Ipad dần dần thay thế giấy mực, đẩy những tủ sách gia đình trang trọng và nghiêm túc thành đồ cổ. Các tạp chí in (Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Việt) lần lượt đóng cửa. Văn chương in chuyển qua văn chương mạng. Khởi đầu với Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng (1995-2004), được nối tiếp với Talawas (2001-11/2010), Gió-O (từ 2001), Tiền Vệ (2002-2018), rồi Da Màu (từ 2006), Diễn Đàn Thế Kỷ (2010-2022), Thế Kỷ Mới (từ 9/2025)… Do phương tiện mở mạng quá dễ dàng, chi phí lại thấp, nên ngoài các tạp chí văn chương trên, còn xuất hiện vô số các mạng xã hội khác, hoặc của cá nhân hoặc của các tổ chức, các hội đoàn, các nhóm.

Ngỡ ngàng, thậm chí dị ứng lúc đầu, rồi dần dần người ta cũng quen. Văn chương mạng, tuy thay đổi hẳn cách sáng tác, cách đọc, cách lưu trữ, cách tiếp cận và cả cách thưởng thức, nhưng bản chất thì văn chương nào cũng là… văn chương. Với mạng, người đọc và người viết cùng được thưởng thức hai thế giới ảo một lần: “ảo văn” và “ảo mạng”; ảo này chồng lên cái ảo kia.

Trong thời gian gần đây, xuất hiện “văn chương Facebook” (FB): viết văn trên FB. Thì cũng là văn chương mạng thôi, nhưng cá nhân hơn, dễ “điều hành” hơn. Các chủ trương mục, kể cả những cây bút thành danh, đã sử dụng FB như một diễn đàn văn chương, liên tục công bố những sáng tác ngắn, gọn, tức thời của mình. Có thơ, có văn và có cả nhận định, phê bình văn học. Thấy hay, nhiều trang mạng văn chương chính thống cũng mở thêm tài khoản FB để đưa diễn đàn của mình vươn xa, tiếp cận được với một lượng độc giả càng ngày càng rộng khắp. Mạng kiểu này xen lẫn với mạng kiểu kia, rộn ràng thế giới ảo.

Năm vừa qua (2025), văn chương FB chợt nổi lên một khuôn mặt mới toanh: Ái Điểu. Từ tài khoản của mình, vốn chỉ là do “ngẫu nhiên tôi tập ráp chữ, viết lại” hay “Tôi thấy gì quanh nơi tôi sống, tôi suy nghĩ và kể lại thôi”,[24] văn thơ của Ái Điểu được trang mạng Văn Việt đưa lên giới thiệu với độc giả từ đầu tháng 9/2025. Tôi không sử dụng FB, nhưng là người đầu tiên viết bài giới thiệu văn chương Ái Điểu trên Văn Việt và trên vài trang mạng khác,[25] sau khi nhận được mấy chục truyện ngắn và thơ của cô do nhà văn Nguyễn Lệ Uyên sưu tập, chuyển đến. Không chỉ được thừa nhận như một cây bút mới, cô còn được vinh danh bằng giải thưởng Văn Việt năm 2025. Và tập truyện ngắn đầu tiên của cô, Mùi của miền nhân gian,[26] đã được trang mạng T.Vấn & Bạn Hữu xuất bản dưới hình thức sách điện tử.

Trở lại với đề tài.

Theo Đinh Từ Bích Thúy, ngoài tính quốc tế của nó, trang mạng cũng là nơi giúp tác giả “biên tập” lại tác phẩm của mình. “Người viết đăng lên một đoạn văn, độc giả gửi ý kiến đến nói là thích cái này...thì chính audience, chính khán giả là những editor của mình. Nhờ những phản ứng như vậy mà mình có thể uyển chuyển làm cho thể thức văn chương của mình hợp với thị hiếu, với nhu cầu, mình có thể làm như vậy trong cộng đồng Việt Nam với những người còn đọc văn chương Việt Nam. [...] Văn chương mạng rất hữu ích cho vấn đề biên khảo tại vì trên mạng bây giờ có nhiều cái data base.”[27]

Ngu Yên ca ngợi sự đóng góp tích cực của các trang mạng:

Nhận định chung, tất cả những mạng lưới văn chương, nhất là những mạng có phạm vi sinh hoạt lớn và nhiều tác giả tên tuổi cộng tác, đã đóng góp, phát triển và gìn giữ dòng văn học Việt nhập cư trong thời kỳ bắt đầu suy thoái cho đến hiện tại. Cho dù một số mạng đã không còn hoạt động nhưng vẫn còn lưu trữ bài vở để tham khảo. Công lao của những người thực hiện và điều hành các mạng văn học nghệ thuật không thể không ghi một cách nghiêm túc, xứng đáng ca ngợi vào dòng văn học Việt nhập cư.”[28]

Các trang mạng văn học nghệ thuật (hay trang mạng tổng hợp) của hải ngoại xuất hiện khá nhiều. Qua thời gian, một số đã đóng cửa; một số khác vẫn còn hoạt động. Dù tất cả đều còn tồn tại trong không gian mạng, ai cũng có thể truy cập dễ dàng, nhưng tôi cũng xin liệt kê/giới thiệu một số trang (đã đóng cửa hay vẫn còn hoạt động) mà tôi cho là điển hình, nơi lưu trữ một khối lượng tác phẩm khá lớn đủ mọi thể loại, và nhiều tài liệu văn chương khác.

- Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng

Tôi xin được dài dòng về trang Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng (VHNT/LM) này. Có hai lý do: thứ nhất, nó là trang mạng văn chương tiếng Việt đầu tiên xuất hiện trên trên liên mạng toàn cầu; và thứ hai, hiện nó không còn tồn tại trong không gian ảo nữa.

VHNT/LM ra đời vào ngày 17/7/1995, lúc các tạp chí văn học giấy Văn Học, Văn, Khởi Hành, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21… vẫn còn ở giai đoạn thịnh thời; người ta vẫn thích cầm cuốn sách hay tờ báo để đọc. Chủ biên trang này là Phạm Chi Lan. Cô đến định cư tại Hoa Kỳ vào năm 1975, khi mới 13 tuổi. Dù đôi chân tật nguyền do bạo bịnh từ thuở thiếu thời nhưng cô vẫn sống, học hành, làm việc không thua kém bất cứ một người lành lặn nào. Tốt nghiệp đại học với bằng kỹ sư điện toán, cô làm việc cho chính phủ trong hơn 20 năm, cho đến khi qua đời vào năm 2009.

Động lực nào thúc đẩy cô thành lập trang mạng văn học nghệ thuật?

Trả lời trong lần phỏng vấn của đài phát thanh RFI (Pháp) do Thụy Khuê phụ trách, Phạm Chi Lan cho biết:

Trên internet có một diễn đàn văn hóa xã hội của người Việt (Soc.Culture.Vietnamese Newsgroup) đã có mặt khoảng 6 năm [từ 1990]. Diễn đàn này là một diễn đàn mở ngỏ không chuyên về một đề tài nào, từ chuyện chính trị, tôn giáo, văn nghệ, văn chương, cho đến những chuyện cá nhân… Sau một thời gian theo dõi, em thấy chưa có một nhóm nào chuyên bàn về văn chương và nghệ thuật một cách nghiêm chỉnh, mặc dù trên net có rất nhiều sáng tác khá hay của những cây bút âm thầm không ai biết tới. Bài viết của họ là cả một công trình tim óc, có nhiều bài biên khảo có giá trị mà đăng lẫn lộn với những bài viết khác, thấy có vẻ lạc lõng và tội nghiệp. Hơn nữa những bài đăng trên các nhóm này chỉ xuất hiện trong một thời gian rất ngắn, vài ngày hoặc là một tuần, sau đó sẽ bị xóa mất. Những bài viết này có lẽ đi vào… hư vô. Em thấy thật uổng phí những bài viết hay này. Vì vậy mà em có ý định lập một nhóm bàn thảo chuyên về văn học trên mạng, và sẽ lưu trữ mọi bài viết vào một hệ thống archives, để cất giữ hầu về sau có người muốn tìm đọc lại. Đó là ý nghĩ, nhưng sự hình thành của VHNT cũng nhờ duyên cớ này.

Khoảng cuối hè năm 95, trong chuyến về thăm lại VN, em có ghé thăm nhạc sĩ Văn Cao ở Hà Nội 3 tuần trước khi cụ mất. Khi về lại Mỹ, em có đăng một bài tường thuật ngắn trên internet về chuyến gặp mặt. Bài đăng này đã khiến em có dịp quen biết một số bạn trên internet, những người cùng quan tâm đến văn nghệ. Từ sự quen biết trao đổi qua điện thư, em nghĩ ra việc lập một nhóm thảo luận nhỏ, với hình thức như là thư chuyền, mục đích chỉ để trao đổi bàn luận về những tin tức văn học, hay chia sẻ những sáng tác cá nhân. Thế là diễn đàn VHNT ra đời. Lúc mới thành lập, VHNT chỉ dự định như là một diễn đàn văn chương cho một nhóm nhỏ khoảng 5-10 người thôi, sau em thấy có vẻ cô đọng, bài vở ít, mà việc bàn luận cũng không đi đến đâu, nên em thay đổi chiều hướng. Phải có một ban điều hành chọn lọc những bài viết nhận được cho vào một điện thư, rồi gửi ra cho mọi người cùng đọc. Như vậy vừa có phẩm chất vừa tránh việc tranh cãi, hay đi ra ngoài đề tài văn học.”

Tất cả việc điều hành đều do một chương trình nhu liệu đã soạn sẵn, dùng cho việc điều hành và phát hành báo mỗi ngày. Nhu liệu này là một chương trình tự động lo việc giữ danh sách các độc giả, như là ghi danh độc giả mới, đổi địa chỉ cho độc giả, xóa địa chỉ độc giả, v.v. Ban điều hành gồm có một nhóm nhỏ làm việc khá gần gũi với nhau. Em là người nhận bài và chuyên lo về nội dung bài vở và phát hành báo, liên lạc, trả lời thắc mắc. Các mục văn học thường xuyên thì do một số độc giả cũng là thân hữu phụ một tay. Về phần kỹ thuật thì có các anh với ngành nghề chuyên môn phụ trách. Người lo phần trình bày trang trí Web Page, lo bảo trì thư viện điện tử, lưu trữ bài, trả lời các câu hỏi kỹ thuật cho độc giả. Báo gửi ra trung bình 4 lần một tuần, tùy theo số lượng bài vở, và cũng tùy theo thời khóa biểu của em. Em cần phải có đủ thì giờ để đọc và chọn lọc những bài gửi tới, trước khi gửi ra cho độc giả. Về việc nhận báo, bất cứ một ai có địa chỉ e-mail đều có thể gia nhập và nhận được báo gửi đến qua hình thức điện thư. Mỗi số báo trung bình gửi ra khoảng 40 ngàn chữ, nếu in ra giấy thì khoảng 30-40 trang. Độc giả có thể gửi bài về địa chỉ hộp thư VHNT, cũng qua hình thức một điện thư, nhưng bắt buộc phải dùng một hệ thống chữ Việt dùng trên Internet gọi là VIQR, tức là hệ thống đánh dấu chữ Việt dùng để hoán chuyển vào các nhu liệu tiếng Việt.”[29]

Có thể xem Phạm Chi Lan là người khởi xướng văn chương mạng Việt Nam vậy!

Bên cạnh Phạm Chi Lan, trong suốt thời gian hoạt động, còn có khá nhiều cây bút ở nhiều nơi khác nhau tham gia vào việc điều hành, hoặc trong ban biên tập, hoặc phụ trách vấn đề kỹ thuật: Phùng Nguyễn (California), Nguyễn Phước Nguyên (Texas), Sung Nguyễn (Virginia), Nguyễn Tiến Dũng (Florida), Trần Thái Vân (North Carolina), Việt Hoàng (Texas), Stephen Jones (Texas), Đoàn Nhã Văn (California), Trần Hoài Thư (New Jersey), Nguyễn Vy Khanh (Canada), Nguyễn Kỳ Phong (Washington DC), Đinh Yên Thảo (Texas), Nguyễn Phúc Đan Thanh (Hà Lan), Đinh Trường Chinh (Virginia), Trịnh Thanh Thủy (California), Phạm Thiên Mạc (Canada). Mọi thành viên phối hợp làm việc với nhau qua điện thư và các kỹ thuật nối kết từ xa (telnet, ftp… ). Cộng tác với tạp chí là nhiều cây bút quen thuộc trên văn đàn: Trần Trung Đạo, Trần Hoài Thư, Nguyễn Vy Khanh, Hồ Như, Nguyễn Tư Phương, Nguyễn Quốc Trụ, Thụy Khuê, Nguyễn Xuân Thiệp, Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc-Tuấn, Trần Kỳ Phong, Nguyễn Mạnh Trinh, Nguyễn Tấn Hưng, Trần Mộng Tú, Hà Huyền Chi, Nguyên Nhi, Nguyễn Nam An, Quan Dương, Lương Thư Trung, Nghiêu Minh, Nguyễn Trung Hối, Vương Trùng Dương, Tưởng Năng Tiến, Phạm Thị Hoài, vân vân.

Hầu hết tác giả cộng tác và độc giả của VHNT/LM là giới chuyên viên và sinh viên gốc Việt, làm việc với máy điện toán trong thời kỳ Internet đang bắt đầu phát triển. Để có chút khái niệm về thời gian, tưởng cũng cần nhắc lại: Yahoo chính thức hoạt động vào tháng 8/1995, một tháng sau VHNT/LM và Hotmail vào tháng 7/1996, một năm sau. VHNT/LM được phát hành dưới hình thức email gởi đến từng độc giả qua một danh sách email có sẵn, lúc đầu 3 ngày/tuần, sau, hàng ngày. Ngoài chuyện phổ biến đến độc giả, hình thức này còn có mục đích tạo cơ hội cho những cây bút trẻ gốc Việt chia sẻ những sáng tác của mình một cách rộng rãi, nhanh chóng và tân tiến. Theo Phùng Nguyễn, một trong những người lo phần kỹ thuật cho tạp chí, vào năm 1996, có khoảng 1.000 độc giả nhận được tạp chí qua email. Vào khoảng giữa năm 1997, VHNT/LM được đưa lên một trang mạng mới được thiết lập có tên là “saomai.org” (địa chỉ này hiện hoàn toàn mất dấu, thật đáng tiếc!), góp mặt cùng với sự xuất hiện một số trang mạng văn chương và báo chí tiếng Việt khác. Số độc giả ghi tên nhận báo vào lúc cao nhất đạt đến con số hơn mười ngàn (10.000).

Theo Lương Thư Trung, “Sở dĩ tạp chí VHNT/LM có nhiều người đọc và người viết như vậy vì nó đáp ứng được cái khao khát của người đọc và người viết, do nó mới mẻ, trẻ trung và trong sáng. Nội dung các bài viết của nó phù hợp với cái đói về các món ăn tinh thần của lớp người trẻ và nó cũng làm dịu đi nỗi lo không có người đọc của người già. Và người ta đọc VHNT/LM như một bắt gặp người khách bộ hành cùng đi với mình qua một cánh đồng trưa nắng gắt mà chung quanh toàn là những lung vũng bạt ngàn không tìm ra được một vũng nước mát trong ngần.”[30]

Dù chỉ là những cây bút trẻ, mới tập tễnh cầm bút, chỉ mong chia xẻ tâm tình cùng bạn bè đồng trang lứa, nhưng tạp chí đã xuất hiện những tác phẩm có giá trị văn chương, chẳng hạn như “Lời Ru Của Đá” của Lư Ngọc Dung, “Ba Mươi, Con Gái” của Trương Nguyễn Thị Thanh và “Con Đường Alcan” của Dương Hùng, cũng theo Lương Thư Trung. Cả ba tác phẩm này đều được Ban Biên Tập chọn in trong tuyển tập Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng số I, tháng 9 năm 1996. Ngoài tuyển tập liên mạng, Ban Biên Tập còn phát hành một số tuyển tập của một số các tác giả cộng tác khác như tập truyện ngắn “Con Gái Người Gác Đèn Biển” của nhà văn Nguyên Nhi, “Thơ Nguyễn Phước Nguyên”, các tuyển tập thơ của nhiều tác giả như “Gom Lại Những Vầng Trăng”, “Lan Ban”, “Giữa L&C”, “Vực và Gió” cùng một biên khảo, dịch thuật “Về Miền Sâu Thẳm của Đồng Vọng”. Ngoài ra, ban biên tập còn phát hành một tuyển tập thơ, “Dạo Khúc”, của nhà thơ Nguyễn Quang Tấn ở trong nước.

Giai đoạn thịnh thời của tạp chí kéo dài từ năm 1995 cho đến năm 2000. Số báo cuối cùng của VHNT/LM là số 562, ra ngày 5 tháng 5 năm 2004, đúng 10 năm sau khi ra đời. Nhận xét về tạp chí, nhà văn Đinh Yên Thảo, một trong những thành viên sáng lập, cho biết:

Một số người đã không nhắc đến VHNT/LM khi điểm lại các sinh hoạt nghệ thuật người Việt bởi không xem đó là một trang mạng văn học chính thống và trội bật đã từng xuất hiện. Họ cũng có lý do vì như bên trên chúng ta đã có dẫn qua, xu hướng của VHNT/LM là mở rộng đến giới trẻ gốc Việt, đăng cả những sáng tác đầu tay, hồn nhiên tuổi học trò của họ bên cạnh một số tác giả đã thành danh, không chấp nệ bất cứ điều gì. Nhưng mặt khác chúng ta khó chối bỏ rằng việc ra đời một trang mạng văn học nghệ thuật tiếng Việt đầu tiên và trẻ trung trong giai đoạn phôi thai của internet đã có một vị trí và vai trò đầy ý nghĩa trong việc phổ biến, cổ súy và gìn giữ văn hoá cùng ngôn ngữ Việt vào giai đoạn này. Nó là một cuộc flashmob tụ hội ngẫu nhiên, tươi vui, có ý nghĩa. Mà cần gì lớn lao hơn phải không anh, mọi chuyện đến rồi đi, có phải mỗi chúng ta đều mong muốn rằng chúng ta đã đến, hiện diện và đã “sống” qua một thời đam mê của mình? Điều mà Phạm Chi Lan đã làm được.”[31]

Một lời trách móc ý nhị!

Nói thì nói thế, thực ra, khá nhiều những “tay gõ” trong tạp chí này hiện đã và đang là những “tay gõ” thành danh trên văn đàn hải ngoại: Đoàn Nhã Văn, Đinh Trường Chinh, Trịnh Thanh Thủy, Thu Thuyền, Đinh Yên Thảo, Phùng Nguyễn, Lương Thư Trung, Thận Nhiên, Trần Hoài Thư, Nguyễn Vy Khanh…

- Talawas

Giấc mơ “hợp lưu” của Khánh Trường qua một tạp chí giấy, Hợp Lưu, được tiếp nối bởi một trang mạng, không phải chỉ văn chương không thôi, mà về nhiều lãnh vực khác nhau: văn hóa - xã hội - chính trị: Talawas. Do Phạm Thị Hoài sáng lập vào năm 2001 ở Berlin (Đức), Talawas được sự hỗ trợ của nhiều thành viên cả trong lẫn ngoài nước, tạo thành một ban biên tập hùng hậu, gồm: Bùi Duy Dzy, Cao Việt Dũng, Cổ Ngư, Dietmar Erdmann, Đào Tuấn, Đinh Bá Anh, Đỗ Kh., Hà Vũ Trọng, Hòa An, Hoài Phi, Hoàng Hưng, Hương Trà, La Thành, Lê An, Lê Trọng Phương, Lý Đợi, Mai Chi, Ngô Hải, Nguyễn Khánh Hưng, Nguyễn Phú Thịnh, Patrick Raszelenberg, Tiểu Hằng Ngôn, Trịnh Hữu Tuệ, Trương Hồng Quang, Vy Huyền.

Nếu “hợp lưu” của Khánh Trường nặng cảm tính, một cuộc vận động “xóa bỏ những vĩ tuyến 17 trong lòng mỗi người Việt Nam, ước mơ hợp lưu mọi tinh hoa của giống nòi, không phân biệt vị trí quá khứ [...] Nói gọn là, phải ý thức rằng, chúng ta, không chừa ai, đều là nạn nhân của một giai đoạn lịch sử, mãi mãi chúng ta sẽ còn trầm luân trong vũng lầy thù hận”, thì “hợp lưu” Phạm Thị Hoài rất “lý tính”, khẳng định một “lập trường” rạch ròi là “góp phần khiêm tốn của mình vào sự hình thành và phát triển một công luận độc lập, một ý thức tự do tư tưởng, một tập quán sinh hoạt tinh thần đa nguyên cho người Việt trong và ngoài nước” và “là một diễn đàn công dân, tự nguyện, phi thương mại, không phụ thuộc vào bất kì một tổ chức chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, tôn giáo nào.

Về văn học, Talawas có các phần: Thơ và thơ trẻ, Văn học Việt Nam, Văn học nước ngoài, Các giải thưởng văn học, Giải thưởng Bùi Giáng, Lý luận và phê bình văn học. Talawas chủ trương đối thoại về chủ đề văn học, và sưu tầm những tư liệu, tác phẩm, bài viết văn học văn chương của các tác giả trong nước, như của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Tự Lực Văn Đoàn ở miền Bắc, nhóm Sáng tạo ở miền Nam,... và trao đổi về các khuynh hướng văn chương từ Cổ thi đến Tân hình thức, các cuộc tranh luận văn học trên thế giới. Từ tháng 1 năm 2006, có thêm Talawas chủ nhật dành cho sáng tác văn học chọn lọc. Ngày 3 tháng 11 năm 2008, trang web “Talawas” chuyển sang Talawas blogTạp chí Talawas định kỳ. Nội dung chủ yếu của Talawas là chuyển tải thành tựu văn hóa thế giới và những thảo luận thời sự của trí thức quốc tế vào các tương quan Việt Nam. Talawas cũng là điểm gặp và cọ xát giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác.

Tôi là một trong những người cộng tác với Talawas ngay từ thời gian đầu tiên cho đến ngày nó đóng cửa, qua một số bài viết về văn hóa, xã hội và chính trị.

 Trương Hồng Quang - Lê Minh Hà - TDN - Phạm Thị Hoài (Berlin, Đức)

Trong suốt 9 năm hiện diện, Talawas là một sự kiện văn học và chính trị, một diễn đàn phong phú với đề tài đa dạng và được thảo luận một cách công khai với sự cộng tác của rất nhiều cây bút trong và ngoài nước, thuộc nhiều thế hệ và xu hướng chính trị khác nhau. Talawas đóng cửa vào tháng 11/2010. Toàn bộ kho lưu trữ bài vở của Talawas được bảo quản và duy trì trên mạng như “tài sản chung của cộng đồng mạng”.

Theo Trần Vũ, “Bằng hoàn cảnh sống, bằng những tham dự dấn thân, bằng thái độ sống, và đặc biệt bằng phong cách diễn đạt qua tác phẩm, Phạm Thị Hoài đã chiến thắng cụm từ Hải Ngoại-Trong Nước. Không ai dám nhận vơ Phạm Thị Hoài là nhà văn hải ngoại, và cũng thật khó khăn xếp Hoài vào nhà văn trong nước, khi Hoài sinh sống tại Bá Linh. Phạm Thị Hoài, một nhà văn Việt Nam, không trong, không ngoài.”

- Ăn Mày Văn Chương:

 http://amvc.free.fr/

Do Phan Huy Đường khởi xướng vào năm 2000. Sao gọi là “ăn mày văn chương”? Anh giải thích: “Ăn mày là khi xin người khác một điều gì và chỉ được toại nguyện khi người khác tự nguyện cho.” [...]… khi Tôi đọc văn của người khác, điều đầu tiên Tôi cố gắng làm là quét sạch kiến thức của Tôi để có thể đón nhận một con người khác Tôi, trong tư thế của một con người tự do, bình đẳng và trìu mến. Đó, với Tôi, là thái độ ăn mày văn chương. Và cũng chỉ là thái độ văn chương thôi. Còn phải viết sao cho hình thức với nội dung quyện lại thành một, biến thành văn phong trung thực của một con người, biến thành nghệ thuật.”

  TDN - Phan Huy Đường - Mai Ninh (Paris, Pháp)

Danh xưng đã khác thường, mà cách điều hành cũng… không giống ai. Trạm được điều hành bởi sáu thành viên: Mai Ninh (1950-2025), Miêng, Phạm Trọng Luật (tức Nguyễn Văn Khoa), Phan Huy Đường (1945-2019) ở Pháp, Nam Dao ở Canada, Trần Vũ/Chân Phương (1951-2020) ở Hoa Kỳ; mỗi thành viên hoàn toàn độc lập trong việc đưa bài của mình đồng thời chọn giới thiệu các tác phẩm của những tác giả mà mình ưa thích, lên mạng. Bài vở được cập nhật mỗi tháng một lần vào đầu tháng và được chuyển thẳng đến địa chỉ điện thư của độc giả. Trong gần 20 năm hiện diện, trang Ăn Mày Văn Chương đã công bố và lưu trữ một số lượng tác phẩm văn chương đủ loại khá lớn với nhiều tài liệu quý, hiếm. Sau khi người khởi xướng Phan Huy Đường đột ngột ra đi (10/2019), trang mạng đóng cửa; tháng cập nhật bài vở cuối cùng là 09/2019. Dù đóng cửa, nhưng Ăn Mày Văn Chương vẫn còn hiện diện, sẵn sàng cho những ai muốn truy cập.

Phan Huy Đường sinh năm 1945 tại Hà Nội, theo gia đình vào sinh sống ở Sài Gòn. Thuở nhỏ, anh theo học trường Pháp Jean-Jacques Rousseau. Năm 1963, anh được học bổng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cho đi Pháp du học. Chịu ảnh hưởng của trào lưu tả khuynh, anh gia nhập và trở thành một thành viên tích cực trong phong trào Liên Hiệp Việt Kiều, một tổ chức ủng hộ chính phủ cộng sản miền Bắc trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam. Tuy thế, sau 1975, anh trở thành nhà trí thức bất đồng chính kiến, bị nhà nước cộng sản cấm về nước. Anh bắt đầu tham gia vào chuyện viết lách khá muộn. Mãi đến sau năm 1985, khi mà ở trong nước đang chuyển qua giai đoạn đổi mới với sự xuất hiện của những cây bút phản kháng Phùng Gia Lộc, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, vân vân, anh mới bắt đầu cầm bút. Tác phẩm của anh khá nhiều và khá đa dạng: dịch thuật, biên khảo triết học, truyện ngắn, tiểu luận văn học và thơ. Về dịch thuật, anh đã dịch hơn 30 tác phẩm văn học Việt Nam, trong đó, có một số tác phẩm nổi tiếng của Dương Thu Hương: Vô đề, Những thiên đường mù, Bên kia bờ ảo vọng, Chốn vắng; hay Trần Vũ, Mùa mưa gai sắc; hay Pham Thị Hoài, Thiên sứ, vân vân.

- Diễn Đàn Forum

 https://www.diendan.org/

Do Nguyễn Ngọc Giao thành lập vào năm 1991, lúc đầu là báo giấy, đến năm 2006, chuyển sang báo mạng. Đây là một tạp chí tổng hợp đa dạng, bao gồm nhiều lãnh vực, từ văn hóa xã hội đến chính trị kinh tế, từ khoa học kỹ thuật, tôn giáo đến lịch sử và đời sống, với sự cộng tác của những tác giả thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau. Phần biên khảo và sáng tác văn chương khá dồi dào, đăng tải đủ loại sáng tác của các tác giả trong và ngoài nước: Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Tùng, Trần Hoàng Phố, Mạch Nha, Nguyễn Thị Hậu, Vũ Thư Hiên, Đỗ Quyên, Cổ Ngư, Ý Nhi, Tru Sa, Nguyễn Thị Kim Thoa, Như Quỳnh de Prelle, Chu Sơn, Cao Huy Thuần…

Nguyễn Ngọc Giao theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Năm 1958, ông đỗ thủ khoa tú tài, được trao “giải thưởng Ngô Tổng thống” và học bổng sang Pháp du học. Năm 1965, ông tham gia thành lập “Hội Liên Hiệp Sinh Viên Việt Nam” tại Pháp, mở đầu cho quá trình công khai hóa phong trào Việt kiều đã bị chính quyền Pháp cấm hoạt động từ năm 1959. Khi cuộc đàm phán Việt - Mỹ mở đầu tháng 5-1968 tại Paris, ông được Hội cử tới giúp phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, làm phiên dịch cho ông Nguyễn Thành Lê, phát ngôn viên của phái đoàn. Tuy vậy, sau biến cố 1975, ông thay đổi thái độ, nhất là khi khối Đông Âu sụp đổ. Năm 1990, ông vận động nhiều nhà trí thức trong phong trào Việt kiều thân cộng trước 1975 ở Tây Âu ký tên vào “Tâm Thư 1990”, kêu gọi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tiến hành cải cách chính trị, thành lập một chế độ dân chủ đa nguyên, tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do lập hội lập đảng, vân vân. Sau sự kiện này, tên ông bị nhà nước đưa vào viện bảo tàng “Chứng tích chiến tranh” và bị cấm về Việt Nam trong một thời gian dài.[32]

- Gió-O

 https://www.gio-o.com/

Gió-O là một trong vài trang mạng thuần túy văn chương xuất hiện đầu tiên vào năm 2001 ở hải ngoại và là trang mạng có tuổi thọ cao nhất của văn học tiếng Việt tính cho đến nay, cả ở hải ngoại lẫn trong nước.

Gió-O có nghĩa là “O làm Gió”, theo Lê Thị Huệ, người chủ trương, cho biết. Chữ O là biểu tượng một con chữ. Gió-O có nghĩa “Gió” của những con chữ mà “O” là một đại biểu thuận tiện bị tóm làm đại diện cho bầy chữ của chúng tôi. Với sự góp tay đầu tiên của Ngu Yên, Ngọc Phụng, Hoàng Huy Mạnh, Lệ-Liễu, Lai-Hồng, Đào Trung Đạo, Gió-O lôi kéo được sự cộng tác của nhiều cây bút hải ngoại như Đặng Phùng Quân, Nguyễn Xuân Thiệp, Túy Hồng, Trần Thị Lai-Hồng, Võ Đình, Hoàng Mai Đạt, Đoàn Nhã Văn, Thi Vũ, Hoàng Hải Thủy, Hoàng Xuân Sơn, Hồ Đình Nghiêm, Vũ Hoàng Thư, Trần Quý Phiệt, Hoàng Xuân Sơn, Phan Tấn Uẩn, Đỗ Trường, Trần Hạ Vi, Nguyễn Tà Cúc, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Trần Diệu Hằng… đồng thời thu hút nhiều người mới viết từ trong nước: Nguyễn Thế Hoàng Linh (Hà Nội), Tưởng Bình Minh (Sài Gòn), Nguyễn Kim Anh (Sài Gòn), Trần Thiên Thị (Đà Nẵng), Ngô Nhân Đước (Đà Nẵng), Trần Khiêm (Sài Gòn), Huy Hoàng (Ninh Bình), Minh Hà (Hà Nội), v.v., những cây viết chưa bao giờ gia nhập Hội Nhà Văn Việt Nam, theo Lê Thị Huệ. Cùng với Phạm Chi Lan (Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng) và Phạm Thị Hoài (Talawas), Lê Thị Huệ thuộc “giới nữ lưu đứng đầu tiên phong trong việc sử dụng internet để giao lưu văn học cùng đại chúng,” theo Vũ Hoàng Thư.

Nhân kỷ niệm 50 năm Văn Học Hải Ngoại 1975-2025, Gió-O thực hiện chủ đề “Tự Do Cùng Ngôn Ngữ” vinh danh 50 năm tiếng Việt hải ngoại với bài viết của nhiều tác giả hải ngoại, vừa phát hành trên mạng vừa in thành sách.

- Tiền Vệ

 https://tienve.org/

Tiền Vệ là tạp chí văn học mạng nghiêng về các khía cạnh lý thuyết đầu tiên ở hải ngoại vào năm 2002, do Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn chủ trương.[33] Đó là “một trung tâm văn học và nghệ thuật trên mạng lưới thông tin toàn cầu, với hai hoạt động chính là phổ biến các tác phẩm mới và tiến hành các cuộc tranh luận về văn học nghệ thuật. Mục đích chủ yếu của Tiền Vệ là nhằm góp phần xây dựng một khối Thịnh Vượng Chung của văn học nghệ thuật Việt Nam, nơi, bất chấp những dị biệt về địa lý và chính trị, mọi người có thể gặp gỡ nhau trong nỗ lực tìm tòi và thử nghiệm để trả công việc sáng tác trở về đúng nguyên nghĩa của nó: làm ra cái mới,” theo lời trình bày của Ban Biên Tập. Tạp chí mạng này là sự nối tiếp của của tạp chí giấy Việt do Nguyễn Hưng Quốc chủ trương từ năm 1998 đến 2001. Cả hai đều nhằm đến mục đích hô hào đổi mới, cổ vũ cho việc xây dựng một nền cộng hoà văn học. Vừa mới ra đời, cả hai đều gây khá nhiều sôi động trong dư luận văn chương. Trong nhiều năm, đó là tờ báo mạng duy nhất có bài vở được cập nhật hàng ngày.

TDN - Bùi Vĩnh Phúc - Nguyễn Hoàng Nam - chị Nguyễn Đức Tùng - Nguyễn Hưng Quốc - Nguyễn Đức Tùng - Phạm Phú Minh - Phùng Nguyễn. (Hội thảo Văn Học Miền Nam/Little Saigon, California)

Tồn tại trong không gian mạng, Tiền Vệ có hai đặc điểm nổi bật là: tính chất giải lãnh thổ hoá (deterritorised) và phi tâm hoá (decentred). Nó quy tụ nhiều cây bút ở trong cũng như ngoài nước. Nó được phổ biến rộng rãi ở bất cứ nơi đâu được kết nối với internet. Sau mười mấy năm hoạt động, Tiền Vệ giúp người viết cũng như người đọc làm quen với chủ nghĩa hậu hiện đại và một số cách nhìn mới về văn học. Nó cũng là kho lưu trữ hàng ngàn bài thơ, bài viết văn xuôi cũng như dịch thuật. Nhiều nhà văn và nhà thơ thú nhận nếu không có Tiền Vệ, sáng tác của họ sẽ không thể giống như họ đang là.

Tiền Vệ ngưng hoạt động từ năm 2019. Theo Nguyễn Hưng Quốc, thoạt đầu, Ban Biên tập tạm nghỉ ngơi một thời gian và sẽ hoạt động trở lại. Tuy nhiên, “Lý do là mọi người dường như không còn nhiệt hứng như lúc trước. Các cộng tác viên xa gần cũng rã rời. Rất hiếm người tiếp tục viết lách. Bài vở có chất lượng gửi về toà soạn hầu như không có.”

Dù ngưng hoạt động, tất cả bài vở trên Tiền Vệ (www.tienve.org) vẫn giữ nguyên, ai muốn đọc vẫn đọc được.

- Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

 https://vietpen.org/

Đây là một trang mạng phong phú, nơi lưu trữ tài liệu và sáng tác của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật từ thời Việt Nam Cộng Hòa. Có thư viện của văn bút, danh sách và sinh hoạt của các vùng văn bút và hội viên, những số Tam Cá Nguyệt San Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại… Tiền thân của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại là Hội Bút Việt (sau đổi thành Văn Bút Việt Nam) được Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế (PEN International Congress) lần thứ 29 tại Tokyo thâu nhận và chính thức có giấy phép hoạt động như một tổ chức văn hóa vào ngày 21-10-1957 tại Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hòa. Sau 30-4-1975 Văn Bút Việt Nam bị nhà nước Cộng sản Việt Nam khai tử. Đến năm 1978, ký giả Trần Tam Tiệp vận động tái thành lập “Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Lưu Vong”, sau đổi thành “Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại”, chính thức ra mắt vào ngày 25-6-1978 tại Paris, Pháp quốc. Năm sau (1979) Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại được Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế kỳ 44 thâu nhận. Từ ngày tái thành lập, VBHN trải qua nhiều đời chủ tịch: Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Văn Hảo, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Ngọc Ngạn, Trang Châu, Viên Linh, Phạm Quang Trình, Nguyễn Đăng Tuấn, Vũ Văn Tùng, Vịnh Thanh và hiện nay là Cung Thị Lan.

- Thế Kỷ Mới

 https://thekymoi.media/

Được thành lập từ tháng 9/2025, Thế Kỷ Mới (TKM) là một tạp chí tổng hợp (chính trị, văn hóa, xã hội, văn học nghệ thuật… ), kế tục Diễn Đàn Thế Kỷ (đóng cửa vào tháng 12/2023), trang mạng xuất hiện từ năm 2010 dưới sự điều hành của Phạm Phú Minh, sau chuyển sang cho Song Chi vào tháng 11/2022. Nhóm chủ trương Thế Kỷ Mới gồm có Song Chi, Thái Vĩnh Khiêm, Đào Nguyên Dạ Thảo, Nguyễn Văn Hưng, Phan Quang Cơ, Đinh Quang Anh Thái, Trần Huy Bích, Trùng Dương và Trần Mộng Tú. Song Chi, chủ biên, là nhà báo, nhà văn và cựu đạo diễn phim truyền hình. Là một người bất đồng chính kiến, chị được tổ chức “International Cities of Refuge Network” bảo trợ đến tị nạn chính trị ở Norway từ năm 2009, hiện cư trú tại thành phố Leeds, Anh.

Tuy mới ra đời, Thế Kỷ Mới hiện dang là một tạp chí mạng rất ăn khách. Được sự cộng tác của nhiều cây bút từ nhiều quốc gia khác nhau, kể cả trong nước, Thế Kỷ Mới cập nhật liên tục với nhiều bài viết đủ lãnh vực, đi rất sát với dòng thời sự thế giới, Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngoài các đề tài chính trị xã hội nóng hổi, phần văn học nghệ thuật của tạp chí cũng rất phong phú và da dạng, được cập nhật khá đều đặn, từ thơ, biên khảo cho đến truyện ngắn, tạp bút, bút ký, phiếm, vân vân. Trong số những cây bút viết về văn học nghệ thuật, ta thấy sự có mặt của Phạm Thị Hoài, Trần Mộng Tú, Ngu Yên, Trùng Dương, Trần Hoàng Phố, Nguyễn Phú Yên, Trần Doãn Nho, Uyên Nguyên, Song Thao, Nguyễn Lệ Uyên, Lê Chiều Giang, Ian Bùi, Lê Hữu, Từ Thức, Phan Tấn Uẩn, Phạm Đình Trọng, Ngô Nguyên Dũng, Phạm Tín An Ninh…

- Da Màu

 https://damau.org/

Da Màu được thành lập vào tháng 8/2006 gồm ba sáng lập viên: Phùng Nguyễn, Đặng Thơ Thơ và Đỗ Lê Anh Đào. Ban Biên Tập hiện nay gồm có: Đặng Thơ Thơ (chủ biên), Lưu Diệu Vân, Hoàng Chính, Nguyễn Hoàng Nam, Đinh Từ Bích Thúy, Đỗ Lê Anh Đào, Trần C. Trí, Lê Đình Nhất Lang và Trần Doãn Nho là thành viên phụ trách chuyên đề và thực hiện các cuộc phỏng vấn văn học.

TDN - Phùng Nguyễn - Trịnh Thanh Thuỷ - Nguyễn Hoàng Nam - Hồ Như - Đặng Thơ Thơ - Paulina Đàm - Đinh Từ Bích Thuý (hình chụp tại Hội Thảo Văn Học Miền Nam 2014 - trụ sở Việt Báo)

 Phùng Nguyễn - Đinh Từ Bích Thuý - Apollo Robbins - Lê Đình Nhất Lang - Trần Doãn Nho - Hồ Như - Đỗ Lê Anh Đào – Đặng Thơ Thơ (hình chụp tại studio của Paulina Đàm)

Trừ Trần Doãn Nho và Phùng Nguyễn, tất cả thành viên của Da Màu đều là những cây bút thuộc thế hệ “một rưởi” (11/2), bắt đầu “gõ chữ” ở hải ngoại, am hiểu và thấm nhuần cả hai nền văn hóa Việt-Mỹ, làm việc trong tinh thần tập thể, dân chủ và không kỳ thị. Trong suốt gần 20 năm hiện diện tính cho đến thời điểm này (2026), Da Màu hoàn toàn theo đúng chủ trương đã đề ra ngay từ lúc thành lập: “Màu da, ngôn ngữ, văn hóa, giới tính, định hướng tính dục, tín ngưỡng là những biên giới trong văn chương. Lịch sử cá nhân, ý thức hệ và chính kiến là biên giới. Trong nước, ngoài nước, chính thống, ngoại vi cũng là biên giới. Những quan niệm thẩm mỹ khác biệt cũng là biên giới. Những áp đặt hay thiên kiến cũng là biên giới. Da Màu không chấp nhận bất cứ biên giới nào, trừ biên giới cuối cùng giữa văn chương và phi văn chương [...] Tác phẩm xuất hiện trên tạp chí Da Màu không nhất thiết phản ánh quan điểm của toàn ban biên tập. Da Màu giữ độc lập về quan niệm thẩm mỹ nhưng không áp đặt ý kiến cá nhân lên người viết và người đọc, cũng không loại trừ những quan niệm thẩm mỹ khác mình.”

Hầu hết các sáng tác và biên khảo của tôi đều xuất hiện trên Da Màu.

 

- Vuông chiếu Luân Hoán

 https://www.luanhoan.net/

Vuông chiếu Luân Hoán là một trang mạng ra đời khá sớm, đầu năm 1999, và hoạt động liên tục cho đến tháng 8/2024 thì ngừng cập nhật bài vở. Gần 25 năm. Tuy là một trang mạng cá nhân, nhưng lại được chủ nhân, nhà thơ Luân Hoán, biến thành một dạng như tạp chí, hay đúng hơn, một kho tài liệu văn chương nghệ thuật. Ngoài phần “Góc Luân Hoán”, nơi lưu trữ những tác phẩm của Luân Hoán (thơ, hồi ký, nhạc phổ thơ, ảnh kỷ niệm, những bài viết về Luân Hoán), còn có phần “Sưu Tập” và “Trang Bài Mới” rất phong phú, nơi ta tìm thấy rất nhiều tin tức văn học nghệ thuật, tài liệu văn học, tiểu sử và tác phẩm của nhiều tác giả từ nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học nghệ thuật cho đến các nhạc sĩ sáng tác, điêu khắc gia, họa sĩ, trong cũng như ngoài nước, từ thời tiền chiến đến Văn Học Miền Nam (1954-1975) và văn học hải ngoại. Ngoài ra, đây cũng là nơi giới thiệu các tác phẩm mới và phổ biến sáng tác của bạn văn, do bạn đọc gửi đến hay do Luân Hoán sưu tập, được sắp xếp theo từng năm.

Luân Hoán là một nhà thơ thuộc Văn Học Miền Nam, làm thơ rất sớm. Anh có thơ đăng trên nhiều tạp chí văn học trước 1975 như Tuổi Xanh, Gió Mới, Thời Nay, Mai, Bách Khoa, Văn Học, Ngàn Khơi, Kỷ Nguyên Mới, Ðối Diện, Bộ Binh, và sau 1975 ở hải ngoại như Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Nhân Văn, Thời Tập, Khởi Hành, Phố Văn, Chủ Ðề, Việt Báo, Hồn Quê...

 

- Thụy Khuê

 http://thuykhue.free.fr/

Thụy Khuê là một nhà báo, nhà biên khảo và phê bình văn học. Chị được biết tới nhiều, khi phụ trách chương trình “Văn học Nghệ thuật” của đài Phát thanh Quốc tế Pháp RFI (Radio France Internationale) từ tháng 12/1990 cho đến tháng 3/2009. Tuy là cá nhân, nhưng trang Thụy Khuê không khác gì một tạp chí văn học nghệ thuật (và lịch sử), nơi chứa đựng rất nhiều tài liệu văn chương Việt Nam và nước ngoài, qua/dưới dạng những cuộc phỏng vấn, nghiên cứu, bình luận, phân tích, tạp bút, bút ký, hoặc để đọc (bài viết) hoặc để nghe (các chương trình phát thanh). Bên cạnh những bài biên khảo văn chương nghệ thuật và lịch sử, với hàng chục biên khảo và nghiên cứu về phong trào Tự Lực Văn Đoàn, trang Thụy Khuê còn giới thiệu tác giả và tác phẩm của hàng trăm văn nghệ sĩ (thi ca, âm nhạc, hội họa… ) từ thời tiền chiến, phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, văn học miền Bắc, văn học miền Nam và văn học hải ngoại. Rất nhiều tác giả và tác phẩm được Thụy Khuê giới thiệu, phân tích một cách khá cặn kẽ, từ Hồ Biểu Chánh, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Nguyên Sa… cho đến Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Lê Bá Đãng, Lê Phổ, Lê Thị Lựu, rồi Mai Ninh, Nguyễn Ngọc Tư, Tru Sa, Nguyễn Bình Phương, Tuý Hồng, Văn Cao, Đỗ Hoàng Diệu… Ngoài ra, còn có bút ký Thụy Khuê: Quê hương ngày trở lại, ghi lại cảm giác và cảm nghĩ của một người rời xa xứ sở từ năm 1962, quay trở về thăm viếng cả thảy năm lần, một, trước 1975 (1974) và bốn, sau 1975 (1984, 1993, 1997 và 2017).

TDN - Thụy Khuê - Trần Thiện Đạo - Trần Vũ (Paris, Pháp)

- Ngu Yên

 https://independent.academia.edu/TienNguyen228

Ngu Yên không có trang mạng riêng. Tất cả bài vở của anh được đưa vào Academia.edu, một nền tảng trực tuyến, do Richard Price sáng lập vào năm 2008, nơi các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên có thể đăng tải, theo dõi, trao đổi và chia sẻ các công trình khoa học, cũng như các bài nghiên cứu học thuật.

Ngu Yên là một trong những cây bút đam mê văn chương, làm việc liên tục, bền bỉ với một khả năng hết sức đa dạng, bao trùm nhiều lãnh vực khác nhau. Anh sáng tác (thơ, văn, nhạc), dịch thuật tài liệu, viết biên khảo (văn học nghệ thuật, triết lý, âm nhạc, nhiếp ảnh, kịch nghệ), thực hiện Tạp Chí Đọc Và Viết, Tam Cá Nguyệt, một tạp chí văn chương định kỳ. Ngoài một số phát hành bằng sách in, tất cả các tác phẩm của anh đều được công bố trên Academia.edu.

Tổng cộng, theo cập nhật mới nhất do anh cung cấp vào tháng 12/2025, anh có “tất cả 330 tác phẩm đủ loại gồm: 70 tiểu luận, 48 Văn chương thế giới, 87 sáng tác thơ, truyện, luận, 11 Kịch nghệ, 30 Nghiên cứu dịch thuật, 26 tạp chí, 5 Tác Phẩm và Tác Giả, 52 cuốn sách.” Không chỉ chừng đó. Kể từ đó đến nay (tháng 4/2026), độc giả (trong đó có tôi) vẫn đều đều nhận được các bài viết mới đủ loại của anh chuyển qua điện thư, với một số lượng đáng kinh ngạc. Thành thật mà nói, nhiều quá, đọc không xuể!

Để có khái niệm về công trình viết lách của anh, xin nêu một số tác phẩm tiêu biểu về lãnh vực biên khảo và dịch thuật mà anh đã thực hiện:

- Biên khảo văn chương (12 bài): Sáng tạo và nguyên bản, Những khái niệm định danh thời đương đại, Metamodermism: Chủ nghĩa kết hợp hiện đại, Phong thái truyền đạt văn chương hậu hiện đại, Chủ nghĩa mô phỏng hiện thực, Truyện ngắn ý thức và cảm nhận, Sáng tác phản xạ, Tính truyện trong thơ, Tìm hiểu bản sắc thơ, Kinh nghiệm và phẩm chất ngôn ngữ thơ, Học thuyết hậu hiện đại, Thơ tái tạo. Giải thuyết và thực hành.

- Biên khảo về vấn đề dịch thuật (9 bài): Ý về dịch nghĩ về thuật, Nghiên cứu quá trình dịch thuật, Dịch thuật và thế kỷ 21, Dịch văn xuôi, Dịch thuật và giải cấu trúc, Dịch thuật và phẩm chất, Dịch thuật: sự phát triển lý thuyết, Dịch thuật và ký hiệu học, Dịch thuật: những lý thuyết đương đại.

- Biên khảo kịch nghệ (4 bài): Sân khấu thế kỷ 21, Kịch đương đại: định nghĩa và khuynh hướng, Kịch đương đại nhà hát tân thời (3 kỳ), Sự thành hình và phát triển của kịch hiện đại.

- Dịch thuật văn chương (8 bài): Văn chương là gì? (Terry Eagleton ), Phê bình phân tâm học (Lois Tyson), Đêm trung thực và đức hạnh (Trường ca của Louis Glück), Tuyển tập thơ thế giới, Tuyển tập truyện ngắn thế giới, Bảy đứa trẻ Do Thái. Vở kịch cho Gaza, Cô đơn cánh chim biển (thơ Peter McDonald), Tuyển tập truyện ngắn thế giới (5 tập).

- Giới thiệu (3 bài): Giới thiệu sơ lược văn chương Châu Mỹ La tinh, Gabriel Garcis Marquez. Hóa Ảo hiện thực (Magic Realism), Cao Đông Khánh, niềm khát vọng và nỗi mơ hồ.

- Sách phát hành: Lý thuyết văn học Tây phương và thực hành phê bình (bốn cuốn, cuốn 1: 618 trang; cuốn 2: 799 trang, cuốn 3: 740 trang), Thực hành các lý thuyết sáng tác (hai cuốn), Thực hành các lý thuyết sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết (1370 trang).

- Sách bỏ túi (9 bài): Chủ nghĩa văn học thế kỷ 21, Từ quốc tế đến công lý toàn cầu (dịch Chris Brown), Truyện hậu hiện đại: lý thuyết và thực hành, Martin Heidegger: Góp nhặt, dịch và giới thiệu, Chủ nghĩa hậu cấu trúc (dịch Terry Eagleton), Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân bản (dịch Jean-Paul Sartre), Thượng đế đã chết (dịch Martin Heidegger ), Khái niệm và lý thuyết chính trị (dịch Andrew Heywood), Chủ nghĩa dân tộc (dịch David Miller).

Mới chỉ là một số thôi, và còn nhiều nữa…

Quả là một khối kiến thức phong phú, đa dạng và mới mẻ! Tất cả những tài liệu này đều có thể tìm thấy ở: https://independent.academia.edu/TienNguyen228

Nguyễn Trọng Khôi – TDN - Ngu Yên - Đinh Yên Thảo - Nguyễn Xuân Thiệp - Thận Nhiên (Dallas, Texas)

Chỉ đọc lướt qua số lượng những bài viết được liệt kê trên, ta sẽ thấy khả năng làm việc liên tục cũng như tấm lòng của Ngu Yên đối với văn học. Những tài liệu về đủ các trào lưu và khuynh hướng văn học nghệ thuật phương Tây hiện đại mà anh cập nhật, tôi tin, sẽ giúp những người nghiên cứu văn chương cũng như các nhà văn, nhà thơ – nhất là những người chưa rành ngoại ngữ – tiết kiệm được rất nhiều thời gian trong việc biên soạn, sáng tác và nhất là “làm mới” văn chương Việt, một trong những kỳ vọng lớn lao của anh.

Lê Thị Huệ đặt cho Ngu Yên một biệt danh, nghe khá ngộ nghĩnh: “người tạo tiếng động”.

Riêng tôi, tôi thích gọi Ngu Yên là “người say chữ”.

Và nhiều trang mạng khác:

- Vấn và Bạn Hữu, âm nhạc và văn chương: https://t-van.net/

- Trần Thị Nguyệt Mai: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/

- Phố Văn: https://phovanblog.blogspot.com/

- Học Xá: http://www.hocxa.com/

- Phạm Cao Hoàng: https://www.phamcaohoang.com/ (đình chỉ từ 12/2025)

- Tạp chí Văn Phong: https://vanphongtapchi.blogspot.com/

- Đàn Chim Việt: https://www.danchimviet.info/

- Sáng Tạo: https://sangtao.org/2021/03/27/thong-bao-ngung-cap-nhat-bai-vo-sang-tao-vo-thoi-han-tu-27-3-2021/ (đình chỉ từ tháng 3/2021)

- Trần Huy Bích - Trần Từ Mai: https://tranhuybich.blogspot.com/p/tu-mai.html

vân vân.

Mỗi trang mạng có những điểm đặc sắc riêng của mình. Do bài viết đã quá dài, nên tôi tiếc là không thể giới thiệu hết những trang vừa liệt kê này. Xin thành thật cáo lỗi cùng quý tạp chí.

[1] Nguyễn Mộng Giác, Nhìn lại một năm Văn chương hải ngoại (1995)

https://vietpen.org/nhin-lai-mot-nam-van-chuong-hai-ngoai-nguyen-mong-giac/

[2] Dã Tượng, Nguyên Ngọc: Văn học, nội lực, trong-ngoài, và… Vài tra vấn với nhà văn Nguyên Ngọc.

https://vanviet.info/tu-lieu/nguyn-ngoc-van-hoc-noi-luc-trong-ngoi-v/

[3] Jane Katz, Artists in Exile, American Odyssey, Stein & Day Publishers, NY 1983. Bản dịch Ngô Thế Vinh, “Những Nghệ sĩ Lưu vong, Hành trình tới Mỹ Quốc”. Bài đã dẫn (xem chú thích số 13).

[4] Dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc, “Tuyển tập Hai mươi năm văn học Việt nam hải ngoại 1975-1995”, Đại Nam, California, 1995, Tập 1.

[5] Dẫn theo Thụy Khuê, Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000

http://thuykhue.free.fr/stt/v/tiepcan.html

[6] Đỗ Quyên, Chỉ là đợt thử mắt bên phải (Góp ý với hội thảo về văn học hải ngoại, Quận Cam, California, 1/2007)

https://damau.org/13975/chi-la-dot-thu-mat-ben-phai

[7] Mai Kim Ngọc, Vài cảm nghĩ về văn học hải ngại // Tạp chí Văn học (California). 1995, số 109.

[8] Nguyễn Hưng Quốc

https://damau.org/102979/hai-muoi-nam-van-hoc-viet-nam-o-hai-ngoai

[9] Thụy Khuê, bđd.

[10] Bùi Vĩnh Phúc, Nhớ Nguyễn Mộng Giác. Và tưởng nhớ một thời văn

https://damau.org/25460/nho-nguyen-mong-giac-va-tuong-nho-mot-thoi-van

[11] Xem Nguyễn Vy Khanh, Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại, tiểu mục “50 năm báo chí hải ngoại” (từ trang 646-711))

[12] Maria L. La Ganga, Typing in Tongues: Software Lets Users of Conventional Word Processors Write in Any of 23 Languages

https://www.latimes.com/archives/la-xpm-1989-06-16-fi-2232-story.html

[13] Xem: Thi Nguyễn, Gõ tiếng Việt, Phần 2: Người Việt xa xứ, Unicode và Sự phổ biến của Unikey

Gõ tiếng Việt, Phần 2: Người Việt xa xứ, Unicode và Sự phổ biến của Unikey - Sài·gòn·eer

[14] Xem Thanh Phong, Lịch sử Little Saigon.

https://viendongonline.com/article/lich-su-little-saigon-nam-california-RgwKHFcr.html

[15] Vietn(am)-America: từ ngữ mà Trangdai tạo ra để chỉ cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

[16] Trangdai Glassey-Tranguyen, Articulating Refug-endity in VietnAmerica and the Diasporas 1975-2015: From Ethnic Autonomy to Global Visibility, Journal of Environmental Psychology. Xem: https://www.jstor.org/stable/pdf/48683978.pdf

[17] Xem ở: https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0272494400901701

[18] Trừ một số nhỏ các nhà văn: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng hay lứa nhà văn nhà thơ nổi tiếng thời thập niên 1970 như Nguyễn Bắc Sơn, Cao Thoại Châu, Lê Văn Trung, Trần Dzạ Lữ, Nguyễn Lệ Uyên…

[19] Trangdai Glassey-Tranguyen, bđd.

[20] Phạm Thị Hoài, “Gốc”, ProContra

https://www.procontra.asia/?p=6451

[21] Nguyễn Hưng Quốc, Văn học hải ngoại, phi tâm hóa (VOA)

https://www.voatiengviet.com/a/van-hoc-hai-ngoai-phi-tam-hoa-12-17-10-112089049/890572.html

[22]Lưu ý: Little Saigon, một khu vực bao gồm các thành phố Westminster, Garden Grove, Fountain Valley, and Santa Ana, chỉ là một phần nhỏ thuộc Quận Cam (Orange County), tiểu bang California, nơi có cộng đồng người Việt đông đúc nhất ngoài Việt Nam. Người Việt thường thích gọi tắt tiểu bang California là “Cali” và dùng lẫn lộn giữa Little Saigon và Quận Cam. Khi một ai đó nói: “Tôi đi Quận Cam”, có nghĩa là “Tôi đi Little Saigon” hay ngược lại. Ngoài Little Saigon, thuộc vùng “Nam Cali”, một khu vực khác cũng đông người Việt không kém, đó là San Jose, cách Little Saigon khoảng 6 tiếng lái xe và Sacramento (thủ phủ của bang California) thuộc vùng “Bắc Cali”.

[23] Liễu Trương, Các nhà văn nữ ở Paris

http://www.hocxa.com/VanHoc/TacGia/CacNhaVanNuVietNamOPhap_LieuTruong.php

[24] Phát biểu của Ái Điểu. Xem:

https://vandoanviet.blogspot.com/search/label/%C3%81i%20%C4%90i%E1%BB%83u

[25] Trần Doãn Nho, Vài cảm nghĩ về truyện ngắn của một cây bút mới: Ái Điểu

https://thekymoi.media/tran-doan-nho-vai-cam-nghi-ve-truyen-ngan-cua-mot-cay-but-moi-ai-dieu-20666/

[26] Ái Điểu, https://t-van.net/ai-dieu-mui-cua-mien-nhan-gian-tap-truyen/

[27] Đinh Từ Bích Thúy, Văn chương mạng

https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/LiteratureOnTheNetInterviewDinhTuBichThuy_MThuy-20070415.html

[28] Ngu Yên, Tóm lược 50 năm văn học Việt nhập cư 1975-2025,

https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/tom-luoc-50-nam-van-hoc-viet-nhap-cu-1975-2025-ky-1/

[29] Thụy Khuê, RFI phỏng vấn Phạm Chi Lan, chủ biên tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng

https://damau.org/9009/rfi-phong-van-pham-chi-lan-chu-bien-tap-chi-van-hoc-nghe-thuat-lien-mang

[30] Lương Thư Trung, Một thoáng nhớ về Phạm Chi Lan với tạp chí “VHNT/LM” và nhóm “Ô Thước”

https://damau.org/8885/mot-thoang-nho-ve-pham-chi-lan-voi-tap-chi-van-hoc-nghe-thuat-lien-mang-va-nhom-o-thuoc

[31] Lương Thư Trung, Trò chuyện cùng Đinh Yên Thảo về tạp chí Văn học Nghệ Thuật Liên Mạng và diễn đàn Ô Thước

https://damau.org/21165/mot-thoi-dam-me-tro-chuyen-cung-dinh-yen-thao-ve-tap-chi-van-hoc-nghe-thuat-lien-mang-va-dien-dan-o-thuoc

[32] Xem: https://rosetta.vn/short/2019/07/22/tam-thu-dien-dan-forum/

[33] Xin lưu ý: Hoàng Ngọc-Tuấn ở đây (có dấu gạch ngang giữa hai chữ Ngọc và Tuấn), không phải là Hoàng Ngọc Tuấn (không có dấu gạch ngang), một nhà văn khác, nổi tiếng từ trước 1975, tác giả của Cô bé treo mùng, Thư về đường sơn cúc