Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Văn Chánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Văn Chánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 24 tháng 9, 2025

Lật lại một cuốn sách “có vấn đề” về Trung Quốc

 Trần Văn Chánh

 

Bài viết này không nhằm giới thiệu hay bình luận sách mới, vì cuốn sách đang đề cập Bàn về Trung Quốc trỗi dậy của tác giả Lê Vĩnh Trương đã được NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành cách nay đúng 6 năm. Gọi “có vấn đề” như tên bài viết vì khi sách này vừa xuất bản đã có lệnh từ cơ quan chức năng cấp trên yêu cầu nhà xuất bản phải thu hồi vì lý do trong sách có những điểm cần soi xét liên quan đến mối bang giao Trung-Việt. Sau một thời gian khá dài “hậu kiểm”, sách đã được cho phát hành chính thức, sau khi đã xóa bớt một số điểm nhạy cảm… Đây là lý do giải thích tại sao trên thị trường sách vào những năm đó tồn tại hai dị bản: một ấn bản đủ với số lượng ít đã “lỡ” phát hành khi chưa có lệnh thu hồi, và một ấn bản hơi thiếu thiếu một chút do cơ quan hậu kiểm yêu cầu xóa bớt những chỗ được/ bị cho là “nhạy cảm”. Để không bị tổn thất về mặt kinh doanh, nhà xuất bản đã khéo sắp xếp cho ấn bản sau khi sửa vẫn duy trì được hình thức trình bày cùng số trang y chang như ấn bản đủ lúc ban đầu…

Thứ Hai, 10 tháng 7, 2023

Đọc “Dấu thời gian” của Trần Bảo Định nhìn từ góc độ nghiên cứu lịch sử và hiện tượng xuất bản

Trần Văn Chánh

image

Khoảng hai tháng trước, tôi được một bạn thân mua tặng cho cuốn Dấu thời gian – Khát vọng của người xưa của Trần Bảo Định, do NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh vừa ấn hành. Giở xem trang mục lục, thấy thoáng qua sách là tập hợp một số bài viết với đề tài tương đối độc lập nhau, nhưng nghĩ kỹ, giữa chúng vẫn có một mối liên hệ logic nào đó, và đây có thể chính là chủ tâm của tác giả, bằng cách xâu chuỗi lại những sự kiện và nhân vật lịch sử thuộc thành phần sĩ phu yêu nước cũ và trí thức tân học từ đầu thế kỷ XX cho đến khoảng trước và sau 1945 đã từng đào sâu suy nghĩ về thời cuộc và vận động cải cách kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội để cứu nước, cứu nguy cho dân tộc đang bị chìm trong lao khổ đồng thời tìm lối ra và định hướng phát triển cho đất nước Việt Nam lúc bấy giờ vẫn còn nằm trong ách nô lệ của chế độ thực dân nửa phong kiến.

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2023

Tản mạn chung quanh lời phát biểu của một ông Chủ tịch tỉnh

Trần Văn Chánh

Mùa lễ 30.4 và Quốc tế lao động năm nay, mặc cho không khí sôi động của rất nhiều sự kiện chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước, người dân Việt Nam, đặc biệt ở các đô thị lớn, đến hẹn lại lên và dường như đã trở thành tập quán thường niên, phần nhiều đều tạm gác bớt công việc sắp xếp về thăm quê hoặc đi du lịch. Trong những ngày này, đường phố thường vắng tanh nhưng giới hoạt động tàu xe và các hàng quán phục vụ du lịch thì vô cùng bận rộn.

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2021

Nhân sự kiện một cô giáo ở Đại Học Duy Tân bị đuổi việc, tản mạn về phần tử trí thức đại học

Trần Văn Chánh

Trong những ngày chống dịch Covid-19 đang bùng phát dữ dội (đợt IV từ 27.4.2021) tại TP. HCM, tôi cũng đã tham gia vừa tiêu cực vừa tích cực vào chiến dịch “chống dịch như chống giặc” đại quy mô này bằng cách… ở yên tại nhà, nhờ vậy có thì giờ theo dõi kỹ hơn các thông tin về dịch bệnh, thấy được chỗ hay chỗ dở trong hành động của chính quyền, sự tích cực của đội ngũ y tế, công an, tình cảnh khốn đốn của người dân, kể cả những chuyện thế thái nhân tình trong thời đại loạn, và những thông tin khác nữa rất đa tạp liên quan các vấn đề chính trị, xã hội mà các loại hình truyền thông đưa tin đôi khi trái ngược nhau, chưa kể một số tin giả giật gân lừa đảo gây xôn xao dư luận…

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2020

Thoát Trung là thế nào và bằng cách nào?

Trần Văn Chánh

Việt Nam từ năm 1954 đến nay luôn tự hào là một nước “độc lập, tự do” nhưng thực chất không có độc lập bao nhiêu đối với anh láng giềng lớn Trung Quốc. Vì thế, mấy năm gần đây, rất nhiều vị nhân sĩ trí thức đã bàn tới vấn đề “thoát Trung” một cách hết sức khẩn thiết và tâm huyết, coi đây như một trong những điều kiện chính trị quan trọng để Việt Nam có thể định hướng lại đường lối chính sách phát triển đất nước của mình một cách tự chủ hợp lý hiệu quả hơn thay vì nếu để ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc cứ tiếp tục úp chụp lên đầu mình như một vòng kim cô thì Việt Nam muốn cựa quậy theo ý riêng gì cũng không thể cất đầu lên được.

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2020

Đọc TRÒ CHUYỆN VỚI THIÊN THẦN của Trương Văn Dân

Trần Văn Chánh

Sách vừa do NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành khoảng giữa Quý II năm 2020, trong lúc đại dịch Corona đang diễn ra gây đe dọa sinh mạng của con người trên toàn thế giới. Dưới tên sách chính Trò chuyện với thiên thần còn có cái tên phụ: Những tai họa của thế giới và giấc mơ Việt Nam. Tôi chưa hiểu vì sao tác giả Trương Văn Dân xếp sách của mình vào thể loại tiểu thuyết (có ghi rõ hai chữ “tiểu thuyết” dưới tên sách), trong khi thật ra nó không giống một cuốn tiểu thuyết nào khác cả, vì từ đầu chí cuối chỉ toàn thấy nghị luận việc đời. Nhưng nó cũng không phải loại tiểu thuyết luận đề, như tiểu thuyết xã hội của nhóm Tự Lực Văn Đoàn hay tiểu thuyết triết lý của Jean Paul Sartre, Albert Camus chẳng hạn, vì bên trong không có nhiều nhân vật và các lời đối thoại, không có những tình tiết kịch tính.

Vậy có thể gọi đây là một thể loại tiểu thuyết đặc biệt chỉ riêng có ở nhà văn Trương Văn Dân?

Dường như vậy. Trong đề mục số 10 (trang 67), “Một cuộc phỏng vấn bất ngờ”, vấn đề thể loại được tác giả chia sẻ: “Khi người bạn hỏi đây có phải là tiểu thuyết hay không, ba [tức tác giả tự xưng với đứa con tưởng tượng sắp ra đời – TVC] không biết phải trả lời sao. Vì mình viết những gì lóe lên trong óc, theo sự xếp đặt chủ quan, chứ khi cầm bút đâu có nghĩ là mình sẽ viết theo thể loại nào, tiểu thuyết hay tân tiểu thuyết, hiện thực, luận đề, hư cấu hay phi hư cấu, hiện đại hay hậu hiện đại? Ba cũng không quan tâm là trước đây hay sau này có ai viết như thế để chuyển tải suy nghĩ của mình không… Còn như nếu phải trả lời là tiểu thuyết hay không… thì ba xin trả lời rằng đây là một… cuộc trò chuyện. Trò chuyện với thiên thần. Một cuộc trò chuyện về sự hiện hữu pha lẫn với hiện thực của một đứa bé sắp chào đời và bối cảnh xã hội của đất nước và thế giới có liên quan đến nó” (tr. 68)

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020

Tản mạn chung quanh cuốn Gia đình của Phan Thúy Hà

Trần Văn Chánh

Tôi chọn lối “tản mạn” luận bàn về cuốn Gia đình của Phan Thúy Hà là để cho phép mình được tự do nghĩ đâu nói đấy không cần phải có tính hệ thống mạch lạc khoa học. Khi mới lướt qua cái bìa sách, do không được thông tin gì trước, tôi cứ tưởng đây chỉ là một cuốn tiểu thuyết viết về cuộc sống đời thường đầy xáo trộn của các gia đình người Việt Nam trong thời hiện đại, như khá nhiều tác phẩm hiện nay mà chúng ta thường thấy trưng bày trong các hiệu sách hoặc được quảng cáo trên mạng Internet. Nhưng khi lật vào trong, đọc bài “Những nếp nhà những phận người” của Đại tá-Nhà văn Thái Kế Toại, viết như thay cho lời tựa sách, mới biết đây là một sách viết riêng về cuộc cải cách ruộng đất (CCRĐ) vốn có tiếng là kinh thiên động địa và độc ác đã diễn ra ở miền Bắc Việt Nam khởi đầu lai rai từ 1946 và đạt đến cao điểm trong những năm 1954-1956.

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2019

Tưởng nhớ nhà giáo Phạm Toàn

Trần Văn Chánh

Sáng 26.6.2019, đọc bài “Cái ôm cuối cùng” của Đoan Trang và bài “Hẹn gặp lại bác Phạm Toàn” của NS Tuấn Khanh, do một người bạn chuyển qua email cho xem, tôi mới hay tin anh Phạm Toàn qua đời. Dù biết một người ra đi ở tuổi 88 cũng đã là thượng thọ, nhưng tôi không khỏi bần thần một lúc lâu, tiếp theo là cảm giác ân hận, vì sau lần gặp nhau ngồi lai rai tâm sự với anh cùng với một người bạn trẻ nữa, ở Hà Nội cách nay hơn 6 tháng, tôi có nghĩ đến anh nhiều lần nhưng chưa lần nào gọi thăm anh một tiếng, giờ mọi sự đã lỡ hết rồi!

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Võ Chân Cửu tản mạn về thơ trước 1975

Trần Văn Chánh

Những hồi ức quý giá

Từ 2013 đến 2017, nhà thơ Võ Chân Cửu đã cho xuất bản liền mạch ba tập sách về Thơ miền nam từ 1954 đến 1975. Đó là: 22 tản mạn, Theo dấu nhà thơ và Vén mây.

Có thể coi ba tập sách này là một “hành trình theo dấu nhà thơ”* của Võ Chân Cửu. Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã nhận xét rất xác đáng: “Những trang sách tưởng rằng rất mềm mại và mong manh nhưng chứa đầy những bước chân ngang dọc của anh, của những nhà thơ bằng hữu và của một thời… Nhờ có anh, một thời kỳ văn nghệ đa dạng, sôi động được sống lại trong hơi thở hôm nay”*.

Văn Việt xin chúc mừng nhà thơ Võ Chân Cửu và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh về các tác phẩm trên.

Văn Việt

* Trịnh Bửu Hoài, “Một thời không quên” (Vén mây/ NXB Hội nhà văn, 2017)

 

Print“Văn chương tự cổ vô bằng cứ”! Đưa ra một nhận định dứt khoát trong khi so sánh giá trị giữa thơ người này với người khác, của thời này với thời khác là điều không dễ chút nào.

Tuy nhiên, cách nay chừng gần ba năm, tôi bắt đầu đặc biệt chú ý điều trên sau khi đọc một cách thật sự thú vị tập tản văn đầu tiên của nhà thơ Võ Chân Cửu: 22 tản mạn (do NXB Hội Nhà văn kết hợp với Phương Nam Book ấn hành quý II năm 2013). Tập sách đã giúp tôi và có lẽ rất nhiều người khác nữa, ôn/nhớ lại một thời kỳ hoạt động rất sôi nổi và không kém phần lãng mạn của hoạt động văn nghệ tự do, trăm hoa đua nở ở miền Nam. Qua đó, một số điều mình vốn chỉ biết lơ mơ, không rõ năm tháng ngày giờ, tên tác giả bài thơ này khác, nay đã được tác giả Võ Chân Cửu giúp hình dung lại một cách nhẹ nhàng, sinh động, và khá chính xác.

Hai năm sau, Võ Chân Cửu lại cho ra đời Theo dấu nhà thơ (cũng do NXB Hội Nhà văn và Phương Nam Book), tản mạn tiếp những chuyện chưa kể hết về thơ ca cùng một số tác giả tiêu biểu, và cố ý tập trung vào giai đoạn 1968-1975. Theo quan niệm của tác giả (được nhiều người công nhận) đây là một giai đoạn đặc thù: Hàng trăm nhà thơ trẻ, ở khoảng tuổi trên dưới 20, bắt đầu xuất hiện, bộc lộ tài hoa nhưng bị tạm dừng lại ở khoảng ngắt lịch sử 30.4.1975. Sáng tác của họ tưởng như phải bị mai một vì những lý do ngoắt ngoéo của lịch sử.

Qua hai tập sách “tản mạn” kể trên, người đọc dễ dàng nhận thấy người viết không chỉ có kiến thức vững vàng về văn chương, văn hóa, lịch sử…; được đào tạo chính quy trong các nhà trường từ trung đến đại học, mà còn có sự hiểu biết khá sâu rộng thực tế đời sống, phong tục tập quán, tính khí dân tộc ở mỗi vùng miền mà tác giả đã từng chiêm nghiệm qua các bước giang hồ phiêu lãng. Có khi ông chi li tới từng gốc cây ngọn cỏ, các loài động thực vật sinh sống trải dọc dài từ quê hương miền Trung vào tới Sài Gòn rồi xuống tận Cà Mau đất mũi. Nhưng đặc biệt hơn cả là sự thâm nhập, tiếp cận trong nhiều trạng huống / hoàn cảnh, nơi chốn khác nhau với chính những nhà văn-nhà thơ tác giả từng được gặp gỡ, thù tạc / chia sẻ cuộc sống và cảnh đời với họ. Cách kể giống như hồi ký. Nếu phải trừ đi một phần hao hụt trí nhớ, rồi cộng thêm yếu tố các nhà thơ đề cập trong sách đều là chỗ thân quen, thì có lẽ khó đạt được mức độ chính xác, khách quan hoàn toàn. Nên nếu cẩn thận trừ đi chừng 10-20 %, thì người đọc ngày nay sẽ ít nhất nắm được phần cốt lõi sự thật còn lại. Như thế cũng tạm gọi là quá đủ!

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

MẤY Ý KIẾN VỀ BỘ SÁCH GIÁO KHOA MÔN VĂN CỦA NHÓM CÁNH BUỒM

Trần Văn Chánh

     Nhóm Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn chủ trương vào ngày 19 tháng 11.2016  năm nay sẽ trình xã hội 8 cuốn sách giáo khoa Tiếng Việt và Văn cho bậc Trung học cơ sở. Chúng tôi nhận được trước 4 cuốn: Văn lớp 6 (208 trang, khổ 19x26 cm)-Tiếng Việt lớp 6 (188 tr.) và Văn lớp 7 (196 tr.)-Tiếng Việt lớp 7 (180 tr.), đều do NXB Tri Thức ấn hành; 4 cuốn dành cho lớp 8 và lớp 9 tiếp sau, sẽ được in xong trước ngày ra mắt sách 19 tháng 11 nói trên.

     Chủ đề của Văn 6  là “Cảm hứng nghệ thuật” nên sau bài mở đầu bàn tổng quát về “Cảm hứng nghệ thuật (Vì sao người ta làm ra tác phẩm nghệ thuật)” lần lượt có 5 phần với tổng cộng 15 bài học: (1) Tác phẩm thơ (Vì sao người ta làm thơ, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Thơ ngụ ngôn La Fontaine…); (2) Tác phẩm tự sự (Vì sao người ta viết văn tự sự, Tuổi thơ im lặng của Duy Khán…); (3) Tác phẩm hội họa (Vì sao người ta vẽ, Người đặt nền móng đầu tiên cho nền mỹ thuật đương đại Việt Nam, Tranh Tết); (4) Tác phẩm âm nhạc (Vì sao người ta chơi âm nhạc, Những câu hát giã bạn); (5) Tác phẩm kịch (Vì sao người ta chơi kịch-Kịch như là một môn học vỡ lòng, Trưởng giả học làm sang của Molière).

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016

Tưởng nhớ một người bạn làm báo

Nhân ngày báo chí Việt Nam 21.6

Trần Văn Chánh

Văn Việt: Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh, viết về nhà báo quá cố Lê Đình Viễn, cũng là cộng tác viên Văn Việt với những truyện ngắn đặc sắc dưới bút danh Kinh Bắc. Văn Việt xin thắp một nén tâm nhang trước linh ảnh nhà báo-nhà văn Kinh Bắc nhân 100 ngày ông qua đời, cầu chúc hương hồn ông siêu thoát.

Tôi với anh Sáu Du (sinh 1949, tên thật Nguyễn Đức Thành, tên khai sinh Lê Đình Viễn, bút hiệu Kiều Phong, Kinh Bắc…) có quan hệ bạn bè ở giai đoạn muộn, tức là sau năm 1975 khá lâu, nhưng qua vài bạn thân chung khác kể lại nhiều lần trong những cuộc trà dư tửu hậu, được biết cuộc đời anh từ thuở ấu thơ cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay có khá nhiều nỗi gian truân phức tạp.

Sinh ra ở đất Bắc, cha là một chiến sĩ cách mạng đã hi sinh trong thời kỳ kháng Pháp, anh theo mẹ vào Nam từ giữa những năm 50 của thế kỷ trước, cùng với hai anh em trai nữa sống trong những điều kiện hết sức khó khăn nhưng đều được người mẹ lo cho ăn học khá đầy đủ. Năm 1969, khi còn là học sinh trung học, nghe theo tiếng gọi của non sông, trong sự bồng bột của tuổi trẻ, anh đã tích cực hoạt động trong các phong trào học sinh đô thị tại Sài Gòn rồi hăm hở vào chiến khu tham gia cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt mà lúc đó cũng như không ít bạn đồng học cùng lứa khác, anh mường tượng dường như là con đường duy nhất để “cứu nước”. Cái tên Sáu Du của anh, sau này tôi mới biết, là lấy từ tên Lục Du, một nhà thơ yêu nước nổi tiếng thời Bắc Tống bên Trung Quốc. Tuy nhiên, với tính cách một con người lãng mạn có cuộc sống nội tâm thiên về tình cảm, khó chấp nhận những tình huống quá gay go liên quan sinh mạng con người, cũng như cái phương châm cứu cánh biện minh phương tiện, anh đã không theo đuổi đến cùng mộng giang sơn to lớn, mà “bán đồ nhi phế”, từ năm 1972 (khoảng một năm sau sự kiện sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật bị ám sát tại Đại học Luật khoa Sài Gòn), thành thử cuộc đời anh sau 30.4.1975 cũng có nhiều ziczăc. Mặc dù vậy, chưa bao giờ nghe anh than phiền về những nỗi lận đận cá nhân, cuộc sống thiếu thốn riêng, trái lại trong những lúc trà dư tửu hậu, chỉ nghe anh nói toàn chuyện văn chương và bình luận thời cuộc, thái độ trông có vẻ nóng nảy bức xúc lắm. Có phải chăng, đôi lúc tôi nghĩ, dường như đây cũng là cái cách để anh tự an ủi, cho tạm vượt qua những nỗi thống khổ hằn sâu trong tâm khảm khi thấy tuổi đời ngày một già đi mà mình thì đã hoàn toàn bất lực, cả việc nước lẫn việc nhà đều không trọn vẹn, còn cái lý tưởng ấp ủ đóng góp cho quê hương từ thuở đầu xanh kia thì đã có vẻ ngày càng xa rời so với hiện thực chính trị-xã hội hiện thời quá phức tạp?

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG, MỘT THỨ VĂN CHƯƠNG TIỂU HỌC CỦA MIỀN NAM TRƯỚC ĐÂY

Trần Văn Chánh

Dân miền Nam, ở lứa tuổi xấp xỉ hàng sáu như chúng tôi, cứ mỗi lần bạn bè tụ họp trà dư tửu hậu thì thường trao đổi với nhau về đủ thứ chuyện trên đời. Nếu có ôn lại quãng đời đi học xa xưa, thì lại thường hay nhắc đến thầy, bạn cũ…, với những kỷ niệm khó quên của tuổi học trò. Chúng tôi còn nhắc lại đến cả những bài tập đọc, học thuộc lòng đã được học cách nay chừng bốn-năm mươi năm về trước…

Thậm chí, có người còn thuộc hết cả một bài học thuộc lòng dài, đọc ron rót từ đầu đến cuối, như bài “Tình nhân loại”, được học vào khoảng những năm cuối 50 của thế kỷ trước:

TÌNH NHÂN LOẠI

Sau một trận giao tranh ác liệt,

Giữa sa trường xác chết ngổn ngang.

Có hai chiến sĩ bị thương,

Hai người hai nước hiện đương nghịch thù.

Họ đau đớn khừ khừ rên siết,

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC VÀ SÁCH GIÁO KHOA THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA (tiếp theo)

Trần Văn Chánh

B. CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA TRUNG HỌC

I. CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC

1. Chương trình Trung học Hoàng Xuân Hãn 1945

a. Tổng quát

Đây là chương trình Trung học đầu tiên của Việt Nam dùng chuyển ngữ tiếng Việt được một nhóm giáo sư dựa theo chương trình Pháp biên soạn cấp tốc chỉ khoảng 10 ngày dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn trong thời Chính phủ Trần Trọng Kim. Mặc dù vậy, chương trình này đã được áp dụng trên toàn quốc (gồm cả vùng quốc gia và vùng kháng chiến) trong thời gian từ năm 1945 đến niên khóa 1952-1953, mà tất cả những chương trình Trung học đến sau đều căn bản mô phỏng theo nó, lấy nó làm cơ sở để từ đó bổ sung, sửa đổi cho thích hợp với trình độ học sinh cũng như tình trạng tiến triển chung của nền giáo dục và khoa học ở mỗi thời kỳ khác nhau. Kể cả đối với những chương trình mới nhất được áp dụng trong thời VNCH (1955-1975), dấu ấn và ảnh hưởng của chương trình Hoàng Xuân Hãn vẫn còn khá sâu đậm.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC VÀ SÁCH GIÁO KHOA THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA

Trần Văn Chánh

MỞ ĐẦU

Đối tượng của bài viết này là chương trình và sách giáo khoa miền Nam 1954-1975, tuy nhiên nếu không nhắc sơ lại thời kỳ quá độ trong đó nền giáo dục Việt Nam chuyển từ cựu học sang tân học, chúng ta sẽ khó theo dõi để nhận ra một cách rõ ràng những sự thay đổi cùng tên gọi các cấp, lớp, ban học, cũng như nội dung cụ thể của các chương trình học mới sau này.

Có thể nói, không kể thời kỳ Nho học mà sự cáo chung được đánh dấu bằng khoa thi Hội cuối cùng ở Trung Kỳ vào tháng 4 năm Kỷ Mùi (1919), nền giáo dục hiện đại Việt Nam chỉ bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 khi người Pháp đã củng cố xong nền cai trị của họ tại Việt Nam.

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM 1954-1975 TRÊN CON ĐƯỜNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

Trần Văn Chánh

I. MẤY LỜI NÓI ĐẦU

Tài liệu về nền giáo dục miền Nam hiện nay đã trở nên ngày càng khó kiếm, thậm chí, hầu như không thể kiếm được bao nhiêu trong những thư viện lớn trên toàn quốc. Hơn nữa, nói về nền giáo dục của một chế độ chính trị đã cáo chung đúng 40 năm, mà ngày nay không còn mấy người làm chứng, thì làm thế nào đảm bảo tính trung thực để tin được hoàn toàn cũng không phải chuyện dễ. Vì vậy, ở bài này cũng như ở bài tiếp sau về “Chương trình và sách giáo khoa” của cùng tác giả, chúng tôi xin lựa chọn phương pháp thể hiện nội dung các bài viết bằng cách chủ yếu trích dẫn trực tiếp ý kiến của một số nhà hoạt động giáo dục tiêu biểu thời trước, coi họ như người chứng cho từng vấn đề liên quan, nhưng được bố cục/ hệ thống lại cho dễ theo dõi, thay vì diễn dịch/ tổng hợp lại từ những ý kiến đó của họ. Thỉnh thoảng chúng tôi có cho xen vào một số ít ỏi lời đánh giá, bình luận theo sự nhận thức của riêng mình, mà chúng tôi nghĩ là cần thiết để dẫn dắt câu chuyện. Chúng tôi tự nghĩ cách làm như vậy tuy không được công phu cho lắm nhưng vừa đảm bảo tính khách quan, vừa duy trì được nguồn tài liệu “gốc” để tiện việc tham khảo, khi ai cần vẫn có thể trích dẫn lại được, vì các nguồn tài liệu loại này đã ngày càng trở nên quý hiếm và khó tìm.

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

NGHĨ VỀ MỘT THÁI ĐỘ TRANH LUẬN




Trần Văn Chánh

Trong sinh hoạt học thuật-tư tưởng, tranh luận dưới hình thức phản biện giúp làm sáng tỏ các lẽ phải trái, hoặc sự kiện đúng sai, từ đó các bên tham gia và những người quan sát bên ngoài có thể điều chỉnh lại nhận thức ban đầu của mình cho những vấn đề đang được xem xét, và một khi vấn đề đã trở nên ngã ngũ với kết luận rõ ràng thì kết luận đó cuối cùng sẽ được cả học giới và toàn xã hội công nhận, biến thành nhận thức chung/ chuẩn và có thể đưa vào sách giáo khoa cho học sinh học tập.
Tuy nhiên, trên thực tế, có những vấn đề tranh luận không bao giờ đạt được sự ngã ngũ, mà chỉ dừng lại ở các giả thuyết, vì không đủ cơ sở tài liệu để khẳng định một cách chắc chắn, như trong trường hợp tranh luận nhau về văn bản gốc của hàng trăm câu thơ truyện Kiều, về vấn đề ai là diễn giả bản Nôm Chinh phụ ngâm khúc (Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích?), về không ít chi tiết liên quan đến cuộc đời và tác phẩm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (cuối thế kỷ 18, đầu thể kỷ 19), chẳng hạn. Ở bộ môn lịch sử, cũng lắm vấn đề tương tự như vậy được đặt ra mà vẫn chưa thể đi đến kết cục, nên hễ ai dẫn chứng sự kiện đầy đủ và đưa ra được lý lẽ có tính thuyết phục hơn thì sẽ được nhiều người tin theo và ủng hộ hơn. Có thể nói, về tâm lý, mặc dù khá nhiều trường hợp người tham gia tranh luận trước sau vẫn bảo lưu ý kiến của mình, nhưng trong học thuật, nếu không có tranh luận thì hoạt động học thuật cũng trở nên tẻ nhạt, đó là lý do khiến thể loại văn tranh luận đăng trên các báo, tạp chí và các mạng xã hội luôn hấp dẫn, gây được sự quan tâm theo dõi của nhiều người, và cuốn hút thêm sự tham gia tranh luận của những người khác.
Phạm vi các đề tài tranh luận thì hết sức rộng rãi, đa dạng. Có thể nói, chuyện gì cũng tranh luận hay phản biện được tất. Trên đây chỉ nói vấn đề thuần túy học thuật thì có phần đơn giản, vì ranh giới đúng sai tương đối rõ ràng, dễ phân biệt. Đến như những cuộc tranh luận về tư tưởng, hoặc chỉ về văn học, sử học, nghệ thuật mà có kèm thêm vấn đề quan điểm-lập trường để từ đó đánh giá thế nọ thế kia, thì vấn đề đã tỏ ra phức tạp hơn nhiều.
Ở Việt Nam những năm gần đây, do xã hội, thời đại và thực tế cuộc sống biến chuyển rất nhanh, nên dù muốn hay không muốn, ai cũng phải thừa nhận như một lẽ hoàn toàn tự nhiên, là vẫn tồn tại những quan điểm-lập trường hay nhận thức còn chênh lệch, chưa đồng đều thống nhất nhau, hoặc thậm chí đối lập nhau hẳn cho những vấn đề khác nhau liên quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, mà riêng về phương diện văn hóa với nghĩa rộng bao gồm cả các bộ môn văn, sử, triết, tôn giáo thì sự đối lập ý kiến giữa một số nhóm thức giả có chủ trương khác nhau dường như đã bộc lộ ngày càng rõ nét. Kết quả là hai chữ “phản biện” xuất hiện từ lúc nào không rõ nhưng đã được dùng khá phổ biến, và tạm gác qua các mạng xã hội trên Internet, không ít tờ báo, tạp chí in trong nước hiện nay đã đặt ra loại chuyên mục với những tên gọi khác nhau như “diễn đàn” (hoặc “diễn đàn ý kiến”), “nghiên cứu-trao đổi”, “lý luận-phê bình” (hoặc “nghiên cứu-phê bình-trao đổi”)… để làm công việc phản biện chống lại những “ý kiến khác”. Trước hết, và nói chung, phải nhận đây là dấu hiệu tốt tiến bộ, vì có công khai tranh luận thì mới làm sáng tỏ được những vấn đề mà đất nước/ xã hội đang cần, qua đó gợi ý (nếu không muốn nói “hướng dẫn”) giúp độc giả tức dư luận quần chúng có được những đánh giá và chọn lựa sáng suốt hơn cho những vấn đề hữu quan.
Bản chất của phản biện vốn hàm nghĩa là biện luận bằng lý lẽ để chống. Nói cách khác, chống lại cái đã đưa ra, dù đó là giáo điều truyền thống hay một loại “ý kiến khác” chưa được số đông người chấp nhận. Tuy nhiên sự “chống” ở đây tất yếu phải có sự phân tích và viện dẫn đến lý lẽ phải chăng, không được giáo điều một chiều. Nói chung, kiến thức cũng như lý lẽ của người chống đưa ra phải đủ mạnh và có sức thuyết phục hơn so với người bị chống, đòi hỏi vừa sự tinh tường, vừa thái độ khiêm tốn của người phản biện để nói sao cho lọt tai người khác. Chủ yếu chỉ nên nhắm đến khía cạnh đúng sai trong nội dung đề tài tranh luận, chứ không phải lý lịch cá nhân của đối phương, và vì thế cũng phải đảm bảo tinh thần dân chủ bình đẳng khách quan, trong sự công tâm, trong sáng, chính đại quang minh, lấy chân lý làm tiêu chuẩn, không thể vì định kiến, sự thù ghét hoặc động lực cá nhân thấp hèn mà chửi bới lăng nhăng, sử dụng đến những biện pháp/ thủ thuật có tính chụp mũ đàn áp, nhất là chụp mũ chính trị để làm tiêu tan sự nghiệp người khác…
Trong thế giới văn minh hiện đại, việc làm nào, nghề nghiệp nào cũng đòi hỏi phải có khía cạnh văn hóa-đạo đức kèm theo. Như chơi thể thao cần đến văn hóa thể thao, thì tranh luận, phản biện cũng cần thứ tương tự. Kinh doanh thực phẩm hay làm báo cũng vậy, phải có đạo đức kinh doanh, đạo đức báo chí… Cho nên khoan tính chuyện phải trái, đúng sai, nếu mượn lý do “nghiên cứu-trao đổi”, “phản biện”, chuyên dùng lời lẽ xấc láo thiếu văn hóa phê bình theo kiểu vùi dập, chụp mũ chính trị đối với những người có “ý kiến khác”, thì không thể gọi là phản biện lành mạnh. Trong trường hợp này, ý đồ phản biện giả định có tốt thật chăng nữa vẫn thường bị phản tác dụng, chẳng những không thuyết phục được đối phương mà còn dễ gây mất đoàn kết, gieo vào lòng người đọc nỗi nghi ngờ về động cơ thiếu trong sáng của những người phản biện.
Gần đây, rất tiếc thấy có hiện tượng tranh luận/ phản biện thiếu văn hóa xảy ra ở số ít tờ báo và tạp chí, nơi tập trung những “chuyên gia phản biện” gọi là “dư luận viên” để công kích một số đối tượng thuộc loại có ý kiến khác mà tất tần tật đều bị họ gán cho cái tội nếu không phản động chống phá Nhà nước, xuyên tạc lịch sử thì cũng có ý xấu này khác.
Cách phản biện của họ thường không nêu ra được sự kiện, lý lẽ hay ý kiến gì mới, mà chỉ dựa vào một số những bài bản lý luận cũ rích đã học được từ mấy mươi năm về trước. Đường lối phản biện chủ yếu là dùng lối chụp mũ chính trị, gán cho đối phương những tội không có thật và không có bằng chứng cụ thể, như nói vu vơ rằng có sự xúi giục của những yếu tố nước ngoài này khác, rồi dùng những từ ngữ đao to búa lớn, lời lẽ bêu riếu, mỉa mai, mạt sát, bôi bác, vu cáo, xúc phạm cá nhân, thậm chí còn moi cả việc đời tư của đối phương ra hỗ trợ tranh luận để hi vọng thủ thắng. Một đôi khi, ngoài những thủ pháp vừa kể, thay vì chỉ tranh luận học thuật để phân biệt đúng sai, chờ dư luận khách quan hoặc các giới hữu trách phán xét, họ còn không quên đề nghị lôi cả đối phương của mình ra để trừng trị về mặt tổ chức, như trường hợp luận văn thạc sĩ văn học của Nhã Thuyên về thơ “mở miệng” ở ĐHSP Hà Nội hai năm về trước!
Có quá nhiều thí dụ không tiện kể hết ra. Như có mấy nhà “luận chiến văn chương” chuyên nghiệp viết tiếp liền trên 5-7 số tuần báo, trong khi phản biện quá hung hăng đã dùng những cụm từ ngữ nặng nề như sau để tấn công đối phương là một nhà văn già nổi tiếng năm nay đã ở tuổi trên 80: “ma lanh láu cá”, “à uôm”, “một thâm ý được bộc lộ trắng phớ ra như thế”, “mị dân quá thể”, “cụ nhà văn đã tự nguyện làm miếng giẻ lau vết máu dưới gót giày quân xâm lược”, “xem xã hội Việt Nam là cái sọt rác”, “méo mó, khoác lác, lừa bịp, hồ đồ”, “một thứ lập luận lạ đời của một cái đầu mang nặng tư tưởng phản bội, vong ơn bội nghĩa, đố quốc tặc dân”, “với bầy đàn như thế kia, thử hỏi ông định thức tỉnh cái gì?”, “đã tự lột mặt nạ để lộ ra bộ mặt thật cơ hội, tráo trở của mình” …
Còn đối với một nhà văn khác trẻ hơn nhà văn già vừa nêu trên, chỉ vì mới phát biểu mấy câu đăng báo về đổi mới văn học, đã bị đưa ngay vào đầu bài phản biện kiểu chụp mũ: “Sau những ám chỉ, giấu mặt, giờ đây NHT đã lộ rõ chân tướng chính trị phản động, nhân cách thấp kém và những suy luận học thuật lươn lẹo đầu dơi mình chuột…” (Văn Nghệ TP. HCM, số 357, ngày 11.6.2015, tr. 14).
Ngược lại, ở những tác giả phản biện kiểu nêu trên, khi muốn ca tụng ai thì cứ bốc đối tượng mình ca tụng lên mây xanh, người thường họ cũng gọi bằng “thánh, “thánh nhân”… Dường như đối với họ không có thứ ngôn ngữ khoa học trung tính phản ánh đúng bản chất sự vật, mà chỉ sử dụng hai loại ngôn ngữ lưỡng cực hóa là mạt sát và tâng bốc.
Cách làm việc như trên rất có thể xuất phát từ động cơ thiện chí muốn mau mắn tích cực thực hiện các đường lối chủ trương chính thống của chế độ, nhưng vì “bảo hoàng hơn vua” và bị phản tác dụng nên thực chất là làm trái tinh thần nghị quyết, chủ trương rằng về mặt lý luận phải chấp nhận “đối thoại thẳng thắn với những người có quan điểm khác trên tinh thần khoa học, dân chủ, xây dựng, thuyết phục lẫn nhau” (trích Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09/10/2014 của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030).
Ở đây, trong bối cảnh lịch sử phức tạp tế nhị hiện nay, chúng ta tạm không xét đến khía cạnh đúng sai giữa các bên có quan điểm dị biệt hoặc đối lập, cũng không chống hay bênh vực bất kỳ ai, mà chỉ xét đến khía cạnh thái độ văn hóa tranh luận/ phản biện với những biểu hiện chưa được lành mạnh của nó. Điều còn chút may mắn là hiện tượng thiếu lành mạnh này chỉ mới ở mức thiểu số trong hệ thống quy hoạch báo chí quốc gia, kiểu con sâu làm rầu nồi canh, nhưng nếu thiếu cảnh giác, để cho nó tăng trưởng dần dần lên thì sẽ nêu gương xấu về thói chửi rủa và mạt sát, điều tuyệt đối cần tránh vì rất nguy hại cho đầu óc thế hệ trẻ non nớt học sinh-sinh viên đang cần hấp thụ một nền văn hóa-giáo dục nhân bản lành mạnh.
30.6.2015
Nguồn: Bán nguyệt san Văn Hóa Phật Giáo, số 229 (15.7.2015)

Nghĩ về một thái độ tranh luận

Trần Văn Chánh

Trong sinh hoạt học thuật-tư tưởng, tranh luận dưới hình thức phản biện giúp làm sáng tỏ các lẽ phải trái, hoặc sự kiện đúng sai, từ đó các bên tham gia và những người quan sát bên ngoài có thể điều chỉnh lại nhận thức ban đầu của mình cho những vấn đề đang được xem xét, và một khi vấn đề đã trở nên ngã ngũ với kết luận rõ ràng thì kết luận đó cuối cùng sẽ được cả học giới và toàn xã hội công nhận, biến thành nhận thức chung/ chuẩn và có thể đưa vào sách giáo khoa cho học sinh học tập.

Tuy nhiên, trên thực tế, có những vấn đề tranh luận không bao giờ đạt được sự ngã ngũ, mà chỉ dừng lại ở các giả thuyết, vì không đủ cơ sở tài liệu để khẳng định một cách chắc chắn, như trong trường hợp tranh luận nhau về văn bản gốc của hàng trăm câu thơ truyện Kiều, về vấn đề ai là diễn giả bản Nôm Chinh phụ ngâm khúc (Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích?), về không ít chi tiết liên quan đến cuộc đời và tác phẩm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (cuối thế kỷ 18, đầu thể kỷ 19), chẳng hạn. Ở bộ môn lịch sử, cũng lắm vấn đề tương tự như vậy được đặt ra mà vẫn chưa thể đi đến kết cục, nên hễ ai dẫn chứng sự kiện đầy đủ và đưa ra được lý lẽ có tính thuyết phục hơn thì sẽ được nhiều người tin theo và ủng hộ hơn. Có thể nói, về tâm lý, mặc dù khá nhiều trường hợp người tham gia tranh luận trước sau vẫn bảo lưu ý kiến của mình, nhưng trong học thuật, nếu không có tranh luận thì hoạt động học thuật cũng trở nên tẻ nhạt, đó là lý do khiến thể loại văn tranh luận đăng trên các báo, tạp chí và các mạng xã hội luôn hấp dẫn, gây được sự quan tâm theo dõi của nhiều người, và cuốn hút thêm sự tham gia tranh luận của những người khác.