Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Trương Huy San – Có những điều một bản án không thể kể hết về một con người

 Nguyễn Quốc Chính

Tôi đã nghĩ khá lâu trước khi viết những dòng này về Trương Huy San - Osin Huy Đức. Không phải để biến anh thành một biểu tượng; càng không phải để yêu cầu bất kỳ ai phải nghĩ về anh giống như tôi. Tôi chỉ muốn viết về một con người mà tôi từng biết, về một người cầm bút có một hành trình đặc biệt, và về những nghĩa cử rất con người mà có lúc chính tôi đã được chứng kiến.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Lời chào tạm biệt và cảm tạ

 Diễn Đàn

Kính gửi quý bạn đọc và thân hữu,

Ngày 1.10.2026, tạp chí Diễn Đàn (tên đầy đủ là Diễn Đàn – Forum, để tránh trùng hợp với rất nhiều “Diễn Đàn” khác) vừa tròn 35 tuổi. 35 năm là một quãng đường khá dài đối với một tạp chí “nghiệp dư”, hiểu theo nghĩa kinh tế (không kinh doanh) của từ này. Trong số đặc biệt kỷ niệm 30 năm ra báo, anh Nguyễn Ngọc Giao, trong ban chủ biên Diễn Đàn, đã có bài Chuyện bây giờ mới kể: câu hỏi “đầu tiên”, nói khá rõ điều này. Ở đây, tôi chỉ xin nói thêm một khía cạnh: tất cả chúng tôi, trong ban biên tập và kỹ thuật Diễn Đàn, không ai được đào tạo trong nghề báo, và cũng không ai được nó nuôi sống dù sau nhiều năm làm việc cũng đã mầy mò học được một ít kỹ thuật của “nghề”, cả trong các khâu biên tập, kỹ thuật để thực hiện “báo giấy” hay “báo mạng”. Nghiệp dư còn có ý nghĩa đó.

Thế mà, đa đoan đeo đuổi cũng được 35 năm, nhiều bạn trong nhóm làm báo đã trên 80, trẻ hơn thì cũng đã “U80”, chẳng phải đã đến lúc buông ư?

Thú thực, người viết mấy dòng này, được anh em trao cho việc điều hành tờ báo trong công việc hàng ngày mấy chục năm nay, cũng đã nghĩ đến chữ “buông” đó vài năm trước đây, nhưng rồi hè 2021 khi đưa ra bàn thì lại dẫn tới quyết định “làm số đặc biệt 30 năm trước đã”! Không lẽ “làm reo”, đành tiếp tục. Vả chăng, 30 tuổi cũng là một dịp nhìn lại mình, hoài bão và thực tế. Bài học thì nhiều, kỉ niệm còn nhiều hơn. Số đặc biệt 30 tuổi tuy không tập trung vào những kỉ niệm ấy, đã nhận được bài viết của nhiều thân hữu, đầy tình cảm, ưu ái về tờ báo cũng như cho riêng những người làm báo, càng làm cho chữ “buông” nặng nề hơn, khó thực hiện hơn. Nhưng làm sao bây giờ? Trong bài viết của mình anh Lê Học Lãnh Vân đã nhắc lại lời cảm khái của triết gia Bùi Văn Nam Sơn, nói thay cho bao nhiêu người: “Vãng sự vân yên hốt quá! Chuyện cũ gợi bao nỗi cảm hoài, như khói như mây!” Thời gian thì vẫn trôi, chẳng ai níu lại được (*) dù có là thiên tài như thi sĩ Lamartine bên hồ Le Bourget.

Xin mời bạn đọc bấm vào đường dẫn trên để đọc toàn văn 50 bài thuộc nhiều thể loại, thơ văn hay nghị luận bàn về những vấn đề mà chúng ta đều quan tâm. Cũng xin mời bạn đọc đọc lại mấy lời phi lộ cho số kỷ niệm ấy, để cùng chúng tôi ôn lại quãng đường thực ra là quá ngắn cho cái ước vọng sớm thấy một Việt Nam dân chủ và phát triển, ước vọng mà chúng ta chia sẻ với mọi tầng lớp đồng bào hiện sống trong và ngoài nước.

Giấc mộng chưa thành, nhưng cái lẽ vô thường được nhiều triết gia từ Đông sang Tây, tự Cổ chí Kim dạy chúng ta, có thể nào một tờ tạp chí nhỏ như Diễn Đàn dám ôm tham vọng – gọi cho đúng là ảo vọng – tự cho sự có mặt của mình là thiết yếu, là “không thể thay thế”...

Vì thế mà có mấy dòng này để thông báo cùng quý bạn đọc và thân hữu quyết định nhất trí của nhóm làm báo Diễn Đàn: đóng cửa (** và ***) tờ báo. Xin được thấu hiểu và thông cảm.

Sau cùng nhưng không phải kém quan trọng nhất, 35 năm ấy Diễn Đàn đã không thể chào đời và sống được nếu không có sự hỗ trợ của bạn đọc và của đông đảo các tác giả “khắp năm châu”, như chúng tôi đã nhấn mạnh trong Lời bạt cho số Kỉ niệm 30 năm. Tạp chí đóng cửa nhưng anh em trong toà soạn và kỹ thuật của báo vẫn rất mong sẽ có thêm những cuộc gặp gỡ – trong hay ngoài nước – các thân hữu của mình.

Xin tạm biệt và trân trọng cảm tạ.

Thay mặt Diễn Đàn

Hà Dương Tường

(liên lạc: hdtuong@gmail.com)

Tái bút

(*) Người viết rất ngần ngại nhắc lại những tin buồn, nhưng từ hồi “kỉ niệm 30 năm” ấy tới nay, chỉ trong vòng 5 năm, Diễn Đàn đã phải chia tay thêm bao nhiêu bạn bè thân thiết. Chỉ kể sơ những người trực tiếp “dính” tới tờ báo: các chị Phạm Tư Thanh Thiện, Mai Ninh, các anh Ngô Vĩnh Long, Trần Hữu Dũng, Đặng Tiến, Phạm Văn Đỉnh, Cao Huy Thuần, Võ Quang Yến...

(**) Cụ thể, chúng tôi sẽ không tiếp tục nhận bài vở mới cho trang web diendan.org, tuy nhiên trang này sẽ tiếp tục mở trong ít nhất 5 năm nữa (tiền thuê “máy chủ” đã có đủ trong trương mục!), với toàn bộ các bài đã đăng được giữ nguyên để bạn đọc có thể tìm lại nếu cần, kể cả các bài trên báo giấy đã được số hoá và lưu trữ tại địa chỉ diendan.org/tai-lieu/bao-cu . Việc tìm các bài cũ cũng tương đối đơn giản, chỉ cần bạn gõ vào ô “Tìm kiếm” ở đầu trang báo, góc phải, từ khoá của bài, viết trong ngoặc kép. Từ khoá đó có thể là một hay nhiều phần của tên bài, hoặc một tên riêng nào đó – tất nhiên nếu bạn nhớ càng chính xác và đầy đủ thì kết quả càng cụ thể hơn. Ví dụ, nếu bạn gõ “Võ Văn Kiệt” và “Thư gửi Bộ Chính trị” thì sẽ có 5 kết quả, nhưng nếu bạn chỉ gõ “Võ Văn Kiệt” thì sẽ có tới 330 kết quả và sau đó phải lục trong số 330 bài đó đúng cái bài đang tìm! Bạn cũng có thể tham khảo toàn bộ tạp chí Thời đại mới và các cuộc Hội thảo mùa hè (1998-2019) mà Diễn Đàn đã lưu trữ tại các địa chỉ https://tapchithoidai.diendan.org/ và https://hoithao.diendan.org/.

(***) Một vài bài chúng tôi đã nhận được và đang biên tập trước khi viết bài chia tay này sẽ được đăng sau ngày 1/10. Mặt khác trong chừng mực có thể, chúng tôi sẽ cố gắng đưa lại một số bài đã đăng những năm trước, nhưng xét ra vẫn còn tính thời sự và giá trị nào đó. Ngoài ra, trang Facebook của báo (Diễn Đàn - Forum) vẫn được giữ lại để khi cần (có sự kiện quan trọng!) chúng tôi có thể gửi tới bạn đọc thông tin và/hoặc nhận định của mình.

Nguồn: https://www.diendan.org/loi-chao-tam-biet-va-cam-ta

Chia tay Diễn Đàn

Phan Thị Hà Dương

Hôm nay đọc tin biết báo Diễn đàn (báo giấy và online) chia tay độc giả. Thấy buồn quá. Báo Diễn Đàn (và trước đó là Đoàn Kết) đã mang đến cho mình những bài thơ Hoàng Cầm, Hữu Loan từ những ngày gần như không mấy thanh thiếu niên được biết đến những tên tuổi ấy. Và bao nhiêu năm qua, Diễn Đàn cũng là nơi mang nặng những bài viết trăn trở nghĩ suy về đất nước.

Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn

(Tranh minh họa sưu tầm)

Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc – người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong – tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử: “Ngày Kỷ dậu, mùng sáu, Giảo Kỳ xuất bọn Chương Hiến Hầu đánh phá quân của người em Thế tử [tức vua Trần Nhân Tôn] là Thái soái Trần Khải tại bến đò Phú Tân, chém ngàn người. Thanh Hóa và Nghệ An đều đầu hàng. Vua Trần sợ, khiến [sai] người trong họ là Trung Hiến hầu Trần Dương xin hòa. Lại sai kẻ cận thị là Đào Kiên đưa bà chúa em vua cho Trấn Nam vương xin hòa giải” (1).

Thơ Haiku của Nozawa Boncho

 Bạt Xứ chuyển ngữ

Nozawa Boncho (1640−1714) đang hành nghề y tại Kyoto thì gặp Basho và trở thành một trong những môn đệ tận tụy nhất của thi hào này. Năm 1690, ông cùng Kyorai, một môn đệ khác của Basho, biên soạn cuốn “Áo Tơi Của Khỉ”. Đây là tuyển tập thơ của các thi sĩ thuộc trường phái Basho trong đó Boncho đã đưa vào hơn bốn mươi bài thơ của chính mình. Không lâu sau đó, mối quan hệ giữa ông và Basho bị rạn nứt và ông chuyển đến sống tại Osaka.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Nguyễn Khắc Dương – Nguyện lót chân êm khách vỉa hè!

 (Kính tặng cô giáo thương yêu của con, cô Nguyễn Thị Dư Khánh)

Phạm Hiền Mây

I. AI CÓ CHỜ AI ĐẾN BẠC ĐẦU

Nguyễn Khắc Dương là một người, mà tiểu sử của ông không thể kể bằng vài dòng như ngày sinh, nơi sinh, học hàm, hay chức vụ được.

Với một đời người đã đi qua hơn một thế kỷ, cuộc đời Nguyễn Khắc Dương là một con đường dài của đi tìm, qua nhiều địa danh: Hương Sơn, Hà Tĩnh, rồi Huế, rồi miền Nam, rồi Paris và Đại học Sorbonne, rồi Đà Lạt; qua nhiều thế giới tinh thần: những môi trường tu trì, giáo dục và đại học; đến những năm cuối đời trong dáng dấp một “hành giả” lặng lẽ.

Ông là một trí thức xuất thân từ gia đình Nho học nhưng lại bước vào thế giới Kitô giáo; là một người học triết Tây phương nhưng tâm hồn vẫn nặng ký ức Đông phương. Hai bờ ấy không hòa tan vào nhau nhưng cũng không triệt tiêu nhau. Chúng cùng hiện diện trong một con người, như hai bờ của một dòng sông cùng ôm lấy một dòng nước.

Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24.09.1925, tại làng Thịnh Xá, nay thuộc xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình khoa bảng Nho học nổi tiếng. Cha ông là Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm. Anh trai là bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, và các anh chị em khác cũng là những người làm việc nổi tiếng trong các lãnh vực như văn hóa, khoa học, giáo dục: Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Thị Dư Khánh, Nguyễn Thị Thiếu Anh, Nguyễn Thị Phương Thảo. Sanh ra trong một gia đình mà cha là bậc đại khoa và từng giữ nhiều trọng trách trong triều Nguyễn như vậy, nên Nguyễn Khắc Dương, ngay từ nhỏ đã thấm nhuần tinh thần: coi trọng việc học, đạo đức và lễ nghĩa.

Ông học tại Huế, trường Thiên Hựu – Providence; đi qua những năm tháng biến động sau 1945; bước vào đời sống tu trì Phanxicô; sang Pháp tu học và tốt nghiệp Cử Nhân Triết Học tại Đại học Sorbonne.

Năm 1965, Nguyễn Khắc Dương trở về Việt Nam; từ năm 1966, ông lên Đà Lạt giảng dạy Triết học tại Viện Đại học Đà Lạt, sau đó đảm nhiệm chức vụ Phó Khoa Trưởng và Quyền Khoa Trưởng khoa Văn - Triết của Viện Đại học Đà Lạt. Nhìn từ bên ngoài, đó là một sự nghiệp học thuật đáng nể. Nhưng như ta đã chứng kiến, điều còn lại nơi ông, sau cùng, chẳng phải là chức danh.

Ông có bút hiệu là Thế Tâm. “Thế” là cõi đời, cõi thế. “Tâm” là tấm lòng. Hai chữ đặt cạnh nhau thành một lời tự nhận khiêm cung: tấm lòng ở giữa cõi đời.

Bốn bài thơ của Thầy Nguyễn Khắc Dương, mà tôi muốn giới thiệu đến bạn đọc hôm nay, gồm có bài Chiều Hương Giang, là những hoài niệm về quê hương, bạn bè, người xưa; bài Tương tư là nỗi niềm cô đơn, chia lìa, chờ đợi của lữ thứ; bài Uy Viễn tướng công vẽ chân dung của kẻ sĩ qua hình tượng Nguyễn Công Trứ, và cuối cùng, bài Sở nguyện, đi từ cái tôi của một lữ hành đến lòng thương người và lời nguyện dâng hiến.

Đặc biệt, trong bài thơ Tương tư, có một câu rất tình và rất thơ – ai có chờ ai đến bạc đầu. Chờ này, là chờ một người, hay chờ bạn cũ, hay chờ quê hương, hay chờ một cuộc trở về, hay tác giả chờ một câu trả lời cho ý nghĩa của đời người chăng?

Hay, cả cuộc đời của Nguyễn Khắc Dương là một cuộc chờ đợi khôn nguôi?

******

II. BÀI THƠ CHIỀU HƯƠNG GIANG

Bến đò Thừa Phủ không còn nữa

Nhớ những chiều xưa nhạt nắng vàng

Thương ai đứng đợi, người không tới

Ngang vai tóc chải suối thời gian

Bóng chiều xuống tơ trời vương ngọn cỏ

Đàn chim bay nghiêng cánh nắng chiều rơi

Bốn phương tản mát, hỡi những ai bè bạn

Còn nhớ chăng trời mây nước Hương Giang

Những buổi chiều bến nước của quê hương

Kẻ còn sống cũng như người đã khuất

Hãy về đây chớ ngại gì sớm muộn

Cùng nhau ta soi bóng nước Hương Giang.

Bài thơ mở đầu bằng một lời báo tang, địa danh đã hóa thành ký ức – Bến đò Thừa Phủ không còn nữa. Không chỉ mất một bến đò, mà cả một không gian văn hóa của Huế xưa cũng đã lùi vào quá khứ, với những chuyến đò, những người lái đò, những buổi chiều sông nước và bao kỷ niệm của những thế hệ từng đi qua nơi ấy.

Sang câu thứ hai – […]  những chiều xưa nhạt nắng vàng – nắng không còn rực rỡ nữa mà đã “nhạt”. Thời gian giờ đây được cảm nhận bằng thị giác, ánh sáng phai như ký ức phai. Cảnh vật hiện tại đã trở thành chiếc gương phản chiếu quá khứ để nhà thơ nhìn vào và thấy những buổi chiều xưa cũ.

Từ cảnh, tác giả tả sang người - Thương ai đứng đợi, người không tới. Nỗi nhớ quê chuyển thành nỗi nhớ một bóng người. “Đợi” và “không tới” đã dựng nên một khoảng cách, thứ khoảng cách mà dặm đường cũng không thể đo được. Vậy, người đã không tới ở đây là ai? Bạn, người thân, hay những người đã đi xa, mãi mãi? Ở đây, có nên chăng người đọc, cũng không cần tác giả phải giải thích cụ thể, rõ ràng. Mà theo tôi, chính sự bỏ ngỏ này, mới làm câu thơ có sức ngân, như tiếng chuông vọng lại từ một nơi mênh mang, xa vắng vậy.

Ngang vai tóc chải suối thời gian – là một hình ảnh rất thơ. Suối thời gian vừa là dòng thời gian, vừa gợi đến dòng Hương Giang, khiến con người và dòng sông như hòa nhập vào nhau làm một.

Sang khổ thơ thứ hai, thiên nhiên cũng mang tâm trạng như người – bóng chiều xuống tơ trời vương ngọn cỏ. Buổi chiều giờ đây đã thành một trạng thái tâm hồn. “Tơ trời”, “ngọn cỏ”, “cánh nắng” tạo nên một thế giới mong manh, nhẹ đến mức tượng chỉ cần một hơi thở là tan. Đó là thế giới của người biết rằng, tất cả đều sẽ rồi mất đi, và vì thế, họ sẽ nhìn mọi thứ bằng một sự trìu mến đặc biệt.

Rồi một tiếng gọi bỗng bật ra – Bốn phương tản mát, hỡi những ai bè bạn. Con người bị thời gian và cuộc đời phân tán khắp bốn phương, mỗi người mỗi ngã. Ngay tại câu thơ này đây, ta thật khó mà không nhớ đến hành trình của cuộc đời Nguyễn Khắc Dương: Hà Tĩnh, Huế, Paris rồi Đà Lạt. Và từ đó, tiếng gọi “hỡi những ai bè bạn” càng dễ gợi lên hình ảnh một con người từng đi qua nhiều miền đất và những người thân quen, nay đã tản mát về nhiều phương trời.

Hương Giang, trở thành nơi quy tụ – Còn nhớ chăng trời mây nước Hương Giang. Dòng sông trở thành ký ức chung, là nơi mà những người xa xôi vẫn có thể tìm về đặng mà gặp lại nhau. Mới hay, quê hương chính là nơi mà những con người vì hoàn cảnh mà phải phân tán, vẫn luôn chung lòng nhớ về.

Kẻ còn sống cũng như người đã khuất bỗng trở nên liền kề. Người đã khuất vẫn hiện diện trong ký ức người đang sống. Quê hương trở thành nơi gặp gỡ của người sống và người chết, một cuộc hội ngộ mà lịch sử không cho phép, nhưng trong cõi lòng nhớ nhung thì hoàn toàn có thể.

Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh Cùng nhau ta soi bóng nước Hương Giang. “Soi bóng” có phải chăng là tự soi mình trong thời gian? Hương Giang soi bóng con người nhưng đồng thời con người cũng soi lại chính cuộc đời mình. Nhìn xuống mặt nước, ta thấy mình, và thấy cả những người đã cùng mình nhìn xuống mặt nước ấy, hôm xưa.

******

III. BÀI THƠ TƯƠNG TƯ

Cảnh cũ còn đây khách vắng đâu

Mình ta vò võ suốt đêm thâu

Xuân Hương sóng gợn vang vang hận

Than Thở thông reo vợi vợi sầu

Khóm trúc gió lay gây nỗi nhớ

Chồi lan sương đẫm gợi niềm đau

Chương Đài lữ thứ chia đôi ngã

Ai có chờ ai đến bạc đầu.

Câu mở đầu của Tương Tư đã dựng nên một kết cấu đối lập quen thuộc trong thơ cổ từ ngàn xưa – Cảnh cũ còn đây khách vắng đâu. Cảnh còn nhưng người thì vắng. Vật còn mà người thì đã đổi. Núi sông vẫn đó mà người xưa không thấy. Cảnh vẫn đẹp, vẫn nguyên vẹn đã làm nổi bật khoảng trống mà người để lại.

Và rồi cái tôi cô độc xuất hiện một cách trực tiếp – Mình ta vò võ suốt đêm thâu. “Mình ta” là một thế giới chỉ còn một người, không có hai. “Đêm thâu” kéo dài cảm giác cô đơn và cảm giác này không có điểm cuối, không có điểm kết thúc. “Vò võ” là trạng thái của người thao thức, không ngủ được, không nói với ai được, chỉ có mình đối diện với mình thôi.

Không gian Đà Lạt hiện ra qua hai địa danh Xuân Hương và Than Thở – Xuân Hương sóng gợn vang vang hận / Than Thở thông reo vợi vợi sầu. Trong khung cảnh thiên nhiên ấy, sóng và thông đều được nhân cách hóa thành tiếng lòng. Thiên nhiên giờ đây là sự cộng hưởng của tâm trạng. Sóng gợn như nhịp thở của người tương tư, thông reo như tiếng thở dài không nói thành lời. Người thơ không nói thẳng nỗi buồn của mình mà đã để cảnh vật nói giúp, nói thay.

Khóm trúc gió lay gây nỗi nhớ / Chồi lan sương đẫm gợi niềm đau – hai hình ảnh tiêu biểu của mỹ học phương Đông. Trúc và lan mang nhiều lớp ý nghĩa: thanh cao, tiết tháo, u nhã, bền bỉ. Trong khung cảnh ấy, sương đẫm trên lan trở thành hình ảnh của nước mắt, của đau thương. Cái đẹp thanh nhã và cái đau âm thầm gặp nhau, làm nên một nỗi buồn lặng lẽ, có phẩm cách.

Điển cố Chương Đài được tác giả cho xuất hiện trong câu Chương Đài lữ thứ chia đôi ngã. Chương Đài vốn gắn với câu chuyện Hàn Hoành và Liễu Thị đời Đường, về sau trở thành một điển cố gợi cảnh chia lìa, nhớ thương giữa người đi và kẻ ở. “Lữ thứ” ở đây nhấn mạnh thân phận người đi xa, người sống ngoài nơi mình thuộc về. Bởi vậy, câu thơ không nhất thiết chỉ nói về tình yêu đôi lứa mà nỗi chia lìa ấy còn có thể mở rộng thành tình người, tình quê, tình bạn, và tình của người xa quê đối với nơi mình từng thuộc về. Tương tư, trong nghĩa rộng, là nỗi nhớ của mọi kẻ bị chia lìa khỏi điều mình thương.

Ai có chờ ai đến bạc đầu – câu hỏi không có lời đáp. “Bạc đầu” biến nỗi tương tư thành một cuộc chờ đợi kéo dài suốt đời. Người ta có thể tương tư một đêm, một mùa, nhưng chờ đến bạc đầu thì đã là chờ cả một đời người. Một đời người, cuối cùng, được nhìn như một cuộc chờ đợi, không rõ chờ ai, chờ điều gì, chỉ biết rằng họ vẫn đang chờ mà thôi.

Mang Chiều Hương Giang đặt kề bên Tương tư, không dưng, bỗng trở thành hai nửa của một nỗi nhớ: nửa ngoài, hướng về quê hương và bè bạn; nửa trong, hướng về nỗi cô độc của riêng mình.

******

IV. BÀI THƠ UY VIỄN TƯỚNG CÔNG

Phong vị hàn nho một chữ nghèo

Bước đường khoa hoạn mấy cheo leo

Kinh luân đầy túi mà dung dị

Trăng gió nghiêng bầu vẫn lược thao

Phú quý công danh xem tợ rác

Thị phi thăng giáng cợt như bèo

Tang bồng hồ thỉ vòng vay trả

Cao vút ngàn thông gió lộng reo.

Bài thơ Uy Viễn tướng công, bài thơ viết về ngài Nguyễn Công Trứ, là gương soi để tác giả Nguyễn Khắc Dương nhìn vào đó mà nhận ra rõ rệt hơn, trí thức là như thế nào.

Phong vị hàn nho một chữ nghèo - “hàn nho” là nhà Nho thanh bần, nghèo vật chất nhưng không vì thế mà nghèo khí tiết. “Nghèo” trong Uy Viễn Tướng Công này, không hề kèm theo nghĩa mặc cảm. “Nghèo” chính là một “phong vị”, một hương vị, gần như một vinh dự vậy. Nghèo vật chất nhưng lại giàu khí phách, đó là dáng dấp đầu tiên của kẻ sĩ.

Bước đường khoa hoạn mấy cheo leo – con đường công danh của kẻ sĩ vốn đầy thăng trầm, lúc lên lúc xuống, lúc nổi lúc chìm, cheo leo. “Cheo leo” là tính từ chỉ vị trí nằm ở nơi cao, dốc đứng, không có chỗ bấu víu hay điểm tựa vững chắc, tạo cảm giác nguy hiểm và dễ bị rơi, ngã.

Kinh luân đầy túi mà dung dị – kẻ sĩ là người có tài trị thế, học rộng, mưu lược, nhưng không phô trương. Tài năng và sự giản dị cùng tồn tại trong một con người. Đây là một phẩm chất khó hơn ta tưởng, vì thường người có tài thì hay muốn người ta thấy tài của mình.

Trăng gió nghiêng bầu vẫn lược thao – kẻ sĩ, phải cùng lúc làm chủ được cả hai phương diện, một bên là văn chương, phong nhã, là trăng gió và chén rượu; một bên là chí khí, hành động, là lược thao, tức tài cầm quân. Kẻ sĩ không chỉ là người biết đọc sách, biết thưởng trăng, uống rượu, mà họ còn là người biết lo việc nước, không quên bổn phận của mình.

Phú quý công danh xem tợ rác – quan niệm xem nhẹ danh lợi này, không hề phủ nhận công danh, vì chính Nguyễn Công Trứ đã theo đuổi khoa cử, để có thể làm quan và lập công. Nếu có phủ nhận, ấy là phủ nhận việc để công danh làm chủ đời mình. Người ta vẫn có thể có công danh mà vẫn không bị công danh sở hữu.

Thị phi thăng giáng cợt như bèo – đây là thái độ của kẻ sĩ trước dư luận và thăng trầm. Bèo lên xuống theo dòng nước, thế nên khen chê, thăng giáng cũng chỉ là chuyện bèo trôi mà thôi. Con người cần giữ lấy tâm, đừng để bị cuốn theo dòng đời, dù dòng đời ấy đẩy mình lên hay kéo mình xuống.

Tang bồng hồ thỉ vòng vay trả – ở đây, ta lại gặp một thành ngữ quen thuộc gắn với chí làm trai và hoài bão lập công danh. “Tang bồng hồ thỉ” vốn gợi đến cung tên, trong đó, cung làm bằng gỗ dâu, tên làm bằng cỏ bồng, về sau trở thành biểu tượng cho chí hướng và trách nhiệm của nam nhi. Trong thơ Nguyễn Công Trứ, chí ấy thường được nhìn như một món nợ phải mang và phải trả, một bổn phận đối với cuộc đời. “Vay trả” vì thế, không chỉ là chuyện công danh, mà còn là ý thức về trách nhiệm của một con người trước thời đại và cuộc sống.

Và bài thơ kết bằng một hình ảnh mang tính biểu tượng – Cao vút ngàn thông gió lộng reo. Cây thông cao, bền, đứng thẳng trước gió, là biểu tượng khí tiết của kẻ sĩ: gió vẫn lộng, thông vẫn reo, thông không hề ngã.

Vì sao tác giả Nguyễn Khắc Dương lại chọn viết về Uy Viễn tướng công? Phải chăng ông tìm thấy nơi Nguyễn Công Trứ một con người khiến ông phải kính trọng – có học, có tài, từng trải, không nô lệ cho danh lợi, giữ khí tiết, sống giữa đời nhưng không để đời làm mất mình? Một người viết chân dung người khác thường viết luôn một phần chân dung của chính mình. Ở đây, nét bút dành cho vị tướng công ấy cũng có thể là nét bút mà tác giả Nguyễn Khắc Dương dành cho lý tưởng của bản thân.

Thế nên, Uy Viễn tướng công có thể xem là một bài thơ về mẫu hình kẻ sĩ, là tấm gương tinh thần mà tác giả muốn noi theo. Nhưng đây mới là một nửa của câu chuyện. Nửa còn lại nằm ở bài thơ kế tiếp dưới đây, nơi kẻ sĩ đương đứng trên cao kia, quyết định bước xuống vỉa hè.

******

V. BÀI THƠ SỞ NGUYỆN

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè

Tấm thân đất chở với trời che

Cảm người bươn chải vòng cơm áo

Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe

Trần sắc mười phương đau đớn thấy

Thế âm bốn cõi xót xa nghe

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè – “hành giả” ở đây có thể hiểu là người đang trên một cuộc hành trình, nhưng không chỉ là cuộc lữ hành trong không gian mà còn là một hành trình tinh thần của con người. “Dừng chân tạm” hàm ý, cuộc đời không phải nơi cư trú vĩnh viễn mà chỉ là chốn nghỉ chân giữa đường. Và chốn dừng chân ấy chính là “vỉa hè”, vị trí thấp nhứt, bình dân nhứt, khiêm nhường nhứt, là nơi mà mọi người dù sang dù hèn, đều có thể lại qua. Đặt “hành giả” cạnh bên “vỉa hè”, nghĩa là nhà thơ đã tự sắp mình vào hàng của những người bình thường đang đi lại trên đường.

Tấm thân đất chở với trời che – câu thơ mang ý nghĩa, con người thực là nhỏ bé giữa trời đất, thiên địa, đồng thời có thể được đọc như một cảm thức Kitô giáo về thân phận thụ tạo và ý thức về sự hữu hạn của con người. Nhưng dù đọc theo hướng nào, thì cái nhìn của tác giả về con người ở đây vẫn là cái nhìn khiêm nhường: ta còn đứng được đến ngày hôm nay đây, là do được đất chở, được trời che.

Từ cái nhìn về mình, tác giả chuyển sang nhìn người – Cảm người bươn chải vòng cơm áo. Đây là cái nhìn của một trí thức không quay lưng với tầng lớp bình dân. “Cơm áo” này, đã kéo triết học từ giảng đường xuống đường phố. Người từng học ở Sorbonne, từng dạy triết ở đại học, nay lại chú ý đến chuyện bươn chải kiếm sống của những con người bình thường. Đó là một sự chuyển hướng không nhỏ: từ những vấn đề của tư tưởng sang những vấn đề của bữa cơm manh áo.

Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe – từ “cảm”, tác giả đi đến “thương”. Cảm là biết, là nhận ra. Thương là đi thêm một bước, là đồng cảm, là để nỗi đau của họ chạm vào mình. Nhà thơ không chỉ quan sát cuộc đời như một người đứng ngoài, mà ông bước vào để cùng đứng chung với nó.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy / Thế âm bốn cõi xót xa nghe – từ những con người cụ thể trước mắt, tác giả đã mở rộng cái nhìn ra toàn bộ cõi đời. Thị giác và thính giác, giờ đây, cùng làm việc: “đau đớn thấy”, “xót xa nghe”. Nhà thơ không chỉ thấy bằng mắt mà còn nghe bằng tâm. Mắt và tai ở đây đều thành phương tiện của lòng thương xót. Bạn đọc thơ, hẳn sẽ thấy thấp thoáng trong hai câu này hình ảnh của một người biết lắng nghe tiếng than của thế gian, để rồi xót xa và thương cảm.

Sau khi mở rộng ra tận “mười phương”, Sở nguyện quay về với sự hữu hạn – bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể. “Cát bụi” gợi lên thân phận hữu hạn và cái chết của con người, nhưng “hoàn nguyên thể” dường như không chỉ đơn giản là trở về với cát bụi, mà còn gợi một sự trở về với nguyên thể, với phần sâu xa và chân thật nhất của kiếp người. Điều này khiến người đọc có thể nhớ đến thân phận thụ tạo và niềm tin Kitô giáo về con người trong tương quan với Thiên Chúa. Nhưng tôi thì lại thích đọc chỗ này như một giao thoa Đông Tây. Nghĩa là, “cát bụi” của tác giả Nguyễn Khắc Dương vừa mang âm hưởng của lời nhắc trong truyền thống Kitô giáo, vừa mang sắc thái của cái nhìn Đông phương về sự hữu hạn, tan hợp và trở về của thân xác.

Câu kết – nguyện lót chân êm khách vỉa hè – chính là linh hồn của toàn bộ bài thơ. Tác giả không ước mình được giàu sang hay danh vọng, hay được lưu vào sử sách như một tượng đài. Ông chỉ xin được hoàn thành một điều nhỏ nhoi, đó là giúp bộ hành, bước chân đi của họ được trên đường đời được bớt đớn đau. Một đời người học triết, dạy triết, đi qua những nền văn hóa lớn, cuối cùng chỉ mong mình trở thành một chút bụi lót cho êm chân người khác. Đó không phải sao, là sự hạ mình của trí tuệ trước tình thương bao la, bất tận, dành cho kiếp người lầm than, đau khổ?

“Hành giả” trong Sở nguyện, vì thế, với tôi, không chỉ là một tuyệt tác của thơ ca, mà tôi còn đọc ra, “hành giả” chính là một tự họa của Thầy Nguyễn Khắc Dương, một chân dung của người đi, người học, người tìm kiếm, người giảng dạy, người sống giữa những nền văn hóa, và cuối cùng là người có ước muốn – được trở thành một người phục vụ.

******

VI. NGUYỆN LÓT CHÂN ÊM KHÁCH VỈA HÈ

Chiều Hương Giang nhớ quê hương, nhớ người. Tương tư nhớ một bóng hình, đối diện cô độc. Uy Viễn tướng công suy tư về người kẻ sĩ, khí tiết và bổn phận. Sở nguyện từ cái tôi bước ra nhân thế, từ suy tư bước vào lòng thương. Từ nhớ đến thương; từ thương đến nguyện. Đó là trục tư tưởng chạy suốt bốn bài thơ, và cũng là trục chạy suốt một đời người.

Nguyễn Khắc Dương là con người của nhiều miền văn hóa. Nho giáo đến với Thầy từ gia phong. Phật giáo hiện ra như một hấp lực tinh thần trên hành trình tìm kiếm. Lão Trang mang đến cảm thức về tự do, thanh đạm, siêu thoát. Kitô giáo là đức tin, tình yêu, lòng thương xót. Triết học Tây phương là lý tính, là thói quen tự vấn, là nỗi truy tìm chân lý. Nhiều tư liệu viết về cuộc đời Thầy đều nhấn mạnh tính chất đa văn hóa và hành trình tìm kiếm giữa những xung đột của các truyền thống tư tưởng ấy. Đỗ Lai Thúy từng gọi Nguyễn Khắc Dương là một người “tìm mình qua những xung đột văn hóa”, và nhận định rằng trong Thầy, các nền văn hóa khác nhau không ngừng gặp gỡ, va chạm và được hóa giải.

Nhưng đứng giữa ở đây, không có nghĩa là trộn lẫn, là xóa hết dị biệt giữa Công giáo và các truyền thống khác. Với tôi, khi tìm hiểu về cuộc đời Nguyễn Khắc Dương, thì Thầy là một người đã cố gắng đối thoại, hòa nhập và diễn giải đức tin Kitô giáo trong không gian văn hóa Việt Nam, đến mức những truyền thống Nho, Phật, Lão và triết học Tây phương, đều cùng hiện diện trong cách Thầy suy tư về con người. Sự khác biệt vẫn còn đó và điều Thầy làm được là để chúng cùng lên tiếng trong một tâm hồn.

Nói một cách khác đi, Thầy Nguyễn Khắc Dương là người thầy nhiều hơn là người xây dựng một hệ thống. Qua những bài giảng còn lưu lại và trong ký ức của người từng là học trò của Thầy, từng biết Thầy, có thể thấy Thầy không chỉ truyền đạt triết học, mà còn khơi dậy nơi người học thói quen tự vấn và khả năng nhìn một vấn đề từ nhiều phía. Thầy không vội biến triết học thành một hệ thống khép kín. Với Thầy, triết học dường như là một cuộc hành trình tự vấn. Thế cho nên, hình ảnh “hành giả” trong Sở nguyện, với tôi, chính là hình ảnh của một người Thầy, mà đến tuổi 102 rồi, vẫn mang dáng dấp của một người đi, người hỏi và người học.

Trong Uy Viễn tướng công, kẻ sĩ là người đứng ở trên cao, giữ khí tiết, coi nhẹ phú quý công danh. Nhưng đến tới Sở Nguyện, thì hành giả đã tự hạ mình mà bước xuống tận vỉa hè. Từ kẻ sĩ đến người phục vụ, hai hình ảnh tưởng đối lập nhưng thật ra lại gặp nhau ở một điểm: không sống cho danh lợi của chính mình. Một bên là khí tiết, một bên là lòng thương; một bên là giữ mình, một bên là dâng hiến. Và cả hai đều dẫn tới một quan niệm về phẩm giá con người: phẩm giá không nằm ở chỗ ta đứng cao bao nhiêu, mà ở chỗ ta không để điều thấp hèn sai khiến, và ta sẵn sàng cúi xuống vì người khác.

“Một chữ nghèo” trong Uy Viễn tướng công; “vỉa hè”, “cát bụi” trong Sở nguyện, ba hình ảnh này có thể kết thành một tư tưởng: con người càng không bị danh lợi trói buộc sẽ càng có tự do để sống cho điều mình tin là đúng. Từ tư tưởng này, mở ra một loạt khái niệm mà cả đời Thầy Nguyễn Khắc Dương dường như đã tự vấn và luôn thực hành: lương tâm, tự do, phẩm giá, trách nhiệm, bổn phận. Cái nghèo mà Thầy nói đến, không phải là cái nghèo bị áp đặt, mà là sự thanh bần được chọn, để mình được nhẹ nhàng và thẳng thớm hơn.

Người ta thường biết đến Thầy trong vai trò một người Thầy triết học, một trí thức Công giáo và một người sống sâu với đức tin. Nhưng ở nơi Thầy, những suy tư về Thiên Chúa và con người, không chỉ nằm trong những khái niệm. Đức tin ấy đã đi vào thơ bằng lòng thương xót, bằng niềm đau trước nỗi khổ của nhân thế, bằng sự khiêm nhường, bằng ý thức thân phận, bằng sự phó thác, bằng hy sinh và phụng hiến. Hãy nghe lại hai câu thơ:

Trần sắc mười phương đau đớn thấy

Thế âm bốn cõi xót xa nghe

Và:

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Để thấy, thần học ở đây, với cách đọc của tôi, không nói về Thiên Chúa bằng những mệnh đề cao siêu mà đi vào hình ảnh một con người biết cúi xuống trước nỗi đau của đồng loại. Từ đó, bạn đọc thơ có thể tự trả lời cho câu hỏi, phải chăng, sự kỳ diệu của bộ môn thần học, không chỉ nằm ở những điều người ta nói về Thiên Chúa, mà còn nằm ở cách một con người đối xử với nỗi đau của đồng loại như thế nào.

“Hành giả”, chính là hình tượng bao trùm toàn bộ chân dung Thầy Nguyễn Khắc Dương. Thầy là người đi giữa quê hương và tha hương; giữa Nho giáo và Kitô giáo; giữa Đông và Tây; giữa triết học và đức tin; giữa giảng đường và đời sống; giữa cô độc và tình người; giữa thời gian và vĩnh cửu. Và cuối cùng, hành giả Nguyễn Khắc Dương, đã dành cả cuộc đời đi tìm, để rồi trở về với một lời nguyện nhỏ.

Nhiều người từng là học trò, từng gặp gỡ và quen biết, thường nhấn mạnh những điều đặc biệt gây ấn tượng ở nơi Thầy: không chỉ kiến thức uyên bác mà còn là sự giản dị, thanh bần, gần gũi, lòng nhân ái, sự tự vấn và trách nhiệm của người Thầy Nguyễn Khắc Dương. Những tư liệu về Thầy cũng nhiều lần ghi lại những nét giản dị ấy. Một tâm hồn lớn nhưng chọn một đời sống nhỏ: đó dường như là cách Thầy sống, trước khi là cách Thầy viết.

Đến hôm nay, khi đã bước vào tuổi 102, vẫn còn nguyên nơi Thầy, hình ảnh của người đi, người hỏi và người học. Và chính những thế hệ học trò đã từng gặp Thầy, học Thầy, họ vẫn đương tiếp nối, cũng như mang theo một phần hành trình ấy trong cuộc đời của họ.

Vào ngày này, lời chúc thông thường dường như không đủ, tôi xin biến nó thành lời tri ân. Tri ân một người Thầy. Tri ân một người đã dành bằng hết cuộc đời mình cho việc học tập và giáo dục. Tri ân một “hành giả” đã đi qua nhiều nền văn hóa. Tri ân một con người vẫn giữ được lòng thương xót người sau một hành trình dài với rất nhiều khổ đau. Tôi xin được gọi tên hành trình đó là một thế kỷ đi tìm chân lý và một lời nguyện ở lại với con người.

Và sau tất cả những điều mà bài cảm nhận hôm nay của tôi đã viết, về Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, Kitô giáo, triết Tây phương, kẻ sĩ, trí thức, người thầy, hành giả, lương tâm, tự do, phẩm giá, trách nhiệm, lòng thương xót…, cuối cùng, chỉ xin được thu về, gói trọn trong lời khấn nguyện nhỏ nhoi của hành giả Stêphanô Nguyễn Khắc Dương:

NGUYỆN LÓT CHÂN ÊM KHÁCH VỈA HÈ!

Sài Gòn 26.09.2026

Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa

 Phan Tấn Hải

Nhà văn Cung Tích Biền

Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ – chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa Sài Gòn, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Vĩnh biệt hành giả Stéphane Nguyễn Khắc Dương

 Tino Cao

Mới bốn ngày trước, 24 tháng Chín, những người từng học, từng đọc, từng kính trọng một đời trí thức và đức tin còn gửi về Thầy Stéphane Nguyễn Khắc Dương những lời mừng thọ tuổi 102. Một trăm lẻ hai năm, quãng đời hiếm có của một con người đã đi qua gần trọn những biến thiên lớn nhất của lịch sử Việt Nam thế kỉ 20 và những thập niên đầu thế kỉ 21. Những lời chúc ấy tưởng còn nguyên hơi ấm, thì tối thứ Hai, ngày 28 tháng Chín năm 2026, lúc 20 giờ 15 phút, Thầy Stéphane Nguyễn Khắc Dương đã được Chúa gọi về nhà.

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Việt Nam: Thực tiễn giáo dục và vai trò của Phật giáo

 Đỗ Kim Thêm

 

 

  1. Thực tiễn giáo dục Việt Nam

Nhìn chung, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức về chất lượng, công bằng trong tiếp cận giáo dục, áp lực học tập và thi cử, nguồn lực, quản trị nhà trường, cũng như khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội và công nghệ.

Doãn Quốc Sỹ - Doãn Nho: chia cắt và di sản

 Tino Cao

Sắp tới ngày giỗ đầu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Ông qua đời ngày 14 tháng Mười năm 2025 tại California, hưởng thọ 102 tuổi. Ở Hà Nội, người em ruột của ông, nhạc sĩ Doãn Nho, 93 tuổi, sống gần hồ Ba Mẫu, vẫn chơi dương cầm và tiếp tục sáng tác. Hai anh em sinh cách nhau mười năm, trưởng thành từ cùng một gia đình ở làng Cót, từng cùng tham gia hoạt động Việt Minh từ rất sớm, nhưng sau năm 1954 lại thuộc về hai môi trường thể chế chính trị và văn hóa khác nhau. Tiểu sử của họ cung cấp một trường hợp đặc biệt để khảo sát sự phân li của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam trong thế kỉ 20, khi những lựa chọn chính trị, chiến tranh và sự phân chia lãnh thổ can dự trực tiếp vào đời sống gia đình, đồng thời tạo nên hai hệ thống văn hóa với những chuẩn mực, thiết chế và diễn ngôn riêng.

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Mở xưởng Họa hoằn Họa xá – Hội họa như một lát cắt của quá trình vẫn đang tiếp diễn

 Ngọc Hoan

Từ ngày 16 tháng 8 đến ngày 30 tháng 9 năm 2026, Studio mới của nghệ sĩ Bùi Chát giới thiệu Mở xưởng Họa hoằn Họa xá, triển lãm cá nhân mới nhất của Bùi Chát, gồm 37 tác phẩm sơn dầu trên canvas cùng không gian sáng tác nơi các tác phẩm được hình thành.

Serenata – Những buổi chiều còn ở lại

 Trương Thị An Na

Năm mười lăm tuổi, bố tôi được nghe Serenata của Enrico Toselli chơi bằng violon.

Tôi không biết buổi nghe đàn ấy diễn ra ở đâu, người chơi đàn là ai. Tôi chỉ biết bố nhớ mãi. Sau này, khi học tiếng Pháp, bố và những người bạn thường ngồi với nhau hát những bài hát Pháp, và Serenata là một trong những bài họ hay hát.

Nhìn lại âm nhạc miền Nam - Tập 1 (kỳ 1)

 Nguyễn Phú Yên

LỜI NGỎ

Do hoàn cảnh lịch sử, chúng ta đã mất đi rất nhiều giá trị văn hóa mà cha ông để lại, trong đó có những giá trị âm nhạc. Theo thời gian những giai điệu dịu dàng đó sống dậy sưởi ấm những con tim, những tâm hồn biết hoài niệm. Bỏ lại đằng sau những vướng bận buổi giao thời, bước qua những lời phê phán hoặc chê bai, rũ bỏ tâm lý thù hận, phân ly nhất thời thì đó là lúc người ta nhận ra giá trị vàng son bắt đầu lấp lánh. Những trang sách, những dòng nhạc bắt đầu hồi sinh và bừng lên như những đóa sen thơm ngát.

Những dòng chữ của cuốn sách này bắt đầu khởi đi từ trong bầu khí của một xã hội biết lắng nghe cái đẹp trong những giai điệu vang lên từ trong quá khứ. Thử chắp nối những mảng hồi ức, những lóe sáng của hoài niệm, một thế giới quá vãng của tâm tình đã được phục dựng khiêm tốn, thầm lặng dù chưa hoàn chỉnh, dù chỉ là những nét phác họa nhưng có thể nhìn vào đó để thấy lại những tình tự thân yêu làm nên thế giới tâm hồn của một thế hệ đã qua.

Khi đọc một cuốn sách nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của nền tân nhạc Việt Nam đã xuất bản, chúng tôi thấy các tác giả đã để lại một khoảng trống rất lớn khi nhận diện về một giai đoạn của nền âm nhạc của chúng ta hoặc chỉ đề cập một phần nhỏ bé và thiếu sót. Với mong muốn bổ sung cho sự khiếm khuyết ấy, chúng tôi đã liều lĩnh nhận lấy một công việc đáng ra là phải của một tập thể hơn là của một cá nhân, để nhìn lại di sản âm nhạc của chúng ta, nói riêng về tân nhạc, bằng những trang viết tổng quan về các hoạt động, các khuynh hướng và phong trào âm nhạc đã từng hiện diện. Với chút đam mê đó, chúng tôi ước mong bạn đọc xem đây như là một viên gạch trong hàng ngàn viên gạch để xây dựng lại ngôi nhà di sản mà các thế hệ sau cần biết tới. Mong có sự chung tay trong nỗ lực bảo tồn một giá trị tinh thần mà thế hệ trước đã xây dựng được để sau này những người khác có thể hoàn chỉnh công trình nghiên cứu lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Khi chúng tôi nhắc lại thời điểm chia cắt đất nước, điều này chỉ là tạm thời về mặt thể chế chính trị, không có nghĩa là một sự đứt gãy văn hóa với những giai đoạn trước đó. Nói khác đi, đối với chúng ta - những thế hệ nối tiếp - vẫn duy trì tính liên tục lịch sử về mặt văn hóa. Có nghĩa văn hóa dân tộc, nền nghệ thuật mà tổ tiên, cha ông ta đã xây dựng bao đời sau này vẫn được tiếp nhận, bảo lưu một di sản sáng giá cần để lại cho đời sau. Do đó độc giả sẽ tìm thấy trong tập sách này những cứ liệu từ bước khởi đầu cho đến những thành tựu của nền tân nhạc Việt Nam qua mấy mươi năm tồn tại. Những giá trị sáng tạo của bao lớp nghệ sĩ tiên phong được tôn trọng và phát triển, vẫn được tiếp tục hiện diện trong đời sống tinh thần của chúng ta. Do đó dòng ca khúc lãng mạn trong nền tân nhạc vẫn được quan tâm, được biểu diễn trong sinh hoạt ca nhạc và giữ vai trò đặc biệt trong tâm thức những người yêu nhạc.

Ngoài những giá trị nghệ thuật từ thời tiền chiến, trong hoàn cảnh và bầu khí mới, các khuynh hướng sáng tác âm nhạc, các phong trào, hoạt động âm nhạc được phát triển rực rỡ. Âm nhạc của chúng ta chính là tiếng lòng của người dân trước hoàn cảnh xã hội, trước biến cố nhân sinh được tự do bày tỏ, khi tươi vui, khi ngậm ngùi… nhưng đều là tiếng nói của con tim chân thực, của một giai đoạn lịch sử.

George Jellinek, giám đốc âm nhạc Đài phát thanh WQXR của thành phố New York, đã từng nói: “The history of a people is found in its songs” (Lịch sử của một dân tộc được tìm thấy trong các bài hát của họ). Thật vậy, những giai điệu biểu lộ tình cảm, tư tưởng trong các bài ca được viết trên đất nước chúng ta đều mang trọn vẹn tâm tình chân thực, đầy tính nhân văn với cá tính sáng tạo đặc thù và phong phú. Độc giả sẽ vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi được bước vào vườn hoa âm nhạc đầy những kỳ hoa dị thảo, tuy chúng có những số phận khác nhau nhưng vẫn muôn màu muôn vẻ, tỏa đầy hương thơm và rực rỡ sắc màu.

Với tấm lòng của một người yêu nhạc muốn gìn giữ những giá trị âm nhạc một thời, chúng tôi mong độc giả lượng thứ cho những thiếu sót trong quá trình tìm lại tài liệu hoặc do ký ức không trọn vẹn. Mong được các bậc thức giả góp ý để chúng tôi có thể hoàn chỉnh tập sách nếu có điều kiện xuất hiện trong tương lai.

                                                                                                           TÁC GIẢ

CHƯƠNG I

BỐI CẢNH LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN 1954-1975

 

         Lịch sử không là gì hơn ngoài màn kịch của tội lỗi và bất  hạnh

    (History is nothing more than a tableau of crimes and  misfortunes)

                                                                                                        Voltaire

  1. NHỮNG DIỄN BIẾN TRƯỚC NGÀY CHIA CẮT

ĐẤT NƯỚC

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ e ngại sự bành trướng của cộng sản ở Đông Nam Á nên đã giúp Pháp tái chiếm Việt Nam. Đó chính là tinh thần của bị vong lục NSC-64 ngày 27-2-1950 và NSC-124/2 ngày 25-6-1952 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.

Năm 1946 Mỹ đưa tàu chở những nhóm lính Pháp đến Việt Nam kiểm soát nhiều thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn. Ngày 7-10-1947, quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn. Đây là chiến dịch lớn nhất đến nay (chiến dịch Léa) trong chiến tranh Việt Pháp với 12.000 quân Pháp tấn công vào Việt Bắc để tiêu diệt chủ lực quân của Việt Minh và hòng bắt sống toàn thể nhân viên chính phủ lúc bấy giờ. Pháp thất bại trong việc bắt giữ các bộ trưởng, ngoại trừ Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội và là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Văn Tố. Những năm 1940, lực lượng bộ đội chống Pháp đã lên đến hàng trăm ngàn. Cuối năm 1945, Việt Nam giải phóng quân trở thành lực lượng vũ trang lớn mạnh; tháng 9-1945 đổi thành Vệ quốc đoàn. Ngày 22-5-1946, Vệ quốc đoàn chính thức trở thành quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH).

Năm 1949, Pháp tuy thừa nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập nhưng vẫn sử dụng lá bài Bảo Đại. Ngày 8-3-1949, Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol ký thỏa ước Elysées biến Việt Nam thành một quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 7-2-1950, Hoa Kỳ và Anh cùng công nhận nước Việt Nam độc lập và thiết lập quan hệ ngoại giao với chính quyền Bảo Đại. Phái bộ ngoại giao Hoa Kỳ được thành lập ngay tại Sài Gòn từ tháng 2-1950 với đại biện lâm thời Edmund A. Guillion và chính thức được nâng lên hàng đại sứ vào tháng 6-1952 với vị đại sứ đầu tiên là ông Donald R.Heath, một nhà ngoại giao kỳ cựu.

Cuối năm 1950, sau khi bị đánh bại nặng nề ở Cao Bằng, ngày 6-12 Pháp bổ nhiệm tướng Jean De Lattre de Tassigny làm tổng tư lệnh quân đội kiêm Cao ủy Đông Dương để mong cứu vãn tình hình ngày càng nguy ngập. Đầu mùa thu năm 1952, tổng số lính Pháp bị tử trận, thương vong và mất tích tại Đông Dương lên đến hơn 90.000 người. Đến 7-5-1954 Điện Biên Phủ thất thủ, Pháp phải ký Hiệp định Genève, chấm dứt gần 100 năm thống trị ở Đông Dương, nhường lại vai trò ở đây cho Mỹ. (Thật ra Mỹ đã dính líu sâu vào Việt Nam và Đông Nam Á trong 28 năm kể từ 1945 mà mười năm sau là cuộc chiến tranh thật sự). Tính đến năm 1954, Mỹ cung cấp cho Pháp 513 máy bay, 300 tàu chiến, 1.400 xe thiết giáp, 20.000 xe ôtô và nhiều phương tiện chiến tranh khác, chiếm đến 70% tổng chi phí cho chiến tranh ở Đông Dương (lên tới 7 tỉ USD). Ngày 16-6-1954, Bảo Đại ký sắc lệnh bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Mười ngày sau Ngô Đình Diệm từ Paris về nước chấp chính sau năm năm ở nước ngoài. Hiệp định phân chia Việt Nam làm hai miền Nam - Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến. Mỹ và Quốc gia Việt Nam từ chối ký hiệp định. Người Mỹ coi cuộc chiến tại Việt Nam là một phần của cuộc xung đột toàn cầu mới chống lại chủ nghĩa cộng sản, trong khi VNDCCH xem cuộc chiến này là giai đoạn mới nhất của một cuộc đấu tranh giành độc lập (1). Ngày 12-5-1954, Tổng thống Mỹ Eisenhower phát biểu: "Thế giới tự do không thể bỏ Đông Dương". Walter Robertson, trợ lý ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề Viễn Đông lúc đó, tuyên bố mục tiêu sự can thiệp của Mỹ là giữ Việt Nam trong hai năm để Mỹ huấn luyện 300.000 người Việt Nam nhằm chống lại chủ nghĩa cộng sản.

 

  1. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ Ở MIỀN NAM
    1. Nền Đệ nhất Cộng hòa

 

Ngày 1-10-1954, Eisenhower gửi thư cho Ngô Đình Diệm hứa sẽ chi viện. Ngày 8-11, Eisenhower cử tướng Lawton Collins sang Sài Gòn làm đại sứ đặc biệt có quyền hạn rộng rãi, lập phái đoàn quân sự Mỹ (MAAG) do tướng O'Daniel cầm đầu. Ngày 13-12-1954, tướng Ely của Pháp và tướng Collins ký hiệp ước qui định Mỹ thay thế Pháp về quân sự ở miền Nam Việt Nam. Năm 1955 Mỹ để Ngô Đình Diệm thay thế Bảo Đại, với sự giúp đỡ đắc lực của hồng y Spellman, giáo sư Buttinger và đại tá CIA Lansdale. Được Mỹ khuyến khích và hỗ trợ, Ngô Đình Diệm từ chối tổng tuyển cử vì điều này không có trong hiệp định mà chỉ có trong phụ lục ngày 21-7-1954 không có nước nào ký tên nên không có tính chất bắt buộc. Thay vào đó, ông cho trưng cầu ý dân ở miền Nam. Ngô Đình Diệm thắng với 98,2% số phiếu và trở thành tổng thống (TT) nền Đệ nhất Cộng hòa. Những số liệu chính thức của miền Nam biên soạn tháng 10-1955 cho thấy rằng những người di cư từ Bắc vào Nam bao gồm 676.348 người Công giáo (76,3% toàn bộ người miền Bắc di cư), 209.132 Phật giáo (23,5%), và 1.041 Tin Lành (0,2%) (2). TT Diệm đặt tên nước là Việt Nam Cộng hòa (VNCH), lấy Sài Gòn làm thủ đô. Đây là một thực thể chính trị và hành chính hợp pháp về mặt công pháp quốc tế và đương nhiên là một nước có chủ quyền. Từ đây Mỹ khởi đầu chiến lược nhằm chặn đứng sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. TT Diệm vẫn mời vào chính phủ những người đã từng cộng tác với Pháp, đặc biệt đối với người Công giáo - dù chiếm 10% dân số nhưng theo chủ trương của TT Diệm muốn Công giáo hóa dân miền Nam nên được nhiều ưu đãi và chiếm lĩnh hầu hết các chiếc ghế trong chính phủ.

Năm 1955, sau khi ra sức dẹp các tổ chức quân sự của Bình Xuyên và của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo ở Nam bộ, TT Diệm tổ chức bộ máy chính quyền từ trung ương đến cơ sở; nắm chắc bộ máy quân đội, cảnh sát; tiến hành quốc sách tố Cộng (từ mùa hè 1955, khoảng 50.000 đến 100.000 người bị nhốt vào trại tập trung, trong số này đa số không liên hệ gì với cộng sản), truy nã những người kháng chiến, bức hại gia đình họ; gom dân vào các ấp chiến lược (một chương trình do sáng kiến của ông Thompson người Anh, cố vấn du kích chiến của Nhà Trắng, đã đưa 10 triệu dân vào 17.000 ấp chiến lược) để dễ bề kiểm soát. Để thanh lọc những người theo Cộng sản, TT Diệm ra sắc lệnh số 49 bỏ tù tất cả những người chống lại chế độ cộng hòa và luật 10/59 là đỉnh cao của quốc sách này, thiết lập ba tòa án quân sự đặc biệt ở Sài Gòn, Huế, Ban Mê Thuột chỉ xét xử ở hai mức tử hình và chung thân.

Cùng với việc dựng nên chế độ, Mỹ lập ra quân đội VNCH, thành lập SEATO (South East Asia Treaty Organization, gồm ba nước châu Á và năm nước phương Tây), trở thành công cụ để Mỹ bảo trợ cho miền Nam Việt Nam, đồng thời bảo vệ miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia. Đến năm 1958, Mỹ không chỉ trả tất cả chi phí quân đội mà còn trả 80% các chi tiêu của chính phủ TT Diệm nữa.

“Ngày 25-1-1963, Tổng thống Kennedy tuyên bố ông muốn biến Lào thành ‘một nước độc lập, hòa bình và không liên kết’. Averell Harriman, Thứ trưởng Ngoại giao về vấn đề chính trị, được coi là người có quyền hành lúc đó tại Tòa Bạch Ốc, cho rằng phải trung lập hóa Lào để ngăn chận miền Bắc dùng đất Lào xâm nhập vào miền Nam. Ngày 16-5-1961, Hội nghị Quốc tế giải quyết vấn đề Lào được triệu tập tại Genève. Chính phủ Ngô Đình Diệm phản đối rất mạnh, nhưng Harriman cứ tiến tới. Ngày 23-7-1962, Hiệp ước Hòa bình tại Lào đã được ký kết, kết quả 666 cố vấn Mỹ và toàn bộ quân đội của VNCH phải rút khỏi Lào. Bắc Việt cũng cam kết như thế. Nhưng thực tế không như Harriman tuyên bố”. (3)

Tháng 11-1963, tướng Dương Văn Minh đảo chính, lật đổ Diệm - Nhu với sự đồng ý của CIA và đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge. Sau cái chết của J. F. Kennedy, Johnson lên làm TT Mỹ. Ông ta tin rằng chìa khóa thành công trong chiến tranh Việt Nam là làm cho lãnh đạo VNDCCH sợ rằng Mỹ sẽ can thiệp bằng cách leo thang chiến tranh Việt Nam. Cũng chính trong năm này, cảnh giác với một quan chức Mỹ về việc Mỹ dấn sâu vào chiến tranh Việt Nam, Thủ tướng Liên Xô lúc đó là Nikita Khrushchev nói: "Nếu các ngài muốn, hãy cứ đi mà chiến đấu trong rừng rậm Việt Nam. Người Pháp đã chiến đấu ở đó 7 năm và cuối cùng vẫn phải ra đi. Có lẽ người Mỹ sẽ trụ lại được ở đó lâu hơn một chút nhưng rồi họ cũng sẽ phải ra đi thôi". (4)

Tuy là chế độ do Mỹ hỗ trợ, TT Ngô Đình Diệm tự thấy mình cũng phải tìm kiếm những giá trị tinh thần nào đó để làm nền tảng cho quốc sách chống Cộng và để xác lập một chủ thuyết nhằm chống lại lý tưởng của cuộc đấu tranh của nhân dân. Chúng ta biết Ngô Đình Nhu - cố vấn chính trị của Ngô Đình Diệm, là một người Thiên Chúa giáo từng du học ở nước ngoài - đã cùng một số linh mục như Bửu Dưỡng, Nguyễn Văn Thích, Lý Văn Lập... quyết định chính trị hóa giáo hội mà khởi đầu là hình thành một chủ thuyết vừa mang tính triết lý vừa mang tính chính trị, gọi là chủ nghĩa cần lao nhân vị, dựa trên triết thuyết le personalisme (chủ nghĩa nhân vị) của Emmanuel Mounier (1905-1950) và Jacques Maritain (1882-1973) - những trí thức Thiên Chúa giáo Pháp.

Chủ nghĩa nhân vị là một hệ thống triết học, đồng thời là một chủ thuyết về đạo đức và xã hội, đặt cơ sở trên giá trị tuyệt đối của con người, trên sự cao cả và tôn trọng nhân phẩm. Theo đó, khi nói con người là nói đến ý thức, đồng thời con người được xem trước hết như một chủ thể và là một chủ thể tinh thần. Quyền con người dựa trên ý tưởng có một phẩm giá nổi trội của con người mà ta không thể mua bán hoặc chối bỏ, đó chính là quyền của nhân vị. Vì lý do này, từ con người có ý nghĩa khác với từ cá nhân để chỉ một thành viên trong xã hội, hay trên lĩnh vực sinh học, là một nhất thể có sự sống. Nhà xã hội học nhìn xã hội như một tập hợp các cá nhân, còn nhà triết học nhìn thấy ở đó như một quần thể các nhân phẩm. Nhân phẩm là một hình thế tâm lý cá nhân của con người, trong đó có tính tình, tính cách, lịch sử cá nhân...- tất cả những gì làm nhân phẩm là một nhất thể luôn khác biệt với người khác, đó là một nhân vị. Theo quan điểm đạo lý, chúng ta đều là những con người đồng nhất, nhưng theo quan điểm tâm lý chúng ta là những nhân phẩm rất khác nhau. Vấn đề nhân phẩm là vấn đề tâm lý. Trong cách tiếp cận theo tâm lý học, cần phải hiểu tính riêng biệt của mỗi con người. Chúng ta là sản phẩm của quá khứ, của những liên hệ với điều kiện môi trường và xã hội chung quanh. Điều khiến chúng ta trở thành, với tư cách là nhân phẩm, tùy thuộc vào nhiều điều mà chúng ta đã sống và đã trải nghiệm. Nhận biết nhân phẩm chính là khám phá một phức hợp hoàn toàn duy nhất. Con người phải được xem như một cứu cánh nội tại và không bao giờ là một phương tiện; nếu nhìn nhận ngược lại tức là vô luân.

Trên cơ sở triết lý này, ông Nhu khi về nước đã thêm vào ý niệm về cần lao làm vế thứ hai trong học thuyết của ông rồi cho phổ biến trên tuần báo Xã Hội do ông chủ trương (sau đó còn tiếp tục trên tạp chí Quê Hương). Tuy nhiên học thuyết này không phát sinh từ thực tiễn lịch sử nên không phù hợp với hiện trạng xã hội, từ đó không có được một sử quan nhất quán để vận dụng vào điều kiện của xã hội lúc bấy giờ. Thực tế vì tham vọng củng cố quyền lực của gia đình, ông Nhu đã đi ngược lại những gì mà ông đã học được từ chủ nghĩa nhân vị khi còn ở La Mã. Năm 1953, nhờ sự yểm trợ của khối Thiên Chúa giáo La Mã và Hoa Kỳ, ông Nhu quyết định năng động hóa chủ thuyết của mình bằng cách xin phép Thủ tướng Bửu Lộc thành lập một lực lượng thợ thuyền lấy tên là Tổng liên đoàn Lao công dựa theo mô thức tổ chức và lãnh đạo của lực lượng thợ thuyền Thiên Chúa giáo Pháp và tháng 9-1953 tổ chức hội nghị đại đoàn kết đòi hỏi hòa bình cho Việt Nam. Song song hai việc này, ông Nhu bí mật hoạt động cho ra đời đảng Cần lao nhân vị. Tuy vậy không ai thấy cương lĩnh, nội quy của đảng như thế nào, song qua những bài báo trên tuần báo Xã Hội và qua những bài giảng tại Trung tâm Nhân vị ở Vĩnh Long sau đó, người ta thấy học thuyết của ông Nhu là một thứ tư tưởng pha trộn và chắp vá từ giáo lý Thiên Chúa giáo, chủ nghĩa nhân vị của E. Mounier, thuyết nhân ái của Khổng Tử cộng thêm một ít nét của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa duy linh chống Cộng... Vào những năm đầu của chế độ TT Diệm, tại miền Nam đi đâu cũng nghe nói đến thuyết nhân vị nhưng sau đó thuyết này lại chìm vào quên lãng. Đảng Cần lao nhân vị đã biến thể thành đảng Cần lao Công giáo tiếp tục hiện diện ở miền Nam.

Tiến trình hoạt động của đảng Cần lao nhân vị có thể gồm ba giai đoạn. Giai đoạn 1 từ năm 1953 khi Ngô Đình Nhu bí mật khai sinh đảng này với cấp lãnh đạo trung ương là người ngoài Công giáo như Trần Văn Đỗ, Huỳnh Kim Hữu, Trần Chánh Thành..., có lẽ ông Nhu muốn lập một tổ chức như các đảng Dân chủ xã hội Thiên Chúa giáo châu Âu. Sở dĩ ông Nhu muốn kết nạp người ngoài Công giáo vào đảng vì nghĩ rằng khối Công giáo bấy giờ không có những nhân vật chính trị tên tuổi. Giai đoạn 2 kể từ năm 1955 khi ông Diệm đã chấp chánh và củng cố được quyền lực nên ông Nhu kết nạp người Công giáo làm nòng cốt vì bấy giờ hầu hết người Công giáo di cư và Công giáo miền Trung đã là hậu thuẫn vững chắc của chế độ TT Diệm. Giai đoạn 3 từ cuối năm 1957 khi hai ông Diệm Nhu tin rằng chế độ đã vững chãi nên cần phải có một chủ lực trung kiên để đi đến việc Công giáo hóa miền Nam - mục đích tối hậu của nhà Ngô. Đảng lấy yếu tố tôn giáo làm cơ sở cho mọi chính sách, vì vậy đảng viên gồm toàn tu sĩ và giáo dân. Từ đó những đảng viên không Công giáo bắt đầu bỏ đảng, nhiều nhân vật nổi tiếng cũng xa lánh rồi chống đối nhà Ngô.

Đảng Cần lao nhân vị trở nên nguy hiểm vì cho tôn giáo của mình là độc tôn nên kỳ thị các tôn giáo khác (về mặt nhân văn) và độc tài, khống chế sinh hoạt quốc gia (về mặt chính trị). Với tham vọng đó, đảng Cần lao nhân vị biến thành đảng Cần lao Công giáo, trao cho một số chức sắc trong hàng giáo phẩm những đặc quyền siêu chính phủ. Trong chín năm cầm quyền, TT Diệm và đảng Cần lao Công giáo đã có nhiều chính sách ưu tiên cho một sách lược quan trọng là "Công giáo hóa nhân dân". Vì vậy TT Diệm đã đưa người Công giáo vào giữ các vị trí quan trọng trong chính phủ, quốc hội, các tỉnh miền Trung và cao nguyên. Tuy là người yêu nước thương dân nhưng TT Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu đã tự gieo mầm mống suy yếu từ trong nội bộ và như vậy dễ đi đến cáo chung.

  1. Nền Đệ nhị Cộng hòa.

 

Sau khi hai ông Diệm Nhu bị lật đổ ngày 1-11-1963 (và bị bắn chết ngày hôm sau), đảng Cần lao Công giáo bị thất thế song đảng viên vẫn tìm mọi cách để phục hồi vai trò của mình. Sau ba năm rối ren vì các tướng tá tranh giành địa vị, quyền lực, từ nội các quân sự sang chính phủ dân sự, năm 1966 nền Đệ nhị Cộng hòa được hình thành dưới sự lãnh đạo của TT Nguyễn Văn Thiệu. Lực lượng hậu thuẫn cho chính quyền mới cũng chính là người Công giáo và đảng viên đảng Cần lao Công giáo. Theo Đỗ Mậu (5), giúp việc cho TT Thiệu là bốn người Công giáo được gọi là "tứ trụ triều đình", đó là cố vấn an ninh tình báo kiêm cố vấn quân sự Đặng Văn Quang, cố vấn kinh tài Nguyễn Cao Thăng rồi Nguyễn Văn Ngân, cố vấn chính trị linh mục Cao Văn Luận, cố vấn tình báo chiến lược Huỳnh Văn Trọng. Ngoài ra còn có linh mục Bửu Dưỡng, cố vấn bí mật đặc trách văn hóa giáo dục cho chính quyền TT Thiệu, người được Mỹ giúp đỡ thành lập Đại học Minh Đức. Một giám mục nổi tiếng khác là Nguyễn Văn Thuận (gọi ông Diệm bằng cậu ruột) có tham vọng xây dựng khối Thiên Chúa giáo thành một lực lượng để nắm quyền ở miền Nam; ông được Thiên Chúa giáo quốc tế giao chức tổng thủ quỹ Caritas, một tổ chức bề ngoài thì làm việc từ thiện nhưng mục đích cũng là để lôi cuốn người dân theo đạo Thiên Chúa.

Bên cạnh các nhân vật này là một số người khác như linh mục Nhuận và nhóm Nguyễn Đức Xích chuyên theo dõi các đảng phái, tôn giáo và thành phần đối lập. Ngoài ra TT Thiệu cũng nắm lấy Thượng viện thông qua ba, bốn liên danh Công giáo giữ các chức chủ tịch, phó chủ tịch và nắm Hạ viện với đa số là người Công giáo, đặc biệt với khối Độc lập gồm toàn thành phần Cần lao Công giáo. Với một quốc hội như thế, Thiệu đã dễ dàng thông qua các dự luật như luật báo chí, luật ủy quyền, hợp thức hóa cuộc bầu cử tổng thống độc diễn...

TT Nguyễn Văn Thiệu không chỉ gây ảnh hưởng trên ngành lập pháp mà cả trong ngành hành pháp, cho giữ chức bộ trưởng những tay chân trung thành với nhà Ngô như Cao Văn Tường, Trần Chánh Thành, Trần Văn Lắm, Vương Văn Bắc, Ngô Khắc Tỉnh... Về phía quân đội, TT Thiệu dàn xếp chức vụ cao cấp cho Cao Văn Viên (tổng tham mưu trưởng), Đồng Văn Khuyến (tổng tham mưu phó), Trần Văn Trung (Tổng cục Chiến tranh chính trị), Bùi Đình Đạm (Nha Động viên)... Ở các quân đoàn, sư đoàn vẫn là tướng tá Cần lao hoặc chế độ cũ như Ngô Du, Phạm Quốc Thuần, Đỗ Cao Trí, Trần Văn Minh, Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Toàn, Lữ Lan... Phía công an có Nguyễn Mâu, Nguyễn Khắc Bình...

Việc điều hành đất nước của nhà Ngô với đảng Cần lao trong quân đội và ngoài dân sự vẫn được TT Thiệu duy trì. Hai chính sách đặc thù của ông Diệm vẫn được TT Thiệu cho hồi sinh: kỳ thị tôn giáo và kỳ thị địa phương. Đó chính là mối nguy hiểm nội bộ làm suy yếu bộ máy cầm quyền của nền Đệ nhị Cộng hòa.

Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng không bao lâu, nhất là sau ba lần đi Sài Gòn (tháng 10-1965, tháng 7 và 10-1966), Kissinger đã phải thừa nhận: "Tôi đã nhận thấy ngay chúng ta đã tham gia một cuộc chiến tranh mà chúng ta không biết làm thế nào để chiến thắng mà cũng không biết làm thế nào để kết thúc". (6) Sau đó, trên tập san Foreign Affairs, Kissinger đã rút ra kết luận: "Nguyên tắc chủ yếu của chiến tranh du kích là khi người ta không thua là thắng, trong khi đối với quân đội chính qui, không giành được thắng lợi là thua". (7)

Johnson quyết định không ra tranh cử năm 1968. Richard Nixon lên làm tổng thống với lời hứa sẽ chấm dứt được chiến tranh Việt Nam, khẳng định lại mục đích như vị tổng thống tiền nhiệm là không để miền Nam rơi vào tay Cộng sản, tuy nhiên điều đó không thể bảo đảm được nếu không tiếp tục theo đuổi chiến tranh. Nixon đề ra chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh, tuyên bố có một kế hoạch bí mật để chấm dứt chiến tranh.

Johnson đã từng bàn đến chuyện thương thuyết sau vụ tấn công Tết Mậu Thân. Ngày 13-3-1968 cuộc nói chuyện tại Paris đổ vỡ do chính quyền VNCH từ chối thương thuyết. Tháng 10-1968, trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ, Hubert Humphrey kêu gọi thương thuyết, Nixon thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu nhưng ông này không chịu. Trong khi đó Hà Nội đòi Mỹ rút quân, còn Mỹ thì đòi Hà Nội đưa quân trở lại miền Bắc: cuộc thương thuyết thất bại.

Thời gian này, sinh viên Mỹ bắt đầu biểu tình phản đối. Phong trào phản chiến bắt đầu với việc tự thiêu của Norman Morrison ngày 2-11-1965 trước Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Đã có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh ở khắp các bang ở Mỹ, Ngày 15-11-1969, bốn năm sau đó, một cuộc tuần hành 250.000 người diễn ra ở đại lộ số 5 trung tâm New York, chỉ cách quảng trường Times Square vài dãy phố. Cùng lúc là hàng loạt các cuộc xuống đường ở nhiều thành phố lớn tại cả bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ (8). Ở Đại học Kent (bang Ohio), bốn sinh viên bị giết và chín người khác bị thương ngày 4-5-1970 (9). 16 triệu trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch, 2 triệu người Mỹ “gây thiệt hại bất hợp pháp” vì chống chiến tranh Việt Nam, 75.000 người Mỹ bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ và đấu tranh chống chiến tranh Việt Nam (10).

        Chiến tranh đã làm Nixon mệt mỏi nên vào ngày 25-4-1972, Nixon từng nảy ra ý kiến ném bom nguyên tử xuống Bắc Việt Nam. Theo CNN, chi tiết này được tiết lộ ngày 28-2-2002 khi Cơ quan Lưu trữ quốc gia Mỹ công bố cuốn băng dài 500 giờ về các cuộc thảo luận của Nixon trong sáu tháng đầu năm 1972. Câu nói chính xác của Nixon: "Tôi thiên về lựa chọn dùng một quả bom nguyên tử". Cố vấn an ninh Kissinger trả lời: "Theo tôi, điều đó sẽ là quá mức". Trong buổi thảo luận vào tháng 6-1972, Nixon thẳng thừng nói với cố vấn Charles Colson: "Chúng tôi muốn phá hủy cái nơi quái quỷ đó... Miền Bắc Việt Nam phải được tái thiết trật tự. Đây là lúc phải làm và đó là điều lẽ ra phải làm từ lâu". Song điều đó không xảy ra và Nixon chỉ còn ra lệnh tiến hành leo thang chiến tranh tại Việt Nam. Sau bầu cử năm 1972, Kissinger xem lại thỏa thuận về thương thuyết mà ông ta đã soạn trước. Việc xem xét này bị phản đối và Kissinger đe dọa lại sẽ ném bom miền Bắc nếu điều kiện mới mà ông đưa ra không thực hiện được. Giáo sư John Mc Alister - Đại học Princeton và Stanford, chuyên gia cố vấn Thượng viện Mỹ, từng có mặt ở miền Nam Việt Nam - đã sớm báo trước cho nước Mỹ rằng chiến tranh mà Mỹ đang can dự vào Đông Dương là vô vọng, không thể thắng nổi một xã hội nông thôn có thể chế truyền thống đặc biệt, được vũ trang bằng một chủ nghĩa yêu nước sâu sắc và mãnh liệt. Từ sau hiệp định Paris 1973, Quốc hội Hoa Kỳ lại mạnh tay cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự khiến cho miền Nam phải sụp đổ mau chóng hơn cả kế hoạch dự liệu của các chiến lược gia Hà Nội.

Tổng chi phí quân sự của riêng Mỹ tại cuộc chiến tranh tại Việt Nam từ 1965-1975 là 111 tỷ đôla, quy đổi theo thời gian năm 2008 thì bằng 686 tỷ đôla. Cao điểm của cuộc chiến là năm 1968, chi phí quân sự của Mỹ vào cuộc chiến tại Việt Nam bằng 2,3% GDP của Mỹ (11).

Nói tóm lại, các hoạt động chính trị của cả hai chế độ TT Diệm và TT Thiệu đã không tạo được sự đoàn kết mạnh mẽ để đương đầu với chủ nghĩa cộng sản. Cùng với việc Mỹ cắt giảm viện trợ vào đầu năm 1975 và sự triệt thoái của quân đội Mỹ thì sự sụp đổ của chế độ miền Nam vào ngày 30-4-1975 là điều có thể dự đoán được.

_________

CHÚ THÍCH

(1) Mitchell K.Hall, The Vietnam War, Pearson Education, 2007, tr. 3. (Trích: American viewed the struggle in Vietnam as part of a new global conflict against communism, while the Vietnamese saw the war against the United States as the latest phase of a long fight for independence). Dẫn theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-Chi_vien-69.

(2) Peter Hansen - Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc Việt Nam và vai trò của họ tại Cộng hòa Miền Nam, 1954-1959. Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, Volume 4, issue 3, Fall 2009. http://www.talawas.org/?p=19371.

(3) Lữ Giang, Khi Mỹ vẽ lại lịch sử cuộc chiến Việt Nam, https://www.danchimviet.info/khi-my-ve-lai-lich-su-cuoc-chien-vn/10/2017/6840/

(4) Bruce Kennedy, Việt Nam cuộc chiến không quên, NXB Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2001, tr. 11.

(5) Hoành Linh Đỗ Mậu, Tâm sự tướng lưu vong, NXB CAND, Hà Nội, 1995, tr. 331.

(6) Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, hồi ký, trích dẫn theo Mai Văn Bộ, Từ Genève đến Paris, NXB Trẻ, TP.HCM, 2002, tr. 224.

(7) Hoành Linh Đỗ Mậu, Tâm sự tướng lưu vong, NXB CAND, Hà Nội, 1995, tr. 224.

(8) Bruce Shapico, Salon News, 2-5-2001.

(9) http://www.sggp.org.vn/hosotulieu/nam2005/thang4/45576/

(10) Báo Sài Gòn Giải Phóng, Nhìn lại “cuộc chiến trong lòng nước Mỹ”, 15-4-2005.

(9) http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-H.E1.BB.93_Khang-8

(10) Neil Sheehan, Sự lừa dối hào nhoáng, NXB CAND, Hà Nội, 2003, tr. 887 và 899.

(11) Stephen Daggett, CRS Report for Congress. Costs of Major U.S. War. Dẫn theo Lạc Văn - Tính chính đáng của các bên trong cuộc chiến tại Việt Nam 1945- 1975.  http://www.x-cafevn.org/node/91.

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Tiếng Việt từ TK 17: các truyền thống tang chế (phần 52)

Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về các tục lệ tang chế truyền thống ở Việt Nam từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn cùng với chữ Nôm, cũng như một số tục lệ không còn hiện diện nữa. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là các tài liệu chép tay của LM Philiphê Bỉnh (sđd) và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), ĐNA (Đông Nam Á), LM (Linh Mục), CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), VNTĐ (Việt Nam Tự Điển/Hội Khai Trí Tiến Đức 1931/1954), TNNL (Thiên Nam Ngữ Lục), v.v. Kí còn viết là ký (tên người, tên sách), kị - kỵ và trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (có gốc Việt cổ hay Hán cổ).

Hữu Loan - cây gỗ lim màu tím

 Phạm Xuân Nguyên

(Tôi được tin ông mất khi đang dự một hội thảo khoa học quốc tế về văn học tại TPHCM. Báo "Tuổi Trẻ" đặt tôi viết bài ngay. Bài viết ngắn này được viết nhanh khi tôi bật nẩy trong đầu cái ý gọi Hữu Loan là "cây gỗ vuông màu tím". Mấy năm cuối đời ông, tôi đã mấy lần về thăm ông, có những khi còn đưa cả bạn bè ở Hà Nội và TPHCM cùng đi, tại ngôi nhà của ông ở quê Vân Hoàn (Nga Sơn, Thanh Hoá). Nay biết tin tỉnh Thanh có đặt một đường phố mang tên Hữu Loan trong một khu đô thị ở tỉnh lị và dân làng vừa sửa sang lại ngôi mộ ông ở quê, tôi đưa lại bài báo này để nhớ nhà thơ. - PXN).

Sinh tử và những vết chân cát xóa

 Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Tôi mang một bệnh từ nhiều thập niên. Có thể gọi đó là bệnh nghề vì bệnh này gắn liền với công việc của một nhà báo. Hay gọi là bệnh nghiệp cũng được, nếu muốn nói theo kiểu Phật học nghiêm và buồn. Đó là chú ý tới thời gian. Tức là bệnh xem lịch. Cuối tuần là phải khác với ngày trong tuần. Đầu năm là phải dòm ngó tới các lễ hội mùa xuân. Nghề phóng viên luôn gắn liền với thời sự và cộng đồng, nên người làm báo cứ phải theo dõi lịch và ngày tháng. Cũng là dịp để thấy tóc mình mỗi ngày thêm nhiều sợi bạc.

Chuyện gì đến sẽ đến

 Phạm Viêm Phương

Trong một video năm 2013, Julian Assange, người sáng lập trang WikiLeaks năm 2006, nói rằng, "Bằng cách loại bỏ hồ sơ giấy và thay thế chúng bằng các tệp kỹ thuật số, người ta có thể xóa sạch lịch sử. Hôm nay, bạn có thể chỉ thấy thông báo ‘trang này không tìm được’, nhưng hôm sau, bạn có thể thấy họ khẳng định rằng sự việc đó chưa từng xảy ra.”

Những bức tranh tự giới thiệu mình là ai

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Có một loại câu giới thiệu bản thân đang lan rất nhanh trong giới họa sĩ mới và nó thường có cấu trúc giống nhau đến mức có thể đoán trước. Một cái tên lớn của phương Tây, thường là Monet, Van Gogh, Renoir, Cezanne, Gauguin, Dali, Matisse đôi khi là Gustav Klimt hay Picasso toàn những cái tên đại danh họa và được rất nhiều người biết đến trên toàn thế giới, đã được nhắc đến như nguồn cảm hứng lớn nhất đời mình. Ngay sau đó là tên của một trường phái, được gắn vào như một cái mác bảo chứng chất lượng. Và ở giữa hai vế đó, phần lớn không có gì kết nối cả ngoài việc cả hai đều nghe sang hẳn ra.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

Sự trở lại của bóng ma “đọc kiểu xã hội học dung tục”

 Đinh Thanh Huyền

Ai cũng biết, thời gian này văn chương và sách giáo khoa Ngữ văn đang bị đấu tố dữ dội, người ta lôi hết tác phẩm nọ đến tác phẩm kia ra “tế”. Lời lẽ kết tội thì nhiều lắm, nhưng vun lại thì tập trung vào mấy ý: tác phẩm này bôi nhọ cái này cái kia, chống lại tư tưởng này tư tưởng khác; tác phẩm kia dạy trẻ con bạo lực, dạy trẻ con hư hỏng; tiêm nhiễm thói này thói khác vào đầu óc trẻ con; thiếu bài học đạo đức, thiếu tính giáo dục;… Tóm lại là cách đọc xã hội học dung tục một lần nữa bùng nổ, tạo thành những “đám cháy” đấu tố được mạng xã hội tạo điều kiện để lan truyền, nhân lên với cường độ khủng khiếp.

Đi, đọc và viết – những chuyến đi xa và những cuộc trở về của Phạm Xuân Đài

 V. N.

Có những người đi để đến một nơi nào đó. Có người đi để chụp vài tấm hình, mua vài món quà, rồi trở về kể rằng mình đã từng đến nơi ấy. Lại có người đi để sau khi trở về, nhận ra rằng cái mình tìm thấy không phải ở nơi đã đến, mà ở chính trong mình.

Nobel Văn chương 2026, ai sẽ bước qua cánh cửa Stockholm?

 Tino Cao

Chỉ còn 15 ngày nữa, Viện Hàn lâm Thụy Điển sẽ công bố Giải Nobel Văn chương 2026. Năm ngoái, trong ba cái tên tôi đem ra bàn bên tách cà phê, László Krasznahorkai cuối cùng đã bước lên bục nhận giải. Đoán trúng một lần cũng chẳng đủ để lên mặt tiên tri, cùng lắm chỉ khiến ly cà phê năm nay có lí do pha đậm thêm một chút. Stockholm vẫn kín như bưng. Hồ sơ đề cử, ý kiến thảo luận và biên bản xét giải bị niêm phong suốt 50 năm. Thành thử, mọi danh sách lưu truyền bên ngoài đều thuộc thế giới của suy đoán, còn bảng cá cược thường nói chính xác hơn về độ nóng của một cái tên trên truyền thông chứ ít khi cho ta biết 18 viện sĩ đang nghĩ gì sau cánh cửa đóng kín của Viện Hàn lâm Thụy Điển.

Đọc TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm – Cuộc lữ đi tìm bản thể con người

 Lê Thọ Bình

 

Với TA LÀ – Những khúc mắc siêu hình học (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.

Vạn sắc hư vô bản tiếng Trung 《万色虚无》 vừa được chọn vào Top 10 tiểu thuyết dịch hay nhất tháng 8/2026 của 探照灯好书.

 Nguyễn Khắc Ngân Vi

探照灯好书 có thể dịch là “Bảng sách hay Ngọn đèn pha”, do Hiệp hội các nhà phê bình sách Ngọn đèn pha tổ chức. Đây không phải bảng bán chạy hay danh sách quảng bá của nhà xuất bản, mà là một bảng tuyển chọn chuyên môn trong ngành sách Trung Quốc. Các tác phẩm được giới phê bình và những người làm sách đọc, đề cử, bỏ phiếu. Kỳ này có sự hỗ trợ truyền thông của Tencent News và QQ Reading.

Từ Washington DC nhỏ nghĩ về Hà Nội “to”

Giang Công Thế

Hà Nội chúng ta từng có hình vuông. Washington DC cũng có hình vuông. Hai thủ đô cách nhau nửa vòng trái đất, từng là “thù địch”, nay đã thành đối tác.

Chỉ có kiến trúc là vẫn còn một cuộc chiến khá âm thầm, một bên cố giữ cái cũ để làm nên bản sắc, một bên hình như càng nhìn thấy cái cũ càng muốn “hạ giải”.

Từ Washington DC, một anh chàng IT nghĩ về Hà Nội.

Cái đêm hôm ấy… đêm gì?

 Tino Cao

Gần nửa thế kỉ sau Tắt đèn, văn học Việt Nam lại chứng kiến một người mẹ già quỳ lạy những người đến lấy thóc, những đứa trẻ khóc vì đói và sợ hãi, một gia đình phải nộp cả số lúa dành cho đám tang của người sắp chết. Ngô Tất Tố viết về nông thôn Bắc Kỳ thời Tonkin dưới chế độ thuộc địa vào cuối thập niên 1930. Phùng Gia Lộc viết từ chính tai họa giáng xuống gia đình mình ở Thanh Hóa năm 1983, sau cách mạng, sau cải cách ruộng đất và sau nhiều thập niên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khoảng cách gần năm mươi năm ấy khiến Cái đêm hôm ấy… đêm gì? trở thành một trong những chứng từ văn học - báo chí dữ dội nhất về nông thôn Việt Nam trước Đổi Mới. Một chế độ từng xác lập tính chính danh bằng lời hứa giải phóng những người nghèo khổ, đặc biệt là nông dân, rốt cuộc đã có lúc dựng nên một cơ chế cưỡng thu có thể đưa công an, dân quân và cán bộ địa phương vào tận nhà người dân giữa đêm khuya để vét thóc và tịch thu tài sản. Những hình ảnh từng làm nên bản cáo trạng của văn học hiện thực thời thuộc địa đã trở lại trong một xã hội tuyên bố rằng cuộc cách mạng đã chấm dứt thời đại của chúng. Bi kịch lịch sử là chỗ ấy.

Cơn sốt The Odyssey ở Hàn Quốc

 Lê Hồng Lâm

Dân Hàn chắc cuồng The Odyssey vào hạng nhất thế giới. Quốc gia có 50 triệu dân mà có gần 11 triệu khán giả (tính đến hôm qua) vào rạp xem phim này. Phim còn xếp loại R nữa, tức tính trung bình, khoảng ba người Hàn trưởng thành thì có một người vào rạp xem The Odyssey. Doanh thu phim này ở thị trường Hàn xấp xỉ 90 triệu USD và có thể tiến tới con số 100 triệu USD khi về đích.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Hợp tác Lancang-Mekong: Từ quan hệ bất đối xứng đến đối tác công bằng và trách nhiệm

 Những điều Cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong cần có trong thập kỷ thứ hai

Phạm Phan Long
19 tháng 9 năm 2026

 

Thành tích tăng trưởng của LMC trong thập niên đầu

Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 – tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.

Ngựa trên đất Việt – từ con vật ngoại nhập đến người bạn của miền sơn cước

 V. N.

 

 

Trong lịch sử văn minh Việt Nam, có một nghịch lý khá thú vị: ngựa hiện diện rất đậm trong văn chương, truyền thuyết, nghệ thuật và lịch sử quân sự, nhưng lại chưa bao giờ thực sự là con vật chủ lực của nền kinh tế Việt Nam.

Người Việt có thể nói đến “tuấn mã”, “chiến mã”, “mã đáo thành công”, có Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, có Nguyễn Huệ dùng kỵ binh, có những đoàn quân cưỡi ngựa trong sử sách; nhưng trong đời sống nông nghiệp, hình ảnh căn bản vẫn là con trâu đi trước cái cày, chứ không phải con ngựa.

Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ chính địa lý và phương thức sinh tồn của cư dân Việt.

Tiểu thuyết của các nước đồng văn thời phong kiến

 Trần Quốc Anh

Lục Vân Tiên truyện, bản Duy Minh Thị, năm Giáp Tuất 1874


Nếu đem văn học tự sự của bốn nước Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam – những quốc gia từng nằm trong không gian văn hóa Hán quyển – ra so sánh, ta sẽ thấy một điều khá thú vị: cùng sử dụng chữ Hán trong nhiều thế kỷ, nhưng mỗi nước lại phát triển thể loại tiểu thuyết theo một con đường rất khác nhau.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Câu chuyện thị trường nghệ thuật: "con nhà giàu" cũng không thể hiểu nổi...

 Nguyên Hưng

Trên thị trường thời trang cao cấp, người ta không tìm kiếm cái “đẹp”, mà tìm kiếm cái “độc”. Họ không cạnh tranh bằng giá rẻ, mà cạnh tranh bằng giá cao. Những người mang tư duy bình dân bước vào thế giới này hầu như không hiểu được điều đó. Thị trường nghệ thuật cũng vận hành đúng theo quy luật tương tự.

Trí tuệ Phật giáo trước thách thức của trí tuệ nhân tạo

 Trần Kiêm Đoàn

Trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, 2026, chúng tôi – một nhóm Phật tử cao niên U70, U80 và U90 từ nhiều vùng miền Hải ngoại và Việt Nam – có dịp thăm viếng, gặp gỡ và chia sẻ với chư tôn đức, quý đạo hữu và thế hệ Phật tử tuổi trẻ mang tính kế thừa về những vấn đề Phật sự; đặc biệt là những thách thức trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình tu học và hoằng pháp. Vô hình chung, vấn đề nổi cộm và tiêu biểu nhất là sự hiện hữu với những tác dụng và thách thức chưa từng có tiền lệ về Trí Tuệ Nhân Tạo (AI).

Tháng Chín

 Nguyễn Đức Tùng

Tháng Chín, rừng đã cháy.

Thế giới trở nên im lặng.

Im lặng là điều tôi nhận ra trước hết khi đi qua vùng rừng núi vừa bị lửa tiêu hủy. Không có tiếng chó sủa, không nhìn thấy những con chồn chạy băng qua đường khi bạn lái xe trên xa lộ lên phía Bắc. Không tiếng chim hót. Bây giờ là mùa thu, những đàn ngỗng trời Canada sẽ bắt đầu bay về phương Nam, tiếng của chúng kêu vang mặt nước. Mới đây thôi, năm ngoái, năm kia, bây giờ tôi không nhìn thấy chúng. Không nhìn thấy nai và hươu, mèo rừng và gấu, không nhìn thấy sự sống ở đâu cả. Sau những cuộc cháy rừng lớn, tôi thường lái xe dọc bờ biển phía Đông của Mỹ và Canada, thăm rừng đã cháy, nghĩ về chúng, về ký ức của những vòng cung tươi đẹp.