Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học Miền Nam 54-75. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học Miền Nam 54-75. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2021

Văn học Miền Nam 54-75 (717): Phạm Thiên Thư (kỳ 8)

Nguyễn Đức Tùng

gởi Kathy Hoang

Thơ Phạm Thiên Thư là thơ để ngâm, để hát, là chanson poétique.

Tiếng em hát giữa giáo đường

Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

Đúng ra, thơ ông có điệu nói lẫn điệu hát. Là tu sĩ Phật giáo nhưng vẫn nhắc đến Chúa: đó là tinh thần tự do của Phạm Thiên Thư. Nhiều người cho rằng thơ ông được phổ biến là nhờ ca khúc do Phạm Duy phổ nhạc, hoặc vì ông là thi sĩ kiêm thiền sư, những cái ấy đều có thể đúng cả, nhưng thơ không hay thì không ai nhớ. Vậy phải có mấy thứ cùng lúc: văn hóa và văn bản. Nhà phê bình Đặng Tiến có một nhận xét thú vị rằng câu "rằng xưa có gã từ quan" là câu thơ được nhớ nhiều nhất. Điều đó quả nhiên đúng, nhưng tôi nghĩ có lẽ vì nó được phổ nhạc, và là câu mở đầu của bài hát. Nếu Phạm Duy chọn câu khác, ví dụ câu thứ nhất của Động hoa vàng "Mười con nhạn trắng về tha", thì biết đâu câu ấy lại nổi tiếng hơn?

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2021

Văn học Miền Nam 54-75 (714): Phạm Thiên Thư (kỳ 5)

Ngày xuân tìm Động hoa vàng

 

Đặng Tiến

 

Nhà thơ Phạm Thiên Thư là một tác gia dồi dào, đã in ra hằng vài ba trăm ngàn câu thơ, có lẽ là kỷ lục về số lượng trong nền văn chương tiếng Việt, vượt xa Bùi Giáng. Nhưng câu thơ được biết nhất, trước sau vẫn là:

 

rằng xưa
có gã từ quan
lên non tìm động hoa vàng ngủ say

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2021

Văn học Miền Nam 54-75 (713): Phạm Thiên Thư (kỳ 4)

“Động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư

Yến Trinh - Tiến Long

Những ai say đắm bài thơ Động hoa vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư chắc sẽ bất ngờ khi biết nhiều ý tứ về “động hoa vàng” được ông lấy cảm hứng từ căn gác gỗ ở khu cù lao Phan Xích Long.

Một người hàng xóm của nhà thơ Phạm Thiên Thư kể về khu xóm ngày xưa và “động hoa vàng” nay biến thành căn nhà ba tầng - Ảnh: TỰ TRUNG

Một người hàng xóm của nhà thơ Phạm Thiên Thư kể về khu xóm ngày xưa và “động hoa vàng” nay biến thành căn nhà ba tầng - Ảnh: TỰ TRUNG

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2021

Văn học Miền Nam 54-75 (710): Phạm Thiên Thư (kỳ 1)

Tiểu sử vắn tắt

Trang thơ Phạm Thiên Thư - Phạm Kim Long (367 bài thơ)

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long sinh 1-1-1940 tại Lạc Viên, Hải Phòng trong một gia đình Đông y. Quê gốc ông nay ở Tiền Hải, Thái Bình. Năm 1943-1951, ông sống ở trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương. Năm 1954 cho đến nay, ông cư ngụ ở Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh).

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2021

Văn học Miền Nam 54-75 (709): Trần Doãn Nho (kỳ 4)

Đàm thoại với nhà văn Trần Doãn Nho

Lương Thư Trung (LTT):

Anh Trần Doãn Nho thân mến,

Nhớ lần đầu gặp anh cách nay 13 năm, nhơn tôi đi dự buổi ra mắt thi tập Thơ Tuyển của thi sĩ Tô Thùy Yên tổ chức tại Boston (Massachusetts), năm1998, lúc bấy giờ nhà văn Trần Hoài Thư giới thiệu anh, trước năm 1975 có viết trên tạp chí Văn ở Sài Gòn. Vậy xin anh có thể chia sẻ một chút là anh có bài đăng trên Văn từ lúc nào và ngoài tạp chí Văn, lúc bấy giờ anh còn cộng tác thêm với tạp chí văn học nào nữa không, thưa anh?

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

Văn học Miền Nam 54-75 (708): Trần Doãn Nho (kỳ 3)

ngút ngàn

Qua khỏi khu phố chợ khá rộn rịp của vùng ngoại ô, và cái đồn lính có thép gai rào chằng chịt, xe đò bắt đầu đổ dốc. Hai bên đường, nhà cửa thưa thớt dần. Những đồi thông xanh xuất hiện trong tầm mắt. Xuống hết dốc, xe lại nặng nề lên dốc. Buổi chiều không nắng, rơi mênh mang trên cây lá, trên con đường vắng lặng. Phía xa, rừng núi xanh um, mập mờ, ẩn giấu. Nguyên ngồi thật im, trí nhớ thả lỏng, bay đầy những hình ảnh mơ hồ. Ngày tháng dồn lại trong một quá khứ chơi vơi, nhạt nhòa. Thỉnh thoảng, Nguyên kéo cổ áo lên túm lại ở đàng trước. Mấy ngày trở lại đây, trời không mưa, mặt trời có lúc lấp ló, nhưng cái lạnh cắt da cắt thịt vẫn còn thấp thoáng đâu đó, ngây ngấy. Những người trong xe chừng như đều muốn ngồi khít bên nhau, lặng lẽ. Bên ngoài cũng lặng lẽ. Con đường về vùng núi lên dốc xuống dốc chập chùng. Buồn. Những ngày cuối năm dễ mang lại thứ cảm giác xao xuyến kỳ quặc. Nguyên cúi xuống, tẩn mẩn lấy guốc chà nát mấy cái vỏ đậu phụng dưới sàn xe. Lúc ngẩng lên, Nguyên bắt gặp nụ cười của người đàn bà ngồi ở hàng đối diện. Tự dưng, Nguyên cũng mỉm cười. Xe đến một ngã ba, xe quẹo về phía mặt. Đàn Nam Giao quạnh quẽ. Con đường ở bên kia dẫn về dòng Thiên An, vắng thật vắng. Những cây thông xanh ngát đã xuất hiện hai bên đường. Những người trong xe thò đầu nhìn ra ngoài, chỉ trừ người đàn bà trước mặt Nguyên vẫn ngồi im. Khi bà ta đưa tay sửa lại đầu tóc, Nguyên mới để ý thấy vành khăn tang trắng quấn trên đầu, ẩn sau chiếc khăn choàng ấm. Thấy Nguyên nhìn chăm chú, người đàn bà lại cười, nụ cười nửa như có vẻ tự nhiên nửa như muốn tạo một thân mật. Chợt Nguyên thấy thông cảm sâu xa nụ cười là lạ đó. Nguyên muốn hỏi người đàn bà một câu, nhưng lại thôi. Nguyên kéo cổ áo len lên nhìn ra ngoài. Sương mù loang loáng ở đám thông xa. Những con đường mòn đất đỏ ngoằn ngoèo, lạnh tanh, dẫn xuống những căn nhà đâu ở phía dưới, khuất sau cây lá. Sao buồn quá thế này!

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021

Văn học Miền Nam 54-75 (707): Trần Doãn Nho (kỳ 2)

Con mắt thủy tinh

Khi lật đến bản nhạc "Tình khúc thứ nhất", Trang bỗng đột ngột nhớ đến Quyền, cô nữ y tá ở Tổng Y Viện Cộng Hòa. Dáng cô bé nhỏ nhắn như­ quá lỏng lẻo đàng sau cái "blouse" rộng thùng thình. Trang gọi đùa cô bé là con mèo. Cô bé cư­ời, mắt nhấp nháy nửa muốn cư­ời nửa trông thật buồn. Nh­ững ngày cuối cùng ở Tổng Y Viện, Trang nhờ Quyền mua giùm bản nhạc và Quyền đã mua bản "Tình Khúc Thứ Nhất". Trang đọc không rõ chữ phải nhờ Quyền đọc giùm. Quyền đọc như­ng không hát. Băng trên mặt được gỡ ra, trong ánh sáng mù mờ của căn phòng, Trang loáng thoáng nhận ra dáng Quyền đi lui đi tới lẫn lộn với những cải "blouse" trắng khoác ngoài hành lang.

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

Văn học Miền Nam 54-75 (706): Trần Doãn Nho (kỳ 1)

TDN-2015[3]

Sinh trưởng tại Huế. Theo học đại học Huế và Sài Gòn, tốt nghiệp ngành Triết. Trước 1975, dạy học: Phụ khảo Triết Đại Học Văn Khoa Huế; đi lính: sĩ quan quân đội VNCH; viết: cộng tác với các tạp chí văn học Sài Gòn: Văn, Tân Văn, Bách Khoa, Vấn Đề, Khởi Hành, Đối Diện. Sau 1975, ở tù đến 1981.

Định cư ở Hoa Kỳ 1993, làm việc cho Sở Giáo dục Công lập thành phố Worcester, bang Massachusetts. Cộng tác với các tạp chí văn học giấy hải ngoại: Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21 và các tạp chí mạng: Da Màu, Gió - O, Talawas, Diễn Đàn Thế Kỷ, Diễn Đàn Forum, Bauxite Việt Nam, Văn Việt.

Đã xuất bản 8 tác phẩm: 2 tập truyện ngắn (Vết xước đầu đời, Căn phòng thao thức), 1 tập ký và tùy bút (Loanh quanh những nẻo đường), 1 tạp bút (Từ ảo đến thực), 1 truyện dài (Dặm trường), 3 tập biên khảo văn học (Viết và Đọc, Tác giả, tác phẩm và sự kiện, Ẩn dụ cuộc phiêu lưu của chữ); Bút ký Một đêm (One Night) trong tập Loanh quanh những nẻo đường được dịch đăng ở tạp chí văn học Meanjin, Melbourne University, số 2, 2015, dịch giả: Tôn Thất Quỳnh Du.

Hiện đã hưu trí, cư ngụ tại Dallas, bang Texas.

 

 
  

 

dấu tích đời

Những lúc đó, không hiểu sao con bình tĩnh quá. Có lẽ con tin lời anh Sang. Anh Sang nói đúng, phải sống trong khung cảnh chết chóc rồi mới hết sợ hãi cái chết. Nhưng con lầm (không biết anh Sang có lầm không). Cho đến bây giờ, nỗi hoang mang càng lúc càng chất đầy trong con. Càng nhớ lại những ngày hai bên đánh nhau trong Thành Nội, con càng thấy mình hoảng hốt. Con không hiểu nổi tại sao hôm Việt Cộng rút đi rồi, gồng gánh về nhà, con đã thản nhiên đi ngang nhìn vào xác những ông bộ đội nằm phình to giữa đường, trên mặt, ai đó nghịch ngợm gắn những viên đạn vào mồm, cắm những cây nhang vào mũi. Giá như bây giờ, được thấy lại, chắc chắn là con sẽ ngất xỉu. Thằng Phương bây giờ cũng muốn đi lính đó má. Nói bảo với con nó chán ngán những ngày đi lang thang quá rồi. Nó ngán phải đến phòng thi. Nó bảo với con, khi học xong ở Thủ Đức, nó sẽ xin đi Nhảy Dù. Con đã rùng mình khi nó nói dự định đó với con. Má mà biết chuyện này chắc má buồn kinh khủng nữa. anh Sang đi lính, Hưng đi lính, Phương đi lính. Chỉ còn má và con, ngày nào cũng đợi thư và nghe tin chiến sự…

*

Tiếng hát ồ ồ của thằng Phương ở trước nhà làm Ngọc chợt tỉnh. Giấc ngủ buổi chiều nặng nề. Ngọc mơ hồ cảm thấy một nỗi hoảng hốt vu vơ, có lẽ do giấc mơ mà Ngọc không nhớ rõ, kéo dài. Trời mưa tự hồi nào, nhỏ và đều. Ngọc ôm gối nằm lắng nghe những tiếng động lẫn trong tiếng rơi trên mái tôn. Thằng Phương cao giọng hát, đứt quãng. Ngọc thấy buồn cười. Bài tình ca tiền chiến nhẹ nhàng đâm ra như bị méo mó dưới giọng hát của Phương. Thằng Phương lúc nào cũng là một nỗi vui miên man và Ngọc thực sự không hiểu nổi. Phương say sưa với đời sống riêng của mình như con chim nhỏ say sưa hót, say sưa nhảy nhót. Cái đời sống riêng đó quả nằm ngoài sức hiểu biết của Ngọc. Chả thế mà, rất nhiều lần, Ngọc thấy Phương như xa cách hẳn mình. Nửa đêm, Phương đi chơi khuya về kêu, Ngọc mở cửa thấy khuôn mặt Phương phờ phạc. Má Ngọc thức dậy rầy Phương dữ, thế mà hắn không nói gì, tỉnh bơ đi vào phòng. Để rồi một lát sau, Ngọc nghe Phương tắm, tiếng nước dội xối xả, rồi im lặng, rồi lại nghe tiếng động. Ngọc nhìn ra sân thì thấy Phương thản nhiên ngồi phì phà hút thuốc ở gốc cây măng cụt. Nhiều lúc, Phương rủ hai ba đứa bạn về nhà ngủ lại, giường không đủ chỗ, cả bọn trải chiếu giữa đất lăn kềnh ra ngủ, buổi sáng thức dậy cả bọn lại mặc áo quần vào, đi.

Ngọc không bao giờ có ý nghĩ dùng quyền làm chị để la Phương. Dường như Ngọc không dám có ý nghĩ đó. Phương có quyền có đời sống riêng cũng như Ngọc có đời sống riêng. Đòi sống riêng của Ngọc, Ngọc mơ hồ có cảm tưởng thật rã rời, chán ngán. Ngọc bơ vơ ở ngay giữa những sôi động tình cảm của mình. Sự tha thiết của Hưng không đủ giải tỏa cái cảm giác đó và nhiều khi còn làm Ngọc thật bực mình. Tinh thương lồng trong sự nghiêm nghị của má Ngọc chỉ có một tác dụng thừa thãi, làm Ngọc lắm khi bàng hoàng khi nhận ra điều đó. Má đã hiện diện, che kín một khoảng đời Ngọc. Bây giờ thì không còn nữa. Tình cảm của má hiển nhiên, rõ ràng như ánh sáng và Ngọc lẫn trốn vào đó những lúc cô độc, không thắc mắc, như người bộ hành núp dưới bóng cây râm mát, rồi lại tiếp tục đi. Có điều, lúc nào bà cũng như quá cẩn trọng trong sự phát lộ tình cảm của mình. Nên ít khi Ngọc dám nói thẳng những xao động mãnh liệt trong tâm hồn với má. Nhiều lần, Ngọc cảm thấy thấp thoáng sự vỗ về của bà có vẻ như đã được tính toán. Ngọc bơ bơ hơn ở đó. Ngày anh Sang đi lính, Ngọc thấy bà cố giấu nỗi buồn dưới vẻ mặt thật bình tĩnh. Ngọc nức nở tiễn anh Sang đi, lúc trở về, Ngọc thấy hai mắt bà đỏ hoe. Suốt mấy hôm sau đó, bà không hề nhắc đến tên anh Sang.

Phương vẫn còn hát ồ ồ bên ngoài. Ngọc kêu:

- Phương ơi, hát hay lắm sao mà hát hoài hát hủy vậy không cho người ta ngủ.

Phương ngừng hát, cười:

- Em hát mặc em, chị ngủ cứ ngủ mắc mớ gì! Hát hay không bằng hay hát mà.

- Mày khi nào cũng cà rỡn. Má đi đâu rồi?

- Hình như đi đám anh Ngữ.

- Ngữ nào?

- Ngữ thiếu úy con bà Đội Hàng chớ Ngữ nào!

Ngọc chưng hửng:

- Trời ơi, anh chàng cao cao, đen đen, mới về phép hôm trước đó phải không? Mà chết ở đâu vậy?

- Chết đâu ở Quảng Tín, mới chở xác về chiều hôm qua.

Ngọc đi rửa mặt và cảm thấy xao xuyến. Lúc này, cái chết nào cũng thật bất ngờ. Ngọc nhớ đến anh Sang, chợt rùng mình. Anh Sang viết thơ về lúc nào lúc nào cũng nói đến số mệnh. Số mệnh là niềm tin cuối cùng cho những người đối diện với cái chết. Ngọc viết thư cho anh Sang cũng bảo Ngọc tin ở số mệnh. Nhưng Ngọc vẫn lo sợ. Anh Sang ơi, sao lại có quá nhiều người trùng hợp số mệnh với nhau, họ chết cùng một lúc, chết rất bất ngờ và thê thảm như thế. Em không biết rõ là em có sợ chết hay không, nhưng mỗi lần nghe tin một người quen chết là em hoang mang. Và mỗi lần hoang mang, em lại nhớ anh và rùng mình.

Ngọc đứng tựa cửa sổ nhìn nền nhà sũng nước mưa. Ngọc mường tượng căn phòng học cũ có cửa sổ mở trông ra vườn, tự dưng thấy bàng hoàng tiếc nuối. Hồi mới chạy giặc về, nhìn ngôi nhà sụp đổ, Ngọc thản nhiên như nhìn một trò chơi con nít bị phá hủy sau khi hết hứng thú. Nhưng về sau, khi phải ở chật chội trong căn nhà xây tạm, Ngọc mới có cảm giác mất mát. Phải chi anh Sang về lại đây để nhìn buổi chiều mưa, nước đọng thành vũng trên nền nhà cũ, những song cửa sổ cong queo, lởm chởm còn mắc trên vách, những hình vẽ rồng phượng trên bức tường kê tủ thờ, nhòe nhoẹt bên đống gạch vụn. Anh Sang ơi, có thể khi đi hành quân qua các làng mạc, chứng kiến bao khung cảnh hoang tàn còn thê thảm hơn thế này, chắc anh rất dửng dưng lúc được tin nhà mình sập hết sau Mậu Thân, chẳng thế mà khi nghe em báo tin, anh không hề hỏi tới hỏi lui. Lúc mới trở về em cũng như thế, dửng dưng. Cả thành phố đổ nát chứ đâu chỉ riêng nhà mình. Nhưng giá dụ, bây giờ anh có mặt ở đây, chắc anh mới thấy những tiếc nuối - những tiếc nuối thật tình cờ - như em.

Phương đến bên Ngọc, nói:

- Chị Ngọc, hôm nào đi lính, em phải nói với má sao cho ổn?

- Làm sao mà ổn được. Chắc chắn má không bao giờ cho em đi. Má đã khổ sở vì anh Sang lắm rồi đó.

- Biết làm sao. Chả lẽ ngày hai bữa ăn rồi đi long nhong ở cái thành phố này, chán muốn chết. Mà đến lúc rồi cũng phải đi thôi chị Ngọc. Thời buổi này, chạy đâu cho khỏi lính, trốn đâu cho khỏi chiến tranh hả chị Ngọc?

- Nhưng em vẫn còn miễn dịch mà.

- Mà ở nhà thì làm quái gì? Chị biết không, đôi lúc, thấy mình vô trách nhiệm thấy mẹ. Thằng Thụ chết, thằng Lượng cũng chết, thằng Phong cụt chân, thằng Thành mù một con mắt. Chị cứ nghĩ, mỗi lần tụi bạn đi hành quân về kể toàn chuyện khổ cực mà mình thi ăn rồi đi chơi, nghĩ nó không ra làm sao cả.

Nói xong, chưa kịp hỏi thêm, Phương đã bỏ đi. Bây giờ, số phần con trai như treo trên trời. Mà có lẽ số phần của mọi người cũng đều như treo trên trời. Bom đạn không còn phải là một biến cố, mà thường trực. Nhiều đêm, Ngọc nằm mơ thấy những giấc mơ bom đạn khủng khiếp, tỉnh dậy, Ngọc thấy mình rơi xuống từ một khoảng không. Lúc đó, Ngọc có cảm giác sắp chết và thấy thèm một vòng tay thật ấm, vòng tay của Hưng, của Sa. Ngọc ôm gối nghe một nỗi thiếu thốn kỳ lạ mà tình yêu si dại của Hưng dường như không đủ bù lấp. Tình cảm của anh chàng lúc nào cũng lộ liễu, tràn đầy với những đưa đón, những buổi đi dạo, những món quà hay những bức thư tình chất đống nhàm chán lắm khi chưa đọc đã biết nói gì. Ngọc khỏi cần phải chạy quanh, đuổi bắt băn khoăn. Tình yêu chả lẽ chỉ chừng đó thôi sao! Trông tầm thường quá. Với Ngọc, sự gắn bó giữa Hưng và Ngọc bây giờ nằm trong những kỷ niệm xưa cũ đã bắt rễ từ quá khứ và có lẽ không còn gì hơn nữa. Ngọc đâm ra chán ngán.

Những lần như thế, Ngọc say sưa nghĩ đến Sa, xót xa tiếc nuối. Sa thấp thoáng trong Ngọc bằng hình tượng những kỷ niệm thật chải chuốt. Trí nhớ đưa Ngọc trở về ngôi nhà ở Kim Long với hàng dừa trước cổng và một khu vườn đầy cây ăn trái. Sa ở nhà cạnh bên. Ngọc có tuổi thơ và có Sa. Những kỷ niệm êm ả giữa Sa và Ngọc thành hình, không toan tính, không sửa soạn. Chưa hề một thư tình, chưa hề một nụ hôn. Ngọc còn nhớ rõ, đêm trước hôm Sa theo gia đình và Đà Nẳng, Sa cầm tay Ngọc bóp mạnh, im lặng. Ngọc khóc nức nở, rứt tay bỏ về. Rồi thôi. Mãi đến bây giờ, Ngọc không hiểu rõ vì sao chuyện tình giữa Sa và Ngọc bị bỏ dở. Có thể là vì thế mà mỗi lần nghĩ đến Sa, lúc nào Ngọc cũng mang máng tiếc nuối. Hưng đến, vồ vập, hăm hở. Nhưng không hiểu sao, tình cảm sô nổi dành cho Hưng lúc đầu cứ lịm dần theo những ngày tháng hẹn hò đều đặn và buồn nản. Thật buồn cười. Trong Ngọc, Sa chen vào Hưng, Hưng lẫn trong Sa.

Phương vừa chảỉ tóc vừa hỏi Ngọc:

- E cũng hơn nửa tháng rồi, sao không thấy thư anh Sang gửi về, chắc lại bận đi hành quân, chị Ngọc hả?

Ngọc ậm ừ trong cổ, đưa mắt nhìn mưa rơi trên những đám lá non run rẩy. Dạo này, thường có những ngày mưa bay, mưa không lớn, nhưng liên miên. Những trận mưa ào ạt khoảng tháng bảy đã qua. Mùa thu thật dịu. Ngọc rời cửa sổ, tự dưng bâng khuâng. Ngọc nghĩ đến những đôi tình nhân đang dìu nhau đi dưới mưa và nhớ Sa một cách kỳ lạ. Yêu một người và bị níu kéo bởi một người khác, khiến Ngọc luôn luôn thấy tâm hồn mình bất định. Tiếc nuối chồng chất tiếc nuối khác, xô đẩy nhau tạo nên trong Ngọc những xao động. Ngọc đâm ra sợ hãi ngay cả những ước mơ và mong đợi của mình. Nhìn trở lại, dường như ước mơ nào rồi cũng rã rời, mong đợi nào rồi cũng thành thừa thãi. Ngọc không nói được với má, cũng chẳng nói được với Hưng. Má thì xa cách. Hưng thì hồn nhiên, lúc nào dường như cũng tỏ ra thỏa mãn với những gì mình có. Anh chàng chung tình, chung tình quá đỗi, nhưng cách sống yên phận của Hưng làm Ngọc bực mình. Ngọc ao ước được si dại, được đắm đuối trong tình yêu, muốn luôn luôn chạy theo, muốn đuổi bắt một cái gì khó khăn để khỏi thấy mình thừa thãi. Hưng vô tâm, chẳng hề hiểu điều đó. Lắm lúc, Ngọc thấy mình thật phi lý, vừa muốn đuợc yêu, được chiều lại vừa muốn bị hất hủi. Càng thấy phi lý, Ngọc càng khắc khoải.

*

Buổi chiều, Hưng đến đón Ngọc ở trường. Hưng đưa Ngọc đi ăn kem, rồi hai dứa vào Đại Nội. Sau Mậu Thân, cà khu hoàng thành tan hoang. Thành quách, cung điện, lâu đài đổ nát. Nắng chiều vàng nhạt xuyên qua các mái ngói rệu rã, đậu trên các cây bông sứ, phản chiếu xuống hồ một thứ ánh sáng bơ vơ, buồn thảm. Ngọc mênh mang nhớ những ngày trước chiến cuộc, khi mọi thứ còn nguyên vẹn, anh Sang chưa đi lính, Tài Vân chưa chết, buổi chiều rủ nhau long nhong vào Đại Nội, vừa đi lang thang vừa trò chuyện vẩn vơ thật là êm đềm hết biết. Anh Sang thì lúc nào cũng triết lý, Hưng thì lúc nào cũng rộn ràng, Tài Vân như dáng dấp cổ kính của các cung điện thì lúc nào cũng hiền hòa, trầm lặng. Lúc đó, nắng vàng, nắng tươi, cỏ cây xôn xao lay động. Ngọc lắng nghe giọng anh Sang say sưa nói về hạnh phúc, đau khổ, nhìn nụ cười Tài Vân nhẹ nhàng, loáng thoáng như có như không, nghe Hưng vừa đi vừa hát, Ngọc thấy cuộc đời sao mà dễ thương một cách kỳ lạ. Anh Sang và Tài Vân, Hưng và Ngọc tươi vui, trong sáng, tưởng như cứ như thế mãi mãi, không có gì trắc trở.

Nhưng rồi tất cả đột nhiên thay đổi. Anh Sang bị gọi nhập ngũ, bỏ học nửa chừng. Hôm tiễn anh lên đường, Tài Vân buồn thật buồn. Khi chiếc xe GMC chuyển bánh, anh Sang đưa tay vẫy vẫy, đôi mắt Tài Vân long lanh, ươn ướt. Rồi chiến cuộc nổ ra, lay động tận gốc rễ cái thành phố bình yên và trầm lặng của Ngọc. Những tưởng hiểm nguy chỉ dành cho người ra đi, ai ngờ lại rơi vào người ở lại. Giờ đây, đôi mắt Tài Vân đó đã rữa nát trong lòng đất trong lúc anh Sang đang dẫn lính đi hành quân một vùng đâu đó ở miền Nam. Những gãy đổ tình cờ như con bão rớt cuốn hút những mơ ước vào hư vô, không còn một dấu tích. Ngọc như bị xô đẩy vào một vùng hoang dã, xa lạ, ở đó, mọi kỷ niệm đều vỡ vụn như những đống gạch ngói trên lầu Ngọc Môn. Ngọc đổi tính, nhìn đời sống bằng một tâm trạng bất an thường trực. Anh Sang ơi, lúc nào anh về để được cắm vài cành hoa trên mộ của Tài Vân? Anh biết không, khi bị pháo kích chết ngay giữa ngã tư trên đường chạy giặc về chợ Cầu Kho, Vân được người đi đường bó vào trong chiếu, hối hả chôn ở một góc hồ Tịnh Tâm, đây vốn trước là những vồng khoai, bây giờ là nơi chôn cất tạm bợ những người chết. Anh Sang ơi, bây giờ Tài Vân vẫn còn nằm đó, chưa biết khi nào mới được cải táng. Chẳng lẽ cứ ở đó đến ngàn đời!

Nói là vào Đại Nội chơi, hóa ra, cả hai đứa đi đứng lừng khừng, chẳng thấy hứng thú gì mà rốt cuộc chỉ để chịu đựng những cảm giác lạc lõng. Cảnh lạc lõng, người lạc lõng. Nản chí, Ngọc kéo Hưng đến ngồi ở tầng cấp dưới cùng của lầu Ngọ Môn, lượm những hạt soỉ nhỏ ném vu vơ, đầu óc lang mang nghĩ đến sự mất mát tiếp nối của những ngày sắp đến. Hưng nói giọng thật buồn:

- Chỉ còn một tuần phù du thôi, Ngọc nhỉ.

- Đừng nhắc nữa, Hưng. Hết chia tay rồi lại chia tay. Em chịu không muốn nổi nữa.

Chì Ngọc, Hưng chỉ nhắc nhở những kỷ niệm xưa cũ. Ngọc nghe xôn xao. Nhớ đến những lần lạnh nhạt với Hưng, Ngọc thấy thật vô lý và bất nhẫn. Sự chân thành của Hưng nhiều lần làm Ngọc bực mình, chán ngán, bây giờ đột nhiên làm Ngọc xúc động. Hưng đi rồi, những ngày bình an bỏ lại. Như anh Sang, Hưng sẽ ôm súng, sẽ hành quân, sẽ là những cánh thư nhàu nát từ chiến trường gửi về. Hưng tầm thường, nhưng lúc Hưng đi rồi, biết đâu, Ngọc chẳng thèm khát sự tầm thường đó như một chuyện cần thiết không thể thiếu vắng. Ngọc yên lặng nhìn những đọt cây trụi lá khẳng khiu, những cây phượng mùa hè không nở bông đỏ chói như thường lệ, vô tình ngả xuống lòng Hưng, vội nhỏm dậy. Hưng cảm động gỡ những cánh bông sứ trên áo Ngọc vò nát, thì thầm nói về sự nhớ nhung, cô độc khi xa Huế, xa Ngọc và nhẹ nhàng hôn tóc Ngọc. Ngọc gỡ tay Hưng, đứng dậy.

Lúc trở về nhà, Ngọc thấy má ngồi tiếp chuyện với ông Thành, người-tình-xưa-cũ-của-má. Ông ta dong dỏng cao, khuôn mặt rắn rỏi, lâu lâu lại ghé đến thăm má. Má tiếp ông ta ở bàn làm việc ngoài mái hiên như khách quen hơn là người tình cũ, nhưng trông bà rất vui. Ông ta nguyên là sĩ quan, bị thương nặng trong một trận đánh dữ dội ở cao nguyên, ruột đứt phải nối bằng ống cao su, giải ngũ, giờ là thương phế binh. Hỏi, má chỉ cho biết ông ta là bạn cũ của má, và không nói gì thêm. Ngọc tò mò hỏi cậu, cậu Ngọc nói là hai người hồi trước thương nhau lắm, nhưng vì ông ta có tham gia trong một tổ chức thanh niên chống Pháp, nên ông bà ngoại má vốn là công chức của Pháp không chịu gả. Chuyện tình đành dang dở. Về sau ông bà ngoại ép gả cho ba Ngọc. Tuyệt vọng, ngày đám cưới, má Ngọc uống thuốc ngủ tự tử, nhưng người nhà hay được, cứu sống. Đúng là vết thương định mệnh. Hèn gì mà má có một cuộc sống lặng lẽ. Từ ngày biết chuyện, Ngọc thấy xốn xang, thương má nhiều hơn. Và đâm ra thông cảm với thái độ dửng dưng, đôi khi lạnh lùng của má. Nếu tình yêu của má không trắc trở thì không có Ngọc trên đời. Ngọc nghĩ giá mà như thế cũng hay.

Ngọc nói chào bác Thành. Người đàn ông cười hiền hòa:

- Cháu đi học về?

Ngọc cúi đầu nói dạ, rồi đi vào trong. Ngọc loáng thoáng nghe má Ngọc nói: “tính con Ngọc nó giống tôi lắm.” Giọng người đàn ông: “tính giống mà dáng dấp cũng chẳng khác mấy Phượng hồi xưa, đã ít nói lại hay buồn vơ vẩn. Khổ là phải. Thế mà cũng hăm lăm hăm sáu năm rồi.” Dường như người đàn ông thở dài.

Ngọc thay quần áo lên giường nằm, suy nghĩ vẩn vơ về những rắc rối của cuộc đời. Những yêu thương, dang dở, những gặp gỡ, chia cách. Tường như mọi người đều xô đẩy nhau cuốn vào vòng luẩn quẩn. Anh Sang, Tài Vân, Sa, Hưng, má, người-tình-xưa-cũ-của-má, mỗi người đều có một chỗ hỏng dưới chân, đàng sau là kỷ niệm chen chúc với những tiếc nuối, những hoa hoè, những vỡ vụn. Tương lai dựng nên bằng những dấu tích mờ mịt. Ngọc thảng thốt nghĩ đến định mệnh, nghĩ đến ngày lấy chồng, đẻ con, rồi cuộc sống lăn tròn trong những tháng ngày đều đặn, nối tiếp nhau. Sự lựa chọn nào cũng mang lại một cảm giác rã rời. Ngọc tưởng chừng như mình đang lao vào một khoảng trống mênh mông. Có ngày rồi Ngọc cũng như những cành cây mít, cây sầu đông khẳng khiu trong vườn, mệt nhoài như lũ chim xác xơ sau cơn gió bão. Có ngày rồi cũng không biết phải đợi chờ gì nữa.

Phương đã về, hát nghêu ngao từ ngoài cửa ngõ. Thằng nhỏ đến lạ, gì đó thì gì, hắn vẫn chơi vui hớn hở như thể chẳng còn gì xảy ra. Mai kia mốt nọ, Phương đi lính rồi, cái giọng hát ồ ồ vô duyên ấy sẽ cũng làm Ngọc nhớ tiếc bâng khuâng.

*

Lúc đi học về, Ngọc thấy Phương đứng đợi ở của ngõ, reo lớn: có thư anh Sang, chị Ngọc ơi. Ngọc hỏi mới đem lại chiều nay hả? Phương nói không phải thư bưu điện, thư tay gửi riêng cho chị, anh Thức đem đến. Thế mày đọc chưa? Chưa, thư riêng viết cho chị mà.

Ngọc vội vã lấy thư bóc ra đọc. Chữ anh Sang viết run run:

“Ngọc thương,

Anh đang nằm tại bệnh viện. Anh bị thương nặng ở chân trái trong trận đánh hôm 4/8. Không chắc khỏi cưa. Anh không mất bình tĩnh. Anh vẫn còn tin ở số mệnh. Em đừng buồn lắm và khoan báo tin gì cho má biết hết. Cách đây hai hôm, anh mơ thấy Tài Vân suốt đêm. Trận đó, có ba người bạn cùng khóa với anh chết, trong đó, có Sa. Chắc em còn nhớ Sa, anh ta hồi xưa ở gần nhà mình trên Kim Long đó. Dù sao, anh cũng muốn đưọc sống để về. Thương em.

Tái bút: Cắm hương trên mộ Tài Vân giùm anh.”

Phương hỏi dồn dập: anh Sang viết chi vậy chị Ngọc, chi vậy…?

Ngọc vứt thư cho Phương rồi úp mặt khóc nức nở.

*

… Đàng nào, anh Sang cũng sắp về. Con cầu nguyện anh vẫn còn nguyên vẹn. Suốt mấy hôm rồi, con không ngủ được. Con có cảm tưởng mất hẳn chỗ tựa. Con bỏ học đi lang thang ba bốn ngày nay. Như má biết, Hưng cũng đã đi lính tuần trước. Mấy lần, khi ngồi ăn cơm với má, con định nói với má về chuyện anh Sang, nhưng con vẫn không nói đươc. Biết anh Sang sẽ về, con vừa mừng vừa sợ. Chắc con không đủ can đảm nhìn nếu anh bị cưa mất một chân. Con còn nhớ có lần má vào bệnh viện quân đội thăm anh Lương về má nói: con người ta lúc sinh ra đầy đủ bộ phận, săn sóc từng chút mà lớn lên kẻ mất tay người mất chân nhìn không được con mắt. Bây giờ, con không còn bình tĩnh nữa má. Con hoang mang quá sức. Má ơi, chiến tranh gì mà buồn quá, hả má…

(Tạp chí Văn số 125, Sài Gòn 1969)

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

Văn học Miền Nam 54-75 (705): Y Uyên (kỳ 15)

Chiến tranh đi qua những truyện ngắn của Y Uyên

Nguyễn Lệ Uyên

“Không có nỗi ngây ngất nào rực rỡ như nỗi ngây ngất chiến tranh, phía sau có lửa, phía trước có máu của mình.”
(Mùa xuân qua đèo - Y Uyên)

Trên tờ tuần báo Nghệ Thuật, số đầu tiên ra ngày 1-10-1965, Mai Thảo đã dựng lên tuyên ngôn của những người cầm bút (trong nhóm) về thái độ của nhà văn trước thực tế của đất nước, bằng một nhan đề rất kêu: “Văn học Nghệ thuật trong chiến tranh hiện tại và hoà bình tương lai” bằng thái độ chọn lựa rạch ròi, bằng trách nhiệm và bổn phận trước quốc gia, dân tộc, lịch sử mà nghe cứ như lời rao giảng ngày tận thế với cơn đại hồng thuỷ và chiếc thuyền của Noé: “Nói đến đời sống, cái chết, chiến tranh và hoà bình, lửa máu và nước mắt, nhân phẩm và danh dự, nói đến hạnh phúc, bất công áp bức, ý thức, thượng đế, thân phận con người, triết thuyết, hành động, thực tế và trí tuệ, cá nhân và toàn thể, nói ở đâu bằng ở Việt Nam không nói, nói ở đâu bằng Việt Nam đau khổ, nói ở đâu bằng Việt Nam treo căng trên từng từng bất hạnh, nói ở đâu bằng Việt Nam có quyền nói đến trước tiên? Văn học nghệ thuật chúng ta phải nói lên bằng được sự thực vĩ đại hiện hình trên Việt Nam quằn quại.
Vai trò của Văn học nghệ thuật hiện nay do đó là phải đi vào thực tế chiến tranh, bởi thực tế ấy là một sự thực…” (Sđd). Một tuyên ngôn như vậy, trên một tờ báo văn nghệ như vậy, trong thời khắc chiến tranh bắt đầu loang nhanh như một vết dầu bẩn trên phần đất này một cách ồ ạt, khốc liệt có vẻ như thừa, như thiếu hơi, đuối sức?

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2020

Văn học Miền Nam 54-75 (704): Y Uyên (kỳ 14)

Nhớ Y Uyên

Trần Phong Giao

Bây giờ, thú thật, tôi không còn nhớ nổi những liên lạc đầu tiên giữa Y Uyên và tôi. Có điều chắc chắn đó là, ít nhất trong giai đoạn khởi đầu, mối liên lạc bình thường giữa một thư ký tòa soạn và một nhà văn trẻ có nhiều triển vọng.

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2020

Văn học miền Nam 54-75 (703): Y Uyên (kỳ 13)

Núi Tà Dôn và dấu chân Y Uyên

Lê Mai Lĩnh

clip_image001

Ảnh : nhà văn Y Uyên – trước hầm trú ẩn ở đồn Nora, vùng núi Tà Dôn, Bình Thuận. 1969. Nguồn Thư quán Bản thảo số tháng 2/2005

(Trích: Tuyển tập Lê Mai Lĩnh 2015)

TÁC GIẢ, ĐÔI LỜI…

Ba mươi sáu năm về trước, nói rõ hơn, đúng vào ngày mồng một tháng Năm năm 1969, sau khi nhà văn Y UYÊN chết, trên tạp chí VĂN của Ông Trần Phong Giao, số tưởng niệm nhà văn Y UYÊN, Lê Mai Lĩnh tôi, dưới bút hiệu khai sinh Lê Văn Chính, đã có một bài viết, về cái chết của một người huynh trưởng, Y UYÊN, anh khóa 27, tôi khóa 1/68, trường Bộ Binh Thủ Đức, bài này nằm giữa, trước là Võ Phiến, sau là Thanh Tâm Tuyền. Điều rất vui là tôi nằm giữa, những bậc đàn anh, bậc thầy.

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2020

Văn học Miền Nam 54-75 (702): Y Uyên (kỳ 12)

Khói trên mặt nước

Về sáng, lúc đàn ngỗng kêu dáo dác, Dần thấy mẹ và em gái đã dậy sửa soạn thùng để hứng nước mưa. Giấc ngủ trong gian buồng bừa bộn đồ dùng con nít của Tấm, yên ổn không mộng mị. Trời đổ mưa. Dần ra ngoài giúp con Tấm đổ nước vào phuy. Một vài trái sáng cuối đêm nom rõ dù trong cột khói, rải rác, tản mát. Bóng tối đầy lại thực mau với cơn lạnh nhiều hơi nước trở vào, Dần hình dung căn nhà về sáng có Thục ướt át chuyển những thùng nước giúp mẹ. Chuông nhà thờ phía sông đổ hồi gọi con chiên buổi sớm. Dần hỏi mẹ: 
"Anh ấy đã có vợ con gì chưa?"

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2020

Văn học miền Nam 54-75 (701): Y Uyên (kỳ 11)

Giọt nước

Sau ngày Dần-anh chết ít lâu, Dần lại trở ra ở với bà ngoại ít ngày. Trước khi nhập ngũ Dần tự dưng muốn đi xa một chuyến. Dần nghĩ tới căn nhà bà ngoại và những năm hai anh em Dần học ở đó. Trong số bảy anh em, ngoài Dần, Dần-anh cũng có nhiều liên lạc với đám bà con bên ngoại Dần và Dần-anh coi nhà bà ngoại như một chỗ ở thứ hai. Dần-anh chết, Dần tự dưng hết còn muốn ở nhà. Dần nói mình ít sức chịu đựng. Nhất là hồi này ở nhà đang mùa mưa, không đi được tới đâu. Những buổi sáng dậy muộn, mẹ và hai em gái không còn ở nhà, Dần thường bày cờ giải một mình. Buổi chiều thì bắt đầu mưa và thường thường kéo luôn tới khuya hoặc sáng hôm sau. Dần tập đánh bài với chú Bách nhưng cũng mau nản. Chú Bách là cư sĩ, hồi này lại tuyệt ngôn nên Dần rất dễ buồn ngủ khi ngồi với chú. Dần thường chờ những bữa cơm chiều ngồi uống với mẹ ít ly rượu cẩm trong lúc chờ con Hài đi học về hay chờ con Tấm choàng áo tơi ra bãi cỏ trước nhà xua đàn ngỗng loáng quáng chạy về chuồng. Những chiếc ghế thửa trước đây, dành riêng cho mấy người con trai đã không còn gợi được chuyện họp mặt. Chúng yên lặng như một vài điều mẹ Dần có thể nhờ nhất định về mỗi người. Những ồn ào làm nên đời sống anh em Dần đã thực sự tản mát. Những âm thanh Dần-anh mang theo cũng đã tắt ngấm sau một tiếng nổ. Dần đi sau hôm ông lão thầy tướng tới từ biệt mẹ Dần để xuống đò về một tỉnh miền ngoài. Mẹ Dần có những câu mờ hồ như gởi gấm những chuyến đi của Dần sắp tới cho ông. Dần thấy tội cho mẹ, chỉ cười. Ông lão thấy tướng đã quá già. Đi phải chống gậy và có đứa cháu kèm bên. Hồi sinh Dần-anh và Dần, mẹ Dần kể lại, có mời ông lão tới. Giờ nghe lặp lại. Ông lão thều thào: "Từ đó tới giờ, tôi ăn trộm tuổi trời". Ông lão đã thay cho Dần để đặt ra hai cái tên Dần-anh, Dần-em. Mẹ Dần nói hôm đặt tên, chẳng có gì đãi ông. Chỉ có mấy miếng đậu nướng và một con chuột cho ông nhắm rượu. Ngay từ hồi đó ông đã già lắm. Râu ông chạm ngực. Ông khom gập lưng xuống mâm rượu, vén râu, cầm đậu, cầm chuột bón vào miệng. Từ hôm Dần-anh chết, mấy lần gặp ông, thấy ông ngắm nghía mình, Dần chắc ông muốn hình dung mặt mũi Dần-anh. Mẹ Dần ở nhà khóc nhiều ngày mắt sưng đỏ. Ông tới an ủi thường ngồi lại cả buổi. Dần bỏ đi chơi có khi về gần tới nhà vẫn nghe tiếng mẹ Dần ấm ức lớn tiếng tiếp chuyện khách. Như lời lảm nhảm một mình. "Dạ, tôi nhớ. Bà ấy độc địa quá quắt. Không có cụ tới cúng, biết bao giờ trời mới cho bà ấy nhắm mắt". "Một năm mà bốc được hai mươi mốt ngôi mộ cũng là giỏi lắm rồi. Cụ còn nhớ cái đám ông Hào? Bữa đó đi nhặt xương về, cụ dựa vào cây cột lim vừa kể cho tôi nghe vừa véo xôi ăn cụ còn nhớ không? Cụ nói cốt ông ấy thực tốt. Đầy ắp một cái tiểu sành, đỏ đòng đọc". Mẹ Dần như đang vuốt ve những cái tiểu sành chứa xương cốt liệu bà có thấy được gần gũi Dần-anh thêm chút nào? Sau hôm ông lão trở ra miền ngoài, Dần dẫn con Hài, em Tấm đi may mỗi đứa một cái áo soie Thái Lan rồi sửa soạn hành lý. Buổi tối gặp Thục ở cầu thang lên sân thượng nhà nàng, Dần giải thích: 
"Không phải anh ưa lang bang. Xa Thục anh thật buồn".

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

Văn học Miền Nam 54-75 (699): Y Uyên (kỳ 9)

Có heo may Hà Nội

Tôi chạy đến thì anh tôi đã bỏ đi. Một đám đông bu trước tiệm nước. Chiếc khăn bàn anh tôi ngồi rũ xuống một góc được giữ lại bằng một lưỡi dao ngập trên bàn. Người đàn bà chủ tiệm mặt tái xám, đứng chôn chân trước quầy hàng, tay nắm chặt mấy tờ giấy trăm thật mới. Mấy người nữ chiêu đãi đang cúi xuống chân bàn lượm các mảnh vỡ, hót đống bún bò lẫn mùi la-de, lựa những chiếc nem nhớp nháp như bị mửa lên. Tôi quay trở ra, không có ý đi tìm gặp anh tôi, nhưng tôi cũng không về nhà. Thầy mẹ tôi chắc sốt ruột lắm. Tôi ghé lại nhà cô Út tôi. Cô hỏi: 
"Anh cháu về chưa?"

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2020

Văn học miền Nam 54-75 (697) Y Uyên (kỳ 7)

Tiếng hát của người gác cầu

Trên bàn để một chiếc cái máy truyền tin bọc bằng bao vải bố, một chiếc ra-dô ấp tân sinh, một dĩa rau lớn, một tô gan lẫn lá sả, hai dĩa thịt nướng, bốn cái ly chén đủ loại đựng rượu đế và một xấp bánh tráng. Phon kéo ghế cho một người vừa tới muộn.

- Không còn chuyện chi quan trọng như cái vần đề này. Uống cùng anh em ít ly rồi lo công vụ cũng không muộn.

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020

Văn học Miền Nam 54-75 (696): Y Uyên (Kỳ 6)

Mùa lạnh, tỉnh lỵ có được mấy ngày đại nhạc hội và một tiệm cà phê mới nên cũng đỡ buồn. Đại nhạc hội thì do anh Anh, Ty Tiểu học tổ chức, có khá nhiều cô giáo và một vở kịch cần nhiều hoa hường. Những tấm bìa quảng cáo dán trong các tiệm lớn nói về đại nhạc hội: Những người trình diễn sẽ là những anh em đang dùng cơm với bạn, đang chơi billard, đang che dù dạo phố, rất quen thuộc nhưng cũng rất độc đáo… Sãi nói đùa với anh Anh: "Mùa lạnh tên nào cũng hốc hác, bệ rạc. Gom cả mớ thảy lên sân khấu đèn màu, anh giúp tụi nó đỡ bị rét". Những buổi chiều ghé về nhà ngắt bông hường mang lên rạp hát cho anh Anh, Sãi thấy cửa thường đóng kín. Không muốn quấy rầy người bạn mượn nhà, Sãi quay ra cổng đi luôn. Quân và người tình hắn mấy ngày liền chỉ ăn đồ khô và ngũ cốc. Sãi có ý chờ Đởm ở trên núi xuống để đi coi đại nhạc hội nhưng không thấy tăm tích. Hắn như có nợ với tỉnh này. Một con bé có chiếc jupe serrée giấu ở bờ biển miền trong mỗi năm rủ hắn vào đó dạo chơi ít ngày đã giữ hắn lại tỉnh này suốt mấy năm làm công chức và mấy năm đi lính. Giờ thì hai đứa bỏ nhau. Đởm thù tỉnh lỵ, hẹn sẽ chỉ trở về khi Sãi ngất ngư sắp chết. Nghe nói hắn có một người yêu mới cực đẹp và hắn đang dạy cho nó biết đọc, biết đi xe đạp. Hồi Sãi về Sài Gòn tính chuyện vợ con, Đởm có về một lần. Hắn uống rượu, nhổ hết mấy cụm chuối khuân vứt xuống bến sông viết bừa bãi lên vách tường rồi bỏ đi.