Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Vũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Vũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021

Vĩnh Yên 1973

Truyện Trần Vũ

Vào sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu lên ti-vi chính thức công bố Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết, mấy chục triệu người dân miền Nam đều khấp khởi mừng. Họ tin rằng chiến tranh sắp chấm dứt, nhà nhà sẽ thoát cảnh chết chóc/thoát cảnh phải bắn người hoặc bị người bắn… Hiểu rõ chiến tranh bằng mạng sống của chính mình và những người chung quanh, họ đã tin rằng từ nay sẽ có hòa bình, sẽ được sống đúng như mơ ước, không còn phải đớn đau chia biệt người thân và gần như bị tuyên án tử khi phải nhận về một xác chết…

Giờ đây, 48 năm sau ngày ký kết Hiệp định Paris, ai trong chúng ta có thể trả lời câu hỏi: Có đúng là chiến tranh đã thực sự chấm dứt từ sau tháng 1/1973… hay sau tháng Tư 1975…?!

Truyện ngắn của Trần Vũ không chỉ là một câu hỏi…

VĂN VIỆT

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020

Nhật ký Corona Venezia

Ghi chép Trần Vũ
Xin chúc mừng nhà văn Trần Vũ và vợ - nhà văn Vũ Thị Thanh Mai, hai người đã thắng trong “cuộc chiến” chống lại dịch COVID-19/Corona Vũ Hán đang xâm chiếm nước Mỹ.
Xin đăng kèm email Trần Vũ gởi cho BBT Văn Việt, vẫn đầy chất hài hước lạc quan vốn-sẵn-tính-trời của Trần Vũ,
VĂN VIỆT:
Chị Cúc với chị Nhi có sao không? Hy vọng hai chị bình an, khỏe mạnh giữa mùa dịch. Tình yêu thời dịch tả nhưng không thấy tình yêu đâu, chỉ thấy sợ hãi. 
Cách đây ba tuần, Vũ với Thanh Mai bị nhiễm virus do cô em dâu lây. Các triệu chứng y như báo chí mô tả. May nhà có trụ sinh trị viêm phổi cấp tính. Sau 1 tuần xông hơi liên tục với gừng, lá chanh, sả, tỏi và dầu nóng thì qua được. Khác suyễn là mình không thở khò khè, khác sưng phổi do nhiễm lạnh là không có đờm trong cuống phổi, chỉ ho khan và đau cổ họng. Nhưng Vũ với Thanh Mai bị nhẹ, không sốt, chỉ lạnh, buồn nôn và nhức đầu kinh khủng. Khó thở, tức ngực như có ai lấy hai đầu gối đè lên ngực mình và khi mình thiếu không khí, phải hít sâu thì rêm phổi như bị ai đấm vào lưng ê ẩm. Nhưng đã qua, đã bình phục. Cơ thể tự chống lại được và cũng nhờ trụ sinh Cefpodoxime. Sau ba ngày tiếp xúc với cô em dâu thì có triệu chứng, sau 5 ngày là thấy mệt, nhưng sau hai tuần thì hết.
Bên Hoa Kỳ thì mỗi ngày chết 2.500 người từ suốt tuần nay…
…Con gái ở Cali làm y tá, trong dưỡng đường đã có 5 bệnh nhân nhiễm và 3 y tá bị lây, phải chuyển lên nhà thương trên tỉnh ở Los Angeles. Cô bé nói không làm ở tầng bị nhiễm, nhưng lo cho con đến mất ngủ.
Vũ có viết nhật ký Corona. Chị Nhi với chị Cúc đọc cho vui. Theo trường phái Chuyển đổi Hiện thực Transréalisme nên Vũ chuyển câu chuyện sang Venise. Nếu chị Cúc thấy ok thì đăng. Có lẽ Venise là thành phố đẹp nhất Âu châu. Kiến trúc làm mình say.
Chị Nhi với chị Cúc giữ gìn sức khỏe và cẩn thận, đừng ra ngoài nhiều lúc này và... không cho ai hôn môi. Yêu đương đợi qua cách ly.
TV
----------------------------------------
Giấc ba giờ chiều ở San Marco. Cơn sốt trong huyết quản và trên mặt đường phố. Người ta chạy ngược chiều với những túi giấy và bao tải. Con gái hốt hoảng vì không giành được giấy vệ sinh. Tôi thủ con dao nhỏ vẫn dùng thái hành. Tôi bước ra cửa với ý nghĩ lạ lùng là mình sẵn sàng giết người vì một cuộn giấy. Trí óc tỉnh táo quá độ vẫn không ngăn tôi chọn một mặt người giữa đám đông đang khuân vác chạy trên đường. Tôi ước lượng sức vóc của từng cơ thể, phản ứng và cả tiếng rú của người đàn bà… Giấc mơ làm ướt đẫm mồ hôi. Giấc mơ gây khó chịu vì chật cứng những gương mặt của những tuần trước. Tất cả đã bắt đầu bằng giấy vệ sinh.
Sáng nay trên lan can đối diện, ai đó đã thắp một cây nến nhỏ. Lập tức nhiều tim nến đốt lên bên trên các bệ cửa sổ. Là cách cư dân trong xóm cùng đưa ma. Đã từ lâu không còn đám tang mà chỉ một thông báo vắn tắt từ bệnh viện rồi tro gửi đến. Những thân bạch lạp cháy lặng lẽ yên tĩnh như muốn đánh tráo nỗi sợ hãi trong lòng chúng tôi bằng sự vô giác. Chúng tôi thắp thêm một giờ nữa rồi tắt, vì cũng phải để dành nến cho những thương xót khác.
Tuần lễ thứ ba. Mỗi gia đình chỉ được phép cho một người ra khỏi nhà đi lấy thực phẩm. Những chiếc đuôi dài ngoằng thậm thượt vì phải giữ khoảng cách hai thước giữa mỗi cá nhân và chỉ vài người được vào hiệu tạp hóa cho đến khi họ trở ra, mới đến phiên vài người khác. Phải suy nghĩ và chọn thật nhanh những gì cần thiết vì mỗi người chỉ được lấy vài món. Giữa pâté với xúc xích, tôi chọn xúc xích vì xúc xích có thể cắt thật mỏng rồi ngậm lâu trong miệng trong khi vài thìa pâté là hết. Cũng vậy, giữa cá hồi xông khói với cá mòi hộp không nên do dự. Tôi lấy thêm túi mì ống với cà chua. Bên ngoài cảnh sát che mặt kiểm soát trật tự và giữ an ninh cho không rối loạn. Chúng tôi có an toàn không? Có. Một an toàn ngoài da trong lúc hai lá phổi bị đục ruỗng. Một tiếng ho húng hắn bất chợt làm tất cả mọi người run bắn, tôi lẹ chân bước ra không kịp lấy ớt khô.
Để ra ngoài, tôi đã phải tải xuống và điền bản "tự khai" của mình rồi gửi ngược cho ty cảnh sát qua trực tuyến, cho biết tường tận đường đi, điểm đến, cùng với lý do (vô cùng quan trọng) vì sao phải đến đó, để sau duyệt xét được cấp phép đi đường. Thông hành Corona có giá trị một lần, có thể bị thu hồi ở những chốt chặn kiểm soát. Có nghĩa, sẽ phải quay về nhà ngay tức khắc. Tôi ngắm nghía thông hành của mình dưới mặt kính điện thoại. File pdf cũng truyền qua không khí, từ Sở Hiến binh Polizia di Stato vào đến mỗi nhà, đến từng cá nhân, y như virus. Làm sao người ta có thể sáng chế ra những thứ tinh vi như vi trùng mà không làm ra đủ khẩu trang? Venezia đã chịu phong tỏa mười tám hay hai mươi tám ngày rồi? Một tuần giam hãm là không nhiều nhưng một tháng làm con người mất phương hướng. Phải học cách sống sót mà không cần hôn ai, không cần uống cocktail Spritz với hạnh nhân và ô-liu xanh (các quán bar và cà-phê đã đóng cửa từ thứ ba Mardi Gras), không còn nhà hàng, không còn thăm viếng, không hẹn trước, cũng không còn giờ làm việc... Tránh bi quan và tránh nhìn các bản tin Hàng không vì sẽ không có thêm chuyến bay nào nữa. Là phong tỏa. Tôi chỉ mới khám phá chữ này vài tuần trước. Mới đây chúng tôi hãy còn ngồi quán, tán tỉnh lẫn nhau và chế diễu cơn sốt da vàng. Vậy mà cảm giác đã hằng thế kỷ hay ít nhất đằng đẵng nhiều thập niên. Có phải thời gian kéo dài khi con người chờ đợi. Nhưng chờ gì? Hết dịch? Khi nào? Không ai biết. Nhưng tôi đã viết gì… Không lẽ trí óc tự động phóng đại? Hay chính thời gian quá lâu làm con người mất hết khả năng định vị? Không, chỉ mới ba tuần. Chưa lâu. Nhưng vì sao ngón tay nhẩn nha quanh chữ thế kỷ rồi tiếp tục gõ hai chữ thập niên? Vì đầu óc con người thất lạc một khi không thể xác lập tương lai? Không còn bất kỳ schedule nào nữa. Không một chương trình cho nay mai, ngày mốt, ngày sau, tuần sau tháng sau... Không lịch trình khả dĩ. Ngay cả hạnh phúc trù bị hay sung sướng ngẫu nhiên cũng phụ thuộc vào lệnh giới nghiêm. Phong tỏa, tuy chưa hẳn giam cầm nhưng đã là tước đoạt và càng thêm mất mát khi bàn chân của kẻ chịu cách ly chưa thật sự bị chặt đứt, nên hắn vẫn thèm khát.
Tính nhẩm trong đầu những ngày còn lại. Trên lý thuyết là vài tuần nữa. Chính trị gia không ngớt lặp lại sẽ giảm ngăn cấm từng bước. Liệu có gia hạn phong tỏa hay không? Không ai rõ. Đã xảy ra rất nhanh. Chuyển từ trấn an sang khẩn cấp chỉ mười hôm. Chính quyền như con rối, nói dối và chỉnh sửa, để cuối cùng không ai còn tin vào gì nữa.
Ban đầu là các hiệu bánh. Thợ nướng bánh phục vụ với găng tay phẫu thuật. Rồi ở chợ lồng Rialto, những người bán rau quả mang dáng dấp trầm trọng của một y tá trưởng. Khách hàng rửa tay bằng thuốc khử trùng ngay sau khi trả tiền.Tin tức lặp đi lặp lại những lời khuyên như một concerto Opera dai dẳng mà vũ công với thanh điệu và cách múa không thay đổi. Mấy hôm sau dân Venezia hãy còn cười mũi, điện thoại còn réo vang ồn ĩ những sảng khoái vì đã hết du khách. Sung sướng làm sao khi Venezia mỹ lệ trả về cho cư dân. Đã hết những du thuyền khổng lồ đổ hàng vạn lữ khách chạy tất bật tìm mua ví Vuitton để quàng lên vai phút chốc lúc chụp hình. Đã hết những con kênh lúc nhúc chật nêm ghe xuồng không khác thảm họa. Hãy hít thở bầu khí quyển trong lành và nghỉ ngơi như một tặng phẩm của trời đất. Dân chúng tận hưởng sự yên lặng hiếm có cho đến khi các cuộc hội thoại bỗng trở nên trầm uất. Ký giả ảm đạm thông báo: hôm qua 48 dân Porto Empedocle bị câu lưu vì đi dự đám tang. Cư dân hốt hoảng, đám cưới và chôn cất vừa bị cấm. Trên đài phát thanh xướng ngôn viên phải ngừng để thở trước khi báo số tử vong tăng gấp đôi mỗi chiều. Không còn là hốt hoảng mà là sợ hãi. Các quan chức luân phiên báo động những gì nên làm và không nên làm… là những điều mọi người đã biết nhưng vẫn lắng nghe cho trường hợp có gì mới.
Gì mới? Không có gì còn mở cửa ngoài vài quầy thực phẩm, hiệu thuốc Tây và Phòng Thông tin. Thánh đường Basilica di San Marco đã trống rỗng, hết tín đồ. Đức Thánh cha tuyên bố làm lễ Tro qua truyền hình.
Buổi chiều. Phố Calle Frezzeria đìu hiu. Chúng tôi chăm chú nhìn vào màn hình. Lần cuối tôi băng qua San Marco để lấy phà sang nhà thờ Redentore dự phép giao của một người bạn là ngay trước Corona (hình như Corona đã trở thành một dấu mốc, tôi luôn lấy ngày bắt đầu phong tỏa để xác định thời gian). Lúc này trên ti vi, sân đá rộng mênh mông. Chưa bao giờ tôi trông thấy quảng trường San Marco thênh thang như vậy. Gần như không cân xứng giữa uy nghi của kiến trúc với sự trống trải tuyệt đối. Người xem chỉ có thể đặt câu hỏi vì sao xây cất cho không một ai? Sát hàng cột tinh xảo làcác tấm lưới ngăn và phía sau nhiều vũng nắng là lũ chim bói cá đang lục lọi thùng rác hết thức ăn. Lũ mòng biển mỏ dài giành giật xối xả vụn bánh quế với những que kem đã hết vị ngọt. Trong màn ảnh, tia mắt chúng đỏ như loài kên kên. Hết du khách vứt bánh mì, ngay cả bồ câu trước dinh Palazzo Ducale cũng trở nên hung dữ vì đói.
Lễ Tro chấm dứt cùng với ráng chiều lọc qua màn cửa. Khó khăn nhất với chúng tôi là buổi tối. Đêm là thời khắc của các cơn sốt và im lặng đè lên lồng ngực. Áp suất chùng hẳn khi gió bất ngờ đưa một tiếng gào hay một giọng kể lể tức tưởi từ đâu đó trong một ngôi hẽm, thoát ra khỏi một cánh cửa vọng đến. Mọi ánh mắt cùng thấp thỏm nhìn ra cửa sổ chờ đợi một cuộc đốt nến. Chung cư nào sẽ đốt nến đầu tiên? Ai vừa mới ra đi? Có phải hàng xóm ở bìa khu phố hay trong ngõ Calle Carro? Giọng đang nức nở có lẽ là của bà góa Lisi.
Chúng tôi đọc kinh và khấn cho linh hồn kẻ vừa rời xa. Đáp lời cầu nguyện của cả gian phố dưới ánh bạch lạp lung linh là một phép lạ. Điều tuyệt vời mà ít ai ngờ nhất đã xảy ra. Những đứa bé can đảm phi thường. Một đứa ra đứng bao lơn rồi nhiều đứa khác cùng ra đứng trên lan can. Trong đêm, lũ trẻ cất giọng trong trẻo hợp ca như đoàn thiên thần nhỏ vừa xuất hiện. Chúng cất giọng cao vút thánh thoát. Tiếng hát của chúng trong vắt dưới nền trời sao lên cao mãi. Những tiếng hát trong lành theo hương muối của khí quyển  truyền từ bệ cửa này sang bệ cửa khác. Đồng ca của đoàn thiên thần ngân nga như nhiều giây chuông tí hon đang rung lên. Có phải vì những đứa bé tự biết miễn nhiễm nên tin thần chết không màng đến chúng hay chỉ giản dị là chúng chưa biết sợ? Dù sao những đứa bé cũng an ủi chúng tôi bằng các cung bậc trẻ thơ và rồi người lớn cùng hòa điệu với chúng. Tất cả chúng tôi cùng ra đứng trên bao lơn phía sau những thiên thần của mình, cùng nhìn về hướng tháp nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.  
Thật khuya, âm vang của đêm thánh hãy còn ngân nga sau tắt nến và còn tiếp tục gieo vào lòng chúng tôi nhiều ấm áp. Ngày mai phải là một ngày khác. Bích chương Another Day in Paradise tôi mua khi đi nghe Phil Collins vẫn còn máng trong bếp.
(Sinh nhật Vũ Thị Thanh Mai 2 tháng 4-2020)
Vũ Thị Thanh Mai, Piazza San Marco tháng 7-2018
Thứ Hai, 14 tháng 10, 2019

Văn Hải ngoại sau 1975 (178): Trần Vũ phỏng vấn Đỗ Lê Anh Đào

Sinh 1979 và đến Hoa Kỳ từ 1992. Phụ trách chương trình télévision VAALA và được xem như một trong những gương mặt trẻ làm thơ, viết văn, viết báo hôm nay, Đỗ Lê Anh Đào bên ngoài mang nét man dại của một thiếu nữ Bolivia nhưng đằng sau làn da ngăm là một nội tâm ngỗ nghịch pha lẫn khát khao của một tuổi trẻ đang tìm kiếm diện mạo của chính mình. Bước vào thế giới thơ-truyện của Đỗ Lê Anh Đào là bước chân vào một thế giới nhạy cảm của vùng vẫy bản năng.

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2019

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 171): Nguyễn Xuân Tường Vy – Trần Vũ

clip_image002

Nguyễn Xuân Tường Vy

Trần Vũ: Ký Puerto Princesa City và Mắt thuyền của Nguyễn Xuân Tường Vy từng gây nhiều chú ý. Không duy nhất vì ký là thể loại hiếm, đặc biệt ở lớp người viết trẻ. Cũng không duy nhất vì đề tài thuyền nhân đã gần như biến mất trong Văn học Di dân. Mà vì Puerto Princesa City và Mắt thuyền đã được viết bằng một giọng văn thật tự nhiên, giàu cảm xúc. Vì sao Tường Vy đi ngược với xu hướng bây giờ là cố quên đi quá khứ, thay vào đó, Tường Vy đào bới rồi trục xuất quá khứ lên trang giấy? Vì sao Mắt thuyền vẫn là đôi mắt thuyền nhân, hay đúng hơn Tường Vy vẫn mang đôi mắt thuyền nhân khi viết ký?

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2019

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 139): Trần Vũ - Giáo sĩ

Giáo sĩ

clip_image001

Một Tác phẩm Siêu thực

Trung thiên truyện Giáo sĩ phản ảnh mối tương quan giữa nhân vật và tác giả, giữa văn bản và dịch thuật, giữa tình yêu và tôn giáo làm khung sườn cho tác phẩm, song song truyện còn phản ảnh cuộc chiến đẫm máu giữa lính Lê Dương và quân đội Việt Minh. Qua Giáo sĩ, Trần Vũ muốn lật lại lịch sử, giải thích theo cách riêng của anh: Nguyên nhân thảm bại tại Việt Nam của quân đoàn viễn chinh Đông Dương nằm trong chính tôn giáo bế tắt của họ chờ đợi ngày phán xét cuối cùng không xảy đến, trong lúc Việt Minh thừa hưởng tính chất luân hồi của Phật giáo chết đi sống lại vẫn tiếp tục giành độc lập.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 138): Trần Vũ – Giấc mơ Thổ

clip_image002

Sinh 1962 tại Sài Gòn trong một gia đình Bắc di cư sau Genève 1954, chánh quán Sơn Tây-Phú Thọ, tên thật Lưu-Linh Vũ, theo học tư thục Lasan Taberd đến 1975, vượt biên 1979 đến Palawan Phi Luật Tân, làm quản lý dự án tin học tại Pháp đến 2013 trước khi sang Hoa Kỳ. Các truyện ngắn đầu tay Đồng Cỏ Miên, Vườn Thượng Uyển Bỏ Hoang, Biển San Hô đăng trên nguyệt san Làng Văn 1988, Bên Trong Pháo Đài, Pháo Thuyền Trên Dòng Yang-Tsé trên Văn Học 1989 và Mùa Mưa Gai Sắc, Gia Phả trên Hợp Lưu 1992...

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2019

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 110): Lê Thị Huệ - Trần Vũ phỏng vấn

Văn hoá Rồng rắn
T
hời điểm của đối mặt - Kỳ 1

"Trong những cây viết nữ của chúng ta ở đây
thì Lê Thị Huệ là nhà văn nữ đáng ghi nhận nhất".
Mai Thảo, 1984

clip_image002Xuất hiện lần đầu trên tập san Văn Học Nghệ Thuật năm 1979 với truyện ngắn Bụi Hồng qua giới thiệu của Võ Phiến, Lê Thị Huệ lập tức được công nhận như một người viết cá tánh, tài hoa. Sau 10 chuyến về Việt Nam và một năm nghiên cứu tại đại học quốc gia Hà Nội, Lê Thị Huệ trở về Hoa Kỳ cho xuất bản “Văn hoá trì trệ nhìn từ Hà Nội đầu thế kỷ 21”. Tập ký sự đặt thẳng vấn đề - chính văn hoá Việt Nam đã ngăn cản sức lớn mạnh của dân tộc - nhanh chóng trở thành một đề tài thảo luận.

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

María Dos Prazerès

Gabriel García Márquez

Trần Vũ chuyển ngữ *

Lời người dịch: Nổi tiếng với tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, sức mạnh của Gabriel García Márquez nằm trong cách xây dựng khí hậu truyện dựa trên một giọng văn miên man, vừa bí mật, đầy êm đềm cùng lúc hoang đường. Trong thể truyện ngắn, Márquez đạt đến sự tinh lọc với những chi tiết được chọn lựa kỹ lưỡng. Ưu điểm chính của María Dos Prazerès nằm trong nhân sinh quan của truyện, vẽ lên một kiếp người phải chung chạ với thần chết đầy hiu quạnh. Kể từ thập niên 2000, Márquez bắt đầu phải nghe những tiếng chuông gọi hồn của giới phê bình: “Tiểu thuyết hiện thực huyền ảo đang giãy chết!” Sang đến đầu thế kỷ 21, đọc lại María Dos Prazerès của nhà văn này, người đọc chỉ có thể đồng ý với tác giả: Con người đang chết mòn mỏi trong đời sống thực tế bây giờ, và thủ pháp huyền ảo cho phép mở rộng biên giới của hư cấu. Khác các nhà văn Hiện sinh, Márquez, thủ lĩnh của trường phái huyễn ảo Nam Mỹ kế thừa Horacio Quiroga, Jorge Luis Borgès, Jorge Icaza không khảo sát mà suy diễn phần không thể chứng minh của con người: phần ảo giác.

Bản dịch Việt ngữ đánh mất một phần cú pháp đặc trưng của Márquez thường xuyên xếp các mệnh đề trong thể phủ định cạnh nhau, nhằm xác quyết một nội dung ngược lại mà khả năng người dịch đã không tái tạo được hết.

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 97): Lưu Uyên Khôi – Chỗ trọ trong rừng chuối

Chỗ Trọ Trong Rừng Chuối

Viết chung với Trần Vũ

clip_image002

Trần Vũ (trái) và anh cả Lưu Uyên Khôi, sinh nhật 1984.

Phải khó khăn lắm tôi mới tìm thuê được một chỗ trọ trong tỉnh lỵ này. Ngôi nhà tường gạch, lợp ngói của Má Năm nằm ở bìa thị xã, giữa những cánh đồng, những rừng dừa và rừng chuối, không xa một thôn xóm nhỏ. Từ nhà, chúng tôi không nhìn thấy thị xã, nhưng một dòng sông chảy qua trước mặt ngôi nhà, nước lặng lờ, nhắc nhở chúng tôi đến sự hiện diện rất gần của nó. Chỉ cần đạp theo con đường đất nhỏ ven bờ sông, tôi sẽ tới được nơi mình muốn tới; ở đó, dòng sông đâm thẳng vào thị xã, chẻ nó ra làm hai.

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

Trần Huy Minh, trải nghiệm những hiện thực khác

Claire Simon phỏng vấn

Trần Vũ chuyển ngữ

clip_image002

Sinh ngày 16 tháng 3 năm 1979 tại Clamart, ngoại ô Paris, song thân Việt Nam, Trần Huy Minh trở về quê hương lần đầu rồi cho xuất bản tiểu thuyết La Princesse et le pêcheur (Công chúa và ngư phủ), nêu bật bi kịch của người Việt trong một xã hội tàn nhẫn mà lịch sử giẫm đạp không thương tiếc, trên nền truyện cổ tích dân gian. Công chúa và ngư phủ là một trong 3 tiểu thuyết bán chạy nhất trong năm 2007. Giải thưởng Prix Riviera, giải thưởng Tân truyện Prix Gironde Nouvelles Écritures, giải thưởng Prix Emmanuel Roblès, giải thưởng Ngũ châu lục Prix des Cinq Continents, giải thưởng Khám phá Tài năng Bourse de la Découverte de la Fondation Pierre de Monaco, vào chung khảo Giải Văn chương Toàn quốc cho tiểu thuyết đầu tay Prix Goncourt 2007… Trần Huy Minh hiện làm phó tổng biên tập Nguyệt san Văn (Magazine Littéraire), chủ biên chuyên đề Văn học Trung Hoa từ Khổng Tử đến Cao Hành Kiện, trong ban giám khảo tuyển chọn dự án phim truyện cho đài truyền hình ARTE France Cinéma, giữ mục chroniqueur cho nhiều tuần san, phụ trách chương trình tivi Lời của đêm (Mots de nuit). Tác phẩm thứ nhì: Le Lac né en une nuit et autres légendes du Vietnam (Mặt hồ sinh trong một đêm và những truyện kỳ khác của Việt Nam). [Trần Vũ]

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2018

Achtung! Schukow! (kỳ 3)

Truyện Trần Vũ

Chuyện đêm cho Mây, Jung và Đạm Tiên

*Phần 3

(Tiếp theo và hết)

clip_image001

“Achtung! Schukow!

Coi chừng Joukov!”, là lời cảnh giác thường vang lên trong các bộ tham mưu Đức từ 1941 đến 1945 giữa các sĩ quan quân báo và phòng hành quân, chính vì Joukov xuất hiện trên mặt trận nào là mặt trận ấy đột biến. Nhưng Joukov không chỉ là vị tướng của tấn công mà còn là vị tướng của tàn khốc.

Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2018

Achtung! Kavallerie! (kỳ 2)

Truyện Trần Vũ

Chuyện đêm cho Mây, Jung và Đạm Tiên

*Phần 2


image

Binh sĩ Lục quân Đức

Ngày 16 tháng 11-1941, Quân đoàn 56 Thiết kỵ (LVI Panzerkorps) của thiếu tướng Ferdinand Schaal chiếm Klin. Ngày 17 tiến xuống phía nam hồ Volokolamsk, áp sát Moussino, một vị trí chiến lược cắt giao lộ nối Kalinine. Điện Cẩm Linh chỉ còn cách 100 cây số. Nhật ký hành quân của sư đoàn 6 Kỵ binh (6thPanzer Division) của chuẩn tướng Erhard Rausghi lại một trận đánh thảm khốc.

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2018

Achtung! Hund! (kỳ 1)

Với Achtung! Hund!, Trần Vũ đã sử dụng tài liệu để tạo dựng một không gian truyện, trong đó phần đầu có nhân vật là không khí chiến trận kỳ lạ, vừa rất thật mà cũng hoàn toàn phi thực, bởi nó vượt xa hình dung của chính những người tham chiến. Tất cả không khí ấy nhằm chuẩn bị cho sự xuất hiện của một nhân-vật-người ở phần sau. Nhân vật người ấy, có lẽ người đọc sẽ nhờ lịch sử lục lạo lại những tài liệu khác, để có thêm chút triết lý nhân sinh, sau khi tác giả vừa gợi mở đã vội vã chấm dứt ngay ở câu cuối cùng....

Văn Việt

Truyện Trần Vũ

Chuyện đêm cho Mây, Jung và Đạm Tiên

Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2018

Nhật ký Bá Linh (kỳ 2)

Marta Hillers

Trần Vũ lược dịch

clip_image002Một thiếu phụ trẻ sinh sống ở Bá Linh đã viết nhật ký, từ 20 tháng 4-1945 ― khi Hồng quân Sô-Viết áp sát cửa thủ đô ― đến 22 tháng 6-1945, khi thành phố hoàn toàn bị chiếm đóng. Tác giả đã muốn ẩn danh dịp xuất bản sách đầu tiên vào năm 1954 và ngay cả sau đó. Đọc lời chứng, chúng ta hiểu vì sao.

Bằng lối văn khách quan gần như lạnh lùng hoặc châm biếm, luôn rõ ràng, đôi khi xót xa, đôi khi hài hước, tác giả ghi lại đời sống hằng ngày trong một chung cư hầu như đổ nát mà cư dân là những phụ nữ đủ hạng tuổi, cùng những người đàn ông ẩn trốn: Đời sống khốn nạn, trong sợ hãi, lạnh giá, bẩn thỉu và đói ăn, bằm xé bằng pháo kích trước tiên rồi tiếp đến bằng chính sách cai quản tàn bạo. Cộng thêm hãm hiếp, tủi nhục và sự kinh hãi thường nhật.

Chính tính trung thực không son phấn và không úp mở làm nên giá trị của câu chuyện kể khủng khiếp này, vừa là sự tỉnh táo của một cách nhìn phóng chiếu vào một thủ đô Bá Linh chết điếng sau thảm bại. Ngòi bút của tác giả đã hoàn trả tuyệt diệu sự pha trộn giữa phẩm cách với thái độ vô liêm sỉ của con người, trong tính hoạt kê, và có lẽ, cũng chính ngòi bút này đã giúp tác giả sống sót.

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2018

Nhật ký Bá Linh (kỳ 1)

 Marta Hillers

Trần Vũ lược dịch

clip_image001

Nhật ký Bá Linh là những trang viết tay của một thiếu phụ trẻ ghi lại khoảng thời gian vài tuần lễ trước và sau khi Hồng quân Sô-Viết chiến thắng. Trước tiên là một tập nhật ký giàu chất liệu về đời sống hằng ngày của một thủ đô bị tàn phá rồi bị xâm chiếm: Đời sống dưới hầm, cơn đói triền miên, những trận pháo kích rồi những cảnh hãm hiếp luân phiên của lính Nga. Tác giả tự đặt cho mình những câu hỏi thẳng thắn: “Thế nào là hãm hiếp? Hai từ ‘hãm hiếp’ gợi lên sự tệ hại. Chưa phải. Tệ hại là cái chết…  Tôi có phải là một con điếm hay không? Tôi chỉ là một con mồi, thuộc về kẻ săn bắt quyền định đoạt số phận con mồi”. Vượt trên số phận, tác giả nêu rõ: Nếu trong chiến tranh, đàn ông sắm vai gà trống, khi thảm bại, chính đàn bà đi kiếm ăn, có thể bằng đổi chác thân thể hay bằng sức mạnh sinh tồn, cách nào đi nữa, đàn ông một khi buông vũ khí trở thành phái yếu. Nếu thống kê ước tính trên một trăm ngàn phụ nữ Bá Linh bị hãm hiếp, trong nhật ký của Marta Hillers, những phụ nữ này trao đổi với nhau không tránh né về kinh nghiệm mình vừa trải qua. Để cuối cùng, như tác giả xác quyết: “Tổng số nước mắt không thể nhiều thêm”. Đó là phần chính của 370 trang in mà lược dịch của 4 ngày đầu tiên, kể từ buổi chiều 20 tháng 4-1945, chỉ là những nốt nhạc dạo làm nền. [Trần Vũ]

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018

Tiếng Việt thời LM de Rhodes – dạng bị (kích) động (active voice)

Trần Vũ

clip_image001

[…]

Ðó là buổi sáng Alexandre Lucien Abel de Rhodes chép trong nhật ký ba chữ La Tinh Aléa Jacta Est! mang nghĩa định mệnh đã an bài mà những ai tham khảo thư khố toà thánh La Mã về sau, hãy còn nhận ra nét chữ thảo tài hoa vừa rắn rỏi, vừa bay bướm của giáo sĩ. Nhật ký Hành Trình Truyền Giáo Phương Đông của De Rhodes sau này được xuất bản, chỉ bao gồm ba phần Goa, Xứ Ðàng Trong và Xứ Ðàng Ngoài, khởi đi từ năm 1619 khi ông gặp thiếu nữ có mái tóc đen và chấm dứt lúc ông rời An Nam vĩnh viễn. Những đoạn sau khi chết, chiếm 4/5 tập nhật ký, đặc biệt thời gian ở Cao Bằng hoàn toàn bị Hội Thừa sai dập xoá. Trong bản gốc, số đăng ký quốc hội Vatican, các chương ghi lại đời sống vợ chồng với Tuyết, chỉ còn mỗi ba chữ Aléa Jacta Est, các ký tự khác đều bị thuốc tẩy giặt trắng xoá loang lổ ố vàng. Những chữ li ti, chi chít, khi mất khi hiện, gần như được viết trên bụi mà nửa thế kỷ sau, chỉ những nhà văn am tường kỹ thuật hiện thực huyền ảo mới còn có thể chú giải.

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018

Văn hải ngoại sau 1975 (kỳ 39): Hồ Trường An qua Trần Vũ

Troyes, Cơn Mưa Sáng

Trần Vũ

Đến với Hồ Trường An một sáng tháng 3-1989

clip_image001Buổi sáng, khi tôi thức giấc, cơn mưa sáng đang hắt dội vào buồng, qua khung cửa khép hờ, những giọt nước lạnh tắm bắn vào mặt. Tôi lướt tay lên vùng gối ẩm thao thức với góc trần nhà còn khô ráo. Thao thức? Đúng hơn là những xao động vui tươi của một ngày mới chờ chuyến đi xa.

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

Văn học miền Nam 54-75 (462): Phan Nhật Nam (kỳ 2)

Gặp lại Phan Nhật Nam trên quốc lộ 1

Trần Vũ thực hiện

Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.

Tôi gặp Phan Nhật Nam lần đầu tiên khi nhà văn từ chiến trường trở về Sàigòn năm 1973. Khi ấy tôi hãy còn là một độc giả thiếu nhi, khám phá anh đội nón đỏ, quân phục huyết dụ. Lần thứ nhì cách đây bốn năm tại Washington DC, Phan Nhật Nam mang giọng nói sôi nổi của một xứ Quảng hãy còn lửa cháy. Lần gặp thứ ba, trên trang giấy này, tôi quyết định hỏi tất cả những gì đã chất chứa trong đầu mình, từ buổi sáng tổng thống Thiệu tuyên bố Hòa Bình trên đài phát thanh, ký kết hiệp định ngừng bắn, cho đến bây giờ gần 34 năm sau bại trận, những câu hỏi vẫn bám lấy, không rời, từ buổi sáng 30 tháng 4 chứng kiến những người lính tháo vội vã nón sắt, áo giáp, vất tung thẻ bài, chạy vào hẻm chật. Buổi sáng của tuyệt vọng.

Buổi sáng 30 tháng 4 tương khắc với Mùa hè đỏ lửa, tương khắc với tính chất bi hùng trong ký Phan Nhật Nam. Lần gặp này, tôi muốn anh trả lời.

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

Kẻ Di Truyền Sách (kỳ 10)

Trần Vũ thực hiệnclip_image002

Tranh Bo Bartlett

clip_image004

Trần Vũ: Chúng ta trao đổi đã lâu, đến lúc phải kết thúc. Có lẽ trong năm vừa qua cùng với bộ sách Ý Thức Sáng Tác của anh, tổng tập Phê Bình Văn Học Thế Kỷ XX của nhà phê bình Thụy Khuê là hai nghiên cứu quan trọng nhất. Ngay cả khi quan điểm về Hậu Hiện đại rất khác biệt: Một bên chỉ ra những mâu thuẫn ngay từ Lyotard và một bên xiển dương nhãn quan Bắc-Mỹ. Tuy vậy, cả hai đều đúc kết các khuynh hướng chính của Tây phương nên đem đến một tầm nhìn bao quát. Mục đích dường như là cung cấp một căn bản cho lớp người viết trẻ hôm nay. Bộ sách của Ngu Yên còn có thêm phần tổng hợp các lý thuyết dịch thuật, bàn đến cách đọc sách, tu tập kiến thức, phóng chiếu với những truyện mẫu… Riêng trong buổi trò chuyện giữa chúng ta, anh đã lập bảng cáo trạng đanh thép về những khiếm khuyết của Văn học Hải ngoại: thiếu kiến thức, thiếu ý thức, không văn học… Một kết án không khoan nhượng! Nhưng, vì sao là một thi sĩ mà anh lại nghiên cứu các lý thuyết truyện ngắn? Và vì sao anh kiên gan xuất bản nhiều ngàn trang sách lúc này? Chúng ta cùng biết công chúng hải ngoại không mua sách.