Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2026

Dịch khoa học xã hội và nhân văn – một chuyển di tri thức

 Chiêm nghiệm về chân dung Dịch giả Khoa học Xã hội và Nhân văn

Bảo Chân

Dịch thuật như một sự phản tư ngôn ngữ

Trong lịch sử nghiên cứu lí thuyết thế giới, dịch thuật luôn làm dấy lên những tranh luận giao thoa giữa tính học thuật và tính thực hành trong giới chuyên gia ngôn ngữ và những dịch giả kinh nghiệm. Hơn sáu mươi năm qua, có một điều tất cả mọi chuyên gia đều công nhận đó là dịch thuật là một khoa học liên ngành và không chỉ đơn thuần là một khoa học về chuyển (ngôn) ngữ, mà còn nắm giữ vai trò chính yếu trong sự chuyển giao tri thức – quá trình một khái niệm từ bối cảnh văn hóa này được “tái sinh” và “tái cấu trúc” trong một hệ hình tư duy khác – trong khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV), cụ thể là Triết học, Xã hội học, Nhân chủng học, ... Từ đó, dịch giả không chỉ là một chủ thể ở giữa nối hai ngôn ngữ; họ còn phải là những nhà thám hiểm đi sâu vào bản chất của mỗi ngôn ngữ để tìm kiếm những khả năng biểu đạt mới cho tư duy.

Qua một dự án đào tạo dịch giả khoa học xã hội và nhân văn – chương trình do Trung tâm Sách Quốc gia Pháp (CNL) và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam đồng chủ trì với sự hợp tác Đại học Aix Marseille (Pháp), diễn ra từ 04/2025 đến 04/2026, với mục tiêu bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ dịch giả KHXH&NV Pháp Việt để thực hiện các dự án chuyển ngữ những tác phẩm học thuật và nghiên cứu –, tôi muốn trình bày những chiêm nghiệm trong tâm thế một người dịch, qua đó phác họa một chân dung dịch giả KHXH&NV như một nhà khoa học thực địa, một kẻ đàm phán ý nghĩa và một người lữ hành kiên trì trên con đường tìm kiếm sự tương đồng trong dị biệt bằng những phân tích phản tư các chiều kích triết học về dịch thuật của Umberto Eco, Paul Ricoeur, Michel Espagne, cũng như việc rút tỉa những kinh nghiệm thực hành dịch thuật từ chuỗi hội thảo và bài giảng về dân tộc học của GS Pascal Bourdeaux, về xã hội học của GS Nguyễn Phương Ngọc, viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu Á của Đại học Aix Marseille (IrASIA) và về khái niệm triết học của TS. Nguyễn Thị Từ Huy, trong khuôn khổ của chương trình nói trên. Giai đoạn thứ nhất của chương trình được hoàn thành với việc xuất bản cuốn sách thuật ngữ Khoa học Nhân văn: Con người và Xã hội sớm được xuất bản tại Việt Nam trong tháng 6 năm 2026.

1. Dịch giả là nhà khoa học thực địa – người khai quật lớp trầm tích ký ức

Một trong những bài học cốt lõi từ khóa đào tạo tại Viện Nghiên cứu về châu Á (IrASIA) thuộc Đại học Aix-en-Provence là sự xóa nhòa ranh giới giữa nghiên cứu và dịch thuật. GS Pascal Bourdeaux (EPHE – Trường Đào tạo Nghiên cứu Cao cấp) qua hội thảo và các bài giảng của ông đã tổng kết rằng việc nghiên cứu giống như việc “học bơi phải nhảy xuống nước”. Vì lẽ đó, những người dịch chuyên ngành KHXH&NV không thể chỉ là một học giả ngồi trong tháp ngà của ngôn ngữ và văn bản; họ cần phải là những nhà khoa học thực địa: họ phải nghiên cứu và truy tìm sử liệu khi dịch lịch sử, họ phải tra cứu để nắm rõ bối cảnh xã hội và bản thể con người khi dịch xã hội học hay nhân chủng học, họ phải đến bệnh viện/phòng phẫu thuật khi dịch y khoa…

Chẳng hạn như, khi dịch tác phẩm Xứ Đàng Trong của Cristoforo Borri, dịch giả không thể chỉ dựa vào các từ điển hiện đại đương thời. Họ phải đối chiếu với sử liệu – các bản đồ cổ thế kỷ 17 – tra cứu và tìm hiểu về đơn vị đo lường cổ, và nghiên cứu các thuật ngữ về hàng hải thời bấy giờ để hiểu nội hàm các thuật ngữ và bối cảnh sử dụng của từ ngữ.

Truy xuất và giải mã lưu trữ

Dịch giả các chuyên ngành KHXH&NV (lịch sử, nhân chủng học, giáo dục học, bảo tàng học…) trong nhiều bối cảnh và tình huống cần phải trở thành một nhà lưu trữ (archivist). Việc thâm nhập vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp tại Aix en Provence (ANOM), ở đó các dịch giả phải tìm kiếm và truy xuất nguồn sử liệu phục vụ cho công trình dịch thuật của mình đã chứng minh rằng, thực tiễn công việc của một dịch giả những chuyên ngành đó giống như cuộc đi tìm “lớp trầm tích” của ngôn từ và văn bản. Khi dịch một văn bản lịch sử, người dịch không chỉ tra nghĩa hiện tại của từ, mà phải hiểu từ đó đã được sử dụng như thế nào trong các sắc lệnh thuộc địa hay báo cáo hành chính của những thế kỷ trước. Việc đến các trung tâm lưu trữ (như ANOM tại Pháp hay Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, I và III ở Việt Nam) giúp dịch giả nhận ra rằng một từ trong báo cáo hành chính thuộc địa Đông Dương có thể mang hàm ý mỉa mai hoặc áp đặt quyền lực mà nếu chỉ đọc văn bản rời rạc sẽ không nhận ra.

Trong tình huống này, chúng tôi liên hệ đến lý thuyết của Michel Espagne về “Chuyển giao văn hóa” (Cultural Transfer), và lí thuyết của ông trở nên sống động và có ý nghĩa. Espagne cho rằng văn bản khi di chuyển sẽ bị thay đổi chức năng. Dịch giả, với tư cách nhà khoa học, phải nhận diện được sự thay đổi này. Một ví dụ cụ thể: việc nghiên cứu các hiện vật tại Bảo tàng Thuộc địa Marseille về các mẫu vật “canh tân” được thu thập từ các nước Đông Dương đòi hỏi không chỉ dịch tên loài thực vật, mà là dịch cả một hệ thống chiếm hữu tri thức của chế độ thuộc địa lên tài nguyên bản địa. Vì thế mà chân dung dịch giả lúc này là người thợ đào bới ký ức, đảm bảo rằng mỗi từ ngữ được chọn đều có sự bảo chứng của lịch sử và sự thật khách quan.

2. Dịch triết học: Cuộc thám mã các thực thể tư duy

Nếu dịch lịch sử cần sự chính xác và cẩn trọng của một người làm lưu trữ, thì dịch Triết học đòi hỏi một năng lực thám mã bản chất của tồn tại. Chuỗi bài giảng của TS. Nguyễn Thị Từ Huy về việc dịch các khái niệm triết học phương Tây sang tiếng Việt (như Aristotle, Plato, Descartes, Kant, Deleuze) đã mở ra một chiều kích sâu sắc trong thực hành dịch thuật chuyên ngành.

Sự va chạm giữa các hệ khái niệm

Dịch giả triết học không dịch “từ”, họ dịch “khái niệm”. Một khái niệm triết học không phải là một nhãn dán hay một tên gọi cho một sự vật, mà là một cấu trúc của tư duy kèm theo một nội hàm trừu tượng.

Một ví dụ với thuật ngữ Substance vốn là một khái niệm trong triết học Aristotle có nội hàm bao gồm

- Bản thể chính (substance première): bản thể riêng biệt của các cá thể, cái làm cho cá thể là chính nó.

- Bản thể thứ cấp (substance secondaire): bản thể loài, bản thể phổ quát.

=> “Socrate là Socrate” (bản thể chính) / “Socrate là người”, “Georges Washington là người” (bản thể thứ cấp).

Như vậy, khi dịch thuật ngữ Substance (Bản thể), dịch giả phải đối mặt với sự phân chia của Aristotle giữa Substance thứ nhất (cá thể cụ thể) và Substance thứ hai (loài/chi). Hành động của dịch giả ở đây là một sự phản tư và suy nghiệm sâu của ngôn ngữ: Làm sao để tiếng Việt – một ngôn ngữ vốn giàu tính cụ thể và hình ảnh – có thể chuyên chở được những trừu tượng hóa cực độ của triết học phương Tây?

Hay, trường hợp của thuật ngữ “Dasein” của Heidegger.

dasein = être là (ở tại đó).

Trong tiếng Việt, nó từng được dịch là “Tương tại”, “Hiện hữu”, hay “Sinh tại thế” trong khi đó Tuệ Sỹ chọn cách dịch “Lộ thể”. Mỗi lựa chọn của mỗi người dịch đều là một cuộc “thám mã” sâu sắc của tư tưởng và nội hàm của thuật ngữ này có ý niệm về việc con người đứng ở đâu trong vũ trụ. Ta nhận ra rằng, các dịch giả không chỉ dịch một từ, họ đang cố gắng cấy ghép một hệ tư duy phương Tây vào ngôn ngữ Việt.

Hành động dịch ở đây trở thành một sự thông diễn học (Hermeneutics). Dịch giả phải hiểu điều kiện hình thành khái niệm để hiểu rõ ý nghĩa và nội hàm trước khi chọn thuật ngữ tương đương. Việc phân biệt giữa Intelligible (Khả niệm – thuộc về trí tuệ) và Sensible (Khả giác – thuộc về cảm giác) của Plato yêu cầu dịch giả không chỉ nắm vững ngôn ngữ mà còn phải nắm vững lịch sử tư tưởng.

Từ đó, chân dung dịch giả triết học hiện lên như một nhà kiến trúc tư duy, người đang cố gắng xây dựng một ngôi nhà mới cho các ý niệm cổ xưa và hiện đại để dịch chuyển chúng sang một ngôn ngữ văn hoá khác - tiếng Việt.

3. Người đàm phán và trung thành năng động

Umberto Eco định nghĩa dịch thuật là nghệ thuật đàm phán. Thực tế dịch thuật trong những chuyên ngành thuộc KHXH&NV, nghệ thuật này diễn ra khốc liệt vì nó liên quan đến bản sắc và quyền lực ngôn ngữ. Thế nhưng, khác với dịch văn học hay dịch pháp luật, tư tưởng về sự trung thành (Tín) trong dịch thuật được xem xét và vận dụng linh hoạt. Giới nghiên cứu dịch thuật học gọi đó là sự trung thành không nô lệ.

Quả nhiên, GS Pascal Bourdeaux luôn nhấn mạnh một quy tắc: “không được sửa chữa tác giả”. Thế nhưng, trong các lĩnh vực như triết học nói riêng và những chuyên ngành KHXH&NV, sự trung thành tuyệt đối vào chữ nghĩa đôi khi lại là sự phản bội lớn nhất đối với tư tưởng. Dịch giả hẳn phải đảm đương nghĩa vụ đàm phán giữa ngôn ngữ của tác giả (để giữ vững logic lập luận) với ngôn ngữ của độc giả (để khi văn bản có thể được hiểu sâu sắc).

Vấn đề “ngữ nghĩa lịch sử” (sémantique historique) là một bài toán phản tư ngôn ngữ điển hình. Lấy ví dụ từ “Annamite”. Dịch giả phải xem xét giữa việc dùng từ “người Việt” (ngữ cảnh hiện đại hóa) hay giữ nguyên “người An Nam” (để tôn trọng bối cảnh lịch sử); và tôn chỉ của dịch thuật trong trường hợp này là dịch đúng điều văn bản gốc nói. Nghĩa là, nếu trong bản gốc tác giả viết Anamite thì người dịch sẽ không cố diễn giải thành “người Việt” vốn là tên gọi đương thời. Trong khi đó, với triết học, nếu dịch giả triết học dịch thuật ngữ Accident là “tai nạn” thay vì “tùy thể” (trong triết học Aristotle), thì đây hẳn là một cuộc đàm phán ngôn ngữ thất bại hoàn toàn.

Chân dung dịch giả lúc này trở thành một chính trị gia ngôn ngữ, người biết khi nào nên giữ lại sự “xa lạ” (foreignization) để chuyển giao một tư tưởng khác và làm giàu cho ngôn ngữ đích, và khi nào nên “thuần hóa” (domestication) để tri thức được tiếp nhận trôi chảy.

4. Sự hiếu ngôn ngữ và đạo đức thông diễn

Paul Ricoeur mang đến một chiều kích đạo đức với khái niệm “hiếu ngôn ngữ” (L’hospitalité langagière), tức là lý thuyết dịch thuật theo thông diễn học cho rằng dịch là cho phép ngôn ngữ của người khác cư ngụ trong ngôi nhà của mình, một hành động mà Ricoeur gọi là “bác ái trí tuệ” (altérité intellectuelle) theo lý thuyết dịch thuật thông diễn học của ông.

Chấp nhận sự bất toàn và nỗi đau mất mát

Ricoeur cho rằng dịch giả phải chấp nhận tồn tại “nỗi đau của sự không tương thích”. Bởi lẽ có những khái niệm như Dasein của Heidegger hay Différance của Derrida dường như là bất khả dịch - hoặc chí ít không tồn tại duy nhất một thuật ngữ tương đương. Hành động của dịch giả triết học lúc này là một sự hy sinh và chọn lựa thuật ngữ theo ngữ cảnh: chấp nhận rằng bản dịch của mình sẽ luôn thiếu hụt nhưng vẫn bền bỉ trong việc thiết lập một sự công bằng ngôn ngữ.

Trong dịch thuật KHXH&NV (cụ thể như cặp đôi ngôn ngữ Pháp-Việt), hiếu ngôn ngữ này còn thể hiện ở việc dám đối mặt với các vấn đề nhạy cảm, các ý niệm chính trị hay các thuật ngữ cũ của thời kỳ thuộc địa (Đông Dương). Trong các tình huống dịch thuật này thì dịch giả không được quyền “làm sạch” văn bản vì sẽ khiến nó trở nên phiến diện, giả tạo. Họ phải để cho sự phức tạp, thậm chí là sự khó chịu của văn bản gốc được hiện diện. Chân dung dịch giả lúc này là người canh giữ sự thật, người chấp nhận làm nhịp cầu cho những tiếng nói khác biệt, thậm chí đối lập, được gặp nhau trong sự tôn trọng văn hoá và lịch sử.

5. Điệp viên kép” trong dòng chuyển giao văn hóa

Michel Espagne, trong lí thuyết và các nghiên cứu về giao thoa các nền văn hoá, đã chứng minh rằng dịch thuật là động lực chính yếu của sự chuyển giao văn hóa. Một văn bản khi được chuyển sang bối cảnh văn hoá ngôn ngữ mới sẽ được tái cấu trúc. Trong bối cảnh ít được nghiên cứu như dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp, dịch giả KHXH&NV thường đóng vai trò là một “điệp viên kép” (agent double); và như vậy, chúng ta có thể hình dung được, một dịch giả trong bối cảnh ngôn ngữ từ tiếng Việt sang tiếng Pháp phản ảnh rõ nét vị thế vừa là người tiếp nhận tri thức phương Tây, vừa là người bảo tồn, lại vừa là người tái cấu trúc quyền lực tri thức trong quá trình thực hiện chuyển ngữ.

Chẳng hạn, khái niệm “Thi pháp” với công trình dịch tác phẩm nghiên cứu phê bình Thi pháp Truyện Kiều của GS Trần Đình Sử được dịch sang tiếng Pháp “La poétique” – Thi pháp học chứ không phải “Le poétique” – Nghiên cứu tính thi ca. Lựa chọn này không chỉ phản ánh nguồn gốc Aristoteles và sự tiến triển của thi pháp học hiện đại (từ cấu trúc luận đến Bakhtine) mà còn khẳng định “Thi pháp” trong công trình của Trần Đình Sử là một lĩnh vực nghiên cứu có hệ thống (môn học về tính văn học, thủ pháp, cấu trúc nghệ thuật và những yếu tố nội tại trong văn bản) chứ không chỉ nghiên cứu “tính thi vị” hay “nghệ thuật thơ”. Nhờ đó, khái niệm thi pháp của Việt Nam - vốn mang nội hàm kép: “thi pháp học” và “nghệ thuật thơ” được đưa vào không gian học thuật Pháp với đầy đủ trọng lượng của nó.

Ở chiều kích ngược lại, cụ thể như trường hợp của các công trình dịch các nghiên cứu của Nguyễn Văn Huyên viết bằng tiếng Pháp về văn hóa Việt Nam cho thấy rằng, ở vai trò “điệp viên”, dịch giả phải dùng phương pháp khoa học và tư duy của Pháp (cấu trúc luận, dân tộc học) để diễn đạt những giá trị tâm linh, phong tục thuần Việt. Do đó, sự khéo léo ngôn ngữ nằm ở việc dũng cảm giữ lại những thuật ngữ như “đình”, “chùa”, “giáp” (không dịch sang từ tương đương của Pháp) để bảo tồn bản sắc, buộc độc giả phương Tây phải bước vào thế giới khái niệm của người Việt.

Sự dịch chuyển quyền lực tri thức

Dịch giả không chỉ chuyển ngữ; họ đang dịch chuyển quyền lực ngôn ngữ và tri thức.

Những trường hợp dịch thuật như dịch các tác phẩm của các trí thức Nguyễn Văn Huyên, Phạm Quỳnh… – viết về văn hoá và truyền thống Việt Nam bằng tư duy Tây phương – hay công trình dịch từ Việt sang Pháp cuốn Thi pháp Truyện Kiều của GS. Trần Đình Sử cho thấy các dịch giả đang đóng góp vào quá trình tái định nghĩa bản sắc và văn hoá Việt Nam trong một không gian văn hoá khác; nó đồng thời cho phép các lí thuyết gia phương Tây kiểm chứng những khái niệm hoặc nghiên cứu sâu hơn về “cặp đôi hỗn hợp” và “lai tạo văn hóa” (métissage). Trong bối cảnh dịch thuật này, những dịch giả đóng vai những người đứng giữa các đường biên (giới): một mặt tiếp thu phương pháp luận khoa học phương Tây, mặt khác dùng chính phương pháp đó để soi chiếu và bảo tồn giá trị bản địa.

Hành động của dịch giả lúc này mang tính dấn thân xã hội sâu sắc. Họ dịch không chỉ để cung cấp thông tin, mà để kích thích những cuộc đối thoại mới về bản sắc, về quá khứ thuộc địa và về tương lai của quốc gia trong dòng chảy tri thức toàn cầu.

6. Những hành động cụ thể: Từ kỹ thuật đến suy tưởng

Sự mở rộng ý niệm về dịch giả được cụ thể hóa qua những hành động thực tế từ các buổi thảo luận liên ngành:

- Tư duy liên ngành (Interdisciplinarity): Một dịch giả dịch triết học không thể không biết lịch sử; một người dịch nhân học không thể thiếu kiến thức âm nhạc (như việc tìm hiểu đàn Chapi của người Raglai). Dịch thuật là sự tổng hòa các ngành khoa học và vì vậy đòi hỏi người dịch phải là người có khả năng đi xuyên cách chuyên ngành (Transdisciplinarity).

- Tham khảo tư liệu tập thể (Collective documentation): Việc sử dụng các công cụ nghiên cứu tài liệu như Zotero để chia sẻ thư mục, hoặc xây dựng các hồ sơ thuật ngữ (terminology) chung giữa 12 dịch giả của chương trình cho thấy dịch thuật hiện đại là một công việc cộng đồng. Tri thức không còn là sở hữu cá nhân mà là một mạng lưới mở.

- Dịch như là Di trú (Transhumance): Mượn hình ảnh của Mireille Gansel, dịch thuật là đưa đàn cừu tri thức di chuyển giữa những vùng đồng cỏ ngôn ngữ khác nhau. Nó yêu cầu sự kiên nhẫn, sự thấu cảm với “vùng đất” mới và sự trân trọng đối với nguồn gốc của “đàn cừu”. Hình ảnh đàn cừu di chuyển giữa các vùng đất cũng gợi lên ý niệm về tính chất kép và tương phản của ngôn ngữ “bất biến” (con cừu trắng đi đến đồng cỏ nào thì vẫn là con cừu trắng) và “biến chuyển” (con cừu trắng tinh lông dày ở xứ lạnh sẽ phải được cung cấp những yếu tố thích nghi khi chuyển sang môi trường xứ ấm)

- Sự kết hợp giữa lý trí và cảm giác: Những bài giảng triết học đã chỉ ra, nhận thức (connaissance) là sự tổng hòa giữa giác quan và lý trí. Dịch giả KHXH&NV cần cái “đầu lạnh” – lí tính, tỉnh táo – của nhà khoa học để phân tích cấu trúc, nhưng cũng cần trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ để cảm thụ những rung động tinh tế nhất của ngôn từ.

Sứ mệnh của "Người thợ xây cầu" tri thức

Chân dung của dịch giả Khoa học Xã hội và Nhân văn, qua sự tổng hòa từ các lý thuyết của Eco, Ricoeur, Espagne và các bài học thực tế, hiện lên như một thực thể đa diện và đầy trách nhiệm: một nhà lưu trữ kiên định, một nhà triết học suy tưởng, một kẻ đàm phán khôn ngoan và một điệp viên văn hóa dấn thân.

Tuy nhiên, hành trình ấy không dễ dàng chút nào. Trong thực tế của xuất bản và dịch thuật ở  Việt Nam, người dịch thường xuyên phải đối mặt với áp lực thời gian chặt chẽ, sự thiếu hụt tài liệu chuyên ngành tiếng Việt; người dịch không chỉ đàm phán với hai ngôn ngữ mà còn phải vượt lên những giới hạn nội tại của tiếng Việt – ngôn ngữ vẫn đang trong quá trình hình thành hệ thống khái niệm trừu tượng hiện đại. Việc dịch thuật, vì thế, không phải là đã hoàn tất khi cuốn sách được in ra. Đó còn là một quá trình liên tục kiến tạo ý nghĩa. Dịch giả chính là người bảo đảm cho cuộc đối thoại xuyên thời gian giữa các đế chế, các nền văn hóa và các hệ tư tưởng được diễn ra trong sự trung thực nhất có thể.

Trong một thế giới đầy biến động, nơi các rào cản ngôn ngữ và sự hiểu lầm văn hóa vẫn luôn chực chờ gây ra những đứt gãy, người dịch giả SHS đóng vai trò là những người giữ lửa cho tư duy. Họ nhắc nhở chúng ta rằng: tri thức chỉ thực sự có giá trị khi nó được sẻ chia, và bản dịch, dù có bất toàn đến đâu, vẫn là minh chứng hùng hồn nhất cho nỗ lực của con người trong việc thấu hiểu “Cái Khác”/“Kẻ khác” (L'autre). Dịch thuật các chuyên ngành khoa học xã và nhân văn, vì thế, không chỉ là một hành động ngôn ngữ, mà là một hành động “chuyển di bác ái tri thức và văn hoá nhân bản.

Tài liệu tham khảo:

  1. Bourdeaux P. (2025). Chuỗi bài giảng: Traduire l’ethonologie et l’anthropologie
  2. Eco, U. (2003). Dire presque la même chose. Traduit de l’italien par Myriem Bouzaher, Grasset.
  3. Espagne, M. (1999). Les transferts culturels franco-allemands. PUF.
  4. Ricoeur, P. (2004). Sur la traduction. Bayard, Paris.
  5. Nguyễn Th. T. H. (2025). Chuỗi bài giảng: Dịch các khái niệm triết học.
  6. Nguyen P. N. (2025). Chuỗi bài giảng: Dịch Xã hội học
  7. Loạt các bài Compte-rendu (báo cáo) của 12 dịch giả tham gia dự án đào tạo “Nâng cao năng lực dịch giả khoa học xã hội và nhân văn (Formation des traducteurs SHS)”, diễn ra tại Viện nghiên cứu Châu Á (IrASIA) và Trung tâm lưu trữ hải ngoại Pháp (ANOM) Aix-en-Provence, 09-2025.

Sài Gòn 05/2026

 

 

Bên trong các buồng tư liệu ở Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Pháp (ANOM) ở Aix-en-Provence