Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Lai Thúy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Lai Thúy. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 29 tháng 9, 2025

Nguyễn Duy: Nhà thơ du / ru ca

 Đỗ Lai Thúy

Là ta, ta hát những lời của ta

Nguyễn Duy

Cuối những năm 1980, tôi tập viết cho mục “Đến với những bài thơ hay” của báo Người Hà Nội và Văn Nghệ. Trong số đó, có hai bài tôi ưng nhất là Lại về tỉnh nhỏ của Yến Lan, và đặc biệt là Đò Lèn và sự giải cổ tích hóa trong thơ Nguyễn Duy. Hôm tôi đến Văn Nghệ lấy báo biếu, nhà thơ Trần Ninh Hồ, trưởng ban thơ, bảo: Tôi đã cứu cho ông một bàn thua trông thấy! Nhìn khuôn mặt nghệt của tôi, anh giải thích: đó là tôi đã bỏ đi chữ hóa trong cụm từ cổ tích hóa của ông. Tôi kêu lên, ông Hồ ơi, ông Hồ ơi, ông giết tôi rồi. Các thời đại sau-cổ tích thì không còn cổ tích nữa, chỉ có sự cổ tích hóa mà thôi. Bà ngoại Nguyễn Duy trong bài Đò Lèn, bằng thân phận cực nhọc, bi đát của mình đã giải những cái mà người tmuốn cổ tích hóa, thần thoại hóa nó.

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2024

Tuệ Sỹ – hương vị cô liêu

Đỗ Lai Thúy

 

Thiền sư làm thơ là một truyền thống lâu đời của Trung Hoa, và của Việt Nam. Nhưng liệu giữa thiền sư, một người trọn đời hướng đến tịch tĩnh, vô ngôn, có gì mâu thuẫn với nhà thơ, một người hướng đến hiện hữu, nhất là hiện hữu qua và bằng ngôn ngữ? Và thơ thiền là thơ hay là triết lý thiền?

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2023

Họa sĩ chân dung Nguyễn Sáng: Vẽ sự thật của sự thật

Đỗ Lai Thúy

Việt Nam trước đây chưa có tranh chân dung, hoặc nếu có thì cũng chỉ có tranh thờ. Chỉ khi có Trường Mỹ thuật Đông Dương thì tranh chân dung đúng nghĩa mới phát triển.

Ai cũng muốn mình có một bức tranh chân dung thể hiện được nhân cách và tâm hồn mình. Họa sĩ, vì thế, phải ẩn cái tôi của mình đi, để tôn lên nhân vật. Nhưng tranh chân dung của Nguyễn Sáng, một họa sĩ khóa chót của Trường, thì không vậy. Chân dung ông vẽ vẫn thấy cái tôi của ông hiển lộ, thậm chí cả sự vận động của cái tôi ấy.

Nguyễn Sáng (1923 - 1988) quê ở Mỹ Tho. Gia đình Nguyễn Sáng thuộc tầng lớp trung lưu. Mẹ làm nghề buôn bán, cha dạy học, anh cả làm công chức, em trai dạy tiếng Anh ở Sài Gòn. Nguyễn Sáng học hết tiểu học Mỹ Tho thì vào Mỹ thuật Gia Định (1938 - 1940) vốn là trường mỹ nghệ thực hành. Ở đây ông tiếp nhận “trọn gói” cá tính mỹ thuật Nam bộ như rườm rà, màu mè, ưa sặc sỡ, chân thành, hăng hái quá mức dễ biến thành điệu bộ tuồng, cải lương.

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Nguyễn Duy – nhà thơ hiện đại Việt Nam (Thực hành phân tích diễn ngôn văn học) (kỳ 8)

NGUYỄN DUY, NHÀ THƠ DU/RU CA

Thay lời bạt

Đỗ Lai Thúy

Là ta, ta hát những lời của ta

Nguyễn Duy

Cuối những năm 1980, tôi tập viết cho mục “đến với những bài thơ hay” của báo Người Hà Nội và Văn Nghệ. Trong số đó, có hai bài tôi ưng nhất là Lại về tỉnh nhỏ của Yến Lan, và đặc biệt là Đò Lèn và sự giải cổ tích hóa trong thơ Nguyễn Duy. Hôm tôi đến Văn Nghệ lấy báo biếu, nhà thơ Trần Ninh Hồ, trưởng ban thơ, bảo: Tôi đã cứu cho ông một bàn thua trông thấy! Nhìn khuôn mặt nghệt của tôi, anh giải thích: đó là tôi đã bỏ đi chữ hóa trong cụm từ cổ tích hóa của ông. Tôi kêu lên, ông Hồ ơi, ông Hồ ơi, ông giết tôi rồi. Các thời đại sau - cổ tích thì không còn cổ tích nữa, chỉ có sự cổ tích hóa mà thôi. Bà ngoại Nguyễn Duy trong bài Đò Lèn, bằng thân phận cực nhọc, bi đát của mình đã giải những cái mà người ta muốn cổ tích hóa, thần thoại hóa nó.

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

Nguyễn Duy, nhà thơ du/ru ca

(Thay lời bạt cho cuốn sách Nguyễn Duy – nhà thơ hiện đại Việt Nam (Thực hành phân tích diễn ngôn văn học) của Lã Nguyên, nxb Khoa học Xã hội, 2021)

Đỗ Lai Thúy

Là ta, ta hát những lời của ta

Nguyễn Duy

Có thể là hình ảnh về sách và văn bản cho biết 'LÁ NGUYÊN Opnger Puy NHÀ THƠ MNHA HIÊN ĐAI VIỆT NAM (THỰC HÀNH PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VĂN HỌC) NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI'

Cuối những năm 1980, tôi tập viết cho mục “Đến với những bài thơ hay” của báo Người Hà Nội và Văn Nghệ. Trong số đó, có hai bài tôi ưng nhất là Lại về tỉnh nhỏ của Yến Lan, và đặc biệt là Đò Lèn và sự giải cổ tích hóa trong thơ Nguyễn Duy. Hôm tôi đến Văn Nghệ lấy báo biếu, nhà thơ Trần Ninh Hồ, trưởng ban thơ, bảo: Tôi đã cứu cho ông một bàn thua trông thấy! Nhìn khuôn mặt nghệt của tôi, anh giải thích: đó là tôi đã bỏ đi chữ hóa trong cụm từ cổ tích hóa của ông. Tôi kêu lên, ông Hồ ơi, ông Hồ ơi, ông giết tôi rồi. Các thời đại sau-cổ tích thì không còn cổ tích nữa, chỉ có sự cổ tích hóa mà thôi. Bà ngoại Nguyễn Duy trong bài Đò Lèn, bằng thân phận cực nhọc, bi đát của mình đã giải những cái mà người ta muốn cổ tích hóa, thần thoại hóa nó.

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2019

Văn học miền Nam 54-75 (566): Nguyễn Văn Trung (kỳ 2)

Nguyễn Văn Trung và thái độ trí thức

Đỗ Lai Thuý

Người trí thức không phải là người có kiến thức đại học hoặc sau đại học, mà là người có kiến thức chuyên sâu nhờ đọc sách và kinh nghiệm tiếp xúc. Thực ra, điều cốt yếu đáng nói không phải là vốn kiến thức, mà là thái độ trí thức đối với các vốn ấy và, nhất là, đối với những vẫn đề cuộc sống trước mặt đặt ra.

NGUYỄN VĂN TRUNG

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

Nghiên cứu trẻ Việt Nam trước “bước ngoặt nhân học”

Đỗ Lai Thúy


Nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn, “bước ngoặt nhân học”. Đã đến lúc nghiên cứu văn học không thể chỉ dùng các phương pháp thuần túy của chính nó, mà phải kết hợp với các phương pháp khác của khoa học xã hội và nhân văn. Trong đó, quan trọng hơn cả là nhân học, đặc biệt nhân học văn hóa.

Điều này đòi hỏi nhà nghiên cứu trước hết phải có tri thức liên/xuyên ngành. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải đủ. Nhà nghiên cứu phải trở nên độc lập, độc lập về kinh tế và độc lập về tư tưởng, nhất là tư tưởng học thuật.

Ở xã hội bao cấp hoặc bán bao cấp, đòi hỏi tự chủ kinh tế hoàn toàn là điều khó, tự chủ tư tưởng còn khó hơn, nhưng không làm được điều kiện sau thì không thể trở thành nhà nghiên cứu độc lập. Anh ta phải dám từ bỏ những gì đã được dạy dỗ trong nhà trường để nhẹ bước vào một hành trình mới. Và, điều này dường như dễ dàng hơn với những người trẻ.

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2018

Người Đô Thị tổ chức tọa đàm: Căn tính Việt

LTS: Chúng ta đã và đang cùng chứng kiến sự sa sút trong những hoạt động của người Việt Nam ít nhất ở hai cấp độ: Hành vi và Tư duy. Trong hành vi, vô vàn thói hư tật xấu (tự đầu độc nhau bằng thức ăn, ăn cắp trong nước, ngoài nước, bạo hành trong gia đình, nhà trường, dối trá, lừa đảo, tham nhũng…) tăng nhanh và ngày càng trầm trọng. Trong tư duy, đặc biệt tư duy tổng thể, hầu như chưa xây dựng được các chủ thuyết, chiến lược phát triển (cùng các mô hình vận hành) có tính quốc sách, khoa học, bền vững... Văn bản pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn, chính sách thay đối quá nhanh, trên toàn lãnh thổ “63 tỉnh, 63 nền kinh tế” là đánh giá của ông Vương Đình Huệ (Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng) về tình trạng cát cứ, phân mảnh quyền lực, phân tán nguồn lực theo theo địa dư hành chính, theo từng ngành… đang làm suy yếu nội lực quốc gia, dân tộc.

Những yếu kém đó do đâu, căn tính “ tiểu nông” của người Việt hình thành từ xa xưa có vai trò gì? Cùng nhiều tiếng kêu trên các phương tiện thông tin: “Tại sao chúng ta lại ra nông nỗi này !”, “Chúng ta còn là người Việt không? ”… như những câu tự hỏi về năng lực thật sự của mình khi phải đối diện với các thách thức rất mạnh, cấp bách, để tìm cách vượt qua nó. Sự tự phê phán, kiểu như: người Việt ích kỷ, hay đố kỵ, thiếu đoàn kết…, hoặc ca ngợi các tính tốt: dũng cảm, yêu nước, tự trọng cao, v.v. thường được nêu có tính liệt kê như các biểu hiện của căn tính Việt, những biểu hiện ấy có thể thấy ở nhiều dân tộc, chúng tộc khác. Vậy có lẽ muốn thấy căn tính Việt, trước hết cần tìm những gì đã hình thành nên nó?

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

Việt Nam – hiểu để phát triển


“Chúng ta đang đứng trước nguy cơ không chỉ mất (một phần) lãnh thổ, mà mất văn hóa, mà tệ là tự đánh mất, tệ nữa mất mà không biết.”

(PGS. TS. Đỗ Lai Thúy)

Hân Hương thực hiện


Do-Lai-Thuy-03Dường như cứ đứng trước một ngã ba, cần có một quyết định, người Việt Nam lại cần hiểu Việt Nam, cần tra vấn cái căn cước của mình, nỗi thôi thúc ấy đang xảy ra ở nhiều người trong chúng ta. Năm ngoái PGS. TS Đỗ Lai Thúy cùng Người Đô Thị tổ chức tọa đàm về “Căn tính Việt”, góp ý làm mục Nghĩ Việt, cùng TS. Nguyễn Mạnh Tiến xây dựng Tủ sách Hiểu Việt Nam dành cho các nghiên cứu độc lập. Nhân dịp ông đáo tuổi “thất thập, Người Đô Thị hỏi chuyện ông về Hiểu Việt Nam.

Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

Huyền Giang: Đường đến văn hóa*

PGS. TS Đỗ Lai Thúy

clip_image002[5]

Đường đời của Huyền Giang** (1931-2013) ga đi là chính trị và ga đến là văn hóa. Trong ngắn ngủi một đời người, quả thực, ít ai làm được như ông: thay đổi hệ hình tư tưởng đến hai lần. Lần trước từ giai cấp sang dân tộc, lần sau từ dân tộc sang dân chủ.

Có thể sự nhạy cảm và tính trung thực trước “những điều trông thấy”, cũng có thể những chuyển biến gấp gáp, “một ngày bằng ba thu”, của xã hội Việt Nam thế kỷ XX, cùng với đầu óc thích tìm tòi tư tưởng ở ông đã tạo ra những bước chuyển tư tưởng này.

Giã biệt

Trước hết cần khẳng định, trên phương diện tư tưởng, người ta có quyền được thay đổi. Huống hồ sự thay đổi ở Huyền Giang là sự vận động biện chứng, như những đợt sóng gối tiếp nhau, cái sau bao giờ cũng có những mầm mống ủ sẵn từ cái trước. Ở hệ hình tư tưởng dân chủ, Huyền Giang từ bỏ các hoạt động chính trị chuyển sang hoạt động văn hóa, không phải như một sách lược, một ẩn mình hay lảng tránh, mà là một chiến lược. Bởi văn hóa ở cấp độ tổng thể là nền tảng cho mọi tư tưởng, kể cả tư tưởng chính trị. Làm văn hóa tuy không có tác động tức thời, thấy được ngay, nhưng có thể ảnh hưởng đến phần chìm, phần định hướng, của tảng băng trôi.

Thứ Hai, 10 tháng 7, 2017

Trúc Thông và những cách tân tiền-Đổi mới

Đỗ Lai Thúy

Người đầu tiên gợi ý tôi nên viết phê bình là anh Nguyễn Đăng Mạnh, một người quen cũ ở khoa Nga Văn Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội năm 1967: Tôi là sinh viên, anh là cán bộ đi học. Lúc nghe gợi ý ấy, tôi còn ở lính, và/ là một triệu phú thời gian. Anh nhờ tôi dịch giúp mấy bài viết của M. Tkachev về Nguyễn Tuân và một cuốn chuyên luận viết về phong cách nhà văn Nga - Xô viết do Hoàng Ngọc Hiến cho mượn (1). Thấy bản thảo tập thơ Lermontov của tôi bị người khác chiếm dụng, còn tập kịch Ostrovski thì mãi không được in, anh bảo: Theo tớ cậu nên quay sang viết phê bình. Phạm Mạnh Hùng dịch đến mấy chục cuốn tiểu thuyết rồi mà có được mấy người biết đến đâu, còn Trần Đình Sử chỉ mới in một bài đầu tiên đã có bao người biết rồi (2). Nhưng lời anh Mạnh với tôi lúc bấy giờ như nước đổ đầu vịt, vì tôi còn mãi rong chơi cho bõ lính. Chỉ đến khi anh Trúc Thông (3) ra tập thơ Chầm chậm tới mình (1985) in chung cùng Đào Cảng, thì cám cảnh một người thơ có thơ đăng liên tục từ 1959 mà 26 năm sau mới được in nửa tập, tôi bèn viết cho anh bài Trúc Thông và hành trình chầm chậm tới mình để tỏ bày sự thông cảm, sự ngưỡng mộ một người dám là mình, dám “tới mình”.

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (140): BÙI GIÁNG (5)

Bùi Giáng, giải minh người minh giải (Kỳ 2)
clip_image001
Đỗ Lai Thúy
2. Bùi Giáng, từ chơi chữ đến trò chơi ngôn ngữ
Văn chương Việt đầy rẫy những chơi chữ với nhiều hình thức khác nhau.
Từ chuyển phụ âm đầu (“Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc/ Trái gió cho nên phải lộn lèo” - Hồ Xuân Hương), dùng đồng âm dị nghĩa (“Tôi tôi vôi/ Bác bác trứng” - Câu đối; Mồm bò mà không phải mồm bò mà lại phải mồm bò” - Câu đố dân gian), nói lái Hán - Nôm (“Chi chi dã” thành “Cha cha đĩ” - Nguyễn Khuyến), chiết tự chữ Hán (“Thiên duyên cũng muốn nhô đầu dọc/ Phận liễu sao đà nảy nét ngang” - Hồ Xuân Hương), thậm chí bẻ chữ Tây, tên Tây ra thành từ Việt để chơi (“Chắc tôn ông không bằng lép tôn tôi/ Lep Tônxtôi” - Giai thoại Chế Lan Viên đùa Nguyễn Đình)... Chơi chữ làm cho câu văn trở nên, một mặt đa tầng, ẩn ý, mặt khác trào lộng, dí dỏm. Đây là những trường đình, đoản đình, chỗ nghỉ óc cho một hành trình đọc những văn bản trang nghiêm, đôi khi đến mức thành khô cứng, giả tạo, nơi thông gió trong những xã hội bị thống ngự bằng thứ diễn ngôn chi hồ giả dã.
Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (139): BÙI GIÁNG (4)

Bùi Giáng, giải minh người minh giải (Kỳ 1)
Đỗ Lai Thúy
·                                          Con người, sống trên đời, như một thi sĩ
                                                                                     Hoelderlin
BÙI VĂN NAM SƠN, nhà triết học và/là một bà con của nhà thơ Bùi Giáng, có lần, thổ lộ: “Viết đôi lời hay nhiều lời về Bùi Giáng không bằng đọc Bùi Giáng.
Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng.Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng. Mà sống như Bùi Giáng thì thật vui mà thật khó”(1). Khó vì muốn sống được như ông, muốn giao du được với ông, muốn đọc được ông để, cuối cùng, viết được về ông, dù chỉ một đôi lời, thì phải minh định được ông, tức trả lời câu hỏi: Bùi Giáng, ông là ai?
Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

Nguyễn Du từ “một ai đó” đến “không ai cả”

Đỗ Lai Thúy

Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả

(Engler Jack)

Sau thời đại Phật giáo Lý Trần là thời đại Nho giáo Lê Nguyễn với giai đoạn chuyển đổi hệ hình từ Hồ Quý Ly qua Minh thuộc đến Lê Thánh Tông. Phật giáo từ chỗ là quốc giáo, tồn tại chính ở nơi cung đình bị đuổi về thôn quê sống trong/với những ngôi chùa làng. Chuyển giao vai trò tông phái chủ đạo cho Tịnh độ, phù hợp hơn với đông đảo Phật tử thuộc tầng lớp bình dân, Thiền ẩn sâu vào bên trong những ngôi chùa vùng, hoặc lặng lẽ rút lên chùa núi. Trong bối cảnh đó, các trí thức Nho học có tìm đến Phật giáo thì cũng chỉ với tư cách nhà Phật học, nhằm mục đích tham bác, quảng diễn. Mà cũng chỉ những người đã trải qua những biến động nào đó trong đời sống riêng, hoặc xã hội, mới đến với Phật giáo để tìm sự an ủi, xoa dịu nỗi đau, lấp đầy trống rỗng.

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2015

THƯ NGỎ CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU ĐỖ LAI THÚY

Kính gửi:
- Ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam
- Ông Nguyên Ngọc, Trưởng ban Vận động Thành lập Văn đoàn Độc lập
Thưa hai ông, tôi là Đỗ Lai Thúy, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, thuộc bộ phận lý luận phê bình.
Năm 1992, tôi vào Hội với mục đích để có điều kiện nâng cao trình độ học thuật và nghệ thuật của mình, đồng thời, nếu có thể, đóng góp cho Hội và rộng ra cho ngành phê bình văn học nói chung, nhằm góp phần xây dựng một nền văn học Việt Nam giàu tính nghệ thuật và tính hiện đại. Trong 23 năm ở trong Hội, tôi đã hiểu được những giới hạn của bản thân mình cũng như những khung khổ của Hội với tính chất là một hội chính trị – xã hội – nghề nghiệp. Vì thế đã không có sự gặp gỡ giữa nguyện vọng được làm nghề của tôi và mục đích làm chính trị qua văn chương của Hội. Điều này khiến tôi băn khoăn rất nhiều.
Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Tiếp cận mẫu người văn hóa từ Ba làn sóng văn minh

Đỗ Lai Thúy

Trước hết, phải thừa nhận rằng, xã hội Việt Nam mới chỉ trải qua hai làn sóng là nền văn minh nông nghiệp kéo dài hàng nghìn năm và văn minh công nghiệp vừa chớm đến, còn làn sóng thứ ba, văn minh tin học, thì còn đang vỗ ở đâu đấy xa bờ. Tương ứng với hai làn sóng trên là hai văn hóa nông thôn và đô thị, hay văn hóa nông nghiệp và công nghiệp.

1. Trước đây, ngoài cách tiếp cận văn hóa theo các triều đại vua chúa của sử gia phong kiến, chúng ta chỉ có duy nhất cách tiếp cận theo năm hình thái kinh tế xã hội. Nhưng đây là mô hình phát triển xã hội của châu Âu, vừa đầy đủ vừa điển hình, tuy không khỏi mang tính quyền uy của Âu tâm luận. Áp dụng vào phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, mô hình này không khỏi không có nhiều khập khiễng. Ví như, xã hội Việt Nam không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ, còn chế độ phong kiến thì khác xa chế độ phong kiến phương Tây. Còn nói đến đô thị thì cũng cứ phải đèo thêm những định ngữ như phương Đông trung đại. Lệ thường, một khi ngoại lệ quá nhiều thì quy luật không còn là quy luật nữa. Bởi thế, Marx và những nhà nghiên cứu theo Marx phải cầu viện đến một ngoại lệ lớn nhất và cuối cùng là phương thức sản xuất châu Á, tuy khái niệm này tương đối mơ hồ.