Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Nghiên cứu liên ngành văn học và y học: Thành tựu bước đầu của khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Huế

 Nguyễn Thị Tịnh Thy

  1.  

Năm 1967, chương trình giảng dạy về Nhân văn y học (Medical Humanities) đầu tiên trên thế giới được thực hiện tại Pennsylvania State University (Penn State). Năm 2000, GS. Rita Charon (bác sĩ và là tiến sĩ văn học Anh) xuất bản các công trình nghiên cứu về Y học tự sự (Narrative Medicine) tại Đại học Columbia (Mỹ). Bà chính thức hóa việc giảng dạy cách đọc văn chương cho sinh viên y khoa như một công cụ lâm sàng, khuyến khích bác sĩ lắng nghe câu chuyện của bệnh nhân như một tác phẩm văn học để hiểu bối cảnh bệnh lý sâu sắc hơn; thấu cảm (Empathy) với bệnh nhân, nhìn bệnh nhân không phải bằng các con số và chỉ dấu y khoa, mà còn nhìn thấy một cuộc đời, một gia đình và những nỗi sợ thầm kín của họ. Y học tự sự sẽ khiến các bác sĩ tương lai có năng lực tường thuật, có khả năng nhận biết, tiếp thu, chuyển hóa, diễn giải và xúc động bởi những câu chuyện về bệnh tật.

Từ giải thưởng đến bảo tàng: Sự đứt gãy của giám tuyển học thuật trong mỹ thuật Việt Nam

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Thông thường trong một hệ sinh thái mỹ thuật trưởng thành, giải thưởng, bảo tàng và giám tuyển không tồn tại như những thực thể rời rạc mà chúng liên kết với nhau thành một chuỗi giá trị liên tục, nơi giải thưởng đóng vai trò phát hiện và kích hoạt, giám tuyển đảm nhiệm việc diễn giải và định vị, còn bảo tàng là không gian lưu giữ, để đọc lại và lịch sử hoá tác phẩm. Khi một trong ba mắt xích này suy yếu thì toàn bộ hệ thống sẽ vận hành trong trạng thái lệch pha và lạc lõng. Nhìn rõ vào nền mỹ thuật Việt Nam hiện nay không chỉ thiếu một mắt xích thôi mà lại đang đối mặt với sự đứt gãy đồng thời của cả chuỗi.

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

Khi trí khôn dân gian định hình văn hóa quản trị

Ngô Mạnh Hùng

Trong bộ nhớ tập thể của nhiều thế hệ người Việt sau 1975, Trạng Quỳnh không chỉ là một nhân vật dân gian quen thuộc mà còn là biểu tượng của "trí tuệ nhân dân". Từ sách Tiếng Việt tiểu học đến Ngữ văn trung học, hình ảnh người trạng thông minh, hóm hỉnh, dám "vạch mặt" quan lại tham nhũng đã được khắc họa như một hình mẫu đáng ngưỡng mộ. Nhưng ít ai đặt câu hỏi: Khi một xã hội đưa lặp đi lặp lại một kiểu "thông minh tình huống" vào giáo dục phổ thông, nó đang chuẩn hóa kiểu tư duy nào? Và hệ quả của sự chuẩn hóa đó đối với văn hóa quản trị, đạo đức xã hội là gì?

Annie Ernaux: Văn chương như kí ức xã hội và sự can đảm của bản ngã

 Tino Cao

* En français ci-dessous

  1. Annie Ernaux và giải Nobel 2022: ý nghĩa văn chương kí ức

Ngày 6 tháng Mười năm 2022, khi Annie Ernaux được xướng tên là chủ nhân của giải Nobel Văn học, báo chí Pháp và thế giới lập tức tìm đến một cụm từ để diễn tả bà: “một chứng nhân bằng chữ của thời đại”. Nhưng cụm từ ấy, nếu đứng một mình, dễ tạo cảm giác Ernaux chỉ là một kí giả tỉ mỉ, ghi lại từng chuyển động của lịch sử và xã hội. Thực tế, tầm vóc văn chương của bà vượt xa điều đó. Nếu ta thử đọc kĩ công bố của Viện Hàn lâm Thụy Điển, sẽ thấy hai yếu tố then chốt: lòng can đảm và sự sắc sảo lâm sàng (“pour le courage et la précision clinique avec lesquels elle dévoile les racines, l’étrangeté et les limitations collectives de la mémoire personnelle” / “vì lòng can đảm và sự chính xác đến mức lâm sàng, mà bằng cách đó, bà phơi bày những cội rễ, cảm giác xa lạ và các giới hạn tập thể của kí ức cá nhân”). Chúng không chỉ là lời khen ngợi chung chung mà là nhận định chính xác về cách Ernaux viết và cách bà lập trình một thứ thẩm mĩ mới cho văn học đương đại.

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

Đọc Kafka để nghĩ về tồn tại

 Tino Cao

Kafka chưa từng viết ra một học thuyết nào về tồn tại và cũng không để lại bất kì bản tuyên ngôn triết học nào nhằm định nghĩa hay dẫn dắt cách con người phải hiểu về đời sống. Ông không tổ chức thế giới bằng khái niệm, cũng không dựng lên một hệ thống tư tưởng khép kín để giải thích thực tại. Thế nhưng, chính từ sự từ chối ấy, từ cách viết tưởng như không nhắm đến triết học, Kafka lại khiến người đọc không thể không suy nghĩ về câu hỏi căn bản nhất: sống là gì, đời sống trong thế giới này thực sự diễn ra theo logic nào và con người rốt cuộc đang đứng ở đâu giữa những chuyển động mà họ vừa tham dự vừa bất khả kiểm soát.

"Và khi tro bụi" – Đi tìm bản thể trong ký ức vỡ

 Bảo Chân

Đoàn Minh Phượng, Và khi tro bụi. Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam, 2025

Có những cuốn sách không kể lại một câu chuyện nào rõ ràng, nhưng khi đóng trang sách cuối cùng, người đọc vẫn nghe vang vọng đâu đó những tiếng vọng – có khi phảng phất, có khi rõ ràng – của từng số phận nhân vật. Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng là một trong những cuốn sách như thế.

Đời sống tăng đoàn ở Nalanda (Ấn Độ) vào thế kỉ 7: Tục dùng thìa (muỗng) và đũa – pháp sư Nghĩa Tịnh

 Nguyễn Cung Thông[i]

Phần này bàn về chương 16 trong cuốn Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện của pháp sư Nghĩa Tịnh. Chương này chỉ có 93 chữ, không kể tựa đề gồm bốn chữ là Thỉ Trợ Hợp Phủ (tạm dịch/NCT: tục dùng thìa và đũa). Tuy rất ngắn nhưng lại có nhiều thông tin sâu sắc về đời sống tăng đoàn Phật giáo, tập tục của Ấn Độ và Trung Hoa vào TK 7. Các tài liệu như Tây Vực Kí của pháp sư Huyền Trang (khoảng 602-664), Phật Quốc Kí của pháp sư Pháp Hiển (337- 422) và ghi chép của pháp sư Nghĩa Tịnh cho ta biết lịch sử Phật giáo và đời sống tăng đoàn thời cực thịnh so với hiện nay. Đây là ba cao tăng bỏ cả đời đóng góp cho PG, được biết đến nhiều so với các du tăng cầu pháp khác đã từng đến Ấn Độ như Chu Sĩ Hành 朱士行 (203 - 282), Bảo Vân, Tăng Cảnh, Huệ Viễn... Trong một tài liệu khác là Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện, pháp sư Nghia Tịnh ghi lại việc du tăng cầu đạo và đặc biệt có các nhà sư từ Việt Nam qua Thiên Trúc tu tập: td. Huệ Diêm, Khuy Xung (từ Giao Châu), Trí Hành, Đại Thừa Đăng (từ Ái Châu). Mặc dù là người sau cùng trong ba cao tăng nổi tiếng qua Ấn Độ du học thời trung cổ, nhưng Nghĩa Tịnh lại ở ngoại quốc lâu nhất và dĩ nhiên giao lưu với các văn hóa/ngôn ngữ nước ngoài sâu đậm hơn, do đó các ghi chép và phê bình của ngài rất đáng được lưu ý. Các dữ kiện này rất đáng được tìm hiểu thêm để hiểu rõ hơn tình hình Phật Giáo ở Giao Châu nói riêng, và tình trạng xã hội, kinh tế và chính trị ở các nước Á Châu vào thời trung cổ nói chung. Tuy nhiên, cần thận trọng khi đọc các tài liệu trên vì Hán văn vào thời trung cổ có khác hơn ngày nay, có lúc ý nghĩa không rõ ràng cũng như ý của người ghi chép, tiếng Hán trung cổ cũng phản ánh thời kỳ phát triển khác biệt: td. âm vận thời nhà Đường so với âm vận thời nhà Hán, thời nhà Minh; đây là chưa kể đến việc soạn giả dịch lầm hay tam sao thất bản[2] - td. nhầm lẫn giữa chữ vị 未 và chữ mạt 末 trong kí âm HV tiếng Phạn Ma- trong Madhyadesa - xem thêm chi tiết trong mục 2.1. Các chữ viết tắt trong bài là NCT (Nguyễn Cung Thông), PG (Phật giáo), HV (Hán Việt), VN (Việt Nam), A (tiếng Anh) NHKQNPT (Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện).

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Điều khiển học hành vi và tinh thần

 Phan Dương Hiệu

Dữ liệu cá nhân thực tại là nguồn vào cơ bản cho Điều khiển học hành vi và tinh thần. Chúng ta đã mất quá nhiều, nhưng những gì chưa mất còn lớn hơn thế rất nhiều. Do vậy chúng ta đừng bao giờ buông xuôi nghĩ đã mất hết mà cho đi tất cả.

Gửi một người "chống lật sử"

Thái Hạo

Thưa ông Phan Trung Can!

Nhân việc ông nhắc đến tôi trong một status. Tôi cũng không bao giờ có ý định chửi ông hay bất kỳ ai. Chắc ông bị ám thị trong lúc chiến đấu hăng hái quá, hoặc lúc này, giữa “men say chiến thắng”, ông nhìn ai cũng thành kẻ thù cả, nên tưởng tượng ra thế thôi. Nói cho chính xác, tôi có nhắc đến “một ông Phan Trung Can nào đó” một lần, nhưng là trong một bài viết hoàn toàn không chửi mắng gì cả. Đó là bài tôi điểm lại bốn thập kỷ dư luận xung quanh tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, và ở đây nhắc đến cái tên “Phan Trung Can” chỉ để minh họa rằng, dư luận lần này tuyệt đại đa số là không thuộc giới chuyên môn. Ông có thể xem lại ở đây: https://www.facebook.com/share/p/1CHQd5xEYq/

Vì vậy, nếu có hiểu lầm gì, mong ông giơ cao đánh khẽ, ban ơn mưa móc mà tha cho.

Thưa ông, tôi không phải loại người gặp ai cũng chửi. Trong trang nhà tôi vẫn thường xuyên có những người thô lỗ vào rủa sả, tôi không những không chửi lại mà còn không block, không xóa bình luận, bởi tôi tin vào con người – tin rằng sâu thẳm trong mỗi người luôn là chân – thiện – mỹ, dù hiện tại họ có bị những si ám che mờ đi lương thức thiêng liêng. Ông để ý mà xem, để được tôi “chửi” cũng phải là người mà tôi ít nhiều tôn trọng.

Còn nói về chuyện của Nỗi buồn chiến tranh. Tôi có viết mấy bài, tất cả còn nguyên đó. Thực ra, những bài viết ấy, nếu Vietsub ra thì đại khái chỉ là “như một tiếng thở dài”, chứ tôi hoàn toàn không có ý đòi hỏi hay bảo vệ việc nhà nước tôn vinh một tác phẩm văn học.

Ông Can chắc không hiểu đâu, tôi chưa bao giờ muốn Bảo Ninh và Nỗi buồn chiến tranh được vinh danh theo cách ấy. Văn học và nghệ thuật nói chung không bao giờ nên được/bị nhà nước hóa, và những người nghệ sĩ thì nên tự trọng mà giữ mình.

Tôi thở dài vì người ta không biết đọc văn, không có kiến thức văn học sử, không biết gì về những khám phá của ngành lý luận - phê bình văn học và cả thực tế của sáng tạo nghệ thuật mà nhân loại đã đi xa đến nỗi nhiều người, vì không chịu bước đi, nên không còn nhìn thấy được nó nữa; rồi người ta nhân danh những thứ to tát trong phong trào “chống lật sử” để đấu tố một nỗi buồn, một trải nghiệm cá nhân, một sáng tạo văn chương. Người ta đọc văn như đọc sử, tệ hơn – như đọc nghị quyết; người ta làm đơn đòi giải trình và chứng minh một chi tiết trong tiểu thuyết là có thật hay không! Tôi thở dài vì ngạc nhiên rằng đến nay, đã một phần tư thế kỷ 21 trôi qua, mà nhiều người vẫn còn bị mắc kẹt lại giữa thế kỷ trước, ở những vụ đấu tố thơ Mới, Tự lực văn đoàn, Màu tím hoa sim, Tây Tiến, Nhân văn – Giai phẩm… Chỉ thế thôi.

Bản thân Nỗi buồn chiến tranh có được vinh danh hay bị tước giải thưởng, tước vinh danh, tôi hoàn toàn dửng dưng. Ngay từ đầu, khi chưa có những ồn ào, tôi đã nghĩ, tại sao Bảo Ninh lại dự phần? Không phải tôi có định kiến gì với cả, mà với tôi nghệ thuật là chuyện của bạn đọc, của các hội nghề nghiệp. Bản thân nhà nước cũng không nên vinh danh ai cả. Mỗi tác phẩm nghệ thuật trước hết là một nhu cầu cá nhân và sau nữa là một sản phẩm hàng hóa, ai cần thì mua mà dùng, không thấy hữu ích thì thôi, tự do, rộng mở và lành mạnh. Hãy để tác phẩm được ra đời, được sống đời sống của nó một cách tự nhiên. Nếu có giá trị, nó sẽ lớn lên, bằng không nó sẽ chết đi. Bạn đọc sẽ định đoạt số phận của nó mà không cần một quyền lực nào phải mất thì giờ nhúng tay vào.

Việc vinh danh, bản thân nó không hề xấu, nhưng nó tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp: trong quyền vinh danh đã tiền giả định quyền kiểm duyệt và tước bỏ. Nhà văn Bảo Ninh đã có thể không phải lâm vào thế khó xử, nếu ngay từ đầu ông chủ động từ chối. Và tôi nghĩ, sau sự kiện rất xứng đáng là một bài học này, nhà nước cũng hãy trao quyền tôn vinh hay đánh giá về cho công chúng và các hội nghề nghiệp. Nhà nước còn bận trăm công nghìn việc, toàn những việc quốc kế dân sinh hệ trọng, không nên lao tâm khổ tứ về những việc đầy rủi ro mà chẳng mấy lợi lộc như thế này.

Lại nói về Nỗi buồn chiến tranh, như ông đã biết đó (?), những Thơ Mới, Tự lực văn đoàn, Tây Tiến, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm của Nhân văn – Giai phẩm, và v.v., họ cũng từng bị đấu tố đến điêu linh nhân danh những điều như bây giờ những người như ông đang giương cao ngùn ngụt khí thế đó, nhưng rồi họ đã vào sách giáo khoa cho trẻ con học mấy chục năm nay, được trao giải thưởng nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, trở thành niềm tự hào của văn học Việt Nam…

Tôi viết mấy bài không phải để bênh vực cho Nỗi buồn chiến tranh, nó không cần ai bênh vực cả. Tôi chỉ tiếc vì những ấu trĩ, nông cạn và hẹp hòi đã làm nên lầm lỗi của lịch sử, kéo chậm lại quá trình văn minh của xã hội. Giá mà những điều ấy không xảy ra, thì giờ chúng ta đã đi xa hơn nhiều trên con đường phát triển.

Nhân danh lịch sử nhưng không học được gì từ quá khứ, lại cứ nhằm vết xe cũ mà đi, thì quá bằng phỉ báng lịch sử, phải không ông?

Tôi không viết để tranh luận với ông, và tôi sẽ không tranh luận (cái mà ông gọi là “chửi”). Đây chỉ là mấy lời thật lòng và chân thành của một người chỉ có một mong ước giản dị, là xã hội sẽ mỗi ngày một rộng mở hơn, bao dung hơn và biết chậm lại để những thế hệ kế tiếp không còn tiếp tục phải chất lên vai những lầm lỗi của quá khứ - cái mà hôm nay cha anh đã đóng gói sẵn cho hành trang ngày mai của chúng…

Chào ông.

 

Một khối neo (Ghi chép từ tháp Bình Lâm)

 Lê Trọng Nghĩa

Khi đặt tay lên gạch tháp Bình Lâm, sự khác biệt giữa cũ và mới hiện ra rất rõ. Những viên gạch cổ đã nằm ở đó hàng thế kỷ đứng cạnh những viên gạch mới được bổ sung trong các đợt trùng tu. Chúng không hòa lẫn, không che khuất nhau, mà cùng tồn tại trong một cấu trúc.

William Shakespeare và bộ phim “Hamnet” (Cái chết của Hamnet và sự ra đời của “Hamlet”)

 Huỳnh Duy Lộc

Bộ phim Hamnet của đạo diễn Chloé Zhao dựa theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của O’Farrell về vợ chồng kịch tác gia William Shakespeare - Agnes Hathaway và cái chết của đứa con trai 11 tuổi tên Hamnet (vì vậy mà Shakespeare có vở bi kịch nổi tiếng “Hamlet”) đã đoạt giải Quả Cầu Vàng phim bi hay nhất vào sáng 12.1.2026. Nữ diễn viên Jessie Buckley cũng đoạt giải Quả Cầu Vàng Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong vai Agnes Hathaway.

Bác NGUYÊN NGỌC ra mặt tiểu luận DỌC ĐƯỜNG 3 ở tuổi 94!

 FB Bình Bán Book

Dọc đường 3 chọn lọc những bài viết của nhà văn Nguyên Ngọc trong khoảng 20 năm trở lại đây, trong đó, thật đáng chú ý, ngoài chủ đề Tây Nguyên máu thịt cơ hồ không thể nào kết thúc, sẽ còn có một vài bài viết đậm chất nghiên cứu về xứ Quảng, cố quận của ông, cũng là vùng đất tạo nên dấu ấn đậm nét trong lịch sử, văn hóa, cách mạng của dân tộc.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Từ chuyện “Nam quốc sơn hà” khuyết danh…

 Thái Hạo

Chuyện tưởng đã hoàn toàn khép lại từ lâu và không cần phải bàn bạc gì thêm, là vấn đề tác giả của bài “Nam quốc sơn hà”, thế mà trong phong trào “chống lật sử” hiện nay, người ta lại bỗng tỏ ra kinh ngạc và lên án vì sách giáo khoa đã ghi hai chữ “khuyết danh” bên dưới tên bài thơ ấy. Và từ đó, một làn sóng cuồn cuộn nổi lên trên các nền tảng mạng xã hội, đến nỗi những người có trách nhiệm lại phải lên báo để giải thích.

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 7)

 Nguyễn Phương Mai

NGA HÓA – "KHÔNG CÓ PUTIN NÀY SẼ CÓ PUTIN KHÁC"

Loạt bài về cuộc chiến ở Ukraine đã khái quát những thách thức ở hậu phương (bài 1 bài 2 bài 3) và tiền tuyến (bài 4 bài 5) mà đất nước này đang phải đối mặt. Bài 6 và bài viết kỳ này cung cấp cái nhìn của người Ukraine về lịch sử và lý do tại sao họ đứng lên chống Nga suốt gần 4 năm qua.

Simone de Beauvoir và tự do trong một thế giới bất an

 Tino Cao

Hôm nay (9.1) đánh dấu kỉ niệm sinh nhật lần thứ 118 của Simone de Beauvoir (1908-1986). Con số ấy tự thân nó không mang nhiều ý nghĩa nếu chỉ dùng để xếp bà vào một chuỗi niên đại đã khép lại. Nhưng chính độ lùi thời gian ấy lại cho phép người đời sau đọc Beauvoir không còn như một nhân vật của thời sự trí thức thế kỉ 20 mà là một nhà văn, nhà tư tưởng vẫn còn nhiều ảnh hưởng sâu sắc trong hiện tại. Đọc Beauvoir hôm nay là một cách đặt lại những câu hỏi bà từng theo đuổi về tự do, về thân phận con người, về việc trở thành một chủ thể trong những cấu trúc quyền lực vô hình để xem chúng còn đủ sức gây bất an cho chúng ta hay không.

Simone de Beauvoir sinh ngày 9 tháng 1 năm 1908 tại Paris. Việc đọc bà như một mốc tiểu sử được xếp vào lịch sử triết học hay nữ quyền sẽ dễ dẫn tới một sự giản lược nghiêm trọng. Cuộc đời và sự nghiệp của Beauvoir không tuân theo quỹ đạo quen thuộc của những hệ thống tư tưởng đã hoàn chỉnh khi mà các ý niệm được cố định thành thành tựu và khép lại trong tính ổn định của học thuyết. Ở Beauvoir, tư tưởng luôn ở trạng thái đang diễn ra, gắn chặt với cách bà sống, viết, yêu, tham dự đời sống chính trị và tự đặt mình dưới ánh nhìn phản tỉnh. Những bình diện ấy không tách rời mà đan cài nhau, tạo thành một tiến trình suy nghĩ kéo dài suốt đời, không ngừng tự điều chỉnh trước lịch sử và kinh nghiệm sống. Nếu cần một khái niệm để định danh toàn bộ dự án ấy thì đó không phải là nhãn hiệu “nữ quyền” và cũng không chỉ là hiện sinh theo nghĩa triết học mà là tự do được hiểu như một tình trạng dễ vỡ, luôn bị thách thức, đòi hỏi sự tái khẳng định và chỉ có thể tồn tại trong mối quan hệ với tự do của người khác.

Sinh trưởng trong một gia đình tư sản Công giáo đang bước vào giai đoạn suy sụp về kinh tế, Beauvoir lớn lên trong một môi trường nơi kỉ luật đạo đức được duy trì như một nguyên tắc tổ chức đời sống. Khi những bảo đảm vật chất không còn chắc chắn, các chuẩn mực đạo đức và tôn giáo được củng cố nhằm giữ gìn trật tự gia đình, vai trò giới và những kì vọng xã hội đã định sẵn. Chính trong không gian ấy, bà sớm tiếp xúc với những dạng quyền lực không biểu hiện bằng cưỡng bức trực tiếp mà bằng thói quen, kì vọng và chuẩn mực. Gia đình, tôn giáo và các giá trị được xem là “đúng đắn” không chỉ điều chỉnh hành vi bên ngoài mà còn quy định cách cá nhân tự hiểu mình, tự đánh giá mong muốn và giới hạn của bản thân. Khi nhìn lại giai đoạn niên thiếu trong các trang hồi kí, Beauvoir cho thấy một nhận thức sớm về cơ chế ấy. Sự ngoan ngoãn được truyền dạy cho phụ nữ gắn liền với yêu cầu thích nghi và dễ quản thúc hơn là với việc hình thành một chủ thể đạo đức độc lập. Từ trải nghiệm sống cụ thể này, bà dần dần đi tới một kết luận mang tính nền tảng cho toàn bộ tư tưởng sau này của bà, đó là đạo đức truyền thống không tồn tại như một phạm trù trung tính mà phải tham gia trực tiếp vào việc tổ chức các quan hệ quyền lực trong xã hội.

Việc Beauvoir vượt qua kì thi agrégation triết học năm 1929 đưa bà vào trung tâm của đời sống trí thức Pháp trong một thời điểm phụ nữ vẫn bị hạn chế nghiêm ngặt trong không gian học thuật. Từ vị trí ấy, bà có điều kiện tiếp cận triết học như một thực hành tư duy hơn là một hệ thống khép kín. Ngay từ giai đoạn hình thành, triết học đối với Beauvoir đã gắn liền với việc khảo sát những điều kiện sống cụ thể, những rào cản khó nhận thấy của lựa chọn cá nhân và cách tự do được phân bổ không đồng đều trong đời sống xã hội. Những câu hỏi về tri thức và thẩm quyền vì thế không dừng lại ở bình diện lí thuyết mà mở ra thành một mối quan tâm lâu dài về mối quan hệ giữa tư tưởng, kinh nghiệm sống và trật tự xã hội.

Mối quan hệ trí tuệ và tình cảm giữa Simone de Beauvoir và Jean-Paul Sartre (1905-1980) thường bị diễn giải theo những khuôn mẫu quen thuộc của đời sống văn nghệ, hoặc được phủ lên bằng một thứ lãng mạn trí thức, hoặc bị thu hẹp thành chuỗi giai thoại cá nhân. Cách tiếp cận ấy làm mờ nhạt một thực tế có ý nghĩa hơn nhiều, ở chỗ, đây là một quan hệ được hai người ý thức và duy trì như một thử nghiệm dài hạn về khả năng sống tự do cùng người khác. Trong thử nghiệm ấy, đời sống tình cảm, lao động trí tuệ và trách nhiệm cá nhân không được tách rời mà được đặt trong nỗ lực chung nhằm tránh biến người kia thành điểm tựa, phương tiện hay bảo chứng cho bản ngã của mình.

Tuy nhiên, thử nghiệm này không diễn ra trong một không gian xã hội trung tính. Ngay từ sớm, Beauvoir ý thức rõ rằng sự đồng thuận về nguyên tắc không đồng nghĩa với sự đồng đều về vị thế. Sartre bước vào đời sống trí thức với tư cách một chủ thể đã được thừa nhận; quyền phát ngôn, khả năng mạo hiểm tư tưởng và cả quyền thất bại đều được xã hội ngầm cho phép. Beauvoir, dù sở hữu năng lực triết học tương đương và cùng tham gia vào một dự án tư tưởng chung, vẫn phải định vị mình trong một trật tự nơi sự hiện diện của phụ nữ trong không gian tri thức luôn bị nhìn như ngoại lệ theo kiểu trường hợp cần được giải thích, hoặc như phần bổ trợ cho một trung tâm đã có sẵn.

Chính trong sự lệch pha ấy, Beauvoir nhận ra rằng những nguyên tắc tự do được khẳng định ở cấp độ cá nhân không tự động triệt tiêu các bất đối xứng đã được lịch sử và xã hội thiết lập. Một quan hệ được hình dung nhằm chống lại sở hữu và lệ thuộc vẫn có thể dựa trên những điều kiện nền tảng mà chỉ một phía được hưởng trọn vẹn. Sự khác biệt về mức độ được công nhận, về quyền ưu tiên trong diễn ngôn trí thức, về thời gian và không gian dành cho viết và suy tư, cũng như về vị trí được mặc nhiên coi là trung tâm, không bắt nguồn từ ý chí cá nhân mà từ một trật tự xã hội nơi giới tính tiếp tục can thiệp vào giá trị của chủ thể.

Beauvoir không quan trọng những xung đột này như một thất bại riêng tư hay quy chúng về đạo đức cá nhân. Bà xem chúng như dấu hiệu cho thấy tự do, khi chỉ được suy nghĩ như khả năng lựa chọn của cá nhân, nó sẽ dễ rơi vào trạng thái trừu tượng. Kinh nghiệm sống trong quan hệ với Sartre trở thành một điểm tựa phản tỉnh quan trọng. Nó buộc Beauvoir phải đặt lại vấn đề tự do trong tương quan với vị thế giới, với lịch sử và những điều kiện xã hội cụ thể khiến một số lựa chọn trở nên khả thể hơn những lựa chọn khác. Từ đây, Beauvoir bắt đầu đặt khoảng cách với một cách hiểu hiện sinh vốn coi chủ thể như một điểm xuất phát chung để suy nghĩ về đạo đức trong những quan hệ nơi con người bước vào đời với những vị thế không đồng đều, đã được lịch sử và xã hội sắp đặt từ trước.

Những trải nghiệm này không tồn tại như một vùng đời tư tách biệt với tư tưởng, cũng không được Beauvoir sử dụng như chất liệu tự sự đơn thuần. Chúng trở thành nền tảng cho một suy tư kéo dài khi tự do được hiểu như một thực hành luôn phải đối diện với bất cân xứng và trách nhiệm không chỉ gắn với hành vi cá nhân mà còn với những giới hạn trong khả năng hành động của con người. Chính từ tầng nhận thức này, dự án tư tưởng của Beauvoir dần dần tìm thấy hình thức biểu đạt đầy đủ của nó trong tác phẩm Le deuxième sexe (bản dịch tiếng Việt của Bảo Chân và Như Phong có tựa là “Giới thứ hai”, do Nhã Nam phát hành năm ngoái).

Trong bối cảnh trí thức hậu Thế chiến thứ hai, Beauvoir dần dần xác lập vị trí của mình như một hình mẫu tiêu biểu của người trí thức dấn thân theo nghĩa gắn tư tưởng với trách nhiệm lịch sử cụ thể. Việc bà tham gia sáng lập và duy trì một tạp chí trí thức không nằm ngoài quỹ đạo viết và suy nghĩ mà thuộc về cùng một dự án tư tưởng nhằm bảo vệ khả năng can thiệp của tư duy vào đời sống xã hội. Đối với Beauvoir, sự rút lui vào thái độ trung lập trong một trật tự bất công đồng nghĩa với việc chấp nhận các cơ chế đang sản xuất tình trạng bất bình đẳng. Tuy vậy, dấn thân trong cách hiểu của bà không mang màu sắc ngây thơ hay tự huyễn. Các tiểu thuyết và tiểu luận của Beauvoir giai đoạn này liên tục tự đặt mình dưới sự chất vấn về giới hạn của hành động chính trị, về nguy cơ để lí tưởng bị đông cứng thành giáo điều và về tình trạng xói mòn đạo đức của những chủ thể nhân danh lịch sử để biện minh cho lựa chọn cá nhân.

Chính từ trường tư tưởng ấy, Le deuxième sexe hình thành như một bước triển khai mang tính tất yếu. Tác phẩm này không xuất phát từ nhu cầu tuyên bố một lập trường nữ quyền theo nghĩa khẩu hiệu mà từ một yêu cầu phân tích triệt để cách xã hội hiện đại đã kiến tạo “phụ nữ” như một vị thế lịch sử bị định vị từ bên ngoài. Sức ảnh hưởng của cuốn sách không nằm ở những kết luận đóng kín mà ở phương pháp đọc xuyên qua các tầng diễn ngôn triết học, khoa học, văn học và đời sống thường nhật. Beauvoir tiếp cận vấn đề nữ tính bằng cách từ chối cả việc truy tìm một bản chất cố định lẫn việc quy giản thân thể vào dữ kiện sinh học thuần túy. Mối quan tâm của bà hướng về tiến trình qua đó một khác biệt sinh học ban đầu được xã hội diễn giải, sắp xếp và từng bước hợp thức hóa thành số phận. Chính trong tiến trình này, khác biệt giới bị gắn vào những vai trò, kì vọng và giới hạn đã được thiết lập từ trước. Sự áp bức, vì thế, không nảy sinh từ khác biệt tự thân mà từ cách khác biệt ấy được huy động để củng cố và tái sản xuất một trật tự quyền lực đã tồn tại từ trước.

Mệnh đề thường được trích dẫn từ Le deuxième sexe về việc con người trở thành phụ nữ theo thời gian cần được nhìn nhận như kết quả cô đọng của một chuỗi phân tích lịch sử và xã hội hơn là một phát biểu tách rời. Trong lập luận của Beauvoir, việc “trở thành” ấy diễn ra thông qua những cơ chế giáo dục, chuẩn mực và kì vọng khiến cá nhân học cách nhìn thế giới từ vị trí của kẻ đứng sau, của tha thể, của người luôn được định nghĩa từ bên ngoài. Quá trình này không dừng lại ở sự áp đặt từ bên trên mà thấm dần vào đời sống nội tâm khi những giới hạn được tiếp nhận như điều hiển nhiên, thậm chí như đặc điểm tự nhiên của bản thân. Chính tại đây, Beauvoir mở rộng cách hiểu về sự mất tự do: nó không chỉ xuất hiện dưới dạng cưỡng bức trực tiếp mà còn thông qua những hình thức huấn luyện cảm xúc, đạo đức và thẩm mĩ khiến cá nhân tự điều chỉnh ham muốn và lựa chọn của mình sao cho phù hợp với một trật tự đã có sẵn.

Cách tiếp cận này cũng cho thấy vì sao Beauvoir không dừng lại ở việc phân tích các hình ảnh biểu tượng hay hệ thống diễn ngôn. Le deuxième sexe được xây dựng như một công trình triết học gắn liền với khảo sát xã hội và lịch sử theo nghĩa rộng với những điều kiện vật chất của đời sống giữ vai trò quyết định. Lao động, giáo dục, quyền sinh sản, luật pháp hôn nhân và cấu trúc kinh tế không xuất hiện như bối cảnh phụ trợ mà như những yếu tố trực tiếp quyết định khả năng hành động của con người. Trong cách nhìn ấy, tự do không thể được hiểu như một phẩm chất thuần túy của ý chí. Khi những điều kiện sống không được thay đổi, lời kêu gọi tự do chỉ có tác dụng đối với một số ít người đã sở hữu sẵn các nguồn lực cần thiết. Tự do, vì thế, luôn gắn với thiết chế; và chỉ có thể trở thành một kinh nghiệm phổ quát khi các điều kiện vật chất của nó được phân phối một cách công bằng hơn.

Song song với các tiểu luận triết học, văn chương hư cấu của Beauvoir đóng vai trò như một phòng thí nghiệm đạo đức. Trong tiểu thuyết của Beauvoir, các ý niệm hiện sinh không xuất hiện như những mệnh đề cần được chứng minh mà được đặt vào những tình huống quan hệ cụ thể, nơi con người phải lựa chọn và hành động trong những điều kiện không bao giờ hoàn toàn trong suốt. Tình yêu, ghen tuông, tham vọng cá nhân và dấn thân chính trị không tồn tại tách rời mà chồng lấn lên nhau, tạo ra những xung đột trong khi không một nguyên tắc trừu tượng nào có thể giải quyết dứt điểm. Các nhân vật của Beauvoir vì thế hiếm khi mang dáng dấp anh hùng; họ do dự, mâu thuẫn với chính mình, phạm sai lầm và thường không nhìn thấy trọn vẹn hậu quả từ những lựa chọn của bản thân.

Chính trong những tình huống ấy, Beauvoir diễn giải rõ ràng một vấn đề trung tâm của đạo đức hiện sinh: tự do không tự động đi kèm với sự cao thượng. Khả năng lựa chọn, ngay cả khi được ý thức là tự do, vẫn có thể dẫn tới việc gây tổn thương cho người khác, biến người khác thành phương tiện phục vụ cho dự án cá nhân hoặc che giấu sự né tránh trách nhiệm dưới lớp ngôn ngữ của lí tưởng và chính nghĩa. Văn chương của Beauvoir không tìm cách giải oan cho những lựa chọn ấy mà buộc người đọc phải nhìn thẳng vào chúng như những hệ quả có thật của tự do khi nó được thực hành trong quan hệ với người khác.

Hồi kí của Beauvoir, được viết trong nhiều giai đoạn khác nhau của đời sống, tiếp tục cùng một mối quan tâm đã xuyên suốt văn chương và triết luận của bà nhưng bằng một hình thức trực tiếp hơn. Khi viết về chính mình, Beauvoir không tìm cách kiến tạo một hình ảnh cá nhân nhất quán hay đáng ngưỡng mộ. Các tập hồi kí của bà được tổ chức xoay quanh việc lần lại những lựa chọn đã được đưa ra trong những hoàn cảnh cụ thể: lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn tình cảm, lựa chọn dấn thân chính trị và những hạn chế đi kèm với mỗi lựa chọn ấy. Trọng tâm không nằm ở việc biện minh hay thanh minh mà ở việc chỉ ra các điều kiện lịch sử, xã hội và giới tính đã quyết định thế nào khả năng lựa chọn của một cá nhân trong từng thời điểm. Hồi kí Beauvoir, vì thế, được xem như một công cụ nhận thức. Thông qua việc kể lại đời mình, Beauvoir cho thấy cách một chủ thể được hình thành trong những mối ràng buộc rất cụ thể của giai cấp, giới, môi trường trí thức và biến động chính trị, đồng thời phải liên tục thương lượng với những ràng buộc ấy để giữ lại những khoảng không gian hạn hẹp cho tự do.

Từ thập niên 1970, mối quan tâm này chuyển sang một bình diện can thiệp trực tiếp hơn. Simone de Beauvoir không còn chỉ phân tích các cơ chế áp bức trong văn bản hay diễn ngôn mà tham gia vào những cuộc đấu tranh cụ thể của phong trào nữ quyền. Những hành động chính trị của bà trong giai đoạn này gắn chặt với một lập trường đã được hình thành từ trước, đó là tự do chỉ có ý nghĩa khi nó được bảo đảm trong những lĩnh vực nơi con người dễ bị tước đoạt quyền tự quyết nhất. Đối với Beauvoir, thân thể là một trong những lĩnh vực như vậy. Quyền sinh sản không được bà đặt trong khung đạo đức cá nhân hay lựa chọn riêng tư mà được hiểu như điều kiện nền tảng để phụ nữ có thể chủ động tổ chức đời sống của mình. Khi khả năng quyết định đối với thân thể bị kiểm soát từ bên ngoài, mọi diễn ngôn về tự do đều mất đi nền tảng thực chất của nó.

Cách tiếp cận này đồng thời làm lộ ra những giới hạn lịch sử trong tư duy của Beauvoir - điều đã được các thế hệ nữ quyền sau này tiếp tục gợi lại và tranh luận. Khi mở rộng tầm nhìn sang những kinh nghiệm phụ nữ được hình thành tại giao điểm giữa giới tính và nhiều trục quyền lực khác nhau như giai cấp, chủng tộc, lịch sử thuộc địa, điều kiện di cư… các phê bình từ nữ quyền giao cắt, từ tư tưởng hậu thuộc địa hay từ các lí thuyết về khác biệt cho thấy những chiều kích mà Beauvoir, trong bối cảnh châu Âu giữa thế kỉ 20, chưa thể xử lí đầy đủ. Những phê bình này không nhằm phủ định Le deuxième sexe mà làm rõ hơn tính lịch sử của nó. Chúng chỉ rõ quan điểm phụ nữ không phải là một kinh nghiệm đồng nhất, và rằng sự áp bức phụ nữ luôn được cảm nhận khác nhau tùy theo vị thế xã hội cụ thể của mỗi nhóm người.

Tuy vậy, giá trị bền vững của Beauvoir không nằm ở việc bà để lại một tập hợp câu trả lời hoàn chỉnh có thể áp dụng cho mọi hoàn cảnh. Điều còn lại và vẫn tiếp tục có giá trị là phương pháp phê phán mà bà kiên trì theo đuổi: đặt nghi vấn đối với những gì được xem là tự nhiên, hiển nhiên và bất biến, rồi lần ngược chúng về các điều kiện lịch sử và xã hội đã khiến chúng được diễn giải có vẻ như tất yếu. Chính phương pháp phê phán ấy cho phép các thế hệ sau vừa tiếp nhận Beauvoir, vừa vượt qua bà mà không cần đoạn tuyệt.

Câu nói của Beauvoir về mong muốn một đời sống con người có thể đạt tới trạng thái tự do trong suốt cần được nhìn nhận trong tinh thần ý niệm này. Nó không phác ra một viễn cảnh lí tưởng mà đặt ra một tiêu chuẩn nghiêm khắc để soi chiếu đời sống xã hội. Tự do trong suốt không chỉ liên quan đến việc loại bỏ những hình thức cưỡng bức hiển nhiên mà còn đòi hỏi khả năng nhận diện các cơ chế tinh vi làm vẩn đục tự do ngay trong thói quen, trong đạo đức thường nhật và trong cách con người tự nhận thức mình. Ở điểm này, tư tưởng của Beauvoir cho thấy mục đích căn bản của nó không nằm ở sự trấn an mà ở việc làm cho trạng thái yên tâm giả tạo trước những hình thức nô lệ đã được hợp thức hóa trở nên không thể duy trì.

Vì thế, việc đọc Simone de Beauvoir hôm nay không xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm những công thức sẵn có cho hành động. Giá trị bền vững trong sự nghiệp của Beauvoir nằm ở chỗ buộc người đọc tiếp tục một công việc chưa hoàn tất: kiểm tra lại thực chất những điều kiện của tự do trong chính đời sống của mình và trong trật tự xã hội hiện hành, nơi tự do thường được tuyên bố bằng những diễn ngôn đẹp đẽ nhiều hơn là được bảo đảm trong hiện thực.

The 118th anniversary of Simone de Beauvoir’s birth does not, in itself, confer significance. Born in Paris in 1908 and deceased in 1986, Beauvoir should not be approached merely as a biographical marker situated within a closed intellectual chronology. Yet it is precisely this temporal distance that allows her to be read today not as a figure confined to the intellectual debates of the twentieth century, but as a thinker whose work continues to unsettle the present. To read Beauvoir now is to return to the questions she pursued throughout her life, questions of freedom, subjectivity, and the conditions under which individuals come to recognize themselves as agents within invisible structures of power, and to ask whether these questions still disturb our own sense of stability.

Beauvoir is often introduced as a canonical philosopher or feminist, positioned neatly within the history of ideas. Such framing risks a serious reduction. Her life and work do not follow the trajectory of a completed system in which concepts solidify into doctrine. Beauvoir’s thinking remains perpetually in motion, inseparable from the way she lived, wrote, loved, participated in political life, and subjected herself to sustained self scrutiny. These dimensions are not ancillary to her philosophy. They are its medium. If one term is to name the coherence of this lifelong project, it is neither feminism as a label nor existentialism in its abstract form, but freedom understood as fragile, contested, relational, and continually in need of reaffirmation. For Beauvoir, freedom exists only in relation to the freedom of others and is perpetually exposed to erosion.

Beauvoir grew up in a Catholic bourgeois family undergoing economic decline, an environment in which moral discipline was mobilized to preserve social order. As material security faltered, ethical and religious norms were reinforced to regulate family life, gender roles, and social expectations. It was here that Beauvoir first encountered forms of power that operate not through overt coercion but through habit, expectation, and internalized norms. Family, religion, and proper conduct did not merely shape outward behavior. They structured how individuals understood themselves, assessed their desires, and defined their limits. In her later memoirs, Beauvoir reflects on an early awareness of these mechanisms. Obedience, especially as taught to women, functioned less as moral formation than as training in adaptability and containment. From these experiences emerged a foundational insight that would underpin her later work. Traditional morality is never neutral. It actively participates in organizing relations of power.

Beauvoir’s success in the agrégation in philosophy in 1929 placed her at the center of French intellectual life at a time when women’s presence in academic philosophy remained exceptional. From this position, she approached philosophy not as a closed system but as a practice oriented toward lived conditions. From the outset, philosophical inquiry for Beauvoir was inseparable from examining concrete constraints on choice, the uneven distribution of freedom, and the subtle limits imposed on individual agency. Questions of knowledge and authority thus extended beyond theory into a sustained investigation of how thought, lived experience, and social order intersect.

The intellectual and emotional partnership between Simone de Beauvoir (1908-1986) and Jean Paul Sartre (1905-1980) has often been romanticized or reduced to anecdote. Such readings obscure its more consequential dimension. It was consciously maintained as a long term experiment in living freely with another person. In this experiment, emotional life, intellectual labor, and personal responsibility were deliberately interwoven, with the aim of resisting possession, dependency, and the transformation of the other into a guarantor of one’s own identity.

Yet this experiment unfolded within a profoundly asymmetrical social context. Beauvoir recognized early on that agreement on principles does not erase disparities in position. Sartre entered intellectual life as a recognized subject, granted authority, risk, and even failure as socially permissible. Beauvoir, despite equal philosophical capacity and shared intellectual commitment, navigated a field in which a woman’s presence remained marked as exceptional, derivative, or supplementary to an already established center. These asymmetries were not the product of personal intention but of a social order in which gender continued to structure recognition.

From this dissonance, Beauvoir drew a crucial conclusion. Freedom affirmed at the level of individual intention does not automatically dismantle historically sedimented inequalities. A relationship designed to resist domination may still rest upon conditions that benefit one party disproportionately. Differences in recognition, access to intellectual authority, time for writing, and assumed centrality are not matters of individual will. They are manifestations of a broader social structure.

Beauvoir did not interpret these tensions as personal failures or moral lapses. Rather, she treated them as evidence of the limits of a purely individualistic conception of freedom. Her experience with Sartre became a site of reflection, forcing her to situate freedom within concrete social and historical conditions. From this point onward, she increasingly distanced herself from existentialism conceived as beginning from an abstract subject, insisting instead on the uneven starting positions from which individuals enter the world.

These experiences did not remain private nor serve merely as autobiographical material. They became the groundwork for a sustained inquiry into freedom as a practice shaped by asymmetry and responsibility, where accountability extends beyond individual acts to the constraints placed on others’ capacity to act. It is at this level of analysis that Beauvoir’s intellectual project finds its most comprehensive articulation in The Second Sex.

In the postwar period, Beauvoir emerged as a paradigmatic engaged intellectual, one who understood thought as inseparable from historical responsibility. Her editorial work and political interventions were not ancillary to her writing but integral to a project that defended the capacity of thought to intervene in social life. Neutrality, within an unjust order, amounted to complicity. Yet her conception of engagement was never naive. Her novels and essays repeatedly interrogate the limits of political action, the danger of ideals hardening into dogma, and the moral corrosion that arises when historical necessity is invoked to justify personal choices.

The Second Sex emerged from this intellectual field not as a manifesto but as a rigorous analysis of how modern society constructs woman as a historically situated position defined from without. Its enduring force lies not in closed conclusions but in its method. Beauvoir traverses philosophy, science, literature, and everyday life to expose how difference is socially interpreted and institutionalized. She rejected both essentialist accounts of femininity and reductive biological determinism, focusing instead on the social processes through which an initial biological difference is organized and legitimized as destiny. Oppression, in her account, does not arise from difference itself but from how difference is mobilized to reproduce an existing order of power.

The often cited claim that one is not born but becomes a woman should be read as the condensation of a historical analysis rather than a standalone aphorism. Becoming occurs through education, norms, and expectations that train individuals to perceive the world from a subordinate position and to internalize limits as natural. Loss of freedom thus extends beyond overt coercion to include emotional, moral, and aesthetic forms of training that render constraint invisible.

This framework explains why The Second Sex attends so closely to material conditions. Labor, education, reproductive rights, marriage law, and economic structures are not background variables but determinants of agency. Freedom cannot be reduced to an act of will. Without transformed conditions, appeals to freedom benefit only those already endowed with resources. Freedom is inseparable from institutions and becomes universal only when its material conditions are more equitably distributed.

Beauvoir’s fiction functions as an ethical laboratory. Existential questions are embedded in concrete relational situations where choices are made under conditions of opacity. Love, jealousy, ambition, and political commitment intersect, producing conflicts that no abstract principle can resolve. Her characters are rarely heroic. They hesitate, err, and act without full knowledge of consequences. Through them, Beauvoir exposes a central tension of existential ethics. Freedom does not guarantee moral elevation.

Her memoirs extend this inquiry in a more direct register. Beauvoir does not seek to construct a coherent or admirable self image. Instead, she retraces decisions within specific historical and social contexts, emphasizing how class, gender, intellectual milieu, and political upheaval shape the horizon of choice. Autobiography becomes a tool of knowledge, revealing how subjectivity is formed within constraint and how limited spaces for freedom must be continually negotiated.

From the 1970s onward, Beauvoir’s focus shifted toward direct political intervention. She engaged explicitly with feminist struggles, particularly around reproductive rights. For Beauvoir, control over one’s body was not a matter of private morality but a foundational condition for agency. When bodily autonomy is externally regulated, discourse about freedom loses its material grounding.

This position also reveals the historical limits of Beauvoir’s thought. Later feminist traditions, particularly intersectional and postcolonial approaches, have demonstrated dimensions Beauvoir could not fully address within her mid twentieth century European context. These critiques do not negate The Second Sex. They historicize it and underscore that womanhood is not a unified experience and that oppression is always differentially lived.

Beauvoir’s enduring significance lies not in definitive answers but in her critical method. She persistently questioned what appears natural, inevitable, or self evident and traced it back to the historical conditions that render it plausible. This method allows later generations to inherit Beauvoir while also moving beyond her.

Her aspiration toward a transparent freedom should be understood in this spirit. It does not promise an ideal future but establishes a demanding standard. Such freedom requires vigilance against not only overt coercion but also the subtle mechanisms that cloud agency within habit, morality, and self perception. Beauvoir’s thought does not reassure. It unsettles.

To read Simone de Beauvoir today is therefore not to seek ready made prescriptions. Her lasting value lies in compelling readers to continue an unfinished task. That task is to examine the real conditions of freedom within their own lives and within a social order where freedom is more often proclaimed rhetorically than secured materially.

Edvard Munch và kiệt tác “The Scream”

 Nguyễn Man Nhiên

Bức tranh The Scream (Tiếng thét), sáng tác lần đầu năm 1893 (*), là tác phẩm nổi tiếng nhất của hoạ sĩ người Na Uy Edvard Munch (1863–1944), một trong những tên tuổi lớn của nghệ thuật hiện đại. Tác phẩm này thuộc loạt tranh The Frieze of Life của ông, khám phá những chủ đề nền tảng của đời sống con người: tình yêu, nỗi sợ hãi, bệnh tật, sự lo âu và cái chết. Trước đó, Munch từng vẽ bức Despair (Tuyệt vọng, 1892), được coi là tiền thân trực tiếp của The Scream, nơi ông bắt đầu tìm cách thể hiện sự xáo động của nội tâm qua phong cảnh.

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Một thế kỷ các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam đối diện với thực tế

 Trần Ngọc Vương

Lời dẫn:

Năm 2006, kỉ niệm 100 năm nền Đại học Đông Dương – hậu thân là Đại học Quốc gia Hà Nội, được “cộng dồn” tuổi tồn tại và thành tích từ Đại học Đông Dương qua Đại học Tổng hợp, Đại học Quốc gia Hà Nội trở thành Đại học đầu tiên và duy nhất trong toàn quốc được Nhà nước “truy và trao” tặng Huân chương Sao Vàng.

Là một trong “100 năm – 100 khuôn mặt” tiêu biểu được đưa vào kỷ yếu của Đại học Quốc gia Hà Nội nhân dịp đó, tôi tự thấy mỗi ngày mặt mình lại cứ nóng bừng lên!

20 năm đã qua, tôi cũng đã nghỉ hưu, đã kiệt sức vì bệnh tật và tuổi tác, người quen biết và thân thuộc gặp tôi đều ái ngại, đều mong và khuyên rằng nghỉ đi thôi! Không nói và viết thêm gì thật mới nữa, cũng xin nhắc lại điều đã nói và viết cũ với lời khẳng định rằng tính thời sự của những điều đã viết ấy vẫn chưa hề cũ!

Thật sốt ruột! Nhất là trong lĩnh vực mà mình từng làm việc gần trọn đời.

T.N.V.

Tinh thần pháp quyền và yêu cầu tường minh trong việc ban hành luật pháp

Luân Lê (Luật sư Lê Văn Luân)

 

Trong bối cảnh hiện nay, cấu trúc của Điều 117 Bộ luật Hình sự đang bộc lộ những vấn đề đáng kể về tính minh xác trong diễn giải và áp dụng. Quy phạm này tạo ra những quan ngại nghiêm trọng liên quan đến việc bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, đặc biệt là quyền giám sát và quản lý trong tư cách làm chủ, cũng như các quyền tự do ngôn luận, báo chí và hội họp. Cùng với Điều 331 (trước đó là Điều 258), Điều 117 đặt ra một thách thức pháp lý mang tính hệ thống, làm gia tăng mức độ bất định trong việc thực thi pháp luật hình sự. Những vấn đề này đã nhiều lần được các cơ chế quốc tế, trong đó có các khuyến nghị thông qua các kỳ rà soát nhân quyền phổ quát, nêu rõ với yêu cầu Việt Nam cần bãi bỏ hoặc sửa đổi theo hướng gia tăng tính nghiêm ngặt về tiêu chuẩn pháp lý, nhằm hạn chế sự tùy tiện của quyền lực công trong quá trình áp dụng luật, thay vì mở rộng rủi ro pháp lý đối với công dân.

Thơ Gabriel Josipovici

 NHẠC ĐUỔI

Người dịch: Dương Thắng

Đôi lời giới thiệu: Gabriel Josipovici, tác giả của bài thơ-văn xuôi (không có chấm phảy) dưới đây sinh tại Nice vào năm 1940 trong một gia đình có gốc gác Nga-Ý và Rumani - Địa Trung Hải. Trải qua thời thơ ấu trong chiến tranh thế giới thứ II ở vùng núi Aples, từ 1950-1956 ông theo học ở Victoria College du Caire trước khi nhập cư vào nước Anh cùng với mẹ mình. Ông giảng dạy ở Đại học Tổng hợp Sussex (Brighton) từ 1963 đến 1998. Tiểu thuyết gia, tác giả truyện ngắn, kịch tác gia. Bốn tác phẩm của ông đã dịch ra tiếng Pháp: Deuxième personne à la fenêtre – Introduction à Maurice Blanchot (Kẻ thứ hai bên của sổ-nhập đề về Maurice Blanchot). NXB Ulysse Fin de siècle, 1988. Ngược sáng- Bộ ba của Pierre Bonnard (Contre-jour: Triptyque d’après Pierre Bonnard). NXB Gallimard, 1989. Moo Pak, NXB Quidam, 2011. Tất cả trôi đi (Tout passe), NXB Quidam, 2012. Là cộng tác viên của Time Literary Supplement, Gabriel Josipovici cũng là một nhà văn, một nghệ sĩ thử nghiệm hàng đầu. Những tác phẩm mới nhất của ông in bằng tiếng Anh: Heart’s Wings and other stories (NXB Carcanet Press, 2010), What Ever Happened to Modernisme (NXB Yale University Press, 2010).

Tôi học theo cụ Phan Bội Châu để gọi người phụ nữ có tên Hồng Thái Hoàng là “Chị” xưng “Em”…

 Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Cái "tội" lớn nhất của chị Hồng Thái Hoàng là chị KHÔNG SỢ. Chị viết bao giờ cũng với thái độ điềm tĩnh, ôn hòa, dựa vào lý lẽ, vào chính pháp luật hiện hành!
Nhưng chính điều đó mới khiến những người có quyền lực sợ hãi nhất. Trong sâu xa, kẻ mạnh là kẻ luôn sợ hãi. Và để cho cỗ máy dù đầy khuyết tật hệ thống vẫn chạy êm ả, cần có chất bôi trơn – đó là sự sợ hãi! Cho nên, để che giấu sự sợ hãi của chính mình, người ta tích cực sản xuất ra chất sợ hãi để tiêm vào đầu óc của anh, của chị, của tôi, của chúng ta.
"Thoát khỏi nỗi sợ" (Freedom from fear) là tiếng cổ vũ của Franklin D. Roosevelt, là sự thúc giục của Aung San Suu Kyi và sự thực hành dân chủ của Hồng Thái Hoàng.

Chỉ riêng điều đó, đủ để chị bị bắt!
Văn Việt

Có nhiều thứ cần phải học theo cụ Phan Bội Châu và các chí sĩ cách mạng lớn đầu thế kỷ XX – thế kỷ “gió tanh mưa máu” – nhưng trước hết, tôi đã học được thái độ trân trọng vô cùng đáng kính phục của Phan Sào Nam tiên sinh trước sự tuẫn tiết đau đớn của Cô Giang – vợ của đảng trưởng Nguyễn Thái Học sau khi tận mắt chứng kiến vị thủ lĩnh và 12 chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị thực dân Pháp xử chém tại Yên Bái: Trong bài Văn tế Cô Giang thống thiết, cụ kính cẩn gọi Cô Giang vừa tròn 21 tuổi là “Chị”, và xưng “Em Châu”, cụ so sánh Cô Giang với các nữ anh hùng nước Pháp và nước ta: “Xem sách Pháp từng đem óc nghĩ Lân Đá [Jeanne d’Arc], La Lan [Mme Rolland] thuở nọ, chị em mình há dễ ai hơn; Giở sử nhà thoạt vỗ tay reo Bà Trưng, Triệu Ẩu xưa kia, non nước ấy có đâu hồn chết…”.

Ký sự – Về thăm quê hương (2)

 Tôn Thất Thông

Hội An phố chợ đông người…
Tôi leo lên máy bay, trực chỉ Đà Nẵng, bắt đầu chuyến đi tìm về tuổi thơ ở miền Trung. Ngồi trên máy bay, tôi nhâm nhi mấy câu hát của Phạm Duy:

Về miền Trung! Miền thùy dương bóng dừa ngàn thông
Thuyền ngược suôi suốt một dòng sông… dài
Ôi quê hương xứ dân gầy
Ôi bông lúa, con sông xưa, thành phố cũ

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Văn học và y học

 Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Đức Tùng

Thực hiện: PGS TS Trần Huyền Sâm, Đại học Sư phạm Huế.

Văn học và Y học là một hướng nghiên cứu liên ngành rất thịnh hành trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ và ở Pháp. Từ năm 1949, tại Paris hội Văn học và Y học đã được thành lập. Bộ môn Y học tự sự (La médecine narrative) đã được đưa vào giảng dạy tại trường Đại học Paris Descartes từ năm 2009 cho sinh viên FASM1 (Formation Approfondie en Sciences Médicales). Một số luận án của bộ môn Y đa khoa đã thực hiện theo hướng liên ngành này từ rất sớm. Tuy nhiên, ở Việt Nam đây là một lĩnh vực còn rất mới mẻ. Mong muốn của Trần Huyền Sâm: góp phần mở ra một hướng đào tạo và nghiên cứu liên ngành “Văn học và Y học” ở các trường Đại học và bệnh viện tại Việt Nam.

Dù không hiện diện trong buổi Tọa đàm nhưng nhà văn, bác sĩ Nguyễn Đức Tùng đã có những ý kiến rất thú vị, sâu sắc về chủ đề này. Nguyễn Đức Tùng hiện sống và làm việc tại Canada. Anh là cây bút đa tài trên nhiều lĩnh vực: Thơ, tiểu thuyết, và phê bình văn học. Các tác phẩm của anh đã có tiếng vang lớn trên văn đàn Việt Nam và thế giới.

Sau đây, báo Phụ nữ xin giới thiệu cuộc trò chuyện giữa nhà nghiên cứu văn học Trần Huyền Sâm và nhà văn, bác sĩ Nguyễn Đức Tùng.

Phụ Nữ

Phê bình văn học trong thời đại mạng xã hội: Một vài ghi chú

 Kumar Vikram, ‘Literary Criticism’ in the Times of Social Media: Some Notes, Medium ngày 9/7/2022).

Ngân Xuyên dịch

Khi mọi người viết thơ, phê bình văn học, phê bình xã hội hoặc chuẩn bị bài thuyết trình tại nơi làm việc, họ thường rất kỹ lưỡng và cẩn thận trong việc sử dụng ngôn từ đúng và chính xác – đảm bảo tạo được ấn tượng phù hợp. Tại sao một số người lại nghĩ rằng họ có thể viết bất cứ điều gì trên mạng xã hội, nhất là những bài phê bình văn học đáng tin cậy?

Ký sự – Về thăm quê hương (1)

 Thay lời khai bút đầu năm

Tôn Thất Thông

Sau nhiền năm gián đoạn hậu Covid, vợ chồng chúng tôi quyết định về thăm gia đình, bà con, bạn bè, nhân tiện quan sát một chút về sự phát triển xã hội Việt Nam như thế nào. Trên báo chí tôi thường gặp những tin tức về kinh tế, về GDP, về thu nhập đầu người, về những tòa cao ốc, những đô thị mới, những đường cao tốc. Nhưng tôi muốn xem đằng sau vỏ bọc ấy, con người sống và nghĩ như thế nào. Mảnh đất hình chữ S này là nơi tôi đã sống những tháng ngày ấu thơ êm đềm, rồi đến khoảng thời gian mà tuổi thanh niên của tôi đã trải qua nhiều sóng gió cuộc đời, và đó cũng là những ngày tháng dữ dội của tuổi trẻ. Cho dù đã chứng kiến nhiều biến đổi bể dâu, nhưng tôi vẫn lạc quan định hướng tương lai cho mình với những hoài bão đẹp đẽ đầy hào quang, cứ nghĩ rằng, bàn tay mình sẽ có cơ hội góp phần tham gia vào việc xây dựng một xã hội tốt đẹp, mang lại chút ít hạnh phúc cho mọi người, và trước hết là chút ít ấm no cho người thân trong gia đình.

Báu vật Nam bộ “Vọng cổ hoài lang” trong bảo tàng Pháp

 TS. Nguyễn Lê Tuyên (Sydney, Australia), Người Đô Thị ngày 1/10/2021

LTS: Tiến sĩ Nguyễn Lê Tuyên là nhà soạn nhạc, nghiên cứu âm nhạc và nghệ sĩ guitar danh tiếng, có nhiều am hiểu về nghệ thuật đờn ca tài tử và cải lương. Mới đây, ông đã tìm thấy một bản thu âm bài "Vọng cổ hoài lang" của thập niên 1920 trong bảo tàng Pháp. Người Đô Thị trân trọng giới thiệu tư liệu quý hiếm này, cùng bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Lê Tuyên gửi riêng cho Người Đô Thị.

Những nếp nhà, những phận người

Thái Kế Toại

(Nhân cuốn Gia đình được Tuổi trẻ cuối tuần chọn đứng đầu trong 10 cuốn sách hay năm 2020-2025)

Khi nhận đọc bản thảo cuốn sách này tôi bảo Hà: "Sao cháu không chọn một cái tên khác mà lại đặt là Gia đình, nó thực thà chất phác quá". Quả thật so với ba cuốn sách trước của Hà Đừng kể tên tôi, Qua khỏi dốc là nhà, Tôi là con gái của cha tôi thì cái tên này thật quá, chất phác quá. Tôi nghĩ chỉ cần thêm một chữ những là đủ, không phải là các gia đình mà chỉ là những gia đình đã bị cuốn qua những cơn lốc màu đỏ kinh hoàng trong quá khứ, đầu những năm năm mươi thế kỷ trước ở miền Bắc Việt Nam. Cái tên ấy đủ nói lên sự chân thực về số phận những gia đình, những thành viên của nó qua ký ức. Bây giờ họ đã 70, 80, 90 tuổi rồi nhưng ngày ấy họ là con trẻ, như một tờ giấy trắng bị vò nát, bị vùi dập trong một sự đảo lộn đến phi lý và tất nhiên nó thật là kinh hoàng đối với sức chịu đựng của tuổi thơ.

Chén rượu đắng Xuân thu – Bi kịch của Phan Thanh Giản

 Cao Tự Thanh (FB Nguyễn Thị Minh Ngọc)

 

Là một nhân vật lịch sử có số phận khác thường, Phan Thanh Giản đã chết bốn lần. Lần thứ nhất là Phan uống thuốc độc tự tử. Lần thứ hai, Phan bị thực dân ám sát khi khen ông sáng suốt không chống lại Pháp. Lần thứ ba, Phan bị triều đình Tự Đức bức tử với bản án “truy đoạt tất cả chức hàm, đục tên trong bia Tiến sĩ, giữ mãi cái án trảm giam hậu”. Lần thứ tư là vào thời gian 1960 – 1963, khi chúng ta hạ quyết tâm dùng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, và nền sử học rời khỏi con đường dài phục vụ cách mạng mà đi vào con đường tắt phục vụ chính trị đương thời đã xử tử ông (cũng như phê phán những người yêu nước chủ trương không dùng bạo lực như Phan Châu Trinh), gây ra một công án đau lòng khiến những trí thức như Ca Văn Thỉnh đương thời day dứt và các chính khách như Võ Văn Kiệt hiện nay trăn trở. Năm 1994 vấn đề Phan Thanh Giản lại được đặt ra trong Hội thảo khoa học ở Vĩnh Long, nhưng hầu như không có tiếng vang nào đáng kể. Các công trình cũ vẫn còn đó, các giáo trình cũ vẫn còn đó, quan niệm cũ vẫn còn ngự trị, tâm lý cũ vẫn còn tác động. Nhiều người không ngại khẳng định Phan Thanh Giản, mà sợ phản đối đồng chí và đồng nghiệp, cấp trên hay thầy học của mình. Cho nên đến cuộc Tọa đàm Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản do Hội Khoa học Lịch sử tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16.8 mới đây, cái số phận nhiều cay đắng mà ít vinh quang ấy lại một lần nữa được đưa ra mổ xẻ.

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

"Gia đình" vạch bức màn che về cuộc cải cách ruộng đất

 Nguyễn Thông

Cuốn "Gia đình" của Phan Thúy Hà vào bảng sách hay nhất năm 2025 do báo "Tuổi Trẻ cuối tuần" bình chọn, xếp hạng.

"Tuổi Trẻ cuối tuần" là ấn phẩm danh tiếng của báo Tuổi Trẻ. Trước khi bị cải tổ, chuyển thành "Tuổi Trẻ cuối tháng" kể từ tháng 1.2026, tờ cuối tuần này đã như cây đèn vụt sáng, có những bài thật hay, mạnh mẽ, đậm bản sắc cứng cỏi lâu nay. Trong đó, báo đã xếp hạng 10 tác phẩm văn học Việt hay nhất năm 2025, và cuốn "Gia đình" - cuốn sách tư liệu - phi hư cấu (non-fiction) của nhà văn Phan Thúy Hà được xếp ở thứ tự số 1. Rất xứng đáng.

Lời thưa đầu sách của dịch giả Ngân Xuyên

 Ngân Xuyên

Đây là cuốn sách dịch mới của tôi năm nay vừa ấn hành. Nói là sách mới nhưng thực ra là cũ vì bản dịch đã in sách từ 2007. Nhưng cũ mà vẫn mới vì “vấn đề Phạm Quỳnh” trong dòng lịch sử và văn hoá Việt Nam hiện đại chưa bao giờ cũ. Cuốn sách in lại cũ/mới này như nén hương cho học giả Phạm Quỳnh (1892/1945) nhân 80 năm ngày mất của ông. Xin mời đọc lời đầu sách để biết thêm lý do ra sách và nội dung sách.

Thứ Hai, 5 tháng 1, 2026

Phép thử của Nghị quyết 68 nhìn từ vụ "Về đây bốn cánh chim trời"

 Lê Thọ Bình

Vụ việc người Tổ chức sản xuất chương trình nghệ thuật "Về đây bốn cánh chim trời" bị khởi tố với cáo buộc “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã nhanh chóng thu hút sự chú ý của dư luận, không chỉ bởi yếu tố người nổi tiếng hay sự bức xúc chính đáng của khán giả mua vé, mà còn bởi một câu hỏi lớn hơn: đâu là ranh giới giữa xử lý hình sự và xử lý các vi phạm kinh tế - dân sự trong những hoạt động kinh doanh bấp bênh, nhiều rủi ro như lĩnh vực văn hóa, giải trí?

Nghệ sĩ và Ruồi

 (Viết từ: The Flies in the Market-Place trong Thus Spake Zarathustra của F. Nietzsche phiên bản dịch của Thomas Common, Carlton House, New York,  tr. 52 – https://www.gutenberg.org/files/1998/1998-h/1998-h.htm)

Ngu Yên

Tại sao người giỏi thường bị chích nhiều nhất?

Hãy tưởng tượng bạn là một họa sĩ. Bạn vừa hoàn thành một bức tranh – ba năm công phu, mỗi nét cọ là một quyết định, mỗi màu sắc là một cuộc đấu tranh với chính mình. Bạn mang nó ra phố chợ. Người đầu tiên đến là chị hàng xóm. Chị ấy nghiêng đầu, nhíu mày: “Màu hơi đậm nhỉ?” Người thứ hai là anh bạn thân. Anh ta vỗ vai bạn: “Hay a! Nhưng sao không vẽ phong cảnh như bức trước? Bức đó dễ nhìn hơn.” Người thứ ba là người lạ mặt. Họ lướt qua, dừng lại ba giây, chụp ảnh, rồi hỏi: “Bán bao nhiêu? À, đắt vậy? Thôi để tôi nghĩ lại.” Người thứ tư không nói gì. Họ chỉ đứng xa, khẽ cười – một nụ cười mà bạn không biết là chê hay khen, nhưng nó theo bạn về nhà.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 6)

 Nguyễn Phương Mai

QUÊ HƯƠNG – DANH TÍNH ĐỊA PHƯƠNG VÀ CỘNG ĐỒNG TỰ QUẢN

Trong những kỳ trước, loạt bài viết về cuộc chiến ở Ukraine đã khái quát những thách thức mà đất nước này đang phải đối mặt: Hiện thực hủy diệt của bom đạn (bài 1), những đứt gãy tâm lý (bài 2), khả năng phục hồi (bài 3), bài toán nhân lực (bài 4) và thực lực trên chiến trường (bài 5).

Thơ haiku của Uejima Onitsura

 Bạt Xứ dịch

 

Uejima Onitsura (1661−1738) là một nhà thơ haiku người Nhật Bản thời Edo. Ông chủ trương sự giản dị, mộc mạc và sử dụng lối diễn đạt thông tục trong thơ haiku. Trong một bài tiểu luận, ông viết, ”Cách làm thơ haiku có vẻ nông cạn nhưng lại sâu sắc; nó có vẻ dễ dàng nhưng lại khó truyền tải. Người mới bắt đầu đi từ nông cạn đến sâu thẳm; nhưng không phải tôi đã từng nghe nói rằng khi “đến đích”, anh ta lại trở về nông cạn?”

Những bài thơ dưới đây do Bạt Xứ dịch từ bản tiếng Anh của William Scott Wilson.

                                                                                                                       - Bạt Xứ