Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Từ Washington DC nhỏ nghĩ về Hà Nội “to”

Giang Công Thế

Hà Nội chúng ta từng có hình vuông. Washington DC cũng có hình vuông. Hai thủ đô cách nhau nửa vòng trái đất, từng là “thù địch”, nay đã thành đối tác.

Chỉ có kiến trúc là vẫn còn một cuộc chiến khá âm thầm, một bên cố giữ cái cũ để làm nên bản sắc, một bên hình như càng nhìn thấy cái cũ càng muốn “hạ giải”.

Từ Washington DC, một anh chàng IT nghĩ về Hà Nội.

Cái đêm hôm ấy… đêm gì?

 Tino Cao

Gần nửa thế kỉ sau Tắt đèn, văn học Việt Nam lại chứng kiến một người mẹ già quỳ lạy những người đến lấy thóc, những đứa trẻ khóc vì đói và sợ hãi, một gia đình phải nộp cả số lúa dành cho đám tang của người sắp chết. Ngô Tất Tố viết về nông thôn Bắc Kỳ thời Tonkin dưới chế độ thuộc địa vào cuối thập niên 1930. Phùng Gia Lộc viết từ chính tai họa giáng xuống gia đình mình ở Thanh Hóa năm 1983, sau cách mạng, sau cải cách ruộng đất và sau nhiều thập niên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khoảng cách gần năm mươi năm ấy khiến Cái đêm hôm ấy… đêm gì? trở thành một trong những chứng từ văn học - báo chí dữ dội nhất về nông thôn Việt Nam trước Đổi Mới. Một chế độ từng xác lập tính chính danh bằng lời hứa giải phóng những người nghèo khổ, đặc biệt là nông dân, rốt cuộc đã có lúc dựng nên một cơ chế cưỡng thu có thể đưa công an, dân quân và cán bộ địa phương vào tận nhà người dân giữa đêm khuya để vét thóc và tịch thu tài sản. Những hình ảnh từng làm nên bản cáo trạng của văn học hiện thực thời thuộc địa đã trở lại trong một xã hội tuyên bố rằng cuộc cách mạng đã chấm dứt thời đại của chúng. Bi kịch lịch sử là chỗ ấy.

Cơn sốt The Odyssey ở Hàn Quốc

 Lê Hồng Lâm

Dân Hàn chắc cuồng The Odyssey vào hạng nhất thế giới. Quốc gia có 50 triệu dân mà có gần 11 triệu khán giả (tính đến hôm qua) vào rạp xem phim này. Phim còn xếp loại R nữa, tức tính trung bình, khoảng ba người Hàn trưởng thành thì có một người vào rạp xem The Odyssey. Doanh thu phim này ở thị trường Hàn xấp xỉ 90 triệu USD và có thể tiến tới con số 100 triệu USD khi về đích.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Hợp tác Lancang-Mekong: Từ quan hệ bất đối xứng đến đối tác công bằng và trách nhiệm

 Những điều Cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong cầntrong thập kỷ thứ hai

Phạm Phan Long
19 tháng 9 năm 2026

 

Thành tích tăng trưởng của LMC trong thập niên đầu

Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 – tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.

Ngựa trên đất Việt – từ con vật ngoại nhập đến người bạn của miền sơn cước

 V. N.

 

 

Trong lịch sử văn minh Việt Nam, có một nghịch lý khá thú vị: ngựa hiện diện rất đậm trong văn chương, truyền thuyết, nghệ thuật và lịch sử quân sự, nhưng lại chưa bao giờ thực sự là con vật chủ lực của nền kinh tế Việt Nam.

Người Việt có thể nói đến “tuấn mã”, “chiến mã”, “mã đáo thành công”, có Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, có Nguyễn Huệ dùng kỵ binh, có những đoàn quân cưỡi ngựa trong sử sách; nhưng trong đời sống nông nghiệp, hình ảnh căn bản vẫn là con trâu đi trước cái cày, chứ không phải con ngựa.

Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ chính địa lý và phương thức sinh tồn của cư dân Việt.

Tiểu thuyết của các nước đồng văn thời phong kiến

 Trần Quốc Anh

Lục Vân Tiên truyện, bản Duy Minh Thị, năm Giáp Tuất 1874


Nếu đem văn học tự sự của bốn nước Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam – những quốc gia từng nằm trong không gian văn hóa Hán quyển – ra so sánh, ta sẽ thấy một điều khá thú vị: cùng sử dụng chữ Hán trong nhiều thế kỷ, nhưng mỗi nước lại phát triển thể loại tiểu thuyết theo một con đường rất khác nhau.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Câu chuyện thị trường nghệ thuật: "con nhà giàu" cũng không thể hiểu nổi...

 Nguyên Hưng

Trên thị trường thời trang cao cấp, người ta không tìm kiếm cái “đẹp”, mà tìm kiếm cái “độc”. Họ không cạnh tranh bằng giá rẻ, mà cạnh tranh bằng giá cao. Những người mang tư duy bình dân bước vào thế giới này hầu như không hiểu được điều đó. Thị trường nghệ thuật cũng vận hành đúng theo quy luật tương tự.

Trí tuệ Phật giáo trước thách thức của trí tuệ nhân tạo

 Trần Kiêm Đoàn

Trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, 2026, chúng tôi – một nhóm Phật tử cao niên U70, U80 và U90 từ nhiều vùng miền Hải ngoại và Việt Nam – có dịp thăm viếng, gặp gỡ và chia sẻ với chư tôn đức, quý đạo hữu và thế hệ Phật tử tuổi trẻ mang tính kế thừa về những vấn đề Phật sự; đặc biệt là những thách thức trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình tu học và hoằng pháp. Vô hình chung, vấn đề nổi cộm và tiêu biểu nhất là sự hiện hữu với những tác dụng và thách thức chưa từng có tiền lệ về Trí Tuệ Nhân Tạo (AI).

Tháng Chín

 Nguyễn Đức Tùng

Tháng Chín, rừng đã cháy.

Thế giới trở nên im lặng.

Im lặng là điều tôi nhận ra trước hết khi đi qua vùng rừng núi vừa bị lửa tiêu hủy. Không có tiếng chó sủa, không nhìn thấy những con chồn chạy băng qua đường khi bạn lái xe trên xa lộ lên phía Bắc. Không tiếng chim hót. Bây giờ là mùa thu, những đàn ngỗng trời Canada sẽ bắt đầu bay về phương Nam, tiếng của chúng kêu vang mặt nước. Mới đây thôi, năm ngoái, năm kia, bây giờ tôi không nhìn thấy chúng. Không nhìn thấy nai và hươu, mèo rừng và gấu, không nhìn thấy sự sống ở đâu cả. Sau những cuộc cháy rừng lớn, tôi thường lái xe dọc bờ biển phía Đông của Mỹ và Canada, thăm rừng đã cháy, nghĩ về chúng, về ký ức của những vòng cung tươi đẹp.

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Nhân Đất trắng tái bản, nhớ và ghi lại vài điều về cha tôi, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh

Giáng Vân

Gửi sách của ông già đi cho một số bạn bè, chợt khựng lại. Có lẽ có nhiều điều cần nhìn lại, những điều tôi từng băn khoăn nhưng rồi cuộc sống trôi đi, cộng với quan niệm, mọi thứ không có gì quan trọng, nên đã bỏ qua.

Hữu Loan – Người thơ bận việc làm người

 Nguyễn Duy

 

Nhớ, năm 1988, sau khi được "phục hồi" quyền được viết cùng với tư cách tư cách hội viên (sáng lập) Hội Nhà văn Việt Nam, "thi sỹ xe thồ" này đã làm cuộc "Nam tiến" bằng xe lửa và xe đạp vào Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Ông đến thăm tôi và sau đó tôi đã mấy lần về quê thăm ông, tại xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn. tỉnh Thanh Hóa. Nay tôi rất vui nhận được tin Thanh Hóa vừa đặt tên đường phố HỮU LOAN. Xin chúc mừng tỉnh nhà và gia đình thi sỹ. Nhân sự kiện văn hóa này tôi post lại bài viết về lần đầu gặp gỡ giữa hai người thơ Thanh Hóa tại Sài Gòn, tháng Tám năm 1988. (Bài viết vào dịp tang lễ cụ Tú Loan, 2010, đã được đăng trên vài tờ báo hồi đó và in trong GHI & NHỚ – tuyển tập bút ký của Nguyễn Duy (nxb Hội Nhà văn).

Khi diễn ngôn thay thế cho cái nhìn – Chút lời chia sẻ về hiện tượng "diễn ngôn giả"

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

 

"Đứng trước tác phẩm, người xem như bước vào một vùng sâu của tâm thức, nơi những bất an, cô độc và khát vọng được hiện hữu cùng tồn tại trong một trạng thái vừa dữ dội vừa mong manh. Đó là tiếng vọng từ sâu thẳm bản thể, một cuộc đối thoại lặng lẽ giữa ánh sáng và bóng tối, giữa hữu hạn và vô cùng để rồi khép lại bằng một sự thanh tẩy tâm hồn."

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Đừng bắt người nghèo phải trở thành anh hùng mới được đi học

Tino Cao

Mỗi mùa tuyển sinh đại học, báo chí trong nước lại mang đến những câu chuyện khiến người đọc xúc động, trong đó có tôi. Một học sinh lớn lên trong gia đình nghèo, cha mẹ đau yếu hoặc mất sớm, ngày đi học, tối làm thêm, có em vừa học vừa chăm người thân, thiếu thốn từ chiếc máy tính đến tiền học thêm, cuối cùng vẫn đạt điểm rất cao và trúng tuyển vào một trường đại học danh tiếng. Sự cảm phục dành cho các em là hoàn toàn xứng đáng. Trong một hoàn cảnh mà việc học mỗi ngày đã đòi hỏi nhiều sức lực hơn người khác, các em vẫn giữ được ý chí, khả năng học tập và niềm tin vào con đường phía trước, thì nghị lực ấy là hết sức đáng trân trọng, cũng như mọi sự giúp đỡ của cộng đồng dành cho các em là điều đáng quý. Nhưng sau những lời khen, những bó hoa, học bổng và bài báo kể lại hành trình vượt khó, còn một câu hỏi khác cũng nên được đặt ra. Tại sao một học sinh nghèo khó lại thường phải chứng minh một nghị lực gần như phi thường mới có thể tiếp tục đi học? Và nếu xã hội cứ lấy những trường hợp thành công ấy làm bằng chứng rằng khó khăn nào cũng có thể vượt qua bằng ý chí, chúng ta liệu có thể đang lẫn lộn giữa phẩm chất của một con người với trách nhiệm của một hệ thống giáo dục?

Làm sao để AI phục vụ con người trong một tương lai không biết trước

 Phạm Phan Long

*Tháng 9, 2026*

Lời giới thiệu

Chúng ta đang bị nhấn chìm dưới dòng thác thông tin về hiểm họa của AI đối với nhân loại – phần lớn đầy thuật ngữ chuyên môn mà người ngoài ngành khó lòng hiểu nổi. Tôi từng hoang mang, tự hỏi liệu mình có đang bị bỏ lại phía sau một thế giới mà AI đang dần chiếm lĩnh. Để hiểu rõ, tôi đã đọc các nguồn tin ấy và từng bước đặt câu hỏi với Claude, một dịch vụ AI, yêu cầu giải thích đi giải thích lại cho tới khi người ngoài như tôi có thể nắm được vấn đề. Quá trình này khá vất vả, vì phải phá vòng an toàn bước vào vùng đất lạ, nên tôi ghi lại hành trình để chia sẻ cùng các bạn.

Thị trường nghệ thuật không vận hành như một “chợ cá”

 Nguyên Hưng

Với những món hàng thông thường như rau củ hay quần áo, sự lẫn lộn giữa hàng tốt và hàng xấu cùng với cạnh tranh về số lượng sẽ giúp người mua dần dần định ra được giá cả dựa trên giá trị sử dụng thực tế. Nhưng tác phẩm nghệ thuật là HÀNG HOÁ TÂM LÝ VÀ VĂN HOÁ. Giá trị của nó được quyết định bởi sự khan hiếm, tính nguyên bản và sự công nhận từ những định chế có uy tín như bảo tàng, người giám tuyển và nhà phê bình.

Thử nghĩ về câu hỏi của Võ Tấn Cường: “Bùi Chát đã đem đến cho hội họa đương đại Việt Nam điều gì?”

 Hoàng Lun

Sau bài viết của Ngô Lực1 về Mở xưởng Họa hoằn Họa xá, Võ Tấn Cường có một comment2 khá là đáng chú ý. Anh cho rằng cách nhìn về cơ chế, phương thức và tâm lý sáng tạo của Bùi Chát là hay, mới, nhưng “ở góc độ người thưởng ngoạn hội họa bình thường” thì lại cần hơn những bài viết khám phá về phong cách hội họa, về cái mới, cái lạ mà Bùi Chát đem đến cho thế giới hội họa qua các tác phẩm. Người thưởng ngoạn, theo anh, “không quan tâm đến thế giới tù mù của cơ chế sáng tạo và quan niệm nghệ thuật này nọ”. Và cuối cùng, anh chốt lại bằng một câu hỏi: “Bùi Chát đã đem đến cho hội họa đương đại Việt Nam điều gì?”.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

Ba tuần sau thảm họa Nepal–Tibet

Khi khoa học lần bước theo một chuỗi thảm họa từ băng đá trên nóc nhà thế giới

Ngô Thế Vinh

 

Lời Giới thiệu: “Ba tuần sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26 tháng 8 năm 2026, bài viết này điểm lại những gì khoa học đã làm rõ và những câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ về chuỗi tai biến khởi đầu từ sườn bắc Langtang Lirung. Đây không phải tường thuật cứu nạn, mà là một tổng thuật khoa học–môi sinh với ba nhận định chính.Thứ nhất, đây không phải một trận Lũ do Hồ Băng Vỡ / GLOF điển hình, mà là chuỗi liên hoàn: sườn đá–băng sụp đổ => thác lở đá–băng => dòng bùn đá => lũ đậm đặc trầm tích.Thứ hai, khí hậu nóng lên, băng hà thoái lui và permafrost suy thoái tạo bối cảnh bất ổn lâu dài; nhưng những nghiên cứu mới cũng chỉ tới yếu tố cấu trúc địa chất và sự suy yếu của khối đá. Nguyên nhân trực tiếp của vụ sụp đổ vẫn chưa được xác định dứt khoát. Thứ ba, điều con người còn có thể chủ động là cảnh báo sớm và hợp tác xuyên biên giới, bởi nước lũ không cần sổ thông hành. Từ tín hiệu địa chấn lúc 08:37 giờ Nepal đến “ký ức địa hình” / landscape memory của trận GLOF năm 2025, bài viết của BS Ngô Thế Vinh cho thấy tai biến Himalaya không dừng lại trên Nóc Nhà Thế giới. Tính tương thuộc ấy cũng gợi một cái nhìn xuống Mekong và Đồng bằng sông Cửu Long.

KS PHẠM PHAN LONG
Chair, Viet Ecology Foundation

Cuộc đời vô nghĩa?

 Lê Nguyên Phương

Cách đây vài tối, trong buổi AMA (Ask Me Anything) của chương trình Psychology for Transformation (PTC), một học viên đang theo học mô-đun Chuyển hóa Hiện sinh–Tâm linh đã chia sẻ sự bối rối của mình trước khái niệm “vô nghĩa” trong triết học hiện sinh. Theo em ấy, em có thể hiểu được ba khái niệm hay ba mối quan tâm còn lại nhưng đến “vô nghĩa” thì chịu “bất khả tư nghì”. Có lẽ vốn xuất thân từ một nền văn hóa và giáo dục nơi tập hợp những ý nghĩa hiếu để, trung quân ái quốc, chẳng hạn là nền tảng cho sự tồn tại, chúng ta cũng khá bối rối khi tiếp cận khái niệm này. Sự bối rối ấy hoàn toàn dễ hiểu, bởi khi nghe rằng đời sống không có sẵn một ý nghĩa khách quan hay tối hậu, chúng ta rất dễ diễn giải điều đó thành một kết luận bi quan: cuộc đời này chẳng có giá trị gì, mọi nỗ lực đều vô ích, và con người không còn lý do để sống hay hành động. Nhưng có phải các nhà hiện sinh thực sự muốn nói như vậy? Hay “sự vô nghĩa” không nhất thiết là điểm kết thúc của hy vọng và chỉ dẫn đến tuyệt vọng mà có thể chính là điểm khởi đầu cho tự do, trách nhiệm và khả năng kiến tạo một đời sống đích thực?

Đất nước tràng hạt (kỳ 5 - hết)

  Trường ca du ký

Đỗ Quyên

Chương 6

Trường Ca Trường Chinh

 

   

Bất độc (đáo) bất trường ca[1]                                                                                        (mà cái trường ca tạng này dễ bị gọi là chán chường ca)                                                                                                                                                                     

Bất đáo trường ca phi hảo hán[2]                                                                        

(mà cái trường ca dạng này thường bị coi là chướng ca) 

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

Đoàn Huy Giao: Người đi tìm những miền ký ức

 Lê Thọ Bình

Đoàn Huy Giao. Ảnh: Dương Minh Long

Đoàn Huy Giao người “lật đá vá trời”

Từ một chàng trai xứ Quảng làm báo phản chiến, Đoàn Huy Giao bước vào truyền hình, rong ruổi qua những cánh rừng Tây Nguyên, dựng Bảo tàng Đồng Đình và cuối cùng tìm thấy sự “cứu rỗi” trong trường ca. Một đời đi qua nhiều biến động, nhưng những miền ký ức về đất, người và nghệ thuật vẫn âm thầm kết tinh trong ông.

Tưởng niệm "Tảng Đá" Hữu Loan

Thi sĩ Hữu Loan là tác giả của bài thơ MÀU TÍM HOA SIM viết năm 1949 xuất phát từ nỗi đau đớn tột cùng khi người vợ đầu tiên là Lê Đỗ Thị Ninh đột ngột qua đời vì chết đuối lúc mới 16 tuổi. Bài thơ của người chiến binh kháng Pháp được nâng lên qua những giai điệu tuyệt vời do các nhạc sĩ Phạm Duy, Anh Bằng, Dzũng Chinh phổ nhạc. Có thể nói là mọi thế hệ trước 75 của miền Nam hầu như đều thuộc lòng hoặc nhớ một số ca từ xúc động từ những bài nhạc phổ thơ kỳ ảo này.

Bữa cơm chiều

 Trần Mộng Tú

Trước năm 2000 (trước khi có dịch COVID) chúng tôi, những di dân Việt, tụ họp bạn hữu cung cấp những bữa ăn cho người vô gia cư ở Bellevue, thành phố tôi cư ngụ (Bắc Seattle) rất thường xuyên. Lúc đó các bạn ở tuổi trên dưới 60, nhưng ai ai cũng còn sức khỏe và nhiều nhiệt huyết. Vợ chồng tôi kêu gọi các bạn cùng nhau nấu ăn cho những người vô gia cư.

Mãi nợ một lời tạm biệt – Trở về với một tuổi thơ đã mất

 Lê Hồng Lâm

Xem xong bộ phim Mãi nợ một lời tạm biệt (nhan đề tiếng Anh là Chrysalis – Chiếc kén), dù có một vài điểm chưa thoả mãn, tôi phải thừa nhận rằng đây là một bộ phim nặng tình, đặc biệt là những tình cảm chưa được nói ra có thể khiến người ta ân hận suốt cả cuộc đời còn lại.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

Sự nguy hiểm của trí tuệ nhân tạo AI càng nguy hiểm hơn với người Việt…

 Nguyên Hưng

Sự đồng nhất hoá đang phát triển trong cảm nhận về cái đẹp và cách nghĩ ở Việt Nam ngày nay không phải bắt đầu từ trí tuệ nhân tạo. Đó là chuyện đã diễn ra âm thầm lâu lắm rồi, và không chừng nằm ngay trong “bản tính người Việt”.

Trái tim quả lắc

 Nguyễn Hồng Lam

Nghệ sĩ Ưu tú Hồ Kiểng có một gia tài nghệ thuật rất đồ sộ. Cả đời, như tự tổng kết, ông có vai trong 203 bộ phim, lồng tiếng thú (chó, mèo, cọp, gà…) cho 16 vở múa rối, vẽ 4 bộ phim hoạt hình, có mặt trong 304 vở kịch Chuyện trong nhà ngoài phố, 50 vở chính kịch, 12 vở tuồng cải lương. Ông Mạc Can suốt sự nghiệp còn có 1 lần được đóng vai chính (Trưởng thôn trong phim Cải ơi!), còn Hồ Kiểng thì cả đời chỉ nhận vai phụ. Chưa hết, ông còn sáng tác được 664 bài thơ, đạt giải cấp phường cấp quận 19 lần, viết được 241 bài vọng cổ, tiểu phẩm, tấu hài...

Tuyên ngôn thi

 Bùi Chí Vinh

 

Bằng sáng tác của mình

Tôi đánh tan những điều nghi hoặc

Tôi trồng cỏ khắp nơi trên mặt đất

Chuẩn bị cho cổ tích loài bò

Tôi nắm tay Whitman, tôi quàng cổ Rousseau

Đem cỏ bao vây triều đình và nhà ngục

Đem cỏ tấn công bọn vua quan phàm tục

Làm rêu mọc đầy râu, làm hoang phế mọi lâu đài

Tôi sẽ dùng cỏ trong thơ đeo lủng lẳng ở vành tai

Thay các trang sức, các huân chương hèn mọn

Tôi sẽ tròng vào khuôn mặt háo danh một sợi dây thòng lọng

Được tết bằng cỏ mọc ở nơi mất vệ sinh nhất trên đời

Còn loài cỏ đẹp mà tôi hằng chúc tụng

Chính là vòng nguyệt quế dân tôi

Thơ Trần Ngọc Cư

 Thơ người cao tuổi

KHÚC TẤU HÀI CỦA MỘT LÃO DỞ HƠI

 

Tai lão thường nghe ve kêu và chim hót

Tiếng bào chao trong lũy tre làng

Gợi hoài niệm thời niên thiếu xa xăm.

Khi không mang trợ thính,

Người 81 tuổi tưởng chừng như con mình nạt nộ

Cô tính tiền quá chừng thô lỗ

(Sao có quá nhiều người bắt nạt trên đời!)

Đất nước tràng hạt (kỳ 4)

                                                                                                                         Trường ca du ký

Đỗ Quyên

Chương 5

 Hình đất nước như trái tim Nam tiến

 

 

Hình đất nước như trái tim ta đó!

Hình đất nước như trái tim Nam tiến[1]!

 

Trái tim Việt Nam bao nhiêu tượng hình

Đất nước có bấy nhiêu cách xuống phương Nam

Chuyện ở trong Xứ động vật

 Lý Đợi

 

… “Ma túy có thể từ bỏ. Ung thư là kết thúc. Hiện tại đã ung từ não tư tưởng. Ung trong máu lưu thông. Bạch cầu nhiều hơn Hồng cầu. Chính Máu giết Máu. Cái phải thực sự Đỏ bây giờ nó trắng nõn. Lợn cợn màu Bạch vệ. Cả hệ thống, tim gan phèo phổi ruột non ruột già nát nẩm. Cái này làm thối, chơi bẩn cái kia. Hết thuốc chữa cái tiền đồ này rồi”.

 (trích truyện “Một phần khí hậu” -  Cung Tích Biền)

Phân thân và Đối thoại trong Bài thơ Không của hoàng hôn của Đoàn Huy Giao

 Nguyễn Minh Hùng

1.

Đề từ “tôi nhìn bầu trời xanh và công việc rộn rịp trên đồng ruộng, tôi đoán biết tai ương của anh trong các thành phố” – câu thơ này của Arthur Rimbaud[1] – chính là nguyên nhân cho nhan đề Bài thơ Không của hoàng hôn của Đoàn Huy Giao. Dòng thơ đó Rimbaud tạo nên một thế đối lập rất rõ: bầu trời xanh - tai ương; đồng ruộng - thành phố; tôi nhìn (trực diện) - sự linh cảm (suy đoán). Tai ương không đang nổi dông bão trên đồng ruộng mà đang ở cuộc sống phố phường. Đề từ có điểm nhìn rất xa, còn nhan đề kéo người đọc về đúng thời điểm xảy ra biến cố; đề từ mở ra không gian, nhan đề xác lập thời gian. Đề từ đã dự báo về một thế giới đang rạn nứt nhằm “ủng hộ” cho phủ định quy thuộc: Bài thơ Không của hoàng hôn. Chưa vào dòng đầu, nó đã hé lộ mối liên hệ nghịch hướng của vũ trụ và nhân sinh; hoàng hôn trở thành một trạng thái tinh thần làm nên cảm hứng thoát khỏi bóng tà huy êm đềm tồn tại cả ngàn năm trong thi ca trung đại, tạo nên trường dự cảm bao trùm toàn bộ tác phẩm. Mượn thơ Rimbaud làm đề từ là đồng thanh tương ứng: tai ương của anh chứ không phải tai ương trong các thành phố! Từ đó, chủ thể anh và nhân vật trữ tình em sẽ tạo nên mối liên hệ khá đặc biệt với cấu tứ của bài thơ dài 347 dòng này.

Đánh mất tuổi thơ ngây

 Lê Nguyên Phương

Qua những câu chuyện kể về đời mình của 106 bạn gởi về để được phân tích theo phương pháp Tự sự Căn tính [Narrative Identity], một chủ đề vốn ám ảnh tôi từ thuở thiếu niên lại hiển hiện qua từng câu chuyện của các bạn. Sáng nay thức dậy bỗng nhiên xót xa nhớ lại những câu thơ đã ám ảnh một thời.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Tưởng niệm Cung Tích Biền

 Nguyễn Đức Tùng

Khi tôi đọc truyện Bạch Hóa của Cung Tích Biền lần đầu tiên, miền Nam vừa sụp đổ. Đó là mùa hè năm 1975. Tôi mua được cuốn Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta, do Nguyễn Đông Ngạc biên tập, xuất bản năm 1974, trong chợ Cồn, một chợ trời nổi tiếng ở Đà Nẵng thời ấy. Trong tập có Cung Tích Biền bên cạnh bốn mươi bốn nhà văn khác của miền Nam, bắt đầu với Bình Nguyên Lộc và kết thúc với Vũ Khắc Khoan. Truyện do các tác giả tự chọn.

Vài điểm cần minh xác về mối quan hệ giữa Tả quân Lê Văn Duyệt và vua Minh Mạng

 Lê Nguyễn

Tả quân Lê Văn Duyệt (1764-1832)

Từ những thập niên qua, để giải thích về bản án gồm bảy án trảm (chém đầu) và hai án giảo (treo cổ) mà vua Minh Mạng đã tuyên cho cố Tả quân Lê Văn Duyệt vào năm 1835, nhiều cây bút đã viện dẫn điều mà họ gọi là sự bất đồng ngấm ngầm và trầm trọng giữa nhà vua và vị Tả quân khi còn sống. Và để sự giải thích này dễ được đồng tình, chấp nhận, người ta đã vô tình hay hữu ý làm sai lệch nhiều sự thật lịch sử để gò ép chúng theo hướng định sẵn, khiến cho người đọc dễ ngộ nhận về nhiều sự kiện đã được chính sử ghi rõ trên giấy trắng mực đen.

Xã hội cần trả ơn cô giáo

 Lê Học Lãnh Vân

Bài viết này thao thức hoài trước sự việc vừa mới xảy ra. Trong dịp lễ khai trường, thấy bé trai hai tuổi đang băng qua đường khi chiếc xe tải lao tới, cô giáo trẻ đã lao ra trước đầu xe ôm em bé. Em bé được cứu còn cô bị xe tải cán qua hai chân! Đưa tới bệnh viện, cô bị cắt cụt một chân, chân còn giữ được cũng bị thương rất nặng! Một người mẹ ba mươi hai tuổi với hai con nhỏ!

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Từ năng lực đọc hiểu đến những khẩu hiệu quốc gia

 Thái Hạo

1.

Trong hình là kết quả từ chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) chu kỳ 2025 do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) công bố vào tháng 9/2026.

Theo đó, Việt Nam chỉ có 41% học sinh đạt chuẩn cơ bản (đồng nghĩa với 59% chưa đạt), thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình (69%) của OECD. Điểm số trung bình môn này của Việt Nam là 392 điểm.

Kết quả Đọc hiểu này là giảm mạnh (từ 462 xuống 392) so với kỳ PISA 2022. Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh đạt mức xuất sắc (Mức 5, 6) ở môn Đọc hiểu của Việt Nam là 0%.

Cung Tích Biền và phần tật nguyền của lịch sử

 Tino Cao

Chưa đầy ba tuần trước tôi còn gặp Cung Tích Biền. Bây giờ ông đã đi. Quãng nối thời gian giữa một người còn hiện diện trong một buổi chiều cuối mùa hạ ở quận Cam và một người giờ đây chỉ còn có thể gặp lại trong kí ức, chao ôi, sao lại ngắn đến vậy. Tin ông mất khiến tôi bàng hoàng, trí nhớ trở lại với những trang văn của ông tôi từng đọc, mà tôi phải thành thật nói rằng vốn đọc Cung Tích Biền của mình còn rất mỏng. Ngoài Bạch Hóa Thừa Dư, tôi chưa có dịp đọc thêm ông để đi sâu vào một văn nghiệp kéo hơn sáu mươi năm, bắt đầu từ văn học miền Nam trước 1975 và tiếp tục qua những biến động lớn của đời sống Việt Nam sau chiến tranh. Bởi vậy, với tôi lúc này, việc nhìn lại toàn bộ Cung Tích Biền qua toàn bộ tác phẩm của ông vẫn là điều bất khả.

Cung Tích Biền – một người anh, một người viết

V. N.

 

Nhà văn Cung Tích Biền  (1936-2026)

Có những người ta biết từ lâu mà vẫn tưởng như còn có thể gặp lại vào một sáng Chúa nhật nào đó. Vẫn là quán cà phê quen thuộc, vẫn những khuôn mặt quen thuộc, vẫn những câu chuyện văn chương không đầu không cuối. Người ấy có thể hôm nay vắng mặt vì bận việc, vì đau chân, vì đi chơi xa, hay chỉ vì ngại ra đường. Ta không nghĩ rằng đó là lần cuối cùng.

Nói thêm về Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp

 Lã Nguyên

 

Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử được Nhà xuất bản Giáo dục in lần đầu vào năm 2002. Sau đó, vào các năm 2005, 2007, 2012, 2018, chuyên luận liên tục được tái bản, lúc đầu ở Nhà xuất bản Giáo dục, về sau ở Nhà xuất bản Sư phạm. Vảo năm 2024, công trình vượt ra ngoài biên giới quốc gia, đến với độc giả quốc tế nhờ được dịch ra tiếng Pháp. Bản dịch tiếng Pháp (La Poétique du Kiều) do Trần Lê Bảo Chân thực hiện, Nhà xuất bản Kimé phát hành ở Paris trong khuôn khổ Dự án hợp tác Việt - Pháp giữa Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Sư phạm Cao cấp Paris mà Nhà xuất bản Đại học Sư phạm là đơn vị điều phối về phía Việt Nam. Nhân đây, tôi muốn nói thêm đôi điều về chuyên luận hi hữu này.