Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Huệ Chi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Huệ Chi. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 19 tháng 3, 2025

Về cuốn Từ điển Việt ngữ phổ thông của BS Lê Văn Thu và DS Nguyễn Hiền (kỳ 3)

 Nguyễn Huệ Chi

5-2 Về hình thức trình bày, cụ thể là lời văn giải nghĩa, đọc cuốn sách đang có trên tay ta thấm thía công phu của hai tác giả bỏ vào ròng rã 12 năm. Nhiều mục từ tìm được để bổ sung đã rất quý mà ngôn từ diễn đạt gọn ghẽ, bình dị, lắm khi còn thêm chút dí dỏm. Người soạn không cốt làm văn nhưng câu văn tự đến theo yêu cầu của ngữ nghĩa. Mục từ ăn lỡ, các ông giảng: “ăn giặm thêm giữa các bữa ăn chính (nghỉ tay để ăn lỡ các bác thợ ơi)” (tr.9, cột 1). Mục từ bôi mép, giảng: “nói đùa là được ăn ít quá, không bõ dính mép” (tr.57, cột 1). Mục bắt rễ xâu chuỗi, giảng: “len lỏi vào thành phần bần cố nông (bắt rễ) để tìm thêm nhiều phần tử tích cực khác (xâu chuỗi) phục vụ cho phong trào [CCRĐ]” (tr.33, cột 2). Mục sẩy trôn, giảng: “vô ý đánh rắm mà không nhịn lại kịp” (tr.853, cột 2); …

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2025

Về cuốn Từ điển Việt ngữ phổ thông của BS Lê Văn Thu và DS Nguyễn Hiền (kỳ 2)

Nguyễn Huệ Chi

5. Một điểm cuối cùng: xem xét phần giải nghĩa trong cuốn từ điển. Ba mục 2, 34 tập trung vào tiêu chí thu thập, chọn lọc và sắp xếp mục từ, phần việc thứ nhất chiếm một nửa công sức của người làm từ điển. Đến mục 5, soi vào ngữ nghĩa – là nhìn vào phần việc thứ hai, chiếm một nửa công sức còn lại, xét tầm mức còn hệ trọng hơn cả ba việc trong phần đầu, vì nó chính là mục tiêu cuối cùng mà người làm từ điển muốn gửi đến bạn đọc.

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2025

Về cuốn Từ điển Việt ngữ phổ thông của BS Lê Văn Thu và DS Nguyễn Hiền (kỳ 1)

 Nguyễn Huệ Chi

Cuốn sách(1) gồm 1274 trang, khổ 16x24cm, bìa cứng, giấy đẹp, tôi nhận được đã gần một tháng(2) nhưng đến nay mới đọc xong, dù chỉ là đọc lướt các vần từ C đến Y và đọc tương đối kỹ hai vần từ A đến B. Ngay khi mới cầm nó trên tay tôi đã rất vui thích ở hình thức trang nhã, dày dặn, cách đóng sách chắc chắn để dùng lâu và dùng nhiều không hỏng, và cách trình bày đúng quy thức một bộ từ điển Việt ngữ, ngoại trừ một ít sơ suất không đáng có và cũng không nhiều – như trùng lặp (2 mục từ ào ào; 2 mục từ bá láp; 2 mục từ bập bùng bập bừng); sắp xếp sai trật tự vần a, b, c (bé cái miệng phải đặt trên bé miệng; trong hai chữ bá láp một chữ đặt nhầm vào vần ba, chữ thả giàn đặt nhầm vào vần xả); viết chữ sai (từ bóng thiềm có chữ thiềm là con cóc viết thành thuyền); đôi khi có mục từ được ghi chữ “như” ở một từ đồng nghĩa, nhưng mở ra tìm, lại không thấy đâu cả (dứt dây động rừng: như bứt dây động rừng; tr. 200)... – Càng đọc vào tôi càng phát hiện ra những điều cầnđã được đáp ứng (chưa dám nói là đủ) ở một cuốn từ điển giải nghĩa tiếng Việt mà hai tác giả từng cất công đeo đuổi suốt nhiều năm. Không phải nhà ngôn ngữ học, nhưng để khỏi phụ lòng hai ông, dưới đây tôi xin nêu một vài ý kiến ban đầu, hay dở đều xin nói thẳng, hai ông cứ xem là cảm tưởng của một người không chuyên nói lên những gì mà sách làm khơi dậy sự “động não” của mình.

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2022

Nhận xét bài viết “Nguyễn Du và chuyến Bắc hành lần đầu – qua khảo sát một bài thơ cụ thể: Nhạc Vũ Mục mộ”(*) của ông Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Nguyễn Huệ Chi

1. Phần I bài viết của ông Mai An Nguyễn Anh Tuấn (NAT) nêu lên một gợi ý về sự hiện hữu của một cuộc hành trình sang Trung Quốc của Nguyễn Du khác với chuyến Bắc hành năm 1813 đã được sử sách ghi lại. Căn cứ cho gợi ý là một số địa danh trong Bắc hành tạp lục và trong Thanh Hiên thi tập “không nằm trùng trên lộ trình đi sứ Trung Quốc” mà tất cả các sứ giả cùng thế kỷ XVIII đã ghi chép, vẽ bản đồ trong các tập thơ văn của họ. Căn cứ thứ hai là bài viết của Phạm Trọng Chánh cách đây nhiều năm đặt vấn đề có một cuộc hành trình như thế và đã mô tả bằng tưởng tượng cuộc hành trình giả định của Nguyễn Du đến tận các vùng như Giang Bắc, Giang Nam, đi xem khắp các sông hồ nổi tiếng ở Trung Hoa, mà NAT trích dẫn trong bài của mình với sự tin cậy.

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2021

Hát Giặm Nghệ-Tĩnh I và II của Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao

Lê Văn Hảo

image

Các tỉnh Nghệ-an và Hà-tĩnh ở về phía Nam Thanh-hóa, thuộc miền Trung Việt-nam, đã hình thành nên một nhóm địa văn hóa thuần nhất, thường được gọi là văn hóa Nghệ-Tĩnh. Tiến trình của Đại Việt (Việt Lớn, tên cũ của Việt-nam) trong nhiều thế kỷ, là một đất nước được thiên nhiên phú bẩm cho những danh lam thắng cảnh hùng vĩ, nhưng lại chứa đựng những nguồn tài nguyên hạn chế, phải tiếp xúc với một khí hậu khắc nghiệt, và phải hứng chịu nhiều bất ổn và chiến tranh thường xuyên. Tuy nhiên, những vùng đất bạc bẽo này đã ban tặng và sản sinh cho Việt-nam một số công dân nổi tiếng nhất: quan đại thần, nhà thơ, nhà yêu nước, nhà cách mạng. Dường như ở đây con người được định hình mạnh mẽ bởi khung cảnh địa lý đặc biệt.

Thứ Năm, 16 tháng 9, 2021

"Lược khảo về Thần thoại Việt-nam" của Nguyễn Đổng Chi

(Ban Văn Sử Địa (Ban Nghiên cứu Văn học, Lịch sử và Địa lý), Hà-nội, 1956, 185 tr.)

Lê Văn Hảo

image3

Cuốn sách là công trình đầu tiên và duy nhất cho đến nay cung cấp một cái nhìn toàn diện cũng như tổng hợp được tài liệu một cách chắc chắn về thần thoại Việt-nam, một chủ đề vừa mới vừa có tầm rộng lớn mà người biết còn rất ít. Sách có ba phần.

Phần đầu là lý thuyết (từ Chương I đến chương III) trình bày những khảo sát chung về bản chất và nguồn gốc của thần thoại và truyền thuyết, về sự hiện diện của chúng trong lịch sử, tôn giáo, chữ viết và nghệ thuật cũng như giá trị giáo dục và chính trị của chúng.

Phần thứ hai, trước khi đi vào trọng tâm của vấn đề, trình bày một số yếu tố được rút ra từ thần thoại của các dân tộc Trung-quốc và Lào, và của các dân tộc Mèo, Mán, Mường, Lôlô và Bahnar, coi như đấy là các tài liệu về nguồn gốc của thần thoại Việt-nam. Sự đối sánh những thần thoại khác nhau này khiến chúng ta có thể nhận thức được ít hay nhiều về những mối tương quan loại hình cơ bản và đáng chú ý (Chương IV).

Chương V mang tên “Buổi khởi đầu của vũ trụ” đưa ra một chuỗi truyện thần thoại Vũ trụ Việt-nam, là những câu chuyện về các vị thần đã tham gia Sáng tạo: truyện về vị thần Sắp đặt của thời kỳ nguyên thủy hỗn mang; truyện thần Biển; truyện hai vị thần khổng lồ Đực và Cái; truyện mười hai bà mụ thần thánh; huyền thoại kép về sự bất tử của loài Rắn đi cùng sự “hữu tử” (trước sau phải chết) của Con người; truyện về hai vị thần Công lý được giao trọng trách giám sát hoạt động của bộ máy luân hồi; truyện các nữ thần Mặt trời và Mặt trăng; huyền thoại về việc sửa chữa "các khuyết tật mà động vật mắc phải sau chặng đường sáng tạo quá vội vàng đầu tiên"; huyền thoại "tạo ra lúa và bông"; truyện "nữ thần Lười, nàng Bân" là cội nguồn của cái lạnh mùa xuân; truyện chàng chăn trâu Ngưu lang bất tử và nữ thần dệt Chức nữ; truyện Cuội bất tử cư ngụ trên mặt trăng với cây đa của chàng.

Chương VI, mang tên "Phả hệ của các thần" liên quan đến những câu chuyện về các vị thần cai quản thế giới: các thần Sét, Gió, Mưa, Lửa, Bếp, Đất (hai vị thần sau đôi khi bị nhầm lẫn thành một), Núi, Nước, Địa ngục, Trồng trọt, nữ thần nghề Mộc. Những thần thoại này có liên quan tới một số truyền thuyết nhất định, trong đó người ta thấy các vị thần can thiệp vào công việc của con người ở những tình huống đôi khi bất lợi cho họ, thậm chí làm thần mất cả thể diện: chẳng hạn truyền thuyết về con Cóc kiện vị thần tối cao là ông Trời, hay truyền thuyết kể lại nỗi bất hạnh của thần Đất bị một người phàm trần đánh trong cơn giận của anh ta.

Chương VII đi từ thần thoại đến truyền thuyết và những truyền thuyết về các vị á thần là tổ tiên xa hay tổ tiên trực tiếp của người Việt, đặc biệt là truyện những kỳ công hoàn hảo tiêu diệt lũ quỷ Nước, quỷ Đất và quỷ Núi của vua Lạc Long Quân (vua Rồng của cư dân Lạc hay vua của những con Rồng và đàn chim Lạc); truyện cuộc hôn nhân giữa vua Lạc Long Quân và nữ thần Âu Cơ cùng với truyện một trăm người con trai của họ, từ một cái túi chứa trăm quả trứng sinh ra.

Chương VIII kể chuyện "triều đại các vua Hùng", được thành lập bởi một trong số một trăm người con trai nói trên. Các vua Hùng là tổ tiên trực tiếp, những người cai trị đầu tiên của dân tộc Việt-nam. Một trong những công chúa Hùng kết hôn với thần Núi Tản-viên, việc này đã làm nảy sinh cuộc xung đột giữa Tản-viên với thần Biển (Thuỷ Tinh). Dưới thời trị vì của một trong các vua Hùng, nổi bật lên người anh hùng Phù Đổng; vua An Dương của nhà Thục đánh bại ông vua Hùng cuối cùng nhờ sự giúp đỡ của thần rùa (thần Kim Quy).

Sau khi trình bày xác thực nội dung của các thần thoại, truyền thuyết, tác giả đã nêu bật ý nghĩa xã hội học và ý nghĩa lịch sử của chúng, nhìn nhận trong đó sự phản ánh trạng thái vật chất và tinh thần của xã hội tiền Việt-nam trước cuộc chinh phục của Trung-quốc. Qua những câu chuyện ngây thơ, kỳ ảo, thơ mộng và đôi khi là hết mức hiện thực, hiện ra hình bóng một xã hội đã biết cách tiếp cận quan niệm đối ngẫu về các nguyên tắc Đực và Cái chi phối tiến trình của vũ trụ; quan niệm lao động như là nguyên tắc sáng tạo nên thế giới: các thần thoại đã biểu đạt rất ý vị khía cạnh lao động vất vả này và cả sự cố gắng cũng như ý thức tận tụy vì lợi ích cộng đồng trong chế độ bộ lạc cộng đồng. Câu chuyện huyền thoại về các á thần và các anh hùng tượng trưng cho cuộc đấu tranh của những con người ở thời nguyên thủy đối mặt với sự hung dữ của thiên nhiên còn kém thuần hóa được thể hiện dưới hình dạng những con quỷ tàn phá ẩn nấp dưới đáy nước sâu hoặc trong các hang núi.

Nhanh chóng tiếp thu quy tắc của cuộc đấu tranh vì sự sống, những con người kể trên đã tìm cách đề phòng trước các nguy cơ bị diệt vong cùng lúc với việc họ thử chế ngự thiên nhiên và biến đổi thế giới. Bên cạnh những phương tiện đấu tranh cụ thể, họ cũng ấp ủ ước mơ, hình thành nên những mong muốn, những khát vọng hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, vơi bớt được mối bận tâm làm việc cực nhọc hàng ngày và nỗi ám ảnh về cái chết. Họ coi lửa như một kỹ thuật kỳ diệu, thậm chí là một vị phúc thần làm lợi cho sự tồn tại vật chất của con người. Họ mơ tới những cách thức thần thông để nhanh chóng tự chữa lành vết thương, những phương thuốc có khả năng giúp con người sống lại và ngay cả là trường sinh bất tử.

Thần thoại và truyền thuyết cũng thể hiện tinh thần đề kháng và kiên trì của con người trước sự thả lỏng của những thế lực hung bạo, tàn ác, và bất công, cuối cùng các thế lực này sẽ bị ý chí của con người đứng về phía lý trí và công lý khuất phục. Tất cả điều đó chẳng phải đều cho thấy quan niệm bình đẳng, tinh thần dân chủ và ý chí tự do không gì dập tắt của tổ tiên người Việt đã xuất hiện từ rất sớm hay sao? Bên cạnh những cuộc đấu tranh can trường và khát vọng sống yên ổn và công bằng, các câu chuyện huyền ảo còn dành một vị trí quan trọng cho những tình cảm và hành động hào hiệp của các vị thần, á thần hay nhân thần, đã giúp dân tộc Việt, hậu duệ của mình, tin tưởng vào các đức tính dân chủ, công lý và lòng dũng cảm, phục vụ cuộc đấu tranh vì sự sống. Hiện diện trong thần thoại Việt-nam có rất nhiều ám dụ về các loài động vật sống dưới nước, đặc biệt là rùa, nhất là rồng, đã chiếm một phần lớn trong toàn bộ các lĩnh vực thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích (trong khi các động vật khác như con cò và chim bồ câu chẳng hạn, lại chiếm ưu thế trong số các chủ đề của các câu tục ngữ và các bài ca dao dân ca). Hiện diện ngay bên cạnh những điều huyền ảo có tính thần thoại còn có cả những bí quyết, thủ thuật và những mưu mẹo thuần túy của con người được đúc kết từ trí thông minh hoặc từ tự nhiên: Thần thoại Việt-nam vẫn thế, vẫn hiện thực, nhân hóa, nhân bản và không biết đến hoặc gần như không có những khía cạnh quái dị, quá khổ, khủng khiếp, là những đặc trưng sẵn có, ​​ví dụ của thần thoại Indo-Aryan; và như vậy, thần thoại này vẫn tồn tại trong hình ảnh những con người đã sáng tạo ra nó, những con người hướng nhiều hơn đến cuộc sống cụ thể, hướng xuống mặt đất [thực tế], hơn là hướng tới những điều tưởng tượng và hư huyễn (Chương IX).

Công trình của Nguyễn Đổng Chi, xuất hiện đã 6 [*] năm, vẫn hữu ích và không thể thiếu trong tình hình nghiên cứu thần thoại Việt-nam nói riêng và dân tộc học Việt-nam nói chung hiện nay. Tác giả đã dựa trên nhiều nguồn và tài liệu tham khảo[1] để rút ra một tập hợp các dữ kiện có trình tự lớp lang, cân đối, góp phần tạo nên một cái nhìn toàn cảnh khá đầy đủ về chủ đề này. Việc giải thích thần thoại và truyền thuyết đã dẫn đến những phát hiện thú vị về nền tảng văn hóa của người Việt, bổ sung cho việc tiếp thu khảo cổ học, tiền sử và dân tộc học. Lời chỉ trích duy nhất mà người ta có thể dành cho Nguyễn Đổng Chi là ông đã thiết lập nên một sự khác biệt quá hệ thống giữa các vị thần trong thần thoại với các vị thần của tôn giáo bình dân, đặc biệt là các vị thần thành hoàng của các làng xã (tr. 10-11). Nghiên cứu thêm một chút về sự thờ cúng các vị thần thành hoàng này sẽ cho thấy các nghi lễ bên ngoài thờ cúng ẩn chứa những huyền thoại và những nghi thức bí mật có nguồn gốc nông nghiệp. Những câu chuyện huyền thoại và những nghi thức này, do tính cách dữ dội, phóng đãng hoặc bê tha của chúng, đã duy trì truyền thống ma thuật-tôn giáo trọng đại của người nông dân tiền-Việt-nam (proto-Vietnam) mà trên đó còn ghép vào các thứ tín ngưỡng vật linh, vật tổ và sắc dục khác, có thể đã được các bộ lạc nông dân[2] thời tiền-nông nghiệp thực hành. Huyền thoại nông nghiệp, với nghi lễ quan trọng, thường được giữ bí mật vì những khía cạnh chống thủ cựu và không chính thống của nó, xứng đáng được đưa vào một quần thể lớn của thần thoại Việt-nam, điều mà Nguyễn Đổng Chi đã bỏ qua trong chuyên khảo. Một công trình rộng hơn và sâu hơn về chủ đề này sẽ phải tính đến sự tồn tại của mảng huyền thoại nông nghiệp đã nói, một trong những nền tảng bất biến nhất của nền văn minh đại chúng của Việt-nam.

L.V.H.

Tập san Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, Paris; Tập LII, số 1 (1964); tr. 253-256

Nguyễn Huệ Chi dịch


[*] TS Lê Văn Hảo viết bài này căn cứ trên ấn bản lần đầu Lược khảo về thần thoại Việt Nam năm 1956 (ông ghi số trang của sách là 185, trong khi ấn bản lần hai cũng trong năm 1956 lên đến trên dưới 250 trang). Từ thời điểm 1956 đến năm bài viết được công bố trên Tập san Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (BEFEO) ở Paris (1964) là 8 năm chứ không phải 6 năm. Chúng tôi đoán, bài viết của tác giả được hoàn thành vào năm 1962 cùng một lúc với các bài bình điểm Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Tập II, Hát Giặm Nghệ-Tĩnh 2 tập, Hát ví Nghệ-TĩnhHát phường vải dân ca Nghệ-Tĩnh cũng do ông viết, nhưng đến 1964 BEFEO mới in vào số 1, Tập LII, nằm trong cả một chùm bài dành cho việc giới thiệu các công trình nghiên cứu của Việt Nam, từ Bắc đến Nam (Người dịch).

[1] Nguồn truyền khẩu, tập hợp từ các nguồn ở tận gốc, và các nguồn viết bằng tiếng Trung, tiếng Việt và tiếng Pháp (xem thư mục, trang 183).

[2] Xem bài viết của chúng tôi: Những hội lễ mùa màng ở Việt Nam (nghiên cứu sơ bộ) được xuất bản bởi Tạp chí Đông Nam Á, Viện Xã hội học, Đại học Tổng hợp Bruxelles, số 4, 1962.

 

NGUYỄN ĐỔNG CHI - Lược khảo về thần thoại Việt-nam, «Essai sur la Mythologie vietnamienne». Éditions du Ban Văn Sử Địa (Comité des Études littéraires, historiques et géographiques), Hànôi, 1956, 185 p. in-12(*).

Lê Văn Hảo

Cet ouvrage est le premier en date et le seul jusqu'à présent qui ait apporté une vue d’ensemble solidement documentée et synthétisée sur la mythologie vietnamienne, sujet aussi neuf et vaste que mal connu. Il comporte trois parties.

La première partie, théorique (chap. I à III) émet des considérations générales sur la nature et l’origine des mythes et des légendes, sur leur présence dans l’his­toire, la religion, les lettres et les arts ainsi que sur leur valeur pédagogique et politique.

La deuxième partie de l’ouvrage propose, avant d’entrer dans le vif du sujet, un certain nombre d’éléments tirés des mythologies des peuples chinois et lào, et des peuplades Miao, Mán, Mường, Lolo et Bahnar, comme documents sur les origines de la mythologie vietnamienne, la confrontation de ces différentes mythologies permettant d'apercevoir des analogies plus ou moins notables et fondamen­tales (chap. IV).

Le chapitre V, intitulé «La Genèse de l’Univers» donne une série de mythes cosmogoniques vietnamiens qui sont les histoires des dieux ayant participé a la Création : histoire du dieu ordonnateur du Chaos originel; celle du dieu de la Mer, celles des deux dieux géants Mâle et Femelle, celle des douze Sages-femmes divines, le double mythe de l’immortalité du Serpent et de la mortalité de l’homme, histoire des deux dieux justiciers préposés à la surveillance des rouages de la Métempsycose, celle des déesses Soleil et Lune, mythe de la réfection «les malfor­mations dont ont été victimes les animaux après la Création préliminaire trop hâtive, mythe «le la création du paddy et du cotonnier», histoire «le la déesse de la Paresse, Bân, qui est à l’origine des coups de froid au printemps, celle de l'immor­tel Bouvier et de la déesse Tisserande, celle de l'immortel Cuội qui réside sur la lune avec son banian.

Le chapitre VI, intitulé «la Généalogi des Dieux» relate les histoires des divinités régisseuses du Monde : dieux de la Foudre, du Vent, de la Pluie, du Feu, du Foyer, du Sol (ces deux derniers sont parfois confondus en un seul dieu), des Montagnes, des Eaux, de l’Enfer, de l'Agriculture, déesse patronale des métiers du bois. A ces mythes se rattachent un certain nombre de légendes dans lesquelles on voit les dieux intervenir dans les affaires humaines en des circonstances parfois défavorables et même fort humiliantes pour eux : telles sont par exemple la légende du Crapaud qui porte plainte à Monsieur le Ciel (ông Trời) divinité suprême, ou la légende relatant la mésaventure du dieu du Sol bastonné par un mortel en colère.

Le chapitre VII passe des mythes aux légendes et raconte l'histoire des demi-dieux, ancêtres lointains ou ancêtres directs des vietnamiens, en particulier celle des exploits accomplis par le Roi Lạc Long Quân (roi-Dragon du peuple Lạc ou Roi des Dragons et des Oiseaux Lạc) aux dépens des démons des Eaux, de la Plaine et des Montagnes, celle de son mariage avec l'immortelle Âu Cơ et celle de leurs cent fils, issus d'une poche contenant cent œufs.

Le chapitre VIII raconte l’histoire de la « dynastie des Hùng » fondée par l'un des cent fils. Les rois Hùng sont les ancêtres directs, les premiers dirigeants du peuple vietnamien. Une des princesses Hùng se marie avec le dieu de la Montagne Tản-viên qui, de ce fait, entre en conflit avec le dieu de la Mer (Thuỷ-tinh). Sous le règne de l’un des rois Hùng s’illustre le héros de Phù-đổng; le Roi An-dương de la dynastie des Thục, vainqueur du dernier roi Hùng est aidé par un génie-tortue (Thần Kim-quy).

Après avoir précisé le contenu de ces mythes et légendes, l’auteur a bien dégagé leur signification sociologique et historique; il y a vu le reflet de l’état matériel et spirituel de l’antique société proto-vietnamienne d’avant la conquête chinoise. A travers des récits naïfs, fabuleux, poétiques et parfois éminemment réalistes, apparaît en filigrane une société qui a su atteindre à la conception antithétique des principes Mâle et Femelle qui régissent la marche de l’univers, à la conception du travail comme principe créateur du monde : des mythes ont bien exprimé ce respect du labeur et de l’effort et ce sens de dévouement au bien de la collecti­vité du régime tribal communautaire. L’histoire légendaire des demi-dieux et des héros symbolise la lutte menée par les hommes de l'âge originel face aux déchaînements de la nature mal domptée et représentée sous la forme des démons destructeurs tapis dans les profondeurs des eaux ou les repaires montagneux.

Rapidement acquis a la règle de la lutte pour la vie, ces hommes ont cherché à se prémunir contre les risques d’anéantissement en même temps qu’ils ont essayé de dominer la nature et de transformer le monde. A côté des moyens de lutte concrets, ils ont caressé aussi des rêves, formulé des désirs, des aspirations vers une vie meilleure, plus délestée du souci du labeur quotidien et de l’obsession de la mort. Ils ont considéré le feu comme une technique-miracle et même comme un dieu bénéfique à l’existence matérielle de l’homme. Ils ont rêvé des moyens merveilleux pour se guérir rapidement, des recettes aptes à provoquer les palin-génésies et même l'immortalité.

Les mythes et légendes expriment aussi l’esprit de résistance et de persévérance de l’homme devant le déchaînement des forces violentes, brutales et injustes qui seront finalement soumises par ceux qui se mettent du côté de la raison et de la justice. Tout cela ne traduit-il pas la conception de l'égalité, l’esprit démocratique et la volonté de liberté inextinguible qui ont apparu tôt chez les aïeux des Viet­namiens? A côté des luttes courageuses et des aspirations à la sécurité et à l’équité, les récits fabuleux réservent aussi une place importante aux sentiments et aux actions généreuses de tel dieu ou demi-dieu ou de tel être humain qui mettent leurs peuple Việt, son descendant, confiant dans les vertus de la démocratie, de la justice et du courage mises au service de la lutte pour la vie; présence dans la mythologie vietnamienne de nombreuses allusions aux animaux aquatiques, en parti­culier aux tortues et surtout aux dragons qui se taillent une grande part dans l’ensemble du domaine des mythes, des légendes et des contes (alors que d’autres animaux comme l’aigrette et le goujon, par exemple, dominent parmi les thèmes des dictons et des chants populaires); présence à côté du merveilleux mythologique, des recettes, ruses et stratagèmes purement humains puisés dans l'intéligence ou la nature: la mythologie vietnamienne reste réaliste, anthropomor­phique, humaniste et ne connaît pas ou presque pas ces aspects incroyables, démesurés, monstrueux, qui caractérisent par exemple la mythologie indo-aryenne; en cela, cette mythologie reste à l’image des hommes qui l’ont créée et qui s’orientent plus vers la vie concrète, terre à terre, que vers l’imaginaire et le fan­tastique (chap. IX).

L’œuvre de Nguyễn Đổng Chi, qui date de six ans, demeure utile et indispen­sable dans l’état actuel des recherches sur la mythologie vietnamienne, en parti­culier et sur l'ethnologie vietnamienne en général. L’auteur a su s’appuyer sur de nombreuses sources et références(1) pour tirer un ensemble de faits ordonné, équilibré, contribuant à une vision panoramique assez complète du sujet. L’inter­prétation des mythes et des légendes a abouti à des constatations intéressantes sur le fonds culturel des Vietnamiens qui complètent les acquisitions de l’archéolo­gie, de la préhistoire et de l’ethnologie. Le seul reproche qu’on pourrait adresser à Nguyễn Đổng Chi est d’avoir établi une différence trop systématique entre les dieux de la mythologie et les génies de la religion populaire en particulier les génies tutélaires des villages (p. 10-11). Une recherche un peu plus poussée sur le culte de ces génies tutélaires révélera que les cérémonies extérieures du culte cachent des mythes et rites secrets d’origine agraire. Ces mythes et ces rites par leur carac­tère violent, licencieux ou orgiaque perpétuent la grande tradition magico-reli­gieuse des agriculteurs protovietnamiens sur laquelle se greffent d’ailleurs d'autres cultes animistes, totémistes et sexualistes qui avaient peut être été pratiqués déjà par des tribus de proto-agriculteurs(2). La mythologie agraire, avec son important rituel, très souvent tenu au secret à cause de ses aspects anticonformistes et hété­rodoxes, mériterait donc d'être incorporée dans le grand ensemble de la mytho­logie vietnamienne, ce qui a été négligé dans l’essai de Nguyễn Đổng Chi. Un tra­vail plus élargi et plus approfondi sur le sujet devra tenir compte de l’existence de cette mythologie agraire, un des fondements les plus immuables de la civili­sation populaire du Vietnam.

L.V.H.

Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Paris; Tome LII, no 1 (1964); pp. 253-256.


(*) Tức khổ sách 13cm x 19cm (Người dịch).

(1) Sources orales recueillies de première main et sources écrites en langue chinoise, vietnamienne et française (cf. bibliographie, p. 183).

(2) Cf. notre travail: "Les fêtes saisonnières au Viêt-nam" (étude préliminaire) à paraitre dan» la Revue du Sud-Est asiatique (Institut de Sociologie, Université de Bruxelles), no 4, 1962.

Chủ Nhật, 23 tháng 5, 2021

Tưởng nhớ Võ Hồng nhân 100 năm ngày sinh

Thụy Khuê – Nguyễn Huệ Chi

Nhân 100 năm sinh nhà văn Võ Hồng, trong điều kiện không có tài liệu trong tay và cũng không đủ thì giờ để viết một bài thật nghiêm túc về nhà văn mà tôi dành nhiều ưu ái khi bắt đầu tìm hiểu về văn học miền Nam vào một năm sát trước thời điểm 1975 cũng như sau đó – một nhà văn có trong sáng tác của mình đôi mắt nhìn đời nhân hậu và khả năng khai thác những góc khuất éo le trong cảnh ngộ tầng lớp trí thức trung lưu, đứng trước dòng thời cuộc bão tố 1945-1975 ở một vùng đất nghèo miền Trung, đặc biệt trong đó là một ít người được đưa đẩy đến với cuộc cách mạng và kháng chiến mà không xốc nổi, dù chịu bao nhiêu sóng gió xiêu liêu vẫn đọng lại trong tâm hồn một thứ ánh sáng riêng khó lẫn với những lớp người khác – tôi xin chuyển đến trang Văn Việt mục từ cô đọng về Võ Hồng của nhà nghiên cứu Thụy Khuê viết chung với tôi trong Từ điển văn học bộ mới (Nxb. Thế giới, 2004). Phần đóng góp của Thụy Khuê trong bài là chính, tôi chỉ được phân công viết về truyện dài Hoa bươm bướm có liên hệ đến Như cánh chim bay của ông.

Theo hiểu biết của bản thân mình thì cho đến hôm nay tiểu luận ngắn này vẫn là tiếng nói sau cùng về văn nghiệp Võ Hồng.

Hy vọng đây là một chút của tin gửi đến hương hồn nhà văn, mặc dầu sách xuất bản khi Ông còn tại thế.

Nguyễn Huệ Chi

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2018

Boristo Nguyễn đã bé cái nhầm

Nguyễn Huệ Chi

I

Bài “Có phải GS Nguyễn Huệ Chi tìm ra tên của Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Tung” của Boristo Nguyen công bố trên Văn nghệ TP HCM ngày 1-12-2018 trước sau chỉ nhằm mục đích tố cáo tôi lấy cắp công lao của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong việc phát hiện ra người mang pháp danh Tuệ Trung Thượng sĩ đời Trần chính là Trần Quốc Tung, không phải Trần Quốc Tảng như ý kiến của Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt văn tuyển. Nhưng muốn làm được điều đó thì không thể đi lại con đường Nguyễn Hòa đã đi, vốn đã bị Đặng Văn Sinh bác bỏ một cách thuyết phục (xem đây). Lần này phải làm sao “nói có sách mách có chứng”, chỉ một cú nhấp chuột “xong” ngay! Vốn học về khoa học tự nhiên (như ông từng cho biết), Boristo Nguyen bèn sử dụng tay nghề có sẵn, đưa ra một bài toán thống kê và loại trừ, bày trước mắt người đọc 4 văn bản, hoặc dịch hoặc phỏng dịch toàn văn hoặc một phần bài Thượng sĩ hành trạng mà cả Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tôi đều nhất thiết phải dùng đến. 4 văn bản đó là: 1. Bản dịch đầy đủ của Thiền sư Thích Thanh Từ, 1996; 2. Bản dịch đầy đủ của Đỗ Văn Hỷ và Nguyễn Huệ Chi trong Thơ văn Lý-Trần Tập II thượng, 1989; 3. Những đoạn trích dịch và phỏng dịch của Thích Nhất Hạnh (Nguyễn Lang) trong Việt Nam Phật giáo sử luận I, 1973; 4. Những đoạn trích dịch và phỏng dịch của Nguyễn Huệ Chi trong bài Trần Tung một gương mặt lạ trong làng thơ thiền thời Lý-Trần in trong Văn học Việt Nam Cổ cận đại - Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, 2013. Hai văn bản trên được xem như “bàng chứng” soi tỏ hai văn bản dưới, để từ đó có cơ sở so sánh và nhận định. Quả hết sức chỉn chu. Cuối cùng, sau khi đối chiếu, sàng lọc kỹ lưỡng, ông chọn được một đoạn theo ông có ba câu “giống nhau như đúc” (chúng tôi tô đậm ở dưới) giữa bản của Thích Nhất Hạnh và bản của tôi:

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

Về bài “thưa lại” của ông Boristo Nguyen

Nguyễn Huệ Chi

Nhiều người hỏi tôi vì sao không trả lời tiếp Boristo Nguyen. Tôi có nói với họ: mới đọc đầu đề thấy cách nói năng chừng mực đáng trọng, nhưng đọc vào bài thì không có nhiều ý để bàn thêm so với những gì tôi đã nói rồi. Hỏi, trả lời, lại hỏi thì lòng tin đâu còn nữa để đối thoại với nhau. Mà cách viết trong bài cũng không “từ tốn” như tiêu đề. Các câu hỏi chất chứa định kiến khó mà cùng nhau đi đến chân lý. Định dừng lại không tiếp tục nữa nhưng rồi lại thấy ông xin phép đem về trang Facebook Dũng Hoàng, và trong bài còn bày tỏ một ý tưởng hơi lạ: không trả lời tưởng là “đã biết lỗi và im lặng”. Thôi thì dù có phải mang tiếng là “thích khoe khoang” hay “bất nhẫn”… cũng phải lên tiếng một lần cuối cho rõ rệt mọi chuyện. Tôi tạm chia thành ba cụm vấn đề tách bạch để trả lời ông.

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2018

Nhớ lại lễ tang ông Trần Độ

Nguyễn Huệ Chi

Đọc bài viết Có một đám tang… rất buồn của Trần Thắng, con trai tướng Trần Độ mà anh Vũ Thư Hiên đưa lại trên Facebook, tôi xúc động nhớ lại quang cảnh đám tang 15 năm trước mà tôi là người may mắn được chứng kiến. Đám tang lịch sử này tổ chức vào buổi sáng ngày 14-8-2002 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Trần Độ là một người tôi kính trọng, đã từng được gặp ông mấy lần ở nhà anh Văn Tâm. Ông phải chịu nhiều nỗi oan khiên, những tội danh vô lối đổ lên đầu mà anh em trí thức đều biết cả – như chuyện người ta vu cho ông đến lúc vào bệnh viện rồi vẫn còn… “mê gái”, những kiểu bày đặt không thể nói hết sự tưởng tượng quái gở. Nhưng thuở ấy chưa hề có những công cụ như Facebook để đổi trao, tâm sự, nên cứ phải ngậm thinh rỉ tai thầm với nhau chứ có cách nào cãi lại được báo chí đâu. Bởi thế không ai mách ai mà đám tang ông đông lạ thường. Có lẽ người ta đều nghĩ đây chính là dịp để chính mình được đến giãi bày chút lòng son với linh hồn người vừa nằm xuống.

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2018

Lược bày những sự thật khác với bài nói của ông Nguyễn Văn Hoàn

Thưa anh Trần Hữu Dũng,

Tôi cứ ngỡ sẽ không còn phải phiền đến trang mạng của anh để đăng những chuyện xung quanh bộ sách Thơ văn Lý-Trần mà Viện Văn học công bố cách đây trên dưới 40 năm, không ngờ lại vẫn cứ phải phiền anh một lần nữa – hy vọng đây là lần cuối. Bởi hôm nay mở máy tính, lướt xem các trang mạng, đến trang viet-studies thì gặp bài của ông Kiều Mai Sơn ghi lại lời ông Nguyễn Văn Hoàn – một đồng nghiệp của tôi thuở ở Viện Văn học – trò chuyện với ông này về những điều liên quan đến cá nhân tôi và bộ sách nói trên. Vì phát biểu của ông Hoàn trong chỗ riêng tư lại có động đến nhân cách tôi, hơn nữa xét cách nói không phải ngẫu nhiên, tiện thể thì nói, mà nói rất nghiêm túc, nên buộc tôi phải trả lời. Nhưng ông Hoàn đã quá cố, không thể mời ông dậy đối thoại được nữa. Còn ông Kiều Mai Sơn chỉ là người đưa chuyện, chẳng dây mơ rễ má gì với tôi. Vì thế, hay hơn hết, tôi nghĩ, xin mượn anh làm một thính giả để tôi có đôi lời phân giải (xin dùng chữ Anh ở tất cả những chỗ phải nhắc đến anh), qua đó giúp công luận nhìn rõ hơn vài điều về bản thân mình. Tôi cũng không muốn đem những chuyện tỉ mẩn trong nhà mình ra kể, nhưng không dưng ông Hoàn lại đề cập, đành phải bỏ thói quen lâu nay vẫn giữ, cũng là bất đắc dĩ, rất mong bạn đọc cảm phiền.

Thứ Tư, 27 tháng 6, 2018

Vài lời đáp lại ông Boristo Nguyen(1)

Nguyễn Huệ Chi

Tôi rất khâm phục ông thưa ông Boristo Nguyen, trong việc ông chuẩn bị rất bài bản bài viết này để hạ nhục tôi sát đất, bằng nhiều cách khôn khéo. Chẳng hạn ngay mở đầu ông đã trình ra mấy lời tôi “tự khoe khoang” làm độc giả mất cảm tình, mà mấy lời đó chỉ là phản ứng tức thời của tôi viết trên Facebook của ông Sơn Kiều Mai nhằm chống lại dụng tâm của ông Sơn Kiều Mai mượn miệng ông Nguyễn Văn Hoàn (không biết thật hay giả) nói những lời mạt sát tôi về tư cách nhà nghiên cứu. Tiếp đó ông trưng một cái hình mập mờ về bản khai lý lịch khoa học của tôi (nhưng lại cố tình ghi ở dưới là bút tích cụ Đào Phương Bình), để bạn đọc nhìn vào tưởng nhầm rằng mấy lời trên là ông trích từ lý lịch tự khai của cá nhân tôi, nhưng do cụ Đào Phương Bình sao chép (nghĩa là bảo đảm rất thật). Lắp hai mảnh ghép khác nhau lại như thế, nếu không phải là khôn khéo thì còn gì nữa, bởi những ai đã đọc vào bài ông đều đinh ninh rằng đấy là lời khai trong lý lịch, thì còn ai chịu đọc tiếp cái chú thích vắn tắt của ông ở dưới bài để hiểu cho được nguyên ủy vì sao tôi lại tự khoe mình với một người mà mình chưa bao giờ quen biết như ông Sơn Kiều Mai. Vâng, nếu quả tôi là con người kiêu căng, hợm hĩnh, thích huênh hoang trước mọi người kiểu ấy, thì ông làm như thế có thể nói là đạt rồi đấy. Tiếc thay tôi lại không phải là người như ông hình dung. Ông cứ tìm hiểu những ai từng quen biết tôi mà xem. Tôi nghĩ, nên xem xét người khác một cách cầu thị hơn và không định kiến, không cố ý tách câu này chữ nọ ra khỏi văn cảnh để đánh vào tâm lý người đọc, thì mới tìm ra sự thật, đó là điều cần cho con người nhân văn trong thế giới hôm nay.

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2017

Hà Tĩnh hãy dừng ngay việc chôn hải sản nhiễm độc xuống chân đê bao biển!

NHẮN QUÊ HƯƠNG HÀ TĨNH CỦA TÔI HÃY DỪNG NGAY CHUYỆN RẤT GỞ: ĐỪNG TỰ CHÔN MÌN GIẬT SẬP NHÀ MÌNH

FB Nguyễn Huệ Chi

Đối với vấn đề đê điều ở Việt Nam, các chế độ thống trị kể từ 1945 trở về nhiều thế kỷ trước đều có những luật lệnh rất nghiêm ngặt, nếu để xẩy ra vỡ đê thì quan cai trị một tỉnh, thậm chí nhiều tỉnh đều bị cách, bị tù, vì đê là phương tiện quan trọng bậc nhất bảo vệ tính mạng dân chúng và mùa màng trước sự tàn phá khủng khiếp của những con sông rất dốc mùa lũ lụt và những cơn bão tố triền miên trên suốt một bờ biển kéo dài vây bọc lấy xứ sở này. Thế mà chính quyền cộng sản Hà Tĩnh giờ đây lại cho xe đào đất đến đào hố lớn ngay sát dưới chân con đê Đồng Môn bao biển để chôn hải sản nhiễm độc, hành vi mà có khi đến vua Ngọa Triều lừng danh ngu và ác thời tiền Lê xa xưa có sống lại cũng chịu thua.

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016

Nhân bài viết “Cánh Buồm của ông Toàn”

(Đại diện trang Bauxite Việt Nam phỏng vấn nhà giáo dục Phạm Toàn – giữa hai người có một cái chai và hai cái ly nho nhỏ)

15625664_691497997685483_2716327445040910135_o

BVN - Anh Toàn thân mến, gọi là phỏng vấn cũng được, mà gọi là tâm tình cũng được… Tôi hỏi, anh đáp nhé… Trên báo Tiền phong mới đây, có bài “Cánh Buồm của ông Toàn” đầy thiện cảm với anh, và được tòa soạn giới thiệu trân trọng “Từ lúc mới xuất hiện, bộ sách Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn chủ biên đã gây ra không ít tranh cãi trong giới làm sách”, xin anh cho một vài ý tổng quát về việc làm của Nhóm Cánh Buồm của anh.

PHẠM TOÀN - (cười) Làm gì có “tranh cãi”, thậm chí có “không ít tranh cãi”…? Và làm gì có cả cái “giới làm sách” (giáo khoa) nữa? Ở nước ta mới chỉ có những người “được biên chế” vào làm công việc viết sách giáo khoa trong những Dự án này nọ dưới sự chỉ huy của những “Tổng tư lệnh” hoặc những “Tư lệnh”, người nào cũng đáng tin cậy cả!

BVN - Cơ may nào đã đưa anh lao đầu vào làm công việc viết sách giáo khoa Cánh Buồm này vậy?

PHẠM TOÀN - Tôi năm nay 85 tuổi. Các chị gái và em gái tôi trong gia đình cũng hỏi tôi như anh vừa hỏi: sao không nghỉ ngơi mà lúc nào cũng cứ “bận lắm bận lắm”… Ai khiến?… Chẳng ai khiến hết!… Và đó là một công chuyện có quá trình khá dài…

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2016

Thảo luận “Vấn đề dạy chữ Hán trong nhà trường“ (9)

Dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông đã trở thành một nhu cầu cấp bách

Nguyễn Huệ Chi

 

Nguyễn Huệ Chi

Về cơ bản tôi tán thành quan điểm của PGS TS Đoàn Lê Giang (xem Phụ lục I – tại đây, Văn Việt), của Chu Mộng Long (xem Phụ lục II –  tại đây, Văn Việt), và không tán thành hết mọi ý kiến trong bài trả lời phỏng vấn của PGS Phan Trọng Đạt (xem Phụ lục III). Như đã viết trên FB, tôi nhớ năm 1990, GS PL xây dựng một dự án “về sự ra đời của chữ quốc ngữ trong xu thế phát triển của văn học VN hiện đại” để xin tài trợ của Nhật, tôi là một thành viên Viện Văn học được cử đến trao đổi với chuyên gia văn hóa Nhật Bản. Không ngờ bị họ phản bác rất mạnh. Cả mấy học giả Nhật đều lập luận: Việt Nam bỏ học chữ Hán và chữ Nôm là sai lầm, trẻ em sẽ không còn biết gì về văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của đất nước mình. Khi chúng lớn lên, người Việt Nam thế nào cũng lâm tình trạng mất gốc dù nhiều hay ít. Ở Nhật, trẻ em vẫn phải học 3.000 chữ Hán cổ. Và đó không phải là học văn hóa Trung Quốc mà học cho văn hóa Nhật Bản. Chúng tôi cãi không lại họ và cuối cùng dự án của PL bị từ khước.

Tôi nghĩ, vào năm 1932 cụ Phan Khôi phản đối dạy chữ Hán ở trường tiểu học Pháp - Việt (trong bài Đánh đổ cái thuyết dạy tiểu học bằng chữ Nho), đó là cụ quan niệm dạy chữ Hán thay cho tiếng Việt như một ngôn ngữ phụ, và học chữ Hán theo cách hiểu của cụ là học đạo lý, còn chúng ta đề xuất dạy chữ Hán cho các em hôm nay là dạy xen một số giờ chữ Hán, bên cạnh tiếng Việt là ngôn ngữ chủ thể và tiếng Anh đứng thứ hai, thì rất nên. Không những nên mà còn cần thiết, bởi hoàn cảnh lịch sử đã đẩy Việt Nam vào khu vực văn hóa Đông Á kể từ trước thiên niên kỷ I – cùng với Nhật Bản, Triều Tiên – khiến cho tiếng Hán trở nên gắn bó lâu dài, khăng khít cũng như chiếm một tỷ trọng không hề nhỏ trong tiếng Việt hiện đại. Mà tiếng nói – ngôn ngữ – vốn là một trong những thành tố hệ trọng góp phần quyết định sự tồn vong của một dân tộc, thì lại là một chân lý hiển nhiên, đã được minh chứng trên khắp các châu lục từ xưa đến nay (Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn”). Vì nhu cầu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, thậm chí giữ cho kho từ vựng tiếng Việt trải mấy nghìn năm không bị mai một, suy thoái, để dân tộc không rơi vào mất gốc mà bắt buộc dạy chữ Hán trong trường học phổ thông với một liều lượng nào đấy, không phải là điều phi lý. Tất nhiên học chữ hay nói như PGS Đạt là học từ, không thể nghĩ đơn giản chỉ học ký âm theo tiếng Latinh là đủ, mà phải bao gồm cả học cách viết chữ Hán cổ cùng với âm đọc chữ Hán của người Việt (Hán Việt), vì lẽ trong ngôn ngữ học, đã nói đến ký hiệu thì có cả phần chữ và phần âm, và học như thế cũng tức là học cả cái nội hàm văn hóa tích hợp trong mỗi chữ. Nói cách khác, đem chữ Hán vào trường học là một cách để các thế hệ trẻ người Việt nhập tâm, thâu hóa vốn liếng văn hóa cha ông ta nhiều đời tích lũy được, khác hẳn việc bảo lưu ngôn ngữ Hán Việt trong từ điển, do chỗ từ điển chỉ là một kho chứa thuần túy, không thể nào làm cho nội hàm văn hóa của từ ngữ sống dậy, tiến kịp với hành trình của dân tộc. Học chữ Hán rõ ràng không phải là học ngoại ngữ.

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016

Tố cáo và phản đối Truyền hình An ninh TV vu cáo trắng trợn, ngang nhiên bôi nhọ danh dự của công dân (có bản dịch tiếng Anh)

Trên kênh youtube phát ngày 14.5.2016 có clip “Bằng chứng Việt Tân chỉ đạo dùng bom xăng để kích nổ "Cách mạng Cá" ở Việt Nam” của An ninh TV (xin xem https://www.youtube.com/watch?v=lUAs-GbdvTE), ở phút 04:45 có đoạn như sau: 

“… Một số đối tượng, nhóm hoạt động trá hình ở trong nước ra các bản tuyên bố, kiến nghị, thư ngỏ mang tính lừa bịp, điển hình như bản tuyên bố do Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Hưng khởi xướng, kêu gọi ký tên. Theo cơ quan chức năng, đây là thủ đoạn nhằm khuếch trương thanh thế, nguỵ tạo dư luận nhằm lôi kéo, tập họp lực lượng mà các tổ chức cá nhân chống đối thường xuyên sử dụng trong thời gian qua. Bản chất là các tổ chức phản động lưu vong và một số phần tử xấu lợi dụng vụ việc và lòng tốt của người dân để kích động kêu gọi tụ tập gây rối theo kịch bản cách mạng đường phố được chúng gọi tên là cách mạng cá…”:

Trong clip này, tên của chúng tôi được phát kèm theo ảnh chân dung rõ mồn một.

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

Tố cáo và phản đối Truyền hình An ninh TV vu cáo trắng trợn, ngang nhiên bôi nhọ danh dự của công dân

Trên kênh youtube phát ngày 14.5.2016 có clip “Bằng chứng Việt Tân chỉ đạo dùng bom xăng để kích nổ "Cách mạng Cá" ở Việt Nam” của An ninh TV (xin xem https://www.youtube.com/watch?v=lUAs-GbdvTE), ở phút 04:45 có đoạn như sau:

“… Một số đối tượng, nhóm hoạt động trá hình ở trong nước ra các bản tuyên bố, kiến nghị, thư ngỏ mang tính lừa bịp, điển hình như bản tuyên bố do Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Hưng khởi xướng, kêu gọi ký tên. Theo cơ quan chức năng, đây là thủ đoạn nhằm khuếch trương thanh thế, nguỵ tạo dư luận nhằm lôi kéo, tập họp lực lượng mà các tổ chức cá nhân chống đối thường xuyên sử dụng trong thời gian qua. Bản chất là các tổ chức phản động lưu vong và một số phần tử xấu lợi dụng vụ việc và lòng tốt của người dân để kích động kêu gọi tụ tập gây rối theo kịch bản cách mạng đường phố được chúng gọi tên là cách mạng cá…”:

Trong clip này, tên của chúng tôi được phát kèm theo ảnh chân dung rõ mồn một.

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành(*)

Nguyễn Huệ Chi
Năm 1989, tôi là người có cái may mắn tiếp xúc với hai cuốn Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng 明 清 小 説 論 叢 tập 4 (1986) và tập 5 (1987) trong đó có bài So sánh “Truyện Kim Vân Kiều” giữa hai nước Trung Việt 中 越 “金 雲 翹 傳” 的 比 較 (Trung Việt “Kim Vân Kiều truyện” đích tỷ giảo) in liền hai kỳ của ông Đổng Văn Thành 董 文 成 mà nhà Trung Quốc học người Nga Riftine nhã ý trao cho đọc tại Moskva rồi sau đó nhờ tôi đem về tặng lại chị Phạm Tú Châu. Vừa đọc, tôi đã nhận thấy đây là một bài viết có ngữ khí không bình thường, có vẻ là một hồi chuông “cảnh mê”, hay một gáo “nước xối sau lưng” cho người ta tỉnh lại, như lời Huỳnh Thúc Kháng nói về bài Ngô Đức Kế cũng về chuyện đánh giá Truyện Kiều 70 năm về trước. Lời lẽ của Đổng Văn Thành kể như là lời tâm huyết của một “tráng sĩ” muốn “ra tay tế độ” khi chứng kiến cảnh “trầm luân” của một sản phẩm thuộc “kho báu” tinh thần của đất nước mình, bị đồng loại (người Trung Hoa) quên lãng, trong khi đó thì người chị em sinh đôi với nó tại một quốc gia khác – Truyện Kiều – lại được hết thảy người Việt và rộng hơn, rất nhiều người đọc trên thế giới, kể cả một số học giả Trung Quốc rất mực trân trọng, đề cao, coi đó như kiệt tác của một thiên tài. Tôi cảm thông với nỗi phẫn hận chính đáng của nhà nghiên cứu họ Đổng và kính trọng công phu kiên trì tìm kiếm bóng dáng nguyên bản Kim Vân Kiều truyện của ông, cũng như hứng thú đón nhận những thông tin mới mẻ về Kim Vân Kiều truyện mà ông cung cấp, cả những lời bàn giải về nhiều mặt khả thủ ông gợi ra từ tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng lại rất không đồng tình với cách ông bênh vực Kim Vân Kiều truyện bằng việc hạ thấp Truyện Kiều. Tôi thầm hẹn với lòng thế nào cũng phải có ngày hầu chuyện ông. Vì thế, mặc dù từ bấy đến nay kể cũng đã lâu, đã có nhiều người như Phạm Tú Châu, Hoàng Văn Lâu, Nguyễn Khắc Phi và cả Trần Ích Nguyên 陳 益 源 ở Đài Loan lên tiếng(1), xem ra tiếng chuông của Đổng Văn Thành gióng lên mười tám năm về trước vẫn còn gây hiệu ứng trên văn đàn Trung Quốc, Đài Loan, có thể ở Việt Nam và biết đâu ở một số nước khác nữa(2), nên xin tiếp tục có mấy lời mạo muội trao đổi với Đổng tiên sinh.
Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Về “câu thơ Vương Bột”

Nguyễn Huệ Chi

Đọc trên mạng, thấy ông Lê Vĩnh Huy đã đưa ra những giải thích sáng tỏ về câu trích dẫn gọi là "thơ Vương Bột" trong bài phát biểu của ngài Tập Cận Bình sáng 6-11 tại hội trường Quốc hội Việt Nam (xem ở đây). Quốc hội chúng ta chắc hết phải nhốn nháo hỏi nhau: “Câu thơ ấy là trong bài thơ nào ấy nhỉ?”. Một học giả khác, ông Hải Võ, cũng chịu khó giải mã tường tận hầu hết các điển cố được họ Tập sử dụng trong bài nói dài 20 phút rất "văn hoa kiểu cách" mà ta vừa nhắc (xem ở đây). Xin cám ơn ông Hải Võ đã giúp mọi người hiểu rõ thêm, rằng những lời ông Tập nói trước gần 500 vị nghị sĩ Việt Nam là những lời rất rỗng và sáo, vốn từng nói ở nơi này nơi khác hết cả, chỉ nhai lại mà chẳng chút gì thật bụng.

Bản thân tôi nghĩ, hình như họ Tập đi chuyến này là muốn làm một màn trình diễn trước dư luận quốc tế, về cái hình ảnh mình được đón tiếp hết mực long trọng, từ ông TBT cho đến cả một Quốc hội đã phải nín thinh, chăm chú nghe mình, có nghĩa là mình áp đảo được, “làm hòa” được với Việt Nam rồi. Chứ thực tâm, ông ta cũng biết, người Việt Nam từ trong đáy lòng không ai chấp nhận ông ta, kể cả ngay với một số nhân vật đương quyền đương chức. Đứng về góc độ ấy (thuyết phục Việt Nam) mà nhìn, thì ông ta thất bại chứ không thắng lợi. Và chắc ông ta cũng không cố giành cho được thắng lợi ở cái mục tiêu khó gặm này (khác với Bắc Triều Tiên, ông ta quả đang muốn thuyết phục).