Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Du Tử Lê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du Tử Lê. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2025

Doãn Quốc Sỹ, nỗi buồn và, niềm vinh dự, hân hoan lớn

 Du Tử Lê


Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 3 Tháng Hai, Quý Hợi, tức ngày 17 Tháng Hai, 1923 Dương Lịch. Ông là con trưởng của gia đình văn nghệ sĩ. Cha ông là Doãn Hưu, một nhà nho và người em trai của ông là nhạc sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, Doãn Nho. Năm 1946, ông lập gia đình với con gái nhà thơ trào phúng Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) là bà Hồ Thị Thảo. Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào Nam.

Ông dạy học tại các trường trung học công lập như Nguyễn Khuyến (Nam Định, 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội, 1952-1953), Trần Lục (Sài Gòn, 1953-1960). Làm hiệu trưởng trường Trung học Công lập Hà Tiên (1960-1961), giáo sư trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn (1961-1962), giáo sư trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn, Đại học Văn Khoa Sài Gòn năm 1962 đến giữa thập niên 1960. Ông du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và rồi trở về nước tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Khu Rừng Lau, một trường thiên tiểu thuyết gồm có: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Những Ngả Sông (1966)... Theo Lê Văn, đặc phái viên Việt Ngữ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, trong một cuộc phỏng vấn ông, có dẫn chuyện rằng "Ba Sinh Hương Lửa người ta thường ví như những tác phẩm lớn của Nga như Chiến Tranh Và Hòa Bình" trong đó nội dung mô tả lại những cảm xúc đớn đau của của một thế hệ thanh niên mới lớn tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó phát giác ra mình đã bị lợi dụng như công cụ đấu tranh giai cấp của những người cộng sản và "có lẽ chính vì thế mà anh đã bị cộng sản bỏ tù khi họ khi chiếm được miền Nam"

Sau năm 1975, ông bị chính quyền Việt Nam giam cầm nhiều lần vì tội "viết văn chống phá cách mạng", tổng cộng là 14 năm. Ông có tên trong danh sách những tên “biệt kích văn hóa,” bị bắt trong chiến dịch khởi động ngày 3 tháng Tư năm 1976, một năm sau ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, cùng hàng trăm nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, nhân sĩ miền Nam bị xếp hạng “phản động”: Trần Dạ Từ, Đằng Giao, Nhã Ca, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hữu Hiệu, Hoàng Anh Tuấn, Thân Trọng Kỳ, Hoàng Vĩnh Lộc, Trịnh Viết Thành, họa sĩ Chóe, Như Phong Lê Văn Tiến, linh mục Trần Hữu Thanh, linh mục Đinh Bình Định, thượng tọa Thích Huyền Quang… Ông được phép di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1995. Hiện nay ông sống tại Little Saigon, California.

Ông là tác giả của khoảng 25 cuốn sách. Chuyện ngụ ngôn của ông có tựa đề Con cá mắc cạn đã được dịch ra tiếng Anh (The Stranded Fish)[5] và có trong sách Việt Nam: Bạn Đồng Hành Văn Chương Của Một Du Khách (Vietnam: A traveler's literary companion) do John Balaban và Nguyễn Quí Đức biên soạn.

1.

Theo tiểu sử được ghi nhận bởi Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì, nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh tại Hà Đông, ngày 17 Tháng Hai, 1923, trong một gia đình thấm nhuần tinh thần Nho giáo. Năm 1954, ông cùng gia đình phải di cư vào miền Nam vì hiệp định Geneva chia đôi Việt Nam.

Trước thời điểm này không lâu, ông hoàn tất truyện ngắn truyện ngắn “Sợ lửa,” (dạng cổ tích,) tựa bước chân đầu tìm đến văn chương.

Cũng trước giai đoạn qua phân đất nước, ở miền Bắc, họ Doãn từng dạy tại một số trường trung học công lập, như Nguyễn Khuyến (Nam Định, 1951-1952,) Chu Văn An (Hà Nội, 1952-1953) v.v…

Những yếu tố như được sinh trưởng trong một gia đình mà, người cha là một nhà Nho, khi trưởng thành, lại chọn cho mình nghề dạy học, theo tôi, là những chỉ dấu cho thấy, ẩn mật đằng sau tư cách nhà văn, họ Doãn còn/ đã là một kẻ sĩ.

Kẻ sĩ hiểu theo nghĩa lương tâm và, trách nhiệm của một trí thức, đứa con của một tổ quốc, trước những biến động rung chuyển, bật gốc một đất nước.

Tôi không biết định mệnh nghiêng về phía nào, giữa hai con người nhà văn và, kẻ sĩ của một Doãn Quốc Sỹ. Nhưng qua những tác phẩm văn chương của ông, điển hình như bộ trường thiên “Khu rừng lau,” tôi có cảm tưởng ông đã lôi, kéo được định mệnh nghiêng về phía kẻ sĩ trước thời cuộc, ở nơi ông.

2.

Nhìn lại hai mươi năm văn học miền Nam, chúng ta phải nói rằng, đó là thời gian quá ngắn cho sự hình thành, khai triển rồi định hình, một dòng văn học đa dạng, phong phú. Nên, ta cũng có thể nói, nó giống sự vươn vai, lớn dậy thần kỳ, như huyền thoại Phù Đổng Thiên Vương.

Hai tác nhân chính giúp cho sự thoát thai, sinh thành dòng văn học mang tính Phủ Đổng Thiên Vương vừa kể, tôi nghĩ, là thảm kịch chia lìa bật máu, vĩ đại (lần đầu trong lịch sử dân tộc Việt) với hơn 1 triệu người miền Bắc nghiến răng, bậm môi, tự nguyện bỏ lại sau lưng mồ mả ông cha. Và, sự chuyển hóa chớp nhoáng từ thể chế Quân chủ lập hiến, sang thể chế Cộng hòa chỉ trong vài năm, như một giấc mơ, ở miền Nam.

Hai tác nhân hỗ tương nhau tựa một kết hợp kỳ diệu, biến gần hai chục triệu người dân miền Nam (thời đó,) trở thành những kẻ đồng hành, nhất tâm, hăm hở trong một lên đường mới mẻ. Một lên đường khám phá và, khai phóng cái thổ ngưỡng vốn đã hằng nghìn năm, sẵn đấy.

Tinh thần khai phá của giai đoạn lịch sử miền Nam sau 1954, thể hiện cụ thể, hưng phấn nhất, tiêu biểu là lãnh vực văn học.

Văn học miền Nam ở giai đoạn vỡ đất này có hai khuynh hướng chính:

-Khuynh hướng văn chương chống chế độ cộng sản. (Và)

-Khuynh hướng văn chương nặng tính nhân văn, trồng người. Hiểu theo nghĩa lấy đạo lý, nhân tính làm căn bản.

Cũng vẫn ở giai đoạn khẩn hoang, vỡ đất kia, số tác giả đắm mình, vẫy vùng trong ngọn triều chống cộng chiếm đa số. Họ đứng về phía thời thế nóng bỏng. Như một thứ thời thượng… Phía trồng người, xây tâm ít, hiếm.

Theo ghi nhận của tôi, tác giả “Dòng Sông Định Mệnh” ở phía ít, hiếm đó.

Họ Doãn an nhiên, tự tại, nở nụ cười đôn hậu trước chọn lựa có phần thưa, vắng đồng hành, của mình.

Vì là một lên đường mới mẻ, ồ ạt, nên, trong lúc nhiều tác giả xuất hiện giữa thập niên 1950, qua sáng tác, còn đang nỗ lực thực chứng sự hiện diện của mình như Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Tô Thùy Yên, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền… thì, Doãn Quốc Sỹ đã định hình (hiểu theo nghĩa được đám đông đón nhận,) qua những tác phẩm ấn hành như “Sợ Lửa” (1956,) “U Hoài” (1957,) “Dòng Sông Định Mệnh” (1959)…

Về phương diện kỹ thuật, (cũng như một vài tác giả khác,) theo tôi, họ Doãn đi tiếp con đường văn chương thời tiền chiến.

Con đường mà hình thức truyện được xây dựng trên hai căn bản:

-Cốt truyện (với những nút thắt, nút mở.) (Và)

-Chủ tâm khai thác tâm lý nhân vật (để người đọc dễ thấy mình, trong truyện.)

Nhưng về phương diện nội dung, vẫn theo tôi, họ Doãn không bó rọ, gói chặt tác phẩm của mình trong những luận đề gia đình, xã hội, xung đột cũ/ mới như thời Tự Lực Văn Đoàn.

Ông cũng không bó rọ nội dung chống cộng sản trong tác phẩm của ông trên cái nền cốt truyện và tâm lý nhân vật.

Truyện của ông, dù không hề xa rời hiện thực xã hội, nhiễu nhương, như “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều,” như “Gìn Vàng Giữ Ngọc,” vẫn mở vào phần con người, như một sinh vật linh trưởng, bản chất thiện căn, ở trên mọi hạn hẹp của thể chế chính trị, giai đoạn.

Truyện của ông, ngoài những ẩn dụ, như những phóng chiếu nhân tính qua những truyện ở dạng cổ tích, cũng là những rung động, những lãng mạn thuần khiết (cung ứng cho nhu cầu mơ mộng, căn cốt của con người.) Chúng xiển dương tính hướng thượng. Chúng chan hòa tính nhân loại.

Tới hôm nay, dù trải qua bao năm tháng, bao cuộc đổi đời, tôi vẫn cảm phục ông biết bao, khi trong truyện “Gìn Vàng Giữ Ngọc,” của ông, tôi được đọc câu văn:

Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.”

 

3.

Hình như mối bận tâm, nỗi đau đáu lao lung một đời của nhà văn-kẻ-sĩ mang tên Doãn Quốc Sỹ, trước sau vẫn là chủ tâm, nỗ lực kêu đòi, nhắc nhở, cổ súy khả năng “thánh hóa” tình thương yêu rộng rãi và, chân thành nơi mỗi con người ấy.

Sự tương nhượng dẫn tới tương hợp tuyệt vời giữa hai con người nhà văn và, kẻ sĩ nơi họ Doãn, thể hiện sâu sắc nhất, theo tôi ở trường thiên “Khu Rừng Lau.”

Khu Rừng Lau” không chỉ là bản trường ca xương, máu của một dân tộc liên tiếp trải qua những kiếp nạn, từ thời chống ngoại xâm, thực dân Pháp, qua tới những năm tháng bị đầu độc bởi chủ thuyết cộng sản và, tạm dừng ở điểm đứng dân chủ trá hình, lận trong tay áo những con trủy thủ độc tài mà, "Khu Rừng Lau" còn là trường ca, với những tổ khúc tin tưởng, hy vọng nơi cái Thiện, vốn là một linh–thánh-nhân-bản khi con người (hay nhân loại) phải đối đầu với thảm kịch, với cái ác.

Trường thiên này, theo tôi, là bước song hành giữa kẻ sĩ trước trách nhiệm với lịch sử một đất nước và, nhà văn, trước cái đẹp và, cái thiện của sinh vật linh trưởng.

Nhiều người từng ví trường thiên “Khu Rừng Lau” với bộ “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của Leo Tolstoy.(*) Nhưng chưa một ai chỉ ra rằng, nếu Leo Tolstoy là nhà văn dựng lại, (tức đứng ngoài) một giai đoạn lịch sử cháy đỏ lầm than của xứ Đại Nga, kể từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh Pháp-Nga 1811 thì, Doãn Quốc Sỹ là người đứng giữa tâm bão.

Ông không tìm hiểu, để rồi chiêm nghiệm mà, ông đã sống, đã chảy máu cùng lúc với dân tộc, tổ quốc ông; khi lịch sử và, đất nước ông đang chảy máu…

Do đó, với tôi, sự có mặt của ông, Doãn Quốc Sỹ, sự chúng ta còn có trong tâm, trong nhiều thế hệ sau "Khu Rừng Lau” của họ Doãn là, một nỗi buồn, đồng thời cũng là một vinh dự, hân hoan lớn, cho văn học và, con người Việt Nam vậy.

Du Tử Lê,

(Calif. Tháng 8-2010.)

______

Chú thích:
(*) Leo Tolstoy (hay Léon Tolstoi,) nhà văn Nga, còn được biết với tên đầy đủ là Lyev Nikolayevick Tolstoy, sinh ngày 9 Tháng Chín, 1828. Ông là tác giả nổi tiếng với hai bộ trường thiên tiểu thuyết: “Chiến Tranh Và Hòa Bình” và “Ana Kha Lệ Nin.” Ông mất ngày 20 Tháng Mười Một, 1910.

Nguồn: https://www.dutule.com/a2721/doan-quoc-sy-noi-buon-va-niem-vinh-du-han-hoan-lon-

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2019

Khánh Trường trả lời phỏng vấn của Du Tử Lê thực hiện cho nhật báo Người Việt, California, USA

Khánh Trường

- Dường như ông và hai người bạn đồng tâm huyết là Nguyễn Vy Khanh và Luân Hoán, muốn đánh dấu 44 năm tỵ nạn của người Việt ở hải ngoại bằng bộ sách đồ sộ 7 cuốn khổ lớn, bìa cứng? (*)

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2018

Văn học miền Nam 54-75 (487): Chu Tử (kỳ 1)

Related imageChu Tử tên thật là Chu Văn Bình, sinh ngày 17 tháng Tư tại làng Mía, Sơn Tây (nay là Hà Nội). Ông tốt nghiệp Cử nhân Luật, trường Cao đẳng Luật và Pháp chính (Ecole supérieure de Droit et Administration). Ông học cùng khóa với Nguyễn Thái Học. Đêm mồng 10 tháng Hai năm 1930, ông theo lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng Nguyễn Khắc Nhu tấn công đồn Hưng Hóa. Việt Nam Quốc dân đảng thất bại nhanh chóng, ông bơi qua sông, trở lại Hà Nội, tiếp tục học hành. [Wikipedia bản tiếng Anh lấy thông tin này là từ Viên Linh]

Thời kỳ Việt Minh, ông làm luật gia ở địa phương. Ông là hiệu trưởng trường tư Phùng Hưng, Hải Phòng, sau đó là trường tiểu học – trung học Lê Văn Trung ở Tây Ninh.

Năm 1966, ông xuất bản Nhật báo Sống  tại đường Hồ Xuân Hương (Sài Gòn) và bắt đầu sử dụng bút danh Chu Tử. Năm 1966 tờ Sống bị các lực lượng thuộc Phật Giáo Việt Nam Thống nhất tấn công [Wikipedia tiếng Việt cho biết cuộc tấn công là do Lực lượng Tranh thủ Cách mạng của phe Phật giáo cực đoan tiến hành – Văn Việt]. Ngày 16 tháng Tư ông bị bắn bằng bốn phát súng colt 9 ở gần nhà (kế trường Hoài An, Phú Nhuận) nhưng may mắn vẫn sống. Vụ mưu sát này bị dư luận cho là thủ phạm là Việt Cộng nhưng báo chí nhanh chóng tìm ra đạn bắn từ súng của lực lượng Phật Giáo [Wikipedia tiếng Việt nói đó là Huỳnh Văn Long, người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, căn cứ vào một tài liệu lưu trữ; còn chính Chu Tử, qua lời kể của Hoàng Hải Thủy, thì không biết ai đã bắn mình – Văn Việt].

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

Tính chấp chới giữa thiên đàng/địa ngục trong thơ Như Quỳnh de Prelle

Nhà thơ Du Tử Lê

Nguoi mang nuoc-Ad

Gần đây, nhiều người trẻ làm thơ tỏ ra chú ý tới sự xuất hiện của tiếng thơ Như Quỳnh de Prelle, với thi phẩm “Song Tử”, bìa của họa sĩ Lê Thiết Cương, do nhà Thuận Hóa ấn hành tháng 2-2017.


“Song Tử” gây được sự chú ý đặc biệt, một phần vì tiếng thơ trừu tượng có được cho nó những cách diễn tả khác, không theo nếp cũ. Tác giả lại là một người nữ, hiện cư ngụ tại Brussels, Vương quốc Bỉ. Có lẽ cũng nên nói thêm rằng, Như Quỳnh tìm đến với văn chương thế giới khi còn rất trẻ, đồng thời cũng có nhiều năm sống ở ngoại quốc. Vì thế, với những người biết qua tiểu sử của tác giả “Song Tử” cho rằng, phong cách văn chương của Như Quỳnh de Prelle, ít nhiều, khó tránh khỏi ảnh hưởng phong cách văn chương tây phương hiện đại. Phong cách văn chương tây phương hiện đại, cho thấy xu hướng văn chương, không nhất thiết phải chuyển tải một đề tài to lớn, hay một triết lý nhân sinh, mới lạ nào. Mà văn chương là nỗ lực không ngừng nghỉ thể hiện chính mình, hoặc đi tìm “cái tôi” như một thất lạc, bị “mất tích” trong xã hội, ngày một toàn cầu hóa này.

Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2018

Nguyễn Viện, sĩ khí nhà văn miền Nam hôm nay

Du Tử Lê/Người Việt


clip_image001

Nhà văn Nguyễn Viện. (Hình: danluan.org)

clip_image002Khi giáo đường hân hoan giục giã với những hồi chuông trước Thánh Lễ cuối tuần, thì đó cũng là lúc những con bồ câu đem những dải nắng ấm áp đầu ngày, thả xuống khuôn viên nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn, cũ.

Ngồi quanh chiếc bàn tròn sắt ở một quán café đối diện, ngoài Nguyễn Quốc Thái, Huỳnh Như Phương, Trần Thi Ca và chúng tôi, còn có người đàn ông trung niên. Không cần tới một giới thiệu nào, dù ngắn, gọn, mọi người đều biết, đó là một nhà văn thuộc thế hệ thứ hai, sau biến cố Tháng Tư, 1975. Ông nổi tiếng như một người thường trực đối diện với những rình rập bất trắc mù lòa của đời thường. Hầu hết trên 10 tác phẩm ông đã ấn hành, đều bị liệt vào những đầu sách phản động, chống đối nhà nước hoặc, cổ võ tính dục. Tên ông: Nguyễn Viện.

-Ông đứng hẳn về… “lề trái?”

-Tất nhiên.

Chẳng những thế, ông còn có nguyên một tác phẩm lấy tên là “Ngồi Bên Lề, Rất Trái…”

Ông viết tác phẩm này sau hai năm tù không kêu án, và cho tới hôm nay, ông cũng không biết tội trạng của ông là gì. Tôi muốn nói, với những người dõi theo từng bước đường văn chương của họ Nguyễn, đều cho những năm, tháng tù đày, những năm, tháng không biết lấy gì bỏ vào bụng!

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2018

Nhà văn Nguyễn Viện, sống, như một mũi tên

Du Tử Lê/Người Việt

Nhà văn Nguyễn Viện. (Hình: Diễn Đàn Thế Kỷ)


Tôi e rằng mặt bên kia của hữu ích tuyệt vời mà Internet đã đem đến cho thời đại chúng ta, lại chính là những đáng tiếc không thể tránh khỏi. Tôi muốn nói, có rất nhiều tin giả, thậm chí tin tức, bài vở xúc phạm tới danh dự, đời tư của cá nhân người khác! Chúng vẫn được loan tải một cách thoải mái, “vô tư!”

Sự kiện hai chiều thuận/ nghịch này cũng khiến cho một số người bị hàm oan. Họ như nạn nhân, con tin của dư luận khen/ chê, ngợi ca và phỉ báng tối tăm, chứa đầy gân máu ganh tị, hiềm khích mù lòa, nhất là ở lãnh vực văn học và nghệ thuật…

Một nhà văn bị nhiều dư luận xăm soi nhất theo tôi là Nguyễn Viện. Nhưng ông vẫn thản nhiên, dễ chừng, nhờ ông có được nội lực thâm sâu hơn người (?) Có người cho rằng tính ngang, ngạnh của họ Nguyễn cho cảm tưởng: Nhà văn Nguyễn Viện, sống, như một mũi tên.

Nhận xét chung, cho rằng, dù ở cực nào bênh vực hay chê bai thì những người bênh/ chống ông, đều cho thấy tính nhiệt tình, tích cực nhất – như thể nếu thiếu cảm tính quyết liệt này, họ sẽ không tìm đến ông. Không ở sát bên hay, vạch một đường phấn dứt khoát ngăn cách (dù âm thầm), giữa ông và họ.

Cá nhân tôi, không được biết nhiều về ông, cho tới hai năm gần đây.

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

Khánh Trường dưới ngòi bút Du Tử Lê


FB Khánh Trường

DU TỬ LÊ

KHÁNH TRƯỜNG, ÁM ẢNH BẤT TOÀN
TRONG VĂN CHƯƠNG VÀ ĐỜI SỐNG

Nếu phải chọn một nhà văn tiêu biểu cho trường hợp hay hiện tượng phức tạp, mâu thuẫn, trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của người Việt hải ngoại hơn một phần tư thế kỷ qua, tôi sẽ chọn Khánh Trường. Nguyễn Khánh Trường.
Tôi chọn Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường không phải vì ông là họa sĩ, cùng lúc nhà văn, cùng lúc nhà thơ và cùng lúc nhà báo.
Nơi quảng trường sinh hoạt văn nghệ của chúng ta trong nước, cũng như hải ngoại, không chỉ có một Khánh Trường vừa vẽ, vừa làm thơ, viết văn, lại còn làm báo nữa. Chúng ta có khá nhiều nghệ sĩ, ở trường hợp này. Ðó là những lãnh vực tự nó có những mối tương quan liền lạc hữu cơ.
Tôi chọn Khánh Trường có dễ bởi Khánh Trường/Nguyễn Khánh Trường tiêu biểu cho ý niệm khá buồn thảm: Người là con vật bị ngộ nhận.


Thứ Năm, 10 tháng 8, 2017

Văn học miền Nam 54-75 (336): Nguyễn Thị Thụy Vũ (3)

Sự khác biệt về tính dục trong truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ và các nhà văn nữ khác

Du Tử Lê

clip_image002

Đề cập tới trường hợp Nguyễn Thị Thụy Vũ, một cây bút nữ từng đưa tới nhiều nhận định khác nhau, thậm chí mâu thuẫn trong cách nhìn của một số người cầm bút ở miền Nam Việt Nam, trước cũng như sau biến cố 30 tháng 4 -1975.

Tôi nghĩ, để dễ theo dõi hành trình văn chương của cây bút nữ họ Nguyễn này, chúng ta có thể tạm chia hành trình đó làm ba giai đoạn.

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

Văn học miền Nam 54-75 (262): Cung Trầm Tưởng (2)

Lục bát Cung Trầm Tưởng, một đóng góp lớn cho văn học

Du Tử Lê

Giữa thập niên (19)90, trong một buổi ra mắt sách ở quán café Tao Nhân, nằm trên đường Westminster, thành phố Garden Grove, miền Nam tiểu bang California, mở đầu phần phát biểu của mình, cố nhà văn Mai Thảo đã làm một so sánh chói gắt về sự xuất hiện của tác giả thi phẩm được giới thiệu trong đêm, với sự xuất hiện của hai tác giả nổi tiếng rất sớm, trong sinh hoạt văn chương miền Nam, trước tháng 4, 1975.

clip_image001

Từ trái qua: Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy, Ngy Cao Uyên. (Hình phamduy.com)

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2016

Bốn mươi năm thơ Việt hải ngoại (40): Du Tử Lê

clip_image002[4]

Ảnh: Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đức Tùng, Du Tử Lê.

Tiểu sử:

Du Tử Lê sinh năm 1942 tại Hà Nam. Năm 1954, theo gia đình di cư vào miền Nam. Ông là cựu học sinh trường Chu Văn An, Trần Lục rồi đại học Văn Khoa Saigon, nguyên sĩ quan QL/VNH cũ. Ông làm việc tại cục Tâm Lý Chiến trong vai trò phóng viên chiến trường, trước khi làm Thư ký tòa soạn nguyệt san Tiền Phong. Năm 1969, Du Tử Lê theo học khóa tu nghiệp báo chí tại thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana.

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư, niềm hy vọng về một cuộc “cách mạng xanh”

Du Tử Lê

 

Một trong những bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Hồ Dzếnh, để lại cho đời, là bài “Đợi Thơ”, với hai câu đầu:

Phút linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng chưa nề mực đen”
(1)

Ở đây, tôi không có ý bước vào khả năng sử dụng chữ tuyệt vời của nhà thơ này, xuyên qua cụm từ “chưa nề” mà, tôi chỉ muốn nói: Khi tác giả ca khúc “Chiều” (2) chọn cho mình hai chữ “Đợi thơ”, ông chủ tâm nhấn mạnh, làm thơ là một công việc có tính cách linh thiêng, như những tín đồ của một tôn giáo.

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (146): DU TỬ LÊ (4)

Thơ Du Tử Lê (1967-1972)

(tiếp theo)

 

Thơ Cho Một Người Họ Huỳnh (*)

 

tôi vẫn thế trở về đây đơn độc
một hồn sầu chấn ngự một non cao
một vai xiêu, một cổ xiết ân, cừu
một đầu nặng chất mang tình thảm thiết
người vẫn thế gánh đời tôi thua thiệt
mắt vẫn buồn như suốt dạo tôi đi
tóc đương xanh nhưng lòng đã bạc nhiều
chân bé nhỏ đi trong sầu bão lớn

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (145): DU TỬ LÊ (3)

Thơ Du Tử Lê (1967-1972)

Gìn Vàng Giữ Ngọc: Xuất Bản lần đầu tiên
Bìa: Hạ Quốc Huy
Phụ Bản: Tạ Tỵ
Nhà In: Việt Hương 34 Lê Lợi Sai Gòn
Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc bộ môn Thơ năm 1972

Tập thơ này, đáng lẽ ra mắt thân hữu vào những năm cuối 60, với nhan Phúc Âm Nàng. Nhưng vì thiếu phương tiện,cho nên, đến giờ mới xuất bản được. Ở đây, tôi xin công khai ngỏ lời cảm ơn anh em ở Văn, Trình Bày...vì lòng thương, thúc dục tôi làm thơ, tiếp tục, từ nhiều năm nay. Ngoài ra, ở đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi với một ân nhân mà vì lý do riêng không tiện nêu tên, đã giúp phần nào cho tập thơ này có mặt.

Cuối cùng là lời cám ơn của tôi, dành cho anh Nguyễn Văn Thành, người đã dục tôi in tập thơ dưới nhan mới: Thơ Du Tử Lê 1967-1972.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (144): DU TỬ LÊ (2)

Thơ Du Tử Lê



Nhà thơ Du Tử Lê (1942-) suốt hai giai đoạn văn học, miền Nam 1954-1975 và hải ngoại, đã có những đóng góp trong việc cách tân, thử nghiệm làm mới thi-ca qua chính sáng tác của mình, nhưng sự đón nhận hình như không được đồng đều và không được giới làm văn học nói đến một cách công bằng. Trước 1975, ông được giải Văn học nghệ thuật toàn-quốc năm 1973 với một phiếu đa số, theo báo chí thời bấy giờ thì hội-đồng truyển-trạch môn thơ thích thi-ca có vần điệu hơn là những cách tân kiểu của ông trong tập Thơ Du Tử (1). Bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến chỉ có nhắc qua loa tên của Du Tử Lê hai lần, trong khi một bài thơ của một nữ sinh đăng báo Tết của một trường trung học ở cao nguyên đã được Võ Phiến ghi nhận như một đóng góp đáng ghi vào văn học sử (2). Bù lại, từ hai thập niên trở lại đây, đã có những nghiên cứu, trình bày và giới thiệu thơ ông. Trong số những nhà thơ Việt Nam hiện đại năng nổ làm mới thơ, Thanh Tâm Tuyền nổi lên một lần với thơ Tự-do trong một khoảng thời-gian ngắn rồi ngưng và sau trở về nguồn, Du Tử Lê đã liên tục thử nghiệm, canh tân, suốt cuộc đời làm thơ và có vẻ không lùi bước! Ông muốn làm mới ngôn ngữ, biến hóa cấu trúc, cách đặt câu, chấm câu, làm mới cách diễn tả thơ (và văn) trên trang giấy, đem thị giác mới đến với thơ.
Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (143): DU TỬ LÊ (1)

Tiểu sử Du Tử Lê
clip_image001

Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh ngày 10/11/1942 tại Hà Nam. Học các trường trung học Trần Lục, Chu Văn An, và Đại học Văn Khoa, Sài Gòn. Cựu phóng viên chiến trường, thuộc ngành Tâm lý chiến trong quân đội VNCH, sau làm thư ký toà soạn nguyệt san Tiền Phong. Năm 1969, tu nghiệp về ngành báo chí ở Mỹ.
Bài thơ đầu tiên đăng báo năm 1957. Năm 1973, được giải thưởng Văn chương Toàn quốc (của miền Nam), bộ môn thơ. Ông tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ năm 1975.
Đã in 58 tác phẩm; tập đầu tiên là Thơ Du Tử Lê, in năm 1964, và tập mới nhất Tuyển tập thơ Du Tử Lê (1957-2013).

Tác phẩm trước 1975

Thơ:
Thơ Du Tử Lê (1964)
Tình khúc tháng mười một (1965)
Tay gõ cửa đời (1967)
Thơ Du Tử Lê 1967-1972 (1972) (giải Văn chương Toàn quốc, bộ môn thơ, 1973)
Đời mãi ở tận phương đông (1974)

Văn
Năm sắc diện, năm định mệnh, ký sự, nhận định (1965)
Chung cuộc (tập truyện, viết chung với Thảo Trường, 1969)
Mắt thù (1969)
Ngửa mặt, truyện dài (1969)
Vốn liếng một đời, truyện dài (1969)
Qua hình bóng khác, truyện dài (1970)
Mắt lệ cho người, truyện dài (1972)
Ở một đời riêng, truyện dài (1972)
Khóc lẻ loi một mình (1972)
Mùa hoa móng tay, tập truyện (1973)
Với nhau, một ngày nào, truyện dài (1974)

Truyện thiếu nhi
Mùa thu hoa cúc, truyện dài (1971)
Sân trường mắt biếc, truyện dài (1971)
Chú cuội buồn, truyện dài (1971)
Hoa phượng vàng, truyện dài (1971)


Sau 1975, in tại Hoa Kỳ

Tan theo ngày nắng vội, tập truyện (1984)
Thơ tình, love poems (1984)
Ở chỗ nhân gian không thể hiểu, thơ (1989)
Đi với về cùng một nghiã như nhau, thơ (1991)
Tôi với người chung một trái tim, tiểu thuyết (1992)
Chấm dứt luân hồi em bước ra, thơ (1993)
Nhìn nhau chợt thấy ra sông núi, thơ (1994)
...
Tuyển tập thơ Du Tử Lê (1957-2013), Người Việt, Hoa Kỳ, 2013.



Mai Thảo nhận định về thơ Du Tử Lê:
"Thơ Du Tử Lê ở ngoài nước hay hơn thơ ở nhà nhiều lắm. Điều đó chứng tỏ một sức thơ vẫn sung mãn, một lực thơ vẫn cường tráng, điều hiếm có này tôi chỉ thấy ở một tiếng thơ khác chúng ta có nhiều hy vọng gặp lại năm nay ở Hoa Kỳ là tiếng thơ Tô Thùy Yên".
Mai Thảo (Sổ tay, Văn, số 130, tháng 4/1993)

Cung Trầm Tưởng, trong bài nói chuyện tựa đề Ngôn ngữ và không gian thơ Du Tử Lê, tại Brian Coyle Center, ở Saint- Paul (Minoseta) ngày 18/5/1996, đã nhận định về thơ Du Tử Lê như sau:
"Nói về ngôn ngữ thơ của Du Tử Lê phải công nhận rằng Du Tử Lê đã tạo được phong cách riêng cho thơ của ông. Du Tử Lê đã tận dụng các dấu, gồm luôn cả dấu gạch chéo / slash, để xô đẩy câu thơ đầu tiên, dàn trải theo mạch thơ, về một phiá, để xác định tính chủ thể, khởi nguồn của bài thơ. Nhưng ở những câu thơ kế tiếp, Du Tử Lê lại xô, dạt chúng về một phiá khác, để làm bật lên những ý niệm khác. Chữ thứ hai xô đẩy chữ thứ nhất về nơi chốn cuối. Nó nằm yên ở đó. Nó không chết. Và với câu thơ kế tiếp hay tới khi cuối bàn thơ, chữ tưởng như bị chôn vùi, bị chết lại trở về, hoà nhập hay hoán vị với chữ đầu tiên...
Theo tôi, Du Tử Lê đã thành công với cả hai phần: phần mở vào bài thơ và phần khép lại bài thơ.
Chính vì thế mà khi ta đọc thơ Du Tử Lê, ta cảm thấy có một cái gì rất đặc biệt. Ta vẫn thấy thơ của ông, khác với thơ của những người khác. Nó khiến ta phải băn khoăn, phải thắc mắc. Phải quay lại phần khởi nguồn của bài thơ. Tác giả nói về một sự vật, nhưng đồng thời cũng là tiếng nói của chính sự vật đó.
Tôi gọi đó là "đặc tính phủ định" trong ngôn ngữ thơ Du Tử Lê."

Văn Việt 





















Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-76 (59): DU TỬ LÊ - VÀI KHÍA CẠNH ĐẶC THÙ CỦA 20 NĂM VĂN HỌC MIỀN NAM

clip_image002

Nhà thơ Du Tử Lê (Hình: Uyên Nguyên)

(Bài nói chuyện trong cuộc Hội thảo chủ đề “20 Năm văn học miền Nam, tổ chức tại phòng SH nhật báo Người Việt, Thứ Bảy, ngày 6 tháng 12-2014)

 
Không cần phải nhấn mạnh, chúng ta đều biết dòng VH miền Nam 20 năm là một dòng văn học cực kỳ phong phú, nhiều mầu sắc. Dù tuổi thọ của dòng VH đó, chỉ kéo dài  vỏn vẹn có 20 năm.

- Đứng về phương diện nhân sự  tức những cá nhân làm thành dòng VH này, tôi trộm nghĩ, có thể tạm chia thành 3 thành phần chính:

- Thành phần thứ nhất: Những nhà văn, nhà thơ gốc miền Bắc 

- Thành phần thứ hai: Những nhà văn nhà thơ gốc miền Trung. (Và)

- Thành phần thứ ba: Những nhà văn, nhà thơ Nam Bộ.