Danh ngôn
“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”
“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”
(Albert Camus, Caligula)
.
“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”
“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”
(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)
.
“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”
“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)
.
“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”
“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”
(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)
Ban Biên tập
Địa chỉ liên lạc:
1. Thơ
tho.vanviet.vd@gmail.com
2. Văn
vanviet.van14@gmail.com
3. Nghiên cứu Phê Bình
vanviet.ncpb@gmail.com
4. Vấn đề hôm nay
vanviet.vdhn1@gmail.com
5. Thư bạn đọc
vanviet.tbd14@gmail.com
6. Tư liệu
vanviet.tulieu@gmail.com
7. Văn học Miền Nam 54-75
vanhocmiennam5475@gmail.com
Tra cứu theo tên tác giả
- A. A. Fadeev
- A. Puskin
- A. T.
- Abdulrazak Gurnah
- Abraham F. Lowenthal
- Ace Le
- Ace Lê
- Adam Gopnik
- Adonis
- Adrian Horton
- Agi Mishol
- Ái Điểu
- Ajar
- Akiko Miki
- Alain Guillemin
- Alan Phan
- Alăng Văn Gáo
- Alăng Văn Giáo
- Albert Camus
- Aldous Huxley
- Aleksandr Griboedov
- Alesandr Blok
- Alex Marshall
- Alex Smith
- Alex Thai
- Alex-Thái Đình Võ
- Alexander Fadeev
- Alexander Solzhenitsyn
- Alexandra Alter
- Alexandre FERON
- Alexandre Féron
- Alice Munro
- Alina Lesik
- Alison Flood
- Allen Ginsberg
- Amanda Gorman
- Amartya Sen
- Amelia Glaser
- Amos Oz
- An Nam
- Anatole France
- Anatoly Gavrilov
- Anders Olsson
- André Breton
- André Menras
- André Menras – Hồ Cương Quyết
- André Menras Hồ Cương Quyết
- Andrea Hoa Pham
- Andrea Kendall-Taylor
- Andreas Bernard
- Andreas Fulda
- Andreas Wimmer
- Andrew Postman
- Andy Cao
- Anh Anh
- Anh Hồng
- Anh Hồng (nhà thơ)
- Ánh Liên
- Anh Nhi
- Anh Văn
- Anika Zeller
- Anna Akhmatova
- Anna Maria Bracale Ceruti
- Anna Mitchell
- Anna Schmid
- Anne Carson
- Anne Cazaubon
- Anne Hébert
- Anne Henochowicz
- Anne Nguyễn
- Annie Ernaux
- António Jacinto
- Antôn Nguyễn Trường Thăng
- Archimedes L.A. Patti
- Arlette Quỳnh Anh Trần
- Arnold Schwarzenegger
- Artem Sakharov
- Arthur Koestler
- Arty Abel
- Arvind Subramanian
- Augustina
- Aurélie Coulon
- Aurelien Breeden
- Ba Đâu Thảo
- Ba Sàm
- Bá Thụ Đàm
- Bạch Cúc
- Bạch Hoàn
- Bách Mỵ
- Bách Thân
- Bạch X. Phẻ
- Bạch Xuân Phẻ
- Badiucao
- Bakhtin
- Ban Mai
- Bàn Văn Thòn
- Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam
- Bảo Chân
- Bảo Huân
- Bảo La
- Bảo Nhi Lê
- Bảo Ninh
- Bảo Phác
- Bảo Thư
- Bảo Tích
- Bão Vũ
- Bảo Yến
- Barbara Demick
- Bashô
- Bạt Xứ
- Batrioldman
- Bauxite Việt Nam
- Bắc Đảo
- Bắc Phong
- Bằng Việt
- BB Ngô
- Bei Dao
- Benjamin Péret
- Benjamin Ramm
- Bertolt Brecht
- Bertrand Russell
- Bettina Rheims
- Bích Ngân
- Biếm họa
- Biên Cương
- Biệt Hiệu
- Bilahari Kausikan
- Bill Hayton
- Billy Collins
- Bình Nguyên Lộc
- Brahma Chellaney
- Branko Milanovic
- Brett Reilly
- Brian Pascus
- Brian Wu
- Brice Pedroletti
- Brodsky
- Bryan
- Bùi An
- Bùi Bảo Trúc
- Bùi Bắc
- Bùi Bích Hà
- Bùi Chát
- Bùi Chí Trung
- Bùi Chí Vinh
- Bùi Công Thuấn
- Bùi Công Trực
- Bùi Đức Lại
- Bùi Giáng
- Bùi Hải Quảng
- Bùi Hoàng Tám
- Bùi Hoằng Vị
- Bùi Huệ Chi
- Bùi Huy
- Bui Huy Hoi Bui
- Bùi Mai Hạnh
- Bùi Mạnh Hùng
- Bùi Mẫn Hân
- Bùi Minh Quốc
- Bùi Ngọc Tấn
- Bùi Quang Thắng
- Bùi Suối Hoa
- Bùi Thanh Hiếu
- Bùi Thanh Phương
- Bùi Thanh Tuấn
- Bùi Thụy Băng
- Bùi Tiến An
- Bùi Trân Phượng
- Bùi Trọng Hiền
- Bùi Văn Kha
- Bùi Văn Nam Sơn
- Bùi Việt Sỹ
- Bùi Vĩnh Phúc
- Bùi Xuân Bách
- Bùi Xuân Đính
- Bùi-Viết Văn Đức
- Bulgakov
- Bửu Chỉ
- C.D.
- Cái Lư Hương
- Cái Trọng Ty
- Cam Ly
- Cameron Shingleton
- Cảnh Chánh
- Cao Bảo Vân
- Cao Bình Minh
- Cao Chi
- Cao Gia An
- Cao Hành Kiện
- Cao Huy Thọ
- Cao Huy Thuần
- Cao Kim Ánh
- Cao La
- Cao Quang Nghiệp
- Cao Tần
- Cao Thị Hồng
- Cao Thu Cúc
- Cao Tự Thanh
- Cao Việt Dũng
- Cao Xuân Hạo
- Cao Xuân Huy
- Carl Bildt
- Carl O. Schuster
- Carlos Assunção
- Carolyn Mary Kleefeld
- Cát Linh
- Cẩm Tú
- Cấn Thị Thêu
- Chan Phuong
- Chanh Tam
- Charles Bo
- Charles Bukowski
- Charles S. Kraszewski
- Charles Simic
- ChatKP
- Chau Doan
- Châm Khanh
- Chân Minh
- Chân Pháp Xa
- Chân Phương
- Chân Xuân Tản Viên
- Châu Diên
- Châu Hải Đường
- Châu Hồng Thủy
- Châu Hữu Quang
- Chenn
- Chế Diễm Trâm
- Chế Lan Viên
- Chi Mai
- Chi Phương
- Chiêu Dương
- Chiêu Khiêm
- Chiharu Shiota
- Chim Hải
- Chim Trắng
- Chinh Ba
- Chính Tâm
- Chính Vĩ
- Chinua Achebe
- Chơn Không Cao Ngọc Phượng
- Christian Gampert
- Christian Welzel
- Christina Mary Hjortlund
- Christoph Giesen
- Christoph Sator
- Christopher Balding
- Christopher Goscha
- Christy Wampole
- Chu Dương
- Chu Hảo
- Chu Hoạch
- Chu Kim
- Chu Mộng Long
- Chu Quang Tiềm
- Chu Tử
- Chu Văn Lễ
- Chu Văn Sơn
- Chu Vĩnh Hải
- Chu Vương Miện
- Chu Xuân Diên
- Chung Le
- Claire Simon
- Claus Hecking
- Clay Phạm
- Clément Ghys
- Concepcion de Leon
- Connie Hoàng
- Cora Engelbrecht
- Costica Bradatan
- Cổ Ngư
- Công Nguyễn
- Cù An Hưng
- Cù Huy Hà Vũ
- Cù Mai Công
- Cù Tuấn
- Cung Minh Huân
- Cung Tích Biền
- Cung Trầm Tưởng
- Cư sĩ Minh Đạt
- D. S. Likhachev
- Da Màu
- Dạ Ngân
- Dạ Thảo Phương
- Dã Tượng
- DAD
- Dadolin Murak
- Damien Cave
- Damien Keown
- Dan Bilefsky
- Dan Slater
- Dana Gioia
- Danh ngôn
- Dani Rodrik
- Daniel Halpern
- Daniel Hautzinger
- Daniela Prugger
- Daron Accemoglu
- David Brown
- David Gascoyne
- David Marchese
- David Weinberger
- Ðặng Thơ Thơ
- Demetrio Paparoni
- DEUTSCHE WELLE
- Di
- Di Li
- Diêm Liên Khoa
- Diễm Thi
- Diễm Tường
- Diễn đàn Thế kỷ
- Diệp Duy Liêm
- Diệp Huy
- Ðinh Cường
- Dino Buzatti
- Dipanjan Roy Chaudhury
- Dmitri Prokofyev
- Dmitry Burago
- Dmitry Muratov
- Dmitry Tsyganov
- Doãn Cẩm Liên
- Doãn Mạnh Dũng
- Doãn Mẫn
- Doãn Quốc Sỹ
- Dominique Lemieux
- Donald Inglehart
- Donna Ashworth
- Ðỗ Quang Nghĩa
- Ðỗ Quyên
- Du Tử Lê
- Dung Nguyễn
- Dũng Phan
- Dũng Trung Kqd
- Dũng Vũ
- Duy Lam
- Duy Tân
- Duy Thanh
- Duy Thông
- duyên
- Duyên Anh
- Duyên Khánh
- Dư Hoa
- Dư Kiệt
- Dư Thị Hoàn
- Dư Thu Vũ
- Dương Đại Triều Lâm
- Dương Đình Giao
- Dương Khánh Phương
- Dương Kiền
- Dương Ngạn
- Dương Nghiễm Mậu
- Dương Ngọc Thái
- Dương Như Nguyện
- Dương Phương Vinh
- Dương Thắng
- Dương Thiệu Tước
- Dương Thu Hương
- Dương Thuấn
- Dương Tú
- Dương Tường
- Dương Văn Ba
- Dương Vân
- Dylan Suher
- Đa Mi
- Đà Văn
- Đàm Hà Phú
- Đàm Hách Thành
- Đào An Khánh
- Đào Anh Kha
- Đào Công Tiến
- Đào Duy Anh
- Đào Hiếu
- Đào Lê Na
- Đào Ngọc Chương
- Đào Nguyên
- Đào Nguyễn
- Đào Nguyên Phương Thảo
- Đào Như
- Đào Phương Liên
- Đào Quang Toản
- Đào Tấn Phần
- Đào Thái Tôn
- Đào Thị Hương
- Đào Tiến Thi
- Đào Trung Đạo
- Đào Trường Phúc
- Đào Tuấn
- Đào Tuấn Ảnh
- Đào Văn Bình
- Đào Văn Thuỵ
- Đào Văn Tiến
- Đào Vũ Anh Hùng
- Đạt Nguyễn
- Đặng Anh Đào
- Đặng Bích Phượng
- Đặng Chương Ngạn
- Đặng Đình Cung
- Đặng Đình Mạnh
- Đặng Gia Mẫn
- Đặng Hà
- Đặng Hải Sơn
- Đặng Hoàng Giang
- Đặng Hồng Nam
- Đặng Hùng Võ
- Đặng Hương Giang
- Đặng Hữu
- Đặng Lưu
- Đặng Mai Lan
- Đặng Mậu Tựu
- Đăng Nguyên
- Đặng Nguyên Triết
- Đặng Phùng Quân
- Đặng Quốc Thông
- Đặng Sơn Duân
- Đặng Thái
- Đăng Thành
- Đặng Thân
- Đặng Thị Hảo
- Đặng Thơ Thơ
- Đặng Tiến
- Đặng Tiến (Thái Nguyên)
- Đặng Trung Nghĩa
- Đặng Túy
- Đặng Văn Dũng
- Đặng Văn Hùng
- Đặng Văn Ngữ
- Đặng Văn Sinh
- Đặng Vũ Vương
- Đặng Xuân Thảo
- Đặng Xuân Xuyến
- Đằng-Giao
- Đậu Anh Tuấn
- Điểm Thọ
- Đinh Bá Anh
- Đinh Cường
- Đinh Hoàng Thắng
- Đinh Hùng
- Đình Kính
- Đinh Lê Vũ
- Đinh Linh
- Đinh Ngọc Thu
- Đinh Phương
- Đinh Phương Thảo
- Đinh Quang Anh Thái
- Đinh Thanh Huyền
- Đinh Thị Như Thúy
- Đinh Trường Chinh
- Đinh Từ Bích Thuý
- Đinh Từ Bích Thúy
- Đinh Văn Đức
- Đinh Vũ Hoàng Nguyên
- Đinh Ý Nhi
- Đinh Yên Thảo
- Đoàn Ánh Thuận
- Đoàn Bảo Châu
- Đoàn Cầm Thi
- Đoàn Công Lê Huy
- Đoàn Hồng Lê
- Đoàn Huy Giao
- Đoàn Huyền
- Đoàn Khắc Xuyên
- Đoàn Lê Giang
- Đoàn Nhã Văn
- Đoàn Thanh Liêm
- Đoan Trang
- Đoàn Tùng Nguyễn
- Đoàn Tử Huyến
- Đoàn Việt Hùng
- Đoàn Xuân Kiên
- Đỗ Anh Hoa
- Đỗ Anh Tuấn
- Đỗ Bích Thuý
- Đỗ Cao Bảo
- Đỗ Duy Ngọc
- Đỗ Đức
- Đỗ Đức Đông Ngàn
- Đỗ Đức Hiểu
- Đỗ Hòa
- Đỗ Hoàng Diệu
- Đỗ Hồng Ngọc
- Đỗ Hồng Nhung
- Đỗ Hữu Chí
- Đỗ Kh
- Đỗ Kh.
- Đỗ Khiêm
- Đỗ Kim Thêm
- Đỗ Lai Thuý
- Đỗ Lai Thúy
- Đỗ Lê Anh Đào
- Đỗ Mạnh Hoàng
- Đỗ Minh Tuấn
- Đỗ Nghê
- Đỗ Ngọc
- Đỗ Ngọc Thống
- Đỗ Quang Nghĩa
- Đỗ Quang Vinh
- Đỗ Quý Toàn
- Đỗ Quyên
- Đỗ Quỳnh Dao
- Đỗ Thái Bình
- Đỗ Thắng Cảnh
- Đỗ Thị Thu Trà
- Đỗ Thiên Anh Tuấn
- Đỗ Trí Vương
- Đỗ Trọng Khơi
- Đỗ Trung Quân
- Đỗ Trường
- Đỗ Tuyết Khanh
- Đồng Chuông Tử
- Đông Hoài
- Đông Hồ
- Đông Kha
- Đông Ngàn Đỗ Đức
- Đông Nghi
- Đức Ban
- Đức Đàm
- Đức Flying Bay
- Đức Hoàng
- Đức Lê
- Đức Phổ
- Đức Tâm
- Đức Tiến
- E. M. Forster
- E.E. Cummings
- E.M. Chernoivanenko
- Eamonn Butler
- Eckart Kleßmann
- Eduardo Galeano
- Edward Hirsch
- Elena Pucillo Truong
- Elias Canetti
- Ellen Bass
- Eloisa Amezcua
- Emiel Roothooft
- Emma Loffhagen
- Emmanuelle Jardonnet
- Eric Henry
- Eric Weiner
- Erica Frantz
- Erik Harms
- Erik Korling
- Euan Ward
- Éva Voszka
- Evgheni Dobrenko
- F.N.
- Federico García Lorca
- Feliks Kuznesov
- Filip Lech
- Flanny O’Connor
- Florence Noiville
- Florian Altenhöner
- France A. Córdova
- Francis Fukuyama
- Francis Fukuyma
- François Guillemot
- Frank Dikötter
- Frank O'Hara
- Frankfurt
- Fred Hiatt
- Friedrich Dürrenmatt
- Friedrich Nietzsche
- Friedrich Wilhelm Graf
- Fritz J. Raddatz
- Gã Khờ
- Gabriel García Márquez
- Gabriel Josipovici
- Gaither Stewart
- Gaiutra Bahadur
- Gary Leupp
- Gavin Butler
- Gặp gỡ và trò chuyện
- Georg Bönisch
- Georg Trakl
- George Burchett
- George Orwell
- George Perreault
- George Siemens
- Georges Condominas
- Gerhard Will
- Germain Droogenbroodt
- Giang Công Thế
- Giang Dang
- Giang Lại Đức
- Giang Nam
- Giáng Vân
- Giáo hoàng Leo XIV
- Giao Nguyễn
- Giáp Văn Dương
- Gideon Rachman
- Giuse Lê Công Đức
- Goethe
- Gonçalo Fernandes
- Gottfried Benn
- Graham Allison
- Grigory Yudin
- Günter Kunert
- Gyảng Anh Iên
- Hà Duy Phương
- Hà Dương Tuấn
- Hà Dương Tường
- Hà Đình Nguyên
- Hạ Đình Nguyên
- Hà Huy Khoái
- Hà Huy Sơn
- Hà Hương
- Hà Lệ Minh
- Hà Ngọc Hòa
- Hạ Nguyên
- Hà Nguyên Du
- Hà Nhân
- Hà Nhật
- Hà Phạm Phú
- Hà Quang Vinh
- Hà Sĩ Phu
- Hà Thanh Vân
- Hà Thế
- Hà Thị Minh Đạo
- Hà Thúc Sinh
- Hà Thủy Nguyên
- Hà Tùng Long
- Hà Tùng Sơn
- Hà Văn Tấn
- Hà Văn Thịnh
- Hà Văn Thùy
- Hà Vũ Trọng
- Hagi Kenaan
- Hai An Vu
- Hải Hạc
- Hải Ngọc
- Hai Thanh
- Hàm Anh
- Han Dang
- Hàn Giang
- Han Kang
- Hàn Vĩnh Diệp
- Hạnh Diễm
- Hạnh Nguyên
- Hạnh Phước
- Hạnh Viên
- Hannah Beech
- Hào Thiện Nhân
- Hari Kunzru
- Haruki Murakami
- Hân Hương
- Heiko Buschke
- Heinrich Heine
- Henri Michaux
- Henry David Thoreau
- Henry Wadsworth Longfellow
- Heriberto Araújo
- Hermann Hesse
- Hermann von Helmholtz
- Hiền Trang
- Hiệp Ikaria
- Hiệu Minh
- Hiếu Tân
- Ho Lai-Ming
- Hòa Bình Lê
- Hoa Níp
- Hoài Hương
- Hoài Nam
- Hoài Phương
- Hoài Thanh
- Hoài Việt
- Hoài Ziang Duy
- Hoan Doan
- Hoàn Nguyễn
- Hoàng Ánh
- Hoàng Anh Tuấn
- Hoàng Cát
- Hoàng Cầm
- Hoàng Chí Hiếu
- Hoàng Chính
- Hoàng Cường Long
- Hoàng Dũng
- Hoàng Dương Tuấn
- Hoàng Đăng Khoa
- Hoàng Đỗ
- Hoàng Đông
- Hoàng Đức Truật
- Hoàng Hà
- Hoàng Hải Thủy
- Hoàng Hải Vân
- Hoảng Hãn
- Hoàng Hôn
- Hoàng Hưng
- Hoàng Khởi Phong
- Hoàng Kim Oanh
- Hoàng Lại Giang
- Hoàng Lan
- Hoàng Lan Anh
- Hoàng Lan Chi
- Hoàng Lê
- Hoàng Lệ
- Hoàng Linh
- Hoàng Long
- Hoàng Mai Ðạt
- Hoàng Mạnh Hải
- Hoàng Minh Trí
- Hoàng Minh Tường
- Hoàng Nam
- Hoàng Nga
- Hoàng Ngọc Biên
- Hoàng Ngọc Hiến
- Hoàng Ngọc Nguyên
- Hoàng Ngọc Tuấn
- Hoàng Nguyễn
- Hoàng Nguyên Vũ
- Hoàng Nhơn
- Hoàng Nhuận Cầm
- Hoàng Phạm Gia Khang
- Hoàng Phong Tuấn
- Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Hoàng Quân
- Hoàng Quốc Dũng
- Hoàng Quốc Hải
- Hoàng Thị Hường
- Hoàng Thị Thu Thủy
- Hoàng Thu Phố
- Hoàng Thúy
- Hoàng Thuỵ Anh
- Hoàng Tiến
- Hoàng Trung Thông
- Hoàng Tuấn Công
- Hoàng Tuấn Phổ
- Hoàng Tùng
- Hoàng Tuỵ
- Hoàng Tư Giang
- Hoàng Văn Sơn
- Hoàng Việt
- Hoàng Vũ Sơn
- Hoàng Vũ Thuật
- Hoàng Xuân Phú
- Hoàng Xuân Sơn
- Hoàng Xuân Tuyền
- Hoàng Yến
- Honoré de Balzac
- Horst Bienek
- Howard Gardner
- Hồ Anh Thái
- Hồ Bạch Thảo
- Hồ Bất Khuất
- Hồ Diệu Vân
- Hồ Dzếnh
- Hồ Đắc Vũ
- Hồ Đình Nghiêm
- Hồ Hải Thụy
- Hồ Hữu Tường
- Hồ Minh Tâm
- Hồ Ngọc Đại
- Hồ Như
- Hồ Phú Bông
- Hồ Tịnh Tình
- Hồ Trường An
- Hồ Tú Bảo
- Hội những người ủng hộ GS. Chu Hảo
- Hồng Anh
- Hồng Hoang
- Hồng Lê Thọ
- Hồng Phú
- Huệ Hương Hoàng
- Huguette Bertrand
- Huong Nguyen
- Huy Bảo
- Huy Cận
- Huy Đức
- Huy Tưởng
- Huyền Thương
- Huỳnh Duy Lộc
- Huỳnh Hoa
- Huỳnh Hữu Uỷ
- Huỳnh Hữu Ủy
- Huỳnh Kim Báu
- Huỳnh Kim Quang
- Huỳnh Lê Nhật Tấn
- Huỳnh Liễu Ngạn
- Huỳnh Ngọc Chênh
- Huỳnh Như Phương
- Huỳnh Sơn Phước
- Huỳnh Tấn Mẫm
- Huỳnh Thế Du
- Huỳnh Thục Vy
- Huỳnh Trọng Khang
- Huỳnh Tuấn Anh
- Hứa Chương Nhuận
- Hứa Lập Chí
- Hương Lan
- Hường Thanh
- Hương Thủy
- Hữu Danh
- Hữu Đông
- Hữu Loan
- Hữu Mai
- Hữu Phương
- Ian Bui
- Ian Johnson
- Igor Poglazov
- Iio Sōgi
- Ilza Burchett
- Inrasara
- Iris Radisch
- Isabella Kwai
- Issa
- Issac Bashevis Singer
- Italo Calvino
- Iya Kiva
- J. M. Lotman
- J.B Nguyễn Hữu Vinh
- Jacques Attali
- Jacques Prévert
- Jacqui Palumbo
- Jake Johnson
- James Borton
- James Daniel Spears
- James G. Zumwalt
- James Grossman
- James Joyce
- James Poniewozik
- James Stavridis
- James WrightJuan Felipe Herrera
- Jang Kều
- Janos Kornai
- Jared Carters
- Jason Lopata
- Jason Morris-Jung
- Jay Nordlinger
- Jaya K.
- Jean Chesnaux
- Jean d'Ormesson
- Jean Piaget
- Jean Przyluski
- Jean Toomer
- Jean-Jacques Brochier
- Jean-Jacques Roth
- Jean-Louis Rocca
- Jean-Luc Chalumeau
- Jean-Marc Roberts
- Jean-Patrick Géraud
- Jean-Paul Sartre
- Jefferson Cowie
- Jeffrey Hanfover
- Jeffrey Nall
- Jessica Swoboda
- Jessie Yeung
- Jiayang Fan
- Jimmy Carter
- Joan Hua
- João Guimarães Rosa
- Joaquin Nguyễn Hòa
- Johann Grolle
- John Ashbery
- John Barrow
- John Cheever
- John D. Howard
- John Freeman
- John Keane
- John McCain
- Jon Fosse
- Jonathan Dee
- Jonathan London
- Jonathan Scott Holloway
- Jörg Wischermann
- Jorge Amado
- Jorge Luis Borges
- Joschka Fischer
- Josée Lapointe
- Joseph Wong
- Joseph Wright
- Josh Rogin
- Joshua Rothman
- Juan Pablo Cardenal
- Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo
- Julia Cagé
- Julio Cortázar
- Jun’ichiro Tanizaki
- Kahil Gibral
- Kai Hoàng
- Kale
- Kalynh Ngô
- Kamel Daoud
- Kao Phú
- Kap Seol
- Karel Appel
- Karen Tongson
- Kate Chopin
- Katie Razzall
- Kazuo Shiraga
- Kenneth Nguyen
- Kenzaburo Oe
- Keorapetse Kgositsile
- Kerstin Holm
- Kều Jang
- Kha Lương Ngãi
- Kha Tiệm Ly
- Khải Đơn
- Khái Hưng
- Khaled Juma
- Khaly Chàm
- Khang Quốc Ngọc
- Khánh
- Khánh Bình
- Khánh Duy
- Khánh Khánh
- Khánh Ly
- Khánh Mai
- Khanh Nguyen
- Khanh Pham
- Khánh Phương
- Khánh Trâm
- Khánh Trường
- Khét
- Khế Iêm
- Khiêm Nhu
- Khổng Đức Thiêm
- Khuất Đẩu
- Khuất Thu Hồng
- Khuê Minh Nguyệt
- Khuê Phạm
- Khuyết Thư
- Kiệm Hoàng
- Kiến Văn
- Kiệt Anh Hùng
- Kiệt Tấn
- Kiều Duy Vĩnh
- Kiều Loan
- Kiều Mai Sơn
- Kiều Maily
- Kiều Phong
- Kiều Thị An Giang
- Kim Ân
- Kim Chi
- Kim Dung
- Kim Hạnh
- Kim Thúy
- Kim Trần
- Kim Yi-deum
- Kinh Bắc
- Kính Hòa
- Klaus Wiegerefe
- Kobayashi Issa
- Kúm
- Kumar Vikram
- Kurt-Martin Mayer
- Kỳ Duyên
- Kyoko Numano
- L. N. Tolstoy
- L. V. H.
- La Khắc Hoà
- La Khắc Hòa
- Lã Nguyên
- Lại Nguyên Ân
- Lam Điền
- Lam Hạnh
- Lam Ngọc
- Lam Thái Hòa
- Lan Nguyên
- Lang Anh
- Langston Hughes
- LAP
- Larry Diamond
- Lars Vargö
- László Krasznahorkai
- Laura Cappelle
- Laurent Sagalovitsch
- Lawrence Ferlinghetti
- Lâm Chương
- Lâm Duyên
- Lâm Hạnh
- Lâm Lê
- Lâm Ngân Mai
- Lâm Quang Mỹ
- Lâm Thị Mỹ Dạ
- Lenin
- Leon Trotsky
- Leonard Cohen
- Leonardo da Vinci
- Lê An Thế
- Lê Anh Hoài
- Lê Anh Hùng
- Lê Ân
- Lê Bá Đảng
- Lê Bảo Nhi
- Lê Bích Vượng
- Lê Chiều Giang
- Lê Công Định
- Lê Công Giàu
- Lê Công Tư
- Lê Ðình Nhất Lang
- Lê Dũng
- Lê Duy Nam
- Lê Đạt
- Lê Đăng Doanh
- Lê Đình Cai
- Lê Đình Khẩn
- Lê Đình Thắng
- Lê Đỗ Huy
- Lê Đức Dục
- Lê Đức Thôn
- Lê Giang Trần
- Lê Hải
- Lệ Hằng
- Lê Hiệp
- Lê Hoài Nguyên
- Lê Hoàng Diễm Trang
- Lê Hoàng Lân
- Lê Học Lãnh Vân
- Lê Hồ Quang
- Lê Hồng Hà
- Lê Hồng Hiệp
- Lê Hồng Lâm
- Lê Hùng
- Lê Hùng Vọng
- Lê Huy Hòa
- Lê Huyền Ái Mỹ
- Lê Huỳnh Lâm
- Lê Hữu
- Lê Hữu Khoá
- Lê Hữu Khóa
- Lê Hữu Nam
- Lê Kế Lâm
- Lê Khải
- Lê Kim Duy
- Lê Ký Thương
- Lê Lạc Giao
- Lê Luân
- Lê Mã Lương
- Lê Mai
- Lê Mai Lĩnh
- Lê Mạnh Chiến
- Lê Mạnh Đức
- Lê Minh
- Lê Minh Chánh
- Lê Minh Hà
- Lê Minh Hiền
- Lê Minh Khuê
- Lê Minh Phong
- Lê Ngân Hằng
- Lê Ngọc Luân
- Lê Ngọc Sơn
- Lê Nguyễn
- Lê Nguyễn Duy Hậu
- Lê Nguyễn Hương Trà
- Lê Nguyên Long
- Lê Nguyên Vỹ
- Lê Như Bình
- Lê Oa Đằng
- Lê Phan
- Lê Phú Khải
- Lê Quang
- Lê Quang Đức
- Lê Quảng Hà
- Lê Quang Hợp
- Lê Quang Thành
- Lê Quân
- Lê Quốc Anh
- Lê Quỳnh
- Lê Quỳnh Mai
- Lê Sa Long
- Lê Si Na
- Lê Sơn
- Lê Tất Đạt
- Lê Tất Điều
- Lê Thanh Dũng
- Lê Thanh Hải
- Lê Thanh Phong
- Lê Thanh Trường
- Lê Thân
- Lê Thế Thắng
- lê thi diem thuý
- Lê Thị Hồng Minh
- Lê Thị Huệ
- Lê Thị Hường
- Lê Thị Oanh
- Lê Thị Thanh Tâm
- Lê Thị Thấm Vân
- Lê Thiết Cương
- Lê Thiếu Nhơn
- Lê Thọ Bình
- Lê Thời Tân
- Lê Thời Thôi
- Lê Thu Hiền
- Lê Thúy Bảo Liên
- Lê Tiên Long
- Lê Trí Tuệ
- Lê Trinh
- Lê Trọng Nghĩa
- Lê Trọng Nguyễn
- Lê Trung Tĩnh
- Lê Trường Thanh
- Lê Tuấn Huy
- Lê Tuyết Hạnh
- Lê Văn Bỉnh
- Lê Văn Hảo
- Lê Văn Hiếu
- Lê Văn Hòa
- Lê Văn Hùng Vĩ
- Lê Văn Luân
- Lê Văn Sơn
- Lê Văn Trung
- Lê Văn Tùng
- Lê Vĩnh Tài
- Lê Vĩnh Triển
- Lê Vũ Trường Giang
- Lê Xuân Khoa
- Lê Xuyên
- Li Edelkoort
- Li Tana
- Li Zhongqin
- Liêu Diệc Vũ
- Liêu Thái
- Liễu Trương
- Linh Nguyên
- Linh Phạm
- Linh Văn
- Linh Vân
- Linh-Chân Brown
- LKH
- Lorca
- Louis Aragon
- Louise Glück
- Lộc Vàng
- Lợi Phan Mai
- Luân Hoán
- Ludwig von Mises
- Luke Hunt
- Luke Turner
- Lữ Kiều
- Lữ Minh Trí
- Lữ Quỳnh
- Lương Đào
- Lương Thiệu Quân
- Lương Thư Trung
- Lưu Á Châu
- Lưu Bình Nhưỡng
- Lưu Diệu Vân
- Lưu Đình Long
- Lưu Đức Trung
- Lưu Hà
- Lưu Hiểu Ba
- Lưu Khánh Thơ
- Lưu Mê Lan
- Lưu Minh Hải
- Lưu Na
- Lưu Nhi Dũ
- Lưu Quang Vũ
- Lưu Thuỷ Hương
- Lưu Thủy Hương
- Lưu Trọng Tưởng
- Lưu Trọng Văn
- Lưu Uyên Khôi
- Lý Đợi
- Lý Gia Trung
- Ly Hoàng Ly
- Lý Ngang
- Ly Phạm
- Lý Quang Hoàn
- Lý Thanh
- Lý Tiến Dũng
- Lý Toàn Thắng
- Lý Trực Dũng
- Lý Xuân Hải
- Lydia Davis
- Lynh Bacardi
- LysP
- M. Gorky
- M. Trần
- M.L. Gasparov
- Mạc Phong Tuyền
- Mạc Văn Trang
- Mạc Việt Hồng
- Mạch Nha
- Mạch Quang Thắng
- Madeleine Riffaud
- Madlovics Bálint
- Magyar Bálint
- Mahmoud Darwish
- Mai An Nguyễn Anh Tuấn
- Mai Anh Tuấn
- Mai Bá Ấn
- Mai Bá Kiếm
- Mai Chanh
- Mai Đỗ
- Mai Hiền
- Mai Khôi
- Mai Kim Ngọc
- Mai Lý
- Mai Nhật
- Mai Ninh
- Mai Quốc Ấn
- Mai Quỳnh
- Mai Quỳnh Nam
- Mai Sơn
- Mai Thái Lĩnh
- Mai Thanh Sơn
- Mai Thảo
- Mai Tú Ân
- Mai Văn Hoan
- Mai Văn Phấn
- Mai Văn Tính
- Maki Starfield
- Mamleev
- Mạnh Kim
- Manuel Casimiro
- Mão Xuyên
- Marc Andrus
- Marcel Reich-Ranicki
- Marci Shore
- Marco Ferrarese
- Margarita Lyutova
- Marguerite Duras
- Maria Donovan
- Maria Ressa
- Marie Lê Thị Hoa
- Mário de Andrade
- Mario Vargas Llosa
- Marion Hennebert
- Mark B. Hamilton
- Mark Binelli
- Mark Frankland
- Mark Osaki
- Mark Strand
- Marta Hillers
- Martin Jankowski
- Martin Kulldorff
- Marty Robbins
- Mary Morose
- Mary Walsh
- Masaoka Shik
- Matei Vişniec
- Mathias Mayer
- Matthew Clayfield
- Matthew Crawford
- Maurice Blanchot
- Maximilian Steinbeis
- May
- Maya Angelou
- Mặc Đỗ
- Mặc Lâm
- Mân Côi
- McAmmond Nguyễn Thị Tư
- Media Văn Việt
- Mia Pluger
- Michael Burawoy
- Michael Scammell
- Miêng
- Mike Ives
- Mikhail Shishkin
- Mikhail Sholokhov
- Mikhail Viktorovich Zygar
- Milan Kundera
- Mimmi Diệu Hường Bergström
- MInh Anh
- Minh Huệ
- Minh Hùng
- Minh Luật
- Minh Phúc
- Minh Quang – Lê Chiên
- Minh Quang Ho
- Minh Tâm
- Minh Thùy
- Minh Thư
- Minh Toàn
- Minh Tuấn
- Minh Tự
- Mireille Sacotte
- Miura Chora
- Monica Berlin
- Mường Mán
- Mỹ Hằng
- Mỹ Lan
- N. S. Khrushchev
- Nadine Murtaja
- Nam Dao
- Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng
- Nam Đan
- Nam Đông
- Nam Nguyên
- Nam Sơn
- Naowarat Pongpaiboon
- Natalia lacovelli
- Nataliya Zhynkina
- Natsume Sōseki
- Nay Aung
- ng. anhanh
- Ng.Uyển Nicole Dương
- Ngải Vị VỊ
- Ngân Xuyên
- Nghệ thuật
- Nghĩa Đặng
- Nghiêm Lương Thành
- Nghiêm Phương Mai
- Nghiêm Thanh Hương
- Nghiêm Xuân Hồng
- Nghiên Cứu Phê Bình
- Ngo Thu
- Ngọc Anh
- Ngọc Duy Phan
- Ngoc Hien Bui
- Ngọc Linh
- Ngô Anh Tuấn
- Ngô Bảo Châu
- Ngô Đình Thẩm
- Ngô Đồng
- Ngô Hương Giang
- Ngô Khắc Tài
- Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
- Ngô Kim Khôi
- Ngô Kim-Khôi
- Ngô Liêm Khoan
- Ngô Lực
- Ngô Mai Phong
- Ngô Mạnh Hùng
- Ngô Minh
- Ngô Minh Khôi
- Ngô Ngọc Loan
- Ngô Ngọc Trai
- Ngô Nguyên Dũng
- Ngô Nhật Đăng
- Ngô Quốc Phương
- Ngô Quốc Thịnh
- Ngô Thế Vinh
- Ngô Thị Kim Cúc
- Ngô Thị Thanh Lịch
- Ngô Thị Thu Ngần
- Ngô Tùng Phong
- Ngô Tự Lập
- Ngô Văn
- Ngô Văn Giá
- Ngô Viết Nam Sơn
- Ngô Viết Trọng
- Ngô Việt Trung
- Ngô Vĩnh Long
- Ngô Xuân Hội
- Ngô Xuân Phúc
- Ngô Xuân Thảo
- Ngu Yên
- Nguyen Duc Thanh
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Anh Dũng
- Nguyễn Anh Sơn
- Nguyễn Anh Tuấn
- Nguyễn Anh Tuấn - đạo diễn
- Nguyễn Bá Chung
- Nguyễn Bách Việt
- Nguyễn Bảo Chân
- Nguyễn Bắc Sơn
- Nguyên Bình
- Nguyễn Bính
- Nguyễn Cảnh Bình
- Nguyên Cầm
- Nguyên Cẩn
- Nguyên Chánh
- Nguyễn Chí Hoan
- Nguyễn Chí Thuật
- Nguyễn Chí Trung
- Nguyễn Chí Tuyến
- Nguyễn Chinh Trung
- Nguyễn Cung Thông
- Nguyễn Cường
- Nguyễn Danh Bằng
- Nguyễn Danh Huế
- Nguyễn Danh Lam
- Nguyễn Ðăng Thường
- Nguyễn Duy
- Nguyễn Dương Quang
- Nguyễn Đạt
- Nguyễn Đắc Kiên
- Nguyễn Đắc Xuân
- Nguyễn Đăng Điệp
- Nguyễn Đăng Hưng
- Nguyễn Đăng Khoa
- Nguyễn Đăng Mạnh
- Nguyễn Đăng Na
- Nguyễn Đăng Quang
- Nguyễn Đăng Thường
- Nguyễn Đình Ấm
- Nguyễn Đình Bin
- Nguyễn Đình Bổn
- Nguyễn Đình Chú
- Nguyễn Đình Cống
- Nguyễn Đình Đăng
- Nguyễn Đình Huỳnh
- Nguyễn Đinh Phong
- Nguyễn Đình Phượng Uyển
- Nguyễn Đình Thắng
- Nguyễn Đình Thi
- Nguyễn Đình Toàn
- Nguyễn Đông A
- Nguyễn Đổng Chi
- Nguyễn Đông Thức
- Nguyễn Đức
- Nguyễn Đức Dương
- Nguyễn Đức Hiệp
- Nguyễn Đức Lộc
- Nguyễn Đức Mậu
- Nguyễn Đức Sơn
- Nguyễn Đức Thắng
- Nguyễn Đức Tiến
- Nguyễn Đức Tùng
- Nguyễn Đức Tường
- Nguyễn Gia Trí
- Nguyên Giác
- Nguyên Giác Phan Tấn Hải
- Nguyễn Hà Luân
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Hải Yến
- Nguyễn Hàn Chung
- Nguyễn Hiến Lê
- Nguyễn Hoa Lư
- Nguyễn Hoài Nam
- Nguyễn Hoài Văn
- Nguyễn Hoài Vân
- Nguyễn Hoàn
- Nguyễn Hoàn Nguyên
- Nguyễn Hoàng Ánh
- Nguyễn Hoàng Anh Thư
- Nguyễn Hoàng Diệu Thủy
- Nguyễn Hoàng Diệu Thúy
- Nguyễn Hoàng Giao
- Nguyễn Hoàng Linh
- Nguyễn Hoàng Trung
- Nguyễn Hoàng Văn
- Nguyễn Hồ Quân
- Nguyễn Hồng Anh
- Nguyễn Hồng Giao
- Nguyễn Hồng Hưng
- Nguyễn Hồng Lam
- Nguyễn Hồng Nhung
- Nguyễn Hồng Thục
- Nguyễn Huệ Chi
- Nguyễn Hùng
- Nguyễn Huy Hoàng
- Nguyễn Huy Thắng
- Nguyễn Huy Thiệp
- Nguyễn Huy Vũ
- Nguyên Hưng
- Nguyễn Hưng Quốc
- Nguyễn Hương
- Nguyễn Hữu Đễ
- Nguyễn Hữu Hồng Minh
- Nguyễn Hữu Liêm
- Nguyễn Hữu Nhật
- Nguyễn Hữu Sơn
- Nguyễn Hữu Thiết
- Nguyễn Hữu Việt Hưng
- Nguyễn Hữu Vinh
- Nguyễn kc Hậu
- Nguyễn Khải
- Nguyễn Khánh Duy
- Nguyễn Khánh Trường
- Nguyễn Khắc An
- Nguyễn Khắc Bình
- Nguyễn Khắc Mai
- Nguyễn Khắc Ngân Vi
- Nguyễn Khắc Phê
- Nguyễn Khắc Phi
- Nguyễn Khắc Phục
- Nguyễn Khiêm
- Nguyễn Khôi
- Nguyễn Kiến Phước
- Nguyễn Kiều Dung
- Nguyễn Kiều Hưng
- Nguyễn Kim Hưng
- Nguyên Lạc
- Nguyễn Lam Điền
- Nguyễn Lãm Thắng
- Nguyễn Lan Phương
- Nguyễn Lâm Cẩn
- Nguyễn Lân Bình
- Nguyễn Lân Thắng
- Nguyễn Lê Hồng Hưng
- Nguyễn Lê Tuyên
- Nguyễn Lệ Uyên
- Nguyễn Linh Giang
- Nguyễn Linh Quang
- Nguyễn Lộ Trạch
- Nguyễn Luận
- Nguyễn Lương Hải Khôi
- Nguyễn Lương Ngọc
- Nguyễn Lương Thịnh
- Nguyễn Lương Vỵ
- Nguyễn Mai
- Nguyễn Man Nhiên
- Nguyễn Mạnh An Dân
- Nguyễn Mạnh Côn
- Nguyễn Mạnh Đẩu
- Nguyễn Mạnh Tiến
- Nguyễn Manh Trinh
- Nguyễn Mạnh Trinh
- Nguyễn Mạnh Tuấn
- Nguyễn Mạnh Tường
- Nguyễn Minh Anh
- Nguyễn Minh Hòa
- Nguyễn Minh Kính
- Nguyễn Minh Nhị
- Nguyễn Minh Nhựt
- Nguyễn Minh Thuyết
- Nguyễn Mộng Giác
- Nguyên Ngọc
- Nguyễn Ngọc Chu
- Nguyễn Ngọc Đức
- Nguyễn Ngọc Giao
- Nguyễn Ngọc Hoa
- Nguyễn Ngọc Lanh
- Nguyễn Ngọc Liễm
- Nguyễn Ngọc Lung
- Nguyễn Ngọc Phương
- Nguyễn Ngọc Tâm
- Nguyễn Ngọc Thiện
- Nguyễn Ngọc Tú Anh
- Nguyễn Ngọc Tư
- Nguyên Nguyên
- Nguyễn Nguyên
- Nguyễn Nguyên Bình
- Nguyễn Nguyệt Cầm
- Nguyễn Nhật Lệ
- Nguyễn Nhật Tín
- Nguyên Nhi
- Nguyễn Như Huy
- Nguyễn Như Mây
- Nguyễn Phạm Hùng
- Nguyễn Phan Quế Mai
- Nguyễn Phú Yên
- Nguyễn Phúc Vĩnh Ba
- Nguyễn Phượng
- Nguyễn Phương Đình
- Nguyễn Phương Mai
- Nguyễn Phương Mạnh
- Nguyễn Quang
- Nguyễn Quang A
- Nguyễn Quang Bình
- Nguyễn Quang Duy
- Nguyễn Quang Dy
- Nguyễn Quang Đồng
- Nguyễn Quang Hồng
- Nguyễn Quang Hưng
- Nguyễn Quang Lập
- Nguyễn Quang Thạch
- Nguyễn Quang Thân
- Nguyễn Quang Thiều
- Nguyễn Quang VInh
- Nguyễn Quân
- Nguyễn Quốc Bảo
- Nguyễn Quốc Chánh
- Nguyễn Quốc Chính
- Nguyễn Quốc Lâm
- Nguyễn Quốc Tấn Trung
- Nguyễn Quốc Thái
- Nguyễn Quốc Toàn
- Nguyễn Quốc Trụ
- Nguyễn Quốc Tuấn
- Nguyễn Quốc Vương
- Nguyễn Quỳnh Hương
- Nguyên Sa
- Nguyễn Sĩ Dũng
- Nguyễn Sơn Hùng
- Nguyễn Sơn Lâm
- Nguyễn Sỹ Phương
- Nguyễn Sỹ Tế
- Nguyễn Tà Cúc
- Nguyễn Tài Cẩn
- Nguyễn Tấn Cứ
- Nguyễn Tất Nhiên
- Nguyễn Thạch Giang
- Nguyễn Thái Hòa
- Nguyễn Thái Hợp
- Nguyễn Thái Sơn
- Nguyễn Thái Tuấn
- Nguyễn Thanh Bình
- Nguyễn Thanh Châu
- Nguyễn Thanh Giang
- Nguyễn Thanh Hiện
- Nguyễn Thanh Hùng
- Nguyễn Thanh Huy
- Nguyễn Thanh Huyền
- Nguyễn Thanh Mỹ
- Nguyễn Thành Nam
- Nguyễn Thanh Nghị
- Nguyễn Thanh Nguyệt
- Nguyễn Thành Phong
- Nguyễn Thanh Sơn
- Nguyễn Thành Sơn
- Nguyễn Thanh Tâm
- Nguyễn Thành Thi
- Nguyễn Thanh Tuyền
- Nguyễn Thanh Văn
- Nguyễn Thanh Việt
- Nguyễn Thế Hùng
- Nguyễn Thế Thanh
- Nguyễn Thị Ái Tiên
- Nguyễn Thị Bích Hậu
- Nguyễn Thị Bích Ngà
- Nguyễn Thị Bình
- Nguyễn thị Cỏ May
- Nguyễn Thị Dư Khánh
- Nguyễn Thị Hải
- Nguyễn Thị Hậu
- Nguyễn Thị Hiền
- Nguyễn Thị Hoàng
- Nguyễn Thị Hoàng Bắc
- Nguyễn Thị Hồng
- Nguyễn Thị Khánh Minh
- Nguyễn Thị Khánh Trâm
- Nguyễn Thị Kim Chi
- Nguyễn Thị Kim Phụng
- Nguyễn Thị Kim Thoa
- Nguyễn Thị Minh Ngọc
- Nguyễn Thị Minh Thái
- Nguyễn Thị Minh Thương
- Nguyễn Thị Ngọc Hải
- Nguyễn Thị Ngọc Nhung
- Nguyễn Thị Oanh
- Nguyễn Thị Phước
- Nguyễn Thị Thanh Bình
- Nguyễn Thị Thanh Hải
- Nguyễn Thị Thanh Lưu
- Nguyễn Thị Thanh Xuân
- Nguyễn Thị Thanh Yến
- Nguyễn Thị Thảo An
- Nguyễn Thị Thúy Hạnh
- Nguyễn Thị Thùy Linh
- Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Nguyễn Thị Thuyền
- Nguyễn Thị Tịnh Thy
- Nguyễn Thị Từ Huy
- Nguyễn Thị Vinh
- Nguyễn Thiện Tống
- Nguyễn Thiện Tơ
- Nguyễn Thói Đời
- Nguyễn Thông
- Nguyễn Thu Quỳnh
- Nguyễn Thu Trang
- Nguyễn Thụy Anh
- Nguyễn Thùy Dương
- Nguyễn Thúy Hạnh
- Nguyễn Thụy Long
- Nguyễn Thuỵ Phương
- Nguyễn Thùy Song Thanh
- Nguyễn Thỵ
- Nguyễn Thy Anh
- Nguyễn Tiến Dũng
- Nguyễn Tiến Lập
- Nguyễn Tiến Trung
- Nguyễn Tiến Văn
- Nguyễn Trần Bạt
- Nguyễn Tri Phương Đông
- Nguyễn Triệu Nam
- Nguyễn Trọng Bình
- Nguyễn Trọng Chức
- Nguyễn Trọng Huân
- Nguyễn Trọng Khôi
- Nguyễn Trọng Tạo
- Nguyễn Trung
- Nguyễn Trung Bảo
- Nguyễn Trung Dân
- Nguyễn Trung Hiếu
- Nguyễn Trung Kiên
- Nguyễn Trung Thuần
- Nguyễn Trường Giang
- Nguyễn Trường Huy
- Nguyễn Trường Uy
- Nguyễn Tuấn
- Nguyễn Tuấn Anh
- Nguyễn Tuấn Khoa
- Nguyễn Tùng
- Nguyễn Tùng Linh
- Nguyễn Tuyết Lan
- Nguyễn Tuyết Lộc
- Nguyễn Tư Nghiêm
- Nguyễn Tử Siêm
- Nguyễn Tường Bách
- Nguyễn Tường Thiết
- Nguyễn Tường Thụy
- Nguyễn Ước
- Nguyễn Vạn An
- Nguyễn Vạn Phú
- Nguyễn Văn
- Nguyễn Văn Ba
- Nguyễn Văn Chính
- Nguyễn Văn Ðậu
- Nguyễn Văn Dũng
- Nguyễn Văn Đài
- Nguyễn Văn Gia
- Nguyễn Văn Hạnh
- Nguyễn Văn Hiệp
- Nguyễn Văn Hòa
- Nguyễn Văn Hùng
- Nguyễn Văn Huyên
- Nguyễn Văn Lợi
- Nguyễn Văn Lục
- Nguyễn Văn Miếng
- Nguyễn Văn Nghệ
- Nguyễn Văn Nho
- Nguyễn Văn Phong
- Nguyễn Văn Phú
- Nguyễn Văn Phước
- Nguyễn Văn Sâm
- Nguyễn Văn Sơn
- Nguyễn Văn Tao
- Nguyễn Văn Thiệu
- Nguyễn Văn Thọ
- Nguyễn Văn Trọng
- Nguyễn Văn Trung
- Nguyễn Văn Tuấn
- Nguyễn Văn Vĩnh
- Nguyễn Văn Xuân
- Nguyễn Vi Khải
- Nguyễn Vi Yên
- Nguyễn Viện
- Nguyên Việt
- Nguyễn Việt Anh
- Nguyễn Việt Chiến
- Nguyễn Viết Dũng
- Nguyễn Viết Lãm
- Nguyễn Viết Sáng
- Nguyễn Vĩnh Nguyên
- Nguyễn Vũ Hiệp
- Nguyễn Vũ Tiềm
- Nguyễn Vỹ
- Nguyễn Vy Khanh
- Nguyễn Xuân Diện
- Nguyễn Xuân Hằng
- Nguyễn Xuân Hoàng
- Nguyễn Xuân Hưng
- Nguyễn Xuân Khánh
- Nguyễn Xuân Khoát
- Nguyễn Xuân Nghĩa
- Nguyễn Xuân Nha
- Nguyễn Xuân Quang
- Nguyễn Xuân Thiệp
- Nguyễn Xuân Thọ
- Nguyễn Xuân Tiệp
- Nguyễn Xuân Tường Vy
- Nguyễn Xuân Vượng
- Nguyễn Xuân Xanh
- Nguyễn Ý Thuần
- Nguyên Yên
- Nguyễn-Chương Mt
- Nguyễn-hòa-Trước
- Nguyệt Chu
- Nguyệt Quỳnh
- Nguyệt Vi
- Ngự Thuyết
- Người Buôn Gió
- Ngyễn Trung Bảo
- Nh. Tay Ngàn
- Nhã
- Nhã Ca
- Nhã Duy
- Nhã Thuyên
- Nhan Do Thanh
- Nhân Hồng
- Nhật Chiêu
- Nhật Lệ
- Nhất Linh
- Nhật Thanh
- Nhật Tiến
- Nhật Tuấn
- Nhất Uyên
- Nhị Linh
- Nhị Ngã
- Nhóm Vì một Hà Nội xanh
- Như Huy
- Như Không
- Như Quỳnh
- Như Quỳnh de Prelle
- Như Ý
- Nhược Thủy
- Niall Ferguson
- Nick Hilden
- Nicolas Casey
- Nikulin
- Nina McPherson
- Ninh Dương
- Ninh Kiều
- Nobert Hummelt
- Norbert Seitz
- Nông Hồng Diệu
- NP Phan
- Obama
- Ocean Vương
- Octavio Paz
- Ogden Nash
- Oksana Zabuzhko
- Oleg Kashin
- Olga Berggolts
- Ondrej Slowik
- onggiaolang
- Orlando Figes
- Orwell
- Oscar Salemink
- Oscar Wilde
- Pablo Neruda
- Pablo Picasso
- Palmer
- Pamela N. Corey
- Patrick Frater
- Patrick Lodge
- Paul Auster
- Paul Celan
- Paul Éluard
- Paul Hoover
- Paul Mendez
- Paul Mozur
- Paul Theroux
- Paul-François Paoli
- Paulus Lê Sơn
- Pavel Basinsky
- Pavel Basynski
- Pavlo Vyshebaba
- Paweł Kubiak
- Pawel Kuczynski
- Paweł Łepkowski
- Percy Mabandu
- Pervez Hoodbhoy
- Peter B. Zinoman
- Peter Bradshaw
- Peter Hansen
- Peter Harvey
- Peter Kleiner
- Peter Singer
- Phạm Anh Tuấn
- Phạm Biểu Tâm
- Phạm Cảnh Thượng
- Phạm Cao Hoàng
- Phạm Châu
- Phạm Chí Dũng
- Phạm Chi Lan
- Phạm Chu Sa
- Phạm Công Luận
- Phạm Công Thiện
- Phạm Công Trứ
- Phạm Công Út
- Phạm Duy
- Phạm Duy Nghĩa
- Phạm Đình Chương
- Phạm Đình Trọng
- Phạm Đình Vy
- Phạm Đoan Trang
- Phạm Hải Anh
- Phạm Hải Âu
- Phạm Hiền Mây
- Phạm Hoàng Quân
- Phạm Hồng Sơn
- Phạm Hùng Việt
- Phạm Huy Thông
- Phạm Khánh Duy
- Phạm Khiêm Ích
- Phạm Kiều Tùng
- Phạm Kỳ Đăng
- Phạm Lệ Quyên
- Phạm Lê Vương Các
- Phạm Linh
- Phạm Lưu Vũ
- Phạm Minh Hoàng
- Phạm Minh Ngọc
- Phạm Minh Quân
- Phạm Minh Trung
- Phạm Ngọc
- Phạm Ngọc Lư
- Phạm Ngọc Thái
- Phạm Ngọc Tiến
- Phạm Nguyên Trường
- Phạm Ngữ
- Phạm Phan Long
- Phạm Phú Cường
- Phạm Phú Hải
- Phạm Phú Minh
- Phạm Phú Phong
- Phạm Phú Thứ
- Phạm Phú Viết
- Phạm Phúc Thịnh
- Phạm Phương
- Phạm Quang Ái
- Phạm Quang Long
- Phạm Quang Trung
- Phạm Quang Tuấn
- Phạm Sỹ Sáu
- Phạm Tăng
- Phạm Thành
- Phạm Thành Hưng
- Phạm Thanh Nghiên
- Phạm Thảo Nguyên
- Phạm Thế Cường
- Phạm Thị
- Phạm Thị Anh Nga
- Phạm Thị Điệp Giang
- Phạm Thị Hoài
- Phạm Thị Hồng Ân
- Phạm Thị Kiều Ly
- Phạm Thị Ngọc
- Phạm Thị Phương
- Phạm Thiên Ân
- Phạm Thiên Thư
- Phạm Tín An Ninh
- Phạm Toàn
- Phạm Trần
- Phạm Trọng Chánh
- Phạm Trung Nghĩa
- Phạm Tuấn
- Phạm Tư Thanh Thiện
- Phạm Tường Cán
- Phạm Tường Vân
- Phạm Văn
- Phạm Văn Khoái
- Phạm Văn Quang
- Phạm Văn Tình
- Phạm Văn Vũ
- Pham Viem Phuong
- Phạm Viêm Phương
- Phạm Viết Đào
- Phạm Việt Hưng
- Phạm Vũ Lửa Hạ
- Phạm Xuân Đài
- Phạm Xuân Hùng
- Phạm Xuân Nguyên
- Phạm Xuân Trường
- Phan An Sa
- Phan Ba
- Phan Bội Châu
- Phan Cẩm Thượng
- Phan Châu Thành
- Phan Cự Đệ
- Phan Dương Hiệu
- Phan Đan
- Phan Đạo
- Phan Đắc Lữ
- Phan Đình Diệu
- Phan Độc Lập
- Phan Hải-Đăng
- Phan Hồng Giang
- Phan Huy Chú
- Phan Huy Dũng
- Phan Huy Đường
- Phan Huy Lê
- Phan Huyền Thư
- Phan Kế Toại
- Phan Khôi
- Phan Kim Hổ
- Phan Lặng Yên
- Phan Mạnh Quỳnh
- Phan Nam Sinh
- Phan Ngọc
- Phan Nguyên
- Phan Nhật Nam
- Phan Nhiên Hạo
- Phan Ni Tấn
- Phan Phương Đạt
- Phan Quang
- Phan Quỳnh Trâm
- Phan Tấn Hải
- Phan Tấn Uẩn
- Phan Thanh Bình
- Phan Thanh Sơn Nam
- Phan Thanh Tâm
- Phan Thắng
- Phan Thế Hải
- Phan Thị Hà Dương
- Phan Thị Kim Phúc
- Phan Thị Trọng Tuyển
- Phan Thị Vàng Anh
- Phan Thu Vân
- Phan Thuý Hà
- Phan Thúy Hà
- Phan Trang Hy
- Phan Trí Đỉnh
- Phan Trọng Hoàng Linh
- Phan Trọng Văn
- Phan Văn Giưỡng
- Phan Văn Song
- Phan Văn Thắng
- Phan Vũ
- Phan Xine
- Phan Xuân Sinh
- Phannguyên Psg
- Phanxipăng
- Phaolô VI
- phap
- Pháp Hoan
- Pháp Vân
- Phapxa Chan
- Phát biểu nhận giải Văn Việt
- Phi Hà
- Phil Caputo
- Philip Larkin
- Philip Roth
- Philipp Felsch
- Phong Âm
- Phong Linh
- Phong Nguyen
- Phong Quang
- Phố Văn
- Phú Quang
- Phù Sa
- Phúc Lai GB
- Phúc Tiến
- Phunchok Stobdan
- Phùng Anh Kiệt
- Phùng Hi
- Phùng Hoài Ngọc
- Phùng Học Vinh
- Phùng Khắc Khoan
- Phùng Ngọc Kiên
- Phùng Nguyễn
- Phùng Quán
- Phùng Thành Chủng
- Phùng Thị Hạ Nguyên
- Phùng Thị Như Hà
- Phuong Ta
- Phương Chi
- Phương Hương
- Phương Phương
- Phương Thảo
- Phương Thuý
- Phương Uy
- Phương Xích Lô
- Pierre Bayard
- Pierre Darriulat
- Pierre Lemieux
- Prashanth Parameswaran
- Qladimir Pyljow
- Quách Cường
- Quách Hạo Nhiên
- Quách Tấn
- Quách Thoại
- Quảng Diệu Trần Bảo Toàn
- Quang Dũng
- Quang Đức
- Quang Minh
- Quang Phan
- Quảng Tánh Trần Cầm
- Quậy Nguyễn
- Quế Hương
- Quốc Dũng
- Quốc Phương
- Quốc Toản
- Quyên Di
- Quyên Hoàng
- Quỳnh Dao
- Quỳnh Hợp
- Quỳnh Iris de Prelle
- Quỳnh Vi
- Rabindranath Tagore
- Rachel Adams
- Rainer Maria Rilke
- Ralph Chaplin
- Rasul Gamzatov
- Rebecca Mead
- Rebecca Solnit
- Reiner Traub
- Remo Verdickt
- Riccardo Gazzaniga
- Richard C. Paddock
- Richard Millet
- Richard Serra
- Richard Seymur
- Robert Desnos
- Robert McCrump
- Roger Vu
- Roger-Pol Droit
- Roland Barthes
- Romain Rolland
- Ronald F. Inglehart
- Rory O’Sullivan
- Ruben David Gonzalez Gallego
- Russell Edson
- Ruth Ingram
- Ryszard Legutko
- Saint-John Perse
- Salman Rushdie
- Salvatore Babones
- Sam Dresser
- Sạn chữ
- San Phi
- Sandra Kerschbaumer
- Sara Teasdale
- Sarah Pulliam Bailey
- Sarah Thornton
- Sáu Nghệ
- Semyon Skrepetsky
- Sergio Bitar
- Shaimaa El Sabbagh
- Shakespeare
- Shannon Van Sant
- Sheikha A
- Sheila Fischman
- Sheila Ngoc Pham
- Sheri Berman
- Shigeeda Yutaka
- Shirin Ebadi
- Shukshin
- Silke Fokken
- Simon Book
- Simon Johnson
- Sire Apm Lukwesa
- Slavoj Žižek
- Sohaniim
- Son Kieu Mai
- Song Chi
- Song Hà
- Song Nguyễn
- Song Phạm
- Song Phan
- Song Thao
- Sophie Trịnh
- Số đặc biệt
- Sơn Ca
- Sơn Hoàng Liên
- Sơn Kiều Mai
- Sơn Nam
- Stalin
- Stefan Dege
- Stefano Harney
- Stephan Koester
- Stephen B. Young
- Steve Earle
- Stuart Russel
- Sugita Hisajo
- Susan Sontag
- Suzuki Katsuhiko
- Sương Nguyệt Minh
- Sương Quỳnh
- Svetlana Alexievich
- Svetlana Alexievitch
- Svetlana Alexiévitch
- Sylvia Plath
- T. Đ.
- T.Vấn
- Tạ Anh Thư
- Tạ Chí Đại Trường
- Tạ Duy Anh
- Tạ Tỵ
- Tạ Văn Tài
- Tạ Văn Thông
- Tạ Xuân Hải
- Tadeusz Rósewicz
- Taigu Ryōkan
- Tam Ích
- Tamarchenko
- Tàn Tuyết
- Tanaami Keiichi
- Taneda Santoka
- Taras Shevchenko
- Tarik Khaldi
- Tawada Yoko
- Tawfiq Zayyad
- Tăng Quang
- Tâm An
- Tâm Bình
- Tâm Chánh
- Tâm Don
- Tâm Thường Định
- Tâm Việt
- Tấn An
- Teolinda Gersão
- Teresa Mỹ Chúc
- Thạch Đạt Lang
- Thạch Quỳ
- Thạch Thảo
- Thái Bá Tân
- Thái Bá Vân
- Thái Bảo
- Thái Hà
- Thái Hạo
- Thái Kế Toại
- Thái Kim Lan
- Thái Mai Lan
- Thái Ngọc San
- Thái Phan Vàng Anh
- Thái Sinh
- Thái Thanh
- Thái Thanh Sơn
- Thái Thăng Long
- Thái Tuấn
- Thái Văn
- Thái Văn Đào
- Thái Vũ
- Thanh Chung
- Thạnh Đà
- Thanh Hằng
- Thanh Hằng - Anh Khoa
- Thành Lộc
- Thanh Nam
- Thanh Ngọc
- Thanh Phương
- Thanh Tâm Tuyền
- Thanh Thảo
- Thanh Thuỷ
- Thanh Trúc
- Thanh Tùng
- Thanh Xuân
- Thanhhà Lại
- Thảo Dân
- Thao Dinh
- Thảo luận
- Thảo Nguyên
- Thảo Trường
- Thảo Vy
- Thẩm Đống
- Thẩm Hoàng Long
- Thận Nhiên
- Thân Trọng Mẫn
- Thân Trọng Sơn
- Thế Dũng
- Thế Giang
- Thế Quân
- THẾ THANH
- Thế Uyên
- Thi Hoàng
- Thi Nguyên
- Thi sỹ ỦA
- Thi Vũ
- Thích Ngộ Chánh
- Thích Nhất Hạnh
- Thích Nữ Chân Không
- Thích Phước An
- Thích Quảng Độ
- Thierry Leclère
- Thierry Lentz
- Thiên Di
- Thiên Điểu
- Thiền Lâm
- Thiền Nguyễn
- Thiên Thai
- Thiện Tùng
- Thiện Ý
- Thiền Zen Paul Vân Thuyết
- Thiết Thạch
- Thiếu Khanh
- Thiều Mai Lâm
- Tho Nguyen
- Thọ Nguyễn
- Thomas A. Bass
- Thomas Bo Pedersen
- Thomas Mahler
- Thomas S. Mullaney
- Thomas Schmid
- Thông Đặng
- Thơ
- Thơ Marie Howe
- Thụ Nguyên
- Thu Phong
- Thu Vàng
- Thuận
- Thuần Ngô
- Thuận Paris
- Thuận Thiên
- Thục Quyên
- Thụy An
- Thùy Dung
- Thụy Khuê
- Thùy Linh
- Thụy My
- Thủy Tiên
- Thư Bạn Đọc
- Thường Quán
- Thy An
- Tịch Ru
- Tiet Hung Thai
- Tiền Giang
- Tiêu Dao Bảo Cự
- Tiêu Kiện Sinh
- Tiêu Toàn
- Tiểu Tử
- Tiểu Vũ
- Tillman Miller
- Timothy Brennan
- Timothy Garton Ash
- Timothy Snyder
- Tina Hà Giang
- Tino Cao
- Tobi Trần
- Tobias Rapp
- Tom Fawthrop
- Tomas Tranströmer
- Tô Đăng Khoa
- Tô Hà Lâm
- Tô Hải
- Tô Hoàng
- Tố Hữu
- Tô Lan Hương
- Tô Lê Sơn
- Tô Ngọc Vân
- Tô Thẩm Huy
- Tô Thùy Yên
- Tô Văn Trường
- Tôi Đây
- Tôn Thất Thông
- Tôn Thất Tùng
- Tống Văn Công
- Trà Bình
- Trà Đóa
- Trà Nhiên
- Tracy K. Smith
- Tran Dinh Dung
- Tran Nam Dung
- Trang Châu
- Trang Hạ
- Trang Thanh
- Trang Thế Hy
- Trangđài Glassey Trầnguyễn
- Trangđài Glasssey-Trầnguyễn
- Trao đổi
- Trầm Tử Thiêng
- Trần Anh Hùng
- Trần Bá Đại Dương
- Trần Bang
- Trần Bình Nam
- Trần C. Trí
- Trần Cao Lĩnh
- Trần Cao Tường
- Trần Công Tâm
- Trần Công Tín
- Trần Dạ Từ
- Trần Dần
- Trần Doãn Nho
- Trần Dũng Thanh Huy
- Trần Duy
- Trần Duy Phiên
- Trần Duy Trung
- Trần Đăng Khoa
- Trần Đăng Tuấn
- Trần Đĩnh
- Trần Đình Bút
- Trần Đình Hoành
- Trần Đình Lương
- Trần Đình Sơn Cước
- Trần Đình Sử
- Trần Đình Thắng
- Trần Đình Triển
- Trần Đình Trợ
- Trần Độ
- Trần Đồng Minh
- Trần Đức Anh Sơn
- Trần Đức Nguyên
- Trần Đức Thảo
- Trần Đức Tiến
- Trần Đức Tín
- Trần Đức Toản
- Trần Gia Huấn
- Trần Gia Ninh
- Trần Hà Linh
- Trần Hạ Tháp
- Trần Hạ Vi
- Trần Hải
- Trần Hạnh
- Trần Hậu
- Trần Hoài Anh
- Trần Hoài Thư
- Trần Hoàng Phố
- Trần Hoàng Trúc
- Trần Hoàng Vy
- Trần Hùng
- Trần Huy Bích
- Trần Huy Mẫn
- Trần Huy Minh Phương
- Trần Huy Quang
- Trần Huyền Sâm
- Trần Huỳnh Duy Thức
- Trần Hữu Dũng
- Trần Hữu Khánh
- Trần Hữu Quang
- Trần Hữu Tá
- Trần Hữu Thục
- Trần Khánh Triệu
- Trần Kiêm Đoàn
- Trần Kiêm Trinh Tiên
- Trần Kim Trắc
- Trần Kỳ Trung
- Trần Lam
- Trần Lê Hoa Tranh
- Trần Lê Sơn Ý
- Trần Lương
- Trần Lý Trí Tân
- Trần Mạnh Hảo
- Trần Mạnh Tuấn
- Trần Minh Phi
- Trần Minh Quốc
- Trần Mộng Tú
- Trần Nam Anh
- Trần Nam Bình
- Trần Ngân Hà
- Trần Nghi Hoàng
- Trần Ngọc Cư
- Trần Ngọc Hiếu
- Trần Ngọc Tuấn
- Trần Ngọc Vương
- Trần Nguyên Đán
- Trần Nhã Thụy
- Trần Nhương
- Trần Phong Giao
- Trần Phong Vũ
- Trần Quang Đức
- Trần Quang Lộc
- Trần Quốc Anh
- Trần Quốc Nam
- Trần Quốc Thuận
- Trần Quốc Toàn
- Trần Quốc Trọng
- Trần Quốc Vượng
- Trần Quyết Thắng
- Trân Sa
- Trần Song Hào
- Trần Thành
- Trần Thanh Ái
- Trần Thanh Cảnh
- Trần Thanh Huy
- Trần Thanh Vân
- Trần Thắng
- Trần Thế Vĩnh
- Trần Thị Băng Thanh
- Trần Thị Diệu Tâm
- Trần Thị Lai Hồng
- Trần Thị Lam
- Trần Thị NgH.
- Trần Thị Nguyệt Mai
- Trần Thị Phương Phương
- Trần Thị Thanh Thoả
- Trần Thị Thu Hoài
- Trần Thị Trường
- Trần Thiện Đạo
- Trần Thùy Mai
- Trần Tiến
- Trần Tiễn Cao Đăng
- Trần Tiến Dũng
- Trần Tiễn Khanh
- Trần Tố Nga
- Trần Trọng Dương
- Trần Trọng Thức
- Trần Trọng Vũ
- Trần Trung Chính
- Trần Trung Đạo
- Trần Tuấn
- Trần Từ Mai
- Trần Vàng Sao
- Trần Văn Chánh
- Trần Văn Chung
- Trần Văn Đỉnh
- Trần Văn Khê
- Trần Văn Minh
- Trần Văn Nam
- Trần Văn Thọ
- Trần Văn Thủy
- Trần Văn Tý
- Trần Vấn Lệ
- Trần Việt Hà
- Trần Viết Ngạc
- Trần Vinh Dự
- Trần Vũ
- Trần Vũ Hải
- Trần Vương Thuấn
- Trần Vương Thuận
- Trần Wũ Khang
- Trần Xuân Hoài
- Trần Xuân Kiêm
- Trần Xuân Linh
- Trần Xuân Lĩnh
- Trần Xuân Thảo
- Trần Ý Dịu
- Trần Yên Hòa
- Trần Yên Nguyên
- Trên
- Trên Facebook
- Trên Facebook/Minds
- Trên kệ sách
- Trên trang diaCRITICS
- Trí Hiệu Dân
- Triều Anh
- Triều Hoa Đại
- Triêu Nhan
- Triều Sơn
- Triệu Tử Dương
- Trịnh Anh Tuấn
- Trịnh Bá Phương
- Trịnh Bách
- Trịnh Cao Hòa Thanh
- Trịnh Chu
- Trịnh Công Sơn
- Trịnh Cung
- Trịnh Duy Kỳ
- Trịnh Hữu Long
- Trịnh Kim Tiến
- Trịnh Lữ
- Trịnh Minh Tuấn
- Trịnh Sơn
- Trịnh Thanh Thủy
- Trịnh Thu Tuyết
- Trịnh Vĩnh Phúc
- Trịnh Xuân Thuận
- Trịnh Xuân Thủy
- Trịnh Y Thư
- Trọng Anh
- Trọng Phú
- Trọng Thành
- Tru Sa
- Trúc Giang
- Trúc Thông
- Trúc Ty
- Trump
- Trung Bảo
- Trung Dũng Kqd
- Trung Dũng Kqđ
- Trùng Dương
- Trung Đào
- Trung Trung Đỉnh
- Trư Sa
- Trường An
- Trương Anh Ngọc
- Trương Anh Thụy
- Trương Châu Hữu Danh
- Trương Chính
- Trương Cừ
- Trương Duy Nhất
- Trương Đăng Dung
- Trương Điện Thắng
- Trương Đình Phượng
- Trương Hồng Quang
- Trương Huy San
- Trường Minh
- Trương Ngọc Chương
- Trương Nguyên
- Trương Nguyện Thành
- Trương Nhân Tuấn
- Trương Phượng
- Trương Quang
- Trương Quang Đệ
- Trương Quang Nhuệ
- Trương Quang Vĩnh
- Trương Quốc Cường
- Trương Thanh Thuận
- Trương Thị An Na
- Trương Thị Ngọc Hân
- Trương Thiên Phàm
- Trương Thu Hiền
- Trương Tố Hoa
- Trương Trọng Nghĩa
- Trương Tửu
- Trương Văn Dân
- Trương Văn Vĩnh
- Trương Vũ
- Trương Xuân Thiên
- Tú Mỡ
- Tù Quốc Hoài
- Tù Sâm
- Tú Trung Hồ
- Tuấn Duy
- Tuấn Khanh
- Tuân Nguyễn
- Tuấn Thảo
- Tuệ Anh
- Tuệ Đăng
- Tuệ Nguyên
- Tuệ Nhân
- Tuệ Nhật
- Tuệ Sĩ
- Tuệ Sỹ
- Tùng Dương Cola
- Tung Nguyen
- Turner
- Túy Hồng
- Tuyết Nghi
- Tư
- Từ Dung
- Tư liệu
- Tử Linh
- Từ Mai Trần Huy Bích
- Từ Quốc Hoài
- Từ Sâm
- Từ Thức
- Tưởng
- Tương Lai
- Uejima Onitsura
- Umberto Eco
- Uông Tăng Kỳ
- Uông Triều
- Uyển Ca
- Uyên Nguyên
- Uyên Nguyễn
- Uyên Thao
- Uyên Vũ
- V. Erofiev
- Václav Havel
- Vàng A Giang
- Varlam Shalamov
- Vasco Gargalo
- Vasily Makarovich
- Vasyl Stus
- Văn
- Văn Biển
- Văn Cao
- Văn Chinh
- Văn Công Hùng
- Văn Giá
- Văn học
- Văn học Miền Nam 54-75
- Văn Như Cương
- Văn Quang
- Văn Tâm
- Văn Văn Của
- Văn Việt
- Văn;
- Văn.
- Vấn đề hôm nay
- Vận Động Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội 2016
- Vân Hạ
- Vân Phi
- Velcrow Ripper
- Veronica Melkozerova
- Vi Lãng
- Vi Trần
- Vi Yên
- Viet Thanh Nguyen
- Viên Linh
- Việt Bách
- Việt Bình
- Việt Dzũng
- Việt Khang
- Việt Lang
- Việt Phương
- Viktor Astafyev
- Viktor Maslov
- Vinh Anh
- Vĩnh Điện
- Vĩnh Hảo
- Vĩnh Quyền
- Virginia Heffernan
- Virginia Woolf
- Vladimir Britanishsky
- Vladimir Nabokov
- Vladimir Voronov
- Võ An Đôn
- Võ Anh Minh
- Võ Anh Thơ
- Võ Bá Cường
- Võ Đắc Danh
- Võ Định Hình
- Võ Đức Phúc
- Võ Hồng
- Võ Huy Tâm
- Võ Hương Quỳnh
- Võ Kỳ Điền
- Võ Ngàn Sông
- Võ Phiến
- Võ Thị Ánh Ngọc
- Võ Thị Hảo
- Võ Thị Thu Hằng
- Võ Tiến Cường
- Võ Tòng Xuân
- Võ Trí Hảo
- Võ Văn Quản
- Võ Văn Tạo
- Võ Văn Thôn
- Võ Xuân Quế
- Võ Xuân Sơn
- Volker Weidermann
- Volodymyr Vynnychenko
- Volodymyr Zelenskyy
- Vũ
- Vũ Bằng
- Vũ Biện Điền
- Vũ Cao Đàm
- Vũ Cát Tường
- Vũ Đình Hòe
- Vũ Đình Huỳnh
- Vũ Đình Liên
- Vũ Đình Phòng
- Vũ Đức Khanh
- Vũ Đức Phúc
- Vũ Đức Sao Biển
- Vu Gia
- Vũ Hà Văn
- Vũ Hạnh
- Vũ Hoàng Chương
- Vũ Hoàng Thư
- Vũ Hồng Ánh
- Vũ Huy Ngọc
- Vũ Huy Quang
- Vũ Khắc Hoè
- Vũ Khắc Khoan
- Vũ Kim Hạnh
- Vũ Kim Thu
- Vũ Lâm
- Vũ Lập Nhật
- Vũ My Lan
- Vũ Ngọc Giao
- Vũ Ngọc Hoàng
- Vũ Ngọc Tâm
- Vũ Ngọc Tiến
- Vũ Nho
- Vũ Oanh
- Vũ Quang Việt
- Vũ Quí Hạo Nhiên
- Vũ Quốc Ngữ
- Vũ Quỳnh Hương
- Vũ Quỳnh Nh.
- Vũ Thành Sơn
- Vũ Thanh Tâm
- Vũ Thanh Tùng
- Vũ Thành Tự Anh
- Vũ Thế Khôi
- Vũ Thế Thành
- Vũ Thị Hải
- Vũ Thị Nhuận
- Vũ Thị Phương Anh
- Vũ Thị Phương Lan
- Vũ Thị Thanh
- Vũ Thị Thanh Mai
- Vũ Thư Hiên
- Vũ Tiến Lập
- Vũ Trọng Khải
- Vũ Trọng Phụng
- Vũ Tuấn Hoàng
- Vũ Từ Trang
- Vũ Tường
- Vũ Viết Tuân
- Vũ Xuân Tửu
- Vương Bích Ngọc
- Vương Đan
- Vương Hỗ Ninh
- Vương Huy
- Vương Ngọc Minh
- Vương Tiểu Nhị
- Vương Trí Nhàn
- Vương Trọng
- Vương Trùng Dương
- Vương Trung Hiếu
- Vương Tuấn
- Vy Thảo
- W. H. Auden
- Wa Praong
- Walt Whitman
- Walter Isaacson
- Wayne Karlin
- Wells
- Wendy Barker
- Wiesiek Powaga
- Wilhelm Schmid
- Will Nguyen
- William Carlos Williams
- William Nee
- William Stafford
- William Stanley Merwin
- Winston Phan Đào Nguyên
- Wislawa Szymborska
- Władysław Reymont
- Wolf Biermann
- Wolfgang Borchert
- Wulf Noll
- Wynn Gadkar Wilcox
- Xang Hứng
- Xì Trum
- Xie Tao
- Xuân Ba
- Xuân Diệu
- Xuân Dương
- Xuân Đài
- Xuân Minh
- Xuân Phượng
- Xuân Sách
- Xuân Thọ
- Xuân Uyên
- Xuân Vũ
- Xương Văn
- Y Chan
- Ỷ Lan
- Ý Nhi
- Y Uyên
- Yan Frenkel
- Yanis Varoufakis
- Yasmine M’Barek
- Yevgeny Yevtushenko
- Yên Ba
- Yên Khắc Chính
- Yến Năng
- Yên San
- Yên San Thụy Miên
- Yên Thao
- Yiyun Li
- Yoko Ogawa
- Yōko Ogawa
- Yoko Tawada
- Yosano Akiko
- Young Sang Lee
- Yuliya Ilchuk
- Yuno Bigboi
- Yves Sintomer
- Yvette Tan
- Zac Herman
Bình minh đỏ trên Trung Quốc – Chủ nghĩa Cộng sản Chế ngự một phần tư Nhân loại thế nào (kỳ 6)
Tác giả: Frank Dikötter
Người dịch: Nguyễn Quang A
NXB: Bloomsbury Publishing, 2026

5. Sống sót
(1934–1936)
Trong quá trình tìm kiếm các tài liệu còn sót lại tại các khu vực được giải phóng ở Giang Tây, các cơ quan chính quyền liên tục phát hiện ra các tác phẩm của một nhà lãnh đạo nước ngoài, cụ thể là Li De (Lí Đức 李德). Luo Zhuoying (La Trác Anh 羅卓英), một trong những tướng lĩnh đã chỉ huy cuộc hành quân tiến vào Ruijin, đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với “bộ óc thiên tài” do Moscow cử đến, người đã phân tích một cách điêu luyện từng giai đoạn của chiến dịch và thậm chí còn dự đoán được các hoạt động mới nhất của quân chính phủ. Otto Braun, người đã lấy tên là Lí Đức, đã đến Soviet Giang Tây vào tháng 9 năm 1933, để trở thành cố vấn quân sự chính chịu trách nhiệm thực hiện các chỉ thị từ Moscow. Sinh ra gần Munich, Braun đã gia nhập phong trào Cộng sản từ khi còn trẻ, tham gia vào cuộc nổi dậy dẫn đến việc thành lập Cộng hòa Soviet Bavaria ngắn ngủi vào năm 1919. Ông từng bị giam giữ nhiều lần và bị buộc tội phản quốc vào năm 1928. Ông trốn sang Liên Xô, nơi Comintern cử ông sang Trung Quốc. 1
Là một người cao lớn với đôi mắt xanh nhìn qua cặp kính tròn to, Otto Braun từng theo học tại Học viện Quân sự Frunze ở Moscow, và thừa nhận mình rất cứng rắn trong việc ra lệnh, điều mà ông thực hiện một cách rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, từ quân sự đến kinh tế. Ông cũng có xu hướng phớt lờ ý kiến của người khác, bao gồm cả Chu Ân Lai. Vào tháng 5 năm 1934, các công tác chuẩn bị cho một cuộc đột phá khỏi khu vực này đã được triển khai, nhưng đến tháng 8, Chu Ân Lai bắt đầu đề xuất việc sơ tán toàn bộ khu Soviet, bao gồm tất cả các cơ sở hạ tầng, thay vì kế hoạch rút lui tạm thời do Braun đề xuất. Điều này đồng nghĩa với một chiến dịch quy mô lớn hơn và phức tạp hơn, với các đơn vị hậu cần di chuyển cùng các đơn vị chiến đấu để vận chuyển lượng lớn trang thiết bị và vật tư quân sự. Bo Gu đã hình dung ra một lực lượng cơ động hơn với một căn cứ còn lại được để lại tại Ruijin. Quan điểm của Chu đã chiếm ưu thế, và ngày thực hiện được ấn định vào tháng 10. Vào ngày 16, Hồng Quân tấn công một điểm yếu trong vòng phòng thủ kiên cố gần Yudu (Vu Đô 于都), cách Ruijin khoảng bốn mươi kilômét về phía tây. Họ gặp rất ít sự kháng cự. Một lực lượng khoảng 75.000 đến 81.000 người đã đột phá thành công, trong đó có 60.000 binh sĩ chiến đấu. Trong số đó có 50 phụ nữ, chủ yếu là vợ của các lãnh đạo cấp cao, được tách riêng thành một đơn vị đặc biệt. Tất cả các phụ nữ khác đều bị bỏ lại phía sau, “và đáng tiếc là sau đó nhiều người trong số họ đã bị giết”. Các binh sĩ được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất là đoàn chỉ huy, bao gồm tất cả các nhà lãnh đạo chủ chốt và lực lượng tham mưu; nhóm thứ hai gồm các đơn vị hậu cần, bao gồm một bệnh viện dã chiến và một sư đoàn dự bị, đồng thời vận chuyển hàng trăm gói tờ rơi tuyên truyền, bạc và vàng đựng trong thùng dầu hỏa, cùng thiết bị vũ khí. Mỗi người đều có khẩu phần cá nhân đủ dùng trong khoảng hai tuần. Các binh sĩ khiêng các nhà lãnh đạo, bao gồm cả Mao, trên kiệu. 2
Chiến dịch này đã được chuẩn bị kỹ lưỡng trong nhiều tháng, trong bí mật tuyệt đối, dưới sự chỉ huy của Otto Braun, Chu Ân Lai và Bác Cổ. Mao Trạch Đông chỉ biết về kế hoạch sơ tán này vào tháng 10. Tuy nhiên, kế hoạch này có một lỗ hổng lớn: bộ ba lãnh đạo không có đích đến rõ ràng. Ý tưởng ban đầu là liên lạc với Hạ Long ở khu vực Hồ Bắc, hoặc gia nhập lực lượng của Trương Quốc Đào, người đã rút lui về Tứ Xuyên, nhưng thông tin cụ thể về cả hai đều rất ít ỏi. Tuy nhiên, tình báo quân sự cho thấy tồn tại một khu vực hình tam giác ở biên giới Quảng Tây, Hồ Nam và Quý Châu, nơi tương đối ít công sự phòng thủ của địch. Điều thuận lợi là Chen Jitang (Trần Tế Đường), thống đốc Quảng Đông – người đã đồng ý mua vonfram của Liên Xô – sẵn sàng mở rộng thỏa thuận thương mại để bao gồm lệnh ngừng bắn và quyền đi lại cho Hồng Quân. Có thể suy đoán rằng Chen đã tính toán rằng nếu phe Cộng sản tiến quân từ về phía Hồ Nam, Quảng Tây, Quý Châu và Tứ Xuyên, họ sẽ gây áp lực lên các đối thủ của ông, trong đó có Tưởng Giới Thạch, đồng thời tránh xa tỉnh của chính ông. 3
Hồng Quân đã thành công trong việc đột phá một loạt vòng phòng thủ kiên cố, hành quân về phía tây trong vài tuần dọc theo biên giới Hồ Nam và Quảng Tây, qua những hẻm núi hiểm trở và các đèo núi, phần lớn là địa hình chưa được khảo sát. Quân đội di chuyển chậm chạp, đặc biệt là đoàn hậu cần, với hàng nghìn người khuân vác mang theo thiết bị cồng kềnh, bao gồm đồ nội thất văn phòng và máy in, nhằm hỗ trợ việc xây dựng một chính quyền Soviet mới phía sau chiến tuyến địch. Họ lê bước vào ban đêm để tránh bị phát hiện, điều này càng làm chậm tiến độ. Khi các tuần trôi qua, đồ nội thất nặng nề, máy in và thậm chí cả tài liệu của Đảng đều bị vứt bỏ, một số bị chôn lấp, trong khi các đơn vị dự bị và những người khuân vác bắt đầu bỏ trốn. Các đơn vị đặc biệt được thành lập để ngăn chặn những người hành quân trốn thoát, với quyền xử tử những kẻ vi phạm nếu họ không chịu dừng lại, nhưng hiệu quả không đáng kể. “Hôm nay có hơn một trăm binh sĩ bị tụt lại phía sau trong cuộc hành quân,” một ủy viên ghi chú trong nhật ký của mình. Chiến thuật là giả vờ ốm, tụt lại phía sau rồi ẩn náu trong làng. Trong một đạo quân 10.000 người mà có số liệu cụ thể, hơn 4.000 người đã đào ngũ trong sáu tuần đầu tiên. Một nghìn người bị bắt, trong đó có 857 người sau đó bị xử tử. Thủ tục tiêu chuẩn là người đào ngũ phải thú nhận trước toàn thể binh lính, quỳ gối và bị bắn vào đầu. 4
Hồng Quân đã gặp phải thảm họa đầu tiên gần sông Xiang (Tương 湘) ở phía tây bắc tỉnh Quảng Tây. Lúc đó, tình trạng đào ngũ đã làm số lượng binh lính giảm từ 81.000 xuống còn khoảng 64.000. Sông Xiang bắt nguồn ngay phía bắc Guilin (Quế Lâm桂林), thủ phủ tỉnh Quảng Tây, chảy qua những ngọn đồi và ruộng lúa của Hồ Nam, thẳng qua thủ đô Trường Sa, rồi đổ dòng nước đục ngầu vào hồ Dongting (Động Đình 洞庭). Đây là phương tiện giao thông chính của tỉnh cho đến khi đường sắt ra đời. Quân đội của Tưởng Giới Thạch đang truy đuổi, di chuyển song song về phía con sông. Hồng Quân dự định vượt sông tại Quanzhou (Toàn Châu 全州), một thành phố có tường thành nơi tuyến đường sắt Quảng Châu–Hán Khẩu bắt đầu chạy dọc theo sông về phía bắc. Toàn bộ khu vực đã được biến thành một pháo đài khổng lồ, với hệ thống hào và pháo đài có tường đá dày tới một mét. Các chốt canh gác có mặt khắp nơi. Hơn nữa, một lữ đoàn địch đã đến trước và chiếm đóng Quanzhou. Lực lượng tăng viện đang trên đường đến, với các đơn vị quân tỉnh đang gấp rút di chuyển dọc theo đường bộ từ Quế Lâm, bao gồm bộ binh, pháo nhẹ, một trung đoàn súng máy, kỵ binh và các binh sĩ đẩy và kéo xe cút kít. Thay vì đi vòng qua thị trấn, Mao yêu cầu phải giao chiến. Hội đồng Quân sự bị chia rẽ, và Chu Đức đã bỏ phiếu quyết định ủng hộ cuộc tấn công. 5
Ngay cả khi phe Cộng sản còn đang tranh cãi về kế hoạch này, quân đội tỉnh đã tiến đến cả hai sườn của họ và phục kích, tấn công không thương tiếc vào các vị trí của đối phương trong ba ngày ba đêm, gây ra hàng nghìn thương vong. Trận chiến này đã tạo điều kiện cho các lực lượng Cộng sản còn lại vượt sông trên những chiếc phao tạm bợ cách đó 20 km về phía nam, ngay cả khi họ bị máy bay địch oanh tạc. Khi Hồng Quân xuất hiện ở bờ bên kia, số lượng của họ đã giảm xuống còn khoảng 35.000 người. Tờ South China Morning Post, trong ước tính được coi là chính xác nhất cho đến nay, cho rằng phe Cộng sản đã chịu tổn thất 10.000 người chết và 6.000 người bị bắt làm tù binh. Một số lượng lớn khác cũng chết vì lạnh và đói, bị đồng đội bỏ lại dọc đường. Chỉ riêng tại Jieshou (Giới Thủ 界首), chính quyền địa phương đã cố gắng chăm sóc 3.000 “những con người tàn tạ” này, mặc dù tình trạng của họ tồi tệ đến mức mỗi đêm có khoảng một chục người chết. 6
Việc tiêu diệt các lực lượng còn lại lẽ ra phải tương đối dễ dàng đối với những đạo quân hùng hậu do chính phủ trung ương tập hợp, nhưng Tưởng Giới Thạch đã thay đổi chiến thuật. Suốt thời gian qua, ông luôn coi phe Cộng sản là trở ngại đối với tầm nhìn về một quốc gia độc lập và thống nhất của mình. Nhưng giờ đây, ông nhận ra rằng có thể dùng các lực lượng tàn dư của họ để xâm nhập vào các tỉnh cuối cùng ở miền Nam vẫn còn chống đối mệnh lệnh từ Nam Kinh, lấy đó làm cớ để điều quân chính phủ truy kích và chiếm đóng lãnh thổ của họ. Ông nói với thư ký Chen Bulei (Trần Bố Lôi 陳布雷): “Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam: mỗi trong ba tỉnh này đều là kẻ thù. Nếu phe Cộng sản tiến vào Quý Châu, chúng ta chỉ cần theo sau họ, đó là chiến lược tốt hơn so với việc dùng quân đội để chinh phục nơi đó. Tứ Xuyên và Vân Nam sẽ phải chào đón chúng ta, dù chỉ để tự cứu mình.” 7
Quân chính phủ di chuyển một cách chiến lược, bố trí lực lượng sao cho Hồng Quân tiến vào tỉnh Quý Châu một cách chậm rãi nhưng chắc chắn dọc theo các tuyến đường bộ, cướp bóc mọi làng mạc mà họ đi qua. Một khi họ đã vào Quý Châu, quân tỉnh Quảng Tây đã từ bỏ việc truy đuổi. Tại Quý Châu, ngày 15 tháng 12, phe Cộng sản đã cướp bóc và đốt phá một phần thành phố có tường bao Liping (Lê Bình 黎平). “Theo tất cả các báo cáo, dường như phần lớn Hồng Quân hầu như không bị ảnh hưởng bởi các hành động yểm trợ diễn ra ở nhiều đoạn dọc đường,” một nhà báo bối rối của tờ North-China Herald nhận xét. Phe Cộng sản tiếp tục tiến về phía tây, mặc dù điểm đến cuối cùng của họ vẫn chưa được quyết định. Otto Braun đề xuất gia nhập Hồng Quân Thứ hai của Hạ Long, dù liên lạc vô tuyến với nhóm này đã bị mất. Thay vào đó, Mao chọn ở lại Quý Châu. Chu Ân Lai đồng ý, lần đầu tiên chuyển hướng ủng hộ về phía Mao. Họ quyết định chọn Zunyi (Tuân Nghĩa 遵义), cách Liping 300 km, một điểm đến có thể dễ dàng tiếp cận trong vài tuần, với nguồn cung cấp dồi dào thu được từ các trung tâm thương mại giàu có dọc đường. 8
Trở ngại chính trên đường đến Zunyi là sông Wu (Ô giang乌江), một con sông hẹp và chảy xiết, uốn lượn theo một cung rộng về phía đông bắc qua địa hình núi non của miền trung Quý Châu, nơi nó được bổ sung bởi nhiều nhánh sông trước khi hợp lưu với sông Dương Tử gần Trùng Khánh. Sông Ô nổi tiếng với những chiếc thuyền gỗ hẹp, được thiết kế để vượt qua những khúc cua gấp trên đoạn hạ lưu của sông. Các đơn vị quân đội tỉnh canh gác khu vực này trang bị kém và huấn luyện yếu, lại thiếu động lực chiến đấu. “Chúng tôi thực sự đã đẩy lùi họ trước mặt mình,” Otto Braun nhớ lại. Phải mất hai ngày để xây dựng những cây cầu tre để vượt sông. Zunyi nằm trong một thung lũng nhỏ, là cửa ngõ dẫn vào những đồng bằng màu mỡ dẫn đến Trùng Khánh. Thành phố này, bị chinh phục vào ngày 7 tháng 1 năm 1935, có kho dự trữ lương thực và vải vóc khổng lồ, đã bị cướp bóc ngay lập tức, dù vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của Hồng Quân. Các làng mạc lân cận cũng bị cướp phá. Đảng Cộng sản chỉ ở lại hai tuần, dù các đội tuyên truyền đã được thành lập, các cuộc mít tinh quy mô lớn được tổ chức, các ủy ban được thành lập và thậm chí cải cách ruộng đất cũng đã bắt đầu. 9
Mao đã tận dụng khoảng thời gian này để triệu tập một cuộc họp của Bộ Chính trị. Kể từ khi rời khỏi Soviet, ông đã bận rộn vận động sự ủng hộ chống lại Otto Braun, Bo Gu và các “Bolshevik” khác, mặc dù về nguyên tắc, một phiên họp mở rộng không thể diễn ra nếu thiếu sự hiện diện của các thành viên từ các khu căn cứ khác, đặc biệt là Trương Quốc Đào và Hạ Long. Bốn mươi người đã tập trung, tất cả đều được quyền bỏ phiếu, mặc dù chỉ có khoảng một chục người là thành viên chính thức của Bộ Chính trị. Tại Ningdu, vào tháng 10 năm 1928, sự kiểm soát của Mao đối với Hồng Quân đã bị phá vỡ; tại Zunyi vào tháng 1 năm 1935, ông đã giành lại quyền kiểm soát đó. Hầu hết các đại biểu im lặng lắng nghe khi Mao chỉ trích gay gắt các đối thủ của mình, lên án họ vì “chủ nghĩa cơ hội cánh hữu”. Người ủng hộ ông mạnh mẽ nhất là Lâm Bưu, “người có giọng điệu đặc biệt thô lỗ”. Kết quả là Bác Cổ bị lật đổ khỏi chức Tổng Bí thư Đảng, được thay thế bằng Trương Văn Thiên – một ứng viên lý tưởng vì ông thuộc nhóm được gọi là “Bolshevik” nhưng cũng đã thiết lập mối quan hệ thân thiết với Mao trong suốt cuộc hành quân. Mao đã cách chức Chu Ân Lai khỏi vị trí Tổng Thống Lĩnh de facto và tự mình nắm giữ chức vụ này. Một “nghị quyết” đã được thông qua, mặc dù nó không được ghi vào biên bản và không bao giờ được nhắc đến nữa cho đến khi Quốc tế Cộng sản (Comintern) giải thể vào năm 1943. Trên thực tế, đó là một cuộc đảo chính được tính toán kỹ lưỡng. 10
Zunyi (Tuân Nghĩa) bị bỏ lại vào ngày 19 tháng 1. Kế hoạch lúc này là tiến về phía bắc và vượt sông Dương Tử vào Tứ Xuyên để hợp quân với Hồng Quân Thứ Tư. Tuy nhiên, lực lượng địch đã phong tỏa toàn bộ sông Dương Tử. Mao, mong muốn giành chiến thắng với tư cách là nhà lãnh đạo mới, đã đối đầu với địch tại Tucheng (Thổ Thành土城). Ngay cả khi quân đội của ông phải chịu thất bại nặng nề, ông vẫn từ chối rút lui. “Họ đã đột phá hàng phòng ngự của chúng tôi, chiếm được đỉnh đồi và chia cắt quân đoàn của chúng tôi thành nhiều mảnh,” một người sống sót hồi tưởng. “Họ trút mưa đạn xuống chúng tôi. Thật kinh hoàng, chúng tôi không có cơ hội nào. Chúng tôi liên tục rút lui về phía thị trấn. Tiếng súng chỉ im bặt khi trời tối.” Tại Trùng Khánh, người dân thở phào nhẹ nhõm đổ ra đường ăn mừng khi một đại diện chính phủ trung ương tuyên bố rằng lực lượng Cộng sản ở Quý Châu đã suy yếu hoàn toàn. Sau khi chữa lành vết thương, lực lượng Cộng sản lang thang khắp vùng nông thôn trong vài tuần, rồi quay lại và tái chiếm Zunyi. Thành phố từng sầm uất nay trông hoang tàn, các cửa hàng trống rỗng, nhà cửa bị cướp bóc và đóng cửa bằng ván, những tấm áp phích rách nát ca ngợi cách mạng bay phấp phới trong gió. Một kế hoạch mới được thông qua, đó là tiến quân về phía nam Quý Châu rồi rẽ ngược lên phía bắc qua Vân Nam để tìm điểm vượt sông ở thượng nguồn Dương Tử. 11
Trong khi quân Cộng sản vẫn đang lang thang khắp vùng nông thôn, quân đội chính phủ trung ương đã tiến vào Guiyang (Quý Dương 貴陽), thủ phủ của tỉnh Quý Châu nằm phía nam Zunyi. Họ tiến hành điều tra chính quyền của Wang Jialie (Vương Gia Liệt 王家烈 ), thống đốc tỉnh, người bị dân chúng ghét bỏ rộng rãi vì đàn áp dân địa phương bằng các khoản thuế cắt cổ. Wang, được mệnh danh là “Vua của Quý Châu”, một người “chỉ lo cho lợi ích cá nhân”, đã từ chức vào ngày 8 tháng 4. Trong số một loạt các biện pháp được thực hiện nhằm giúp tỉnh này thoát khỏi cảnh khốn khó, Tưởng Giới Thạch đã đích thân ra lệnh đình chỉ thuế đất trong một năm. 12
Tại Tứ Xuyên, chính quyền trung ương cũng bắt đầu đóng vai trò quan trọng hơn nhiều. Tỉnh này rõ ràng là nơi được quản lý tồi tệ nhất ở Trung Quốc, bị chia cắt thành các khu vực đồn trú khác nhau thường xuyên giao chiến với nhau. Ngay từ tháng 2 năm 1933, Tưởng Giới Thạch đã ra lệnh cho Zhang Qun (Trương Quần 張群), cựu thị trưởng Thượng Hải, tiếp quản chính quyền tỉnh và thành lập liên minh giữa sáu đạo quân địa phương đang giao tranh với nhau, nhằm thống nhất họ chống lại lực lượng Cộng sản. Liu Xiang (Lưu Tương劉湘), người có quân đội đóng tại Trùng Khánh, có tầm nhìn chính trị sắc sảo hơn các đối thủ và hứa sẽ hợp tác với quân đội chính phủ trung ương trong việc đàn áp lực lượng Cộng sản. Vào tháng 2 năm 1935, Tổng Thống Lĩnh đích thân di chuyển từ Nam Xương đến Trùng Khánh để giám sát các hoạt động chống lại phe Cộng sản tại tỉnh Quý Châu lân cận. Các con phố được trang hoàng bằng những chiếc đèn lồng đỏ để vinh danh ông. Lực lượng của ông hành xử tốt và được người dân chào đón nồng nhiệt, những người đang lo sợ trước viễn cảnh bị phe Cộng sản xâm lược. Hành vi cướp bóc của họ, dường như, lại trở thành một phước lành bất ngờ. Tưởng Giới Thạch không chần chừ. Toàn bộ bộ máy hành chính tỉnh được tái tổ chức dưới sự giám sát trực tiếp của ông. Liu Xiang được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng. Ngay sau đó, Liu đã nghiêm túc ban hành một tuyên bố giảm bớt gánh nặng thuế. Vào tháng 4, Tian Songyao (Điền Tụng Ngưu田頌堯), người đã tàn nhẫn bóc lột dân chúng của chính mình ngay cả khi đang chiến đấu với Trương Quốc Đào, đã bị cách chức ngay lập tức và sẽ bị đưa ra tòa án quân sự vào một ngày sau đó. 13
Vào tháng 3, lực lượng Cộng sản lại rời Zunyi, bắt đầu hành trình tiến về Tứ Xuyên qua Vân Nam. Nhưng hết lần này đến lần khác, họ đụng độ với quân chính phủ, những người ngăn cản họ tiến về phía tây. Trong gần hai tháng, họ lang thang theo những vòng tròn khổng lồ, thỉnh thoảng tham gia vài cuộc giao tranh nhỏ, nhưng phần lớn thời gian đều tránh né đối phương. Otto Braun cho rằng toàn bộ chiến dịch này “đã biến thành một cuộc tháo chạy thực sự”, khi phe Cộng sản đi theo những tuyến đường zigzag với những cuộc hành quân tiến lùi liên miên và các động thái đánh lạc hướng. Cuộc lang thang vô định sau này được mô tả là một mưu kế khôn ngoan nhằm làm rối loạn đối phương, nhưng thế chủ động rõ ràng nằm trong tay quân chính phủ. Tưởng Giới Thạch đã rút ra những bài học quan trọng trong việc chống lại du kích, không ít nhất là sự vô ích của việc cử quân chính quy truy đuổi những đối thủ trang bị nhẹ, di chuyển ban đêm qua địa hình khắc nghiệt, rậm rạp, thường phải chịu đựng cơn mưa mùa đông lạnh giá. Quý Châu có hàng trăm kilômét vuông những ngọn đồi nhỏ hình nón bao phủ bởi sương mù. Chính Tưởng Giới Thạch là người áp dụng các nguyên tắc chiến tranh du kích, đảm bảo rằng quân đội luôn bám sát gót kẻ thù, chặn các lối vào địa hình thuận lợi và nguồn tiếp tế cần thiết, với hy vọng làm đối phương kiệt sức. Khác với các đối thủ, ông có một chiến lược rõ ràng: “Sự khéo léo trong việc thay đổi chiến thuật phụ thuộc vào trí thông minh bẩm sinh”, nghĩa là phải từ bỏ chiến tranh truyền thống để thích ứng với địa hình. Mục tiêu là làm hao mòn đối phương thay vì đối đầu trực diện. Quân Cộng sản đã kiệt quệ, với dịch bệnh, đói khát và đào ngũ tàn phá nặng nề trong hàng ngũ. “Họ chạy trong khi chúng ta nghỉ ngơi,” Tổng Thống Lĩnh chỉ ra, cho đến khi “cuối cùng họ sụp đổ hoàn toàn.” 14
Chính những người Cộng sản cũng trở nên hoang mang trước những cuộc hành quân, truy đuổi, giả vờ và chạy trốn không ngừng nghỉ. Một nhân viên vô tuyến tự hỏi tại sao họ lại phải băng qua cùng một con sông và đi qua cùng những ngôi làng đó nhiều lần đến thế. Người chỉ trích Mao gay gắt nhất là Lâm Bưu, người đã trở nên thất vọng đến mức phải viết thư cho Hội đồng Quân sự để phàn nàn về người thầy của mình: “Điều này sẽ làm kiệt sức binh lính, liệu cách chỉ huy như thế này có phù hợp không?” 15
Họ đã nhiều lần bị đánh tan tác. Vào đầu tháng 4 tại Xifeng (Tức Phong息烽), nơi dân chúng hoảng loạn và đổ ra đường khi quân Cộng sản tiến đến, họ đã chịu tổn thất nặng nề. Vài tuần sau, 2.000 binh sĩ mất tinh thần cùng vũ khí của họ bị bắt tại huyện Longli (Long Lí龙里), cách Guiyang (Quý Dương) 25 km về phía bắc. “Họ thể hiện tinh thần suy sụp và không chống cự.” Các thành viên Hội Chữ Thập Đỏ đi theo dấu vết của quân Cộng sản được cho là đã phát hiện nhiều binh sĩ bị thương nặng, không thể di chuyển và “rên rỉ trong những ngôi mộ chật cứng”. 16
Vào cuối tháng, hàng trăm người nữa đã thiệt mạng trong các trận chiến ác liệt khi đoàn quân phá vỡ vòng vây để vượt biên giới vào Vân Nam. Lúc này, theo số liệu của Bộ Tổng tham mưu Đảng, quân số đã giảm xuống còn khoảng 22.000 binh sĩ. “Hầu như tất cả các trường hợp tử vong đều do chính cuộc hành quân hoặc các trận chiến không mong muốn nhưng bắt buộc,” Otto Braun nhận định. Ngày 24 tháng 4, họ cuối cùng đã tiến vào tỉnh Vân Nam, nhanh chóng di chuyển về phía bắc qua Côn Minh – thủ phủ được củng cố bằng những bức tường đất và gạch có lỗ ngắm được xây dựng vội vã, bao cát và dây thép gai, súng máy và hào chiến. Thay vào đó, họ chiếm được huyện lỵ Wuding (Vũ Định 武定), thả hết tù nhân, cướp phá nơi này, phá hủy hồ sơ hành chính và tiêu diệt các quan chức cùng tất cả những nhân vật giàu có và có thế lực mà họ có thể tìm thấy. Tuy nhiên, các báo cáo cho rằng vợ và tám người con của quan huyện đã bị cắt cổ được xác định là không chính xác. Đội quân cướp bóc đã đến sông Jinsha (Kim Sa 金沙), nơi đánh dấu biên giới với Tứ Xuyên, vào khoảng ngày 1 tháng 5. Thống đốc tỉnh đã ra lệnh phá hủy tất cả thuyền trên sông và đốt cháy tất cả nhà cửa trên bờ nam. Lệnh của ông không được tuân thủ, dù thỉnh thoảng có vài chiếc thuyền được nhồi đá và chìm xuống. Các binh lính đã chặt cây để xây cầu nổi qua dòng sông cuồn cuộn, cho phép 15.000 người theo họ vượt qua. 17
Khi vào đến Tứ Xuyên, quân Cộng sản đã bao vây Huili (Hội Lí 会理), một thành phố chiến lược ở biên giới tỉnh với những bức tường cao, bất khả xâm phạm và được bao quanh bởi một con hào. Chỉ huy trưởng tại đây cũng tàn nhẫn không kém quân Cộng sản, và đã đốt cháy tất cả các ngôi nhà trong khu vực lân cận để cắt đứt nguồn tiếp tế của đối phương. Máy bay trinh sát thả bom, mặc dù phải mất rất lâu để lực lượng tăng viện của chính phủ mới đến được. Họ bao vây quân Cộng sản, tạo cơ hội cho những người phòng thủ thực hiện một loạt các đợt tấn công, với những trận chiến tay đôi khốc liệt. Đó là một thất bại thảm hại đối với Hồng Quân, lực lượng này phải chịu tổn thất nặng nề và buộc phải rút lui. Bành Đức Hoài lúc này đã đứng về phía Lâm Bưu để chỉ trích Mao về sự lãnh đạo quân sự thảm hại của ông. Thái độ này khiến ông phải trả giá đắt, khi bị lên án là “kẻ cơ hội chủ nghĩa cánh hữu” và buộc phải tự phê bình. 18
Phía trước là những cao nguyên hiểm trở, nơi sinh sống của người Lolo – những chiến binh du kích đang tiến hành cuộc chiến không ngừng nghỉ chống lại quân chính phủ. Nhờ có kẻ thù chung, một hiệp ước đã được ký kết dễ dàng, đảm bảo cho Hồng Quân lương thực và quyền đi lại an toàn. Tứ Xuyên đang bước ra khỏi mùa đông, với những cánh đồng hoa cải dầu nở rộ, xen lẫn hoa mộc lan trắng và hoa anh đào. Tuyết tan từ dãy Himalaya đã biến các con sông thành những dòng nước cuồn cuộn. Quân đội hy vọng sẽ vượt sông Dadu (Đại Độ 大渡) gần Shimian (Thạch Miên 石棉), nhưng phát hiện ra phà đã bị phá hủy và bờ đông bị quân chính phủ phong tỏa. Lực lượng chính quyết định di chuyển thêm một trăm kilômét về phía bắc tới Luding (Lô Định 泸定), nơi có cây cầu treo từ thế kỷ XVIII từng là một phần của con đường hoàng gia cổ xưa nối Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, với Thành Đô. 19
Việc vượt cầu Luding vào ngày 29 tháng 5 năm 1935 chắc hẳn là một trong những trận chiến nổi tiếng nhất trong cuộc cách mạng Trung Quốc. Hàng loạt phim tuyên truyền đã được sản xuất, miêu tả một tiểu đội binh sĩ dũng cảm bò qua nhịp cầu dài 100 mét làm bằng xích sắt, nơi tất cả các tấm ván gỗ đã bị gỡ bỏ, treo lơ lửng nguy hiểm trên dòng nước chảy xiết phía dưới, ngay cả khi súng của địch xả đạn vào họ. Họ tiến lên từng chút một, với nhiều binh sĩ bị trúng đạn và ngã xuống tử vong, cho đến khi đối phương hoảng loạn và cố đốt cháy những tấm ván còn lại. Kẻ thù bỏ chạy trong sợ hãi trong khi những người lính kiên quyết đứng dậy và chạy qua ngọn lửa trong vài mét cuối cùng, quần áo và lông mày của họ bị lửa thiêu xém. 20
Năm 1997, nhà sử học Chang Jung (Trương Nhung张戎), người gốc Tứ Xuyên, đã đến thăm địa điểm này và phỏng vấn một cụ bà 93 tuổi vẫn còn minh mẫn. Là một tín đồ Công giáo, giống như nhiều người dân địa phương trong khu vực vào những năm 1930, bà nhớ rằng những người Cộng sản đã mượn cửa nhà bà và của hàng xóm để lắp lên cây cầu, nhưng không nhớ các binh sĩ đã phải hứng chịu bất kỳ hỏa lực nào. Chang Jung kết luận rằng câu chuyện thực sự về trận chiến không hoàn toàn giống như những gì bà đã được nghe kể. Vì nhận xét này cùng những ý kiến phê phán khác, một nhóm nhỏ nhưng rất ồn ào gồm các nhà Hán học đã lên án bà gay gắt, cũng như bộ máy Đảng hùng mạnh của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bà không bao giờ được mời tham dự hội nghị học thuật nào nữa. 21
Năm 2004, Sun Shuyun (Tôn Thư Vân 孙书云) bắt đầu hành trình tái hiện Cuộc Vạn Lý Trường Chinh và phỏng vấn một thợ rèn cao lớn, vai rộng, người cũng từng cho mượn cánh cửa nhà mình. Ông giải thích rằng những người gác ở phía bên kia chỉ có vũ khí cũ kỹ, hầu như không thể bắn được và đã bỏ chạy ngay khi Hồng Quân tiến đến. “Thực ra cũng chẳng có trận chiến gì đáng kể,” ông nói. Sun cũng kết luận rằng câu chuyện thực sự về trận chiến không hoàn toàn như những gì cô được nghe kể. Không một nhà Hán học nào lên tiếng. 22
Tuy nhiên, vẫn còn những nghi ngờ chính đáng về giá trị của hai cuộc phỏng vấn được thực hiện sáu mươi năm sau khi sự kiện diễn ra. Nhưng người dân địa phương không phải là những nhân chứng duy nhất. Khu vực này chủ yếu được các linh mục Pháp truyền giáo, nhiều người làm việc tại các làng mạc hẻo lánh, một số hiếm khi nói tiếng mẹ đẻ trừ khi họ đi lại để gặp gỡ nhau. Họ gửi các báo cáo định kỳ về Lãnh sự quán của họ tại Thành Đô, một số trong đó đã được lưu trữ tại Kho lưu trữ Quốc gia ở Nantes. Một trong số đó do Cha Valentin viết, người đã dành cả cuộc đời để phục vụ người dân địa phương ở Luding. Ông chứng kiến cảnh quân Cộng sản tiến vào vào ngày 29 tháng 5. “Không một phát súng nào được bắn về phía họ,” ông khẳng định trong bản tường trình về sự kiện. Phải mất sáu ngày để khoảng 20.000 binh sĩ và vài trăm phụ nữ đi qua thị trấn. Không ai rơi xuống cầu, không ai đốt cầu và không ai thiệt mạng trong cuộc giao tranh. “Họ cướp bóc mọi thứ trên đường đi và đốt cháy một phần lớn khu chợ ở Luding,” ông bình luận. Tại Lengqi (Lãnh Tích 冷碛), cách đó vài kilômét, họ tịch thu toàn bộ lương thực có thể thu được, và tiếp tục cướp sạch bệnh viện phong địa phương, bao gồm sách vở, giường bệnh, thực phẩm, dụng cụ y tế và thuốc men. Georges Bechamp, vị lãnh sự đọc tất cả các báo cáo gửi về, ghi nhận rằng bất cứ nơi nào những người Cộng sản đi qua, họ đều hành xử như những “chủ nhân tuyệt đối” của nơi đó, khuyến khích bọn côn đồ địa phương tham gia cùng họ cướp bóc tài sản của những người được coi là có điều kiện kinh tế tốt hơn. Các máy bay trinh sát đã phát hiện những ngôi nhà bốc cháy khi lực lượng Cộng sản bị buộc phải rút lui do quân đội đang tiến gần. Nhưng trước khi bỏ chạy, họ đã cố gắng phá hủy cây cầu, thành công trong việc cắt đứt tất cả trừ bốn trong số mười tám sợi xích giữ chặt “cây cầu đẹp nhất Trung Quốc và kỳ quan của các kỹ sư nước ngoài”. Nửa năm sau, cây cầu đang được sửa chữa với chi phí ước tính 120.000 đô la. 23
Khu vực này do Liu Wenhui (Lưu Văn Huy 劉文輝) – tướng bị lật đổ khỏi Thành Đô vào năm 1933 – kiểm soát, và chính ông ta có lẽ là người đã ra lệnh cho binh lính rút khỏi Lô Định. Lưu Văn Huy là bậc thầy trong các cuộc giao tranh nhỏ lẻ, luôn tìm cách bảo toàn lực lượng bằng cách tránh mọi xung đột nhưng cũng cẩn trọng không khiêu khích sự phẫn nộ của Tưởng Giới Thạch. Ông ta không phải là người duy nhất coi những người Cộng sản như một đại dịch cần phải chuyển giao càng sớm càng tốt cho các đối thủ láng giềng. Họ ở lại càng lâu, cái giá phải trả càng cao, nhất là khi Hồng Quân không ngừng tìm cách bổ sung lực lượng. Người dân địa phương bị ép tham gia cướp bóc không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gia nhập, dù là với tư cách người khuân vác hay lính. Ở một số làng, mọi thanh niên đều bị tuyển mộ, dù tự nguyện hay không. Theo thuật ngữ của Đảng, đây được gọi là “tháo cạn ao để bắt cá”. Khi dân làng trốn tránh, các Đội Thiếu niên Đỏ được cử đi tìm họ và ép buộc họ phải tham dự cuộc họp làng dưới sự đe dọa tử hình. Sau khi một hoặc hai người đào ngũ bị bắn vào đầu trước mặt đám đông dân làng, họ đành phải ngoan ngoãn đăng ký cho con trai mình. 24
Ngoài Luding, quân đội chính phủ trung ương đã chặn đứng nỗ lực tiến về phía đông của phe Cộng sản, buộc họ phải tiếp tục tiến sâu hơn về phía bắc vào vùng cao nguyên còn khắc nghiệt hơn, nơi lần này do người Tây Tạng kiểm soát. Ở đó không có đường sá, chỉ có những lối mòn hẹp xuyên qua những vùng đầm lầy nguy hiểm, những khu rừng nguyên sinh bao la, những con suối xiết bắc qua những cây cầu tre và những đèo núi cao bốn hoặc năm nghìn mét so với mực nước biển. Mùa xuân dường như lùi xa, khi nhiệt độ vào ban đêm giảm xuống mức đóng băng. Quân Cộng sản, vốn quen với việc cướp bóc nông thôn để lấy lương thực, phát hiện ra rằng người dân địa phương đã đuổi gia súc của họ đi để ẩn náu trong rừng và núi. Trong một thế giới đảo lộn, chính họ là những người áp dụng chiến thuật du kích chống lại quân Cộng sản, phục kích các nhóm cô lập và những kẻ đi lạc. “Ngày càng nhiều, con đường của chúng tôi được trải đầy xác những người bị giết, bị đông cứng hoặc đơn giản là kiệt sức,” Otto Braun viết. Tất cả đều bị chấy rận. Bệnh lỵ ra máu hoành hành, trong khi bệnh sốt phát ban cũng bắt đầu xuất hiện. Chiến lược của Tưởng Giới Thạch đang phát huy hiệu quả. 25
Vào giữa tháng 6, phe Cộng sản đã chiếm được thị trấn nhỏ Tianquan (Thiên Toàn天全). Tin tức cho biết Hồng Quân Thứ Tư dưới sự chỉ huy của Trương Quốc Đào và Từ Hướng Tiền đang trên đường tiến về Mougong (Mậu Công懋功), một thị trấn nhỏ có đường quốc lộ nối với Thành Đô. Sự hoảng loạn bắt đầu lan rộng ở Thành Đô, nơi người ta lo ngại rằng hai đạo quân có thể hợp lực và tiến vào thành phố, nằm trên một đồng bằng rộng lớn được bao quanh bởi một vòng cung núi dốc đứng. Quân Đỏ Thứ Nhất đến Mougong một tuần sau đó, phát hiện ra một khu định cư của các nhà sư Lạt Ma đã bị người dân địa phương bỏ hoang. Vài ngày sau, họ nhận được liên lạc từ các sứ giả của Trương Quốc Đào và lên đường đến khu vực Lianghekou (Lưỡng Hà Khẩu 两河口). Điều họ phát hiện ra khiến họ kinh ngạc: Hồng Quân Thứ Tư có quy mô gấp đôi quân đội của họ, binh lính được ăn uống đầy đủ và mặc quần áo ấm áp, với nguồn cung cấp dồi dào đến mức dư thừa. 26
***
Vào tháng 11 năm 1934, Trương Quốc Đào đã bắt đầu chuẩn bị rút lui khỏi khu Soviet của mình quanh Tongjiang (Thông Giang). Ông đã theo dõi từng động thái của Hồng Quân Thứ nhất, tin rằng họ đang hướng về phía tây Tứ Xuyên. Ngay khi nhận ra rằng Mao và Chu đã vượt qua được tỉnh Vân Nam, ông và những người theo ông lập tức lên đường hướng về khu vực Mougong, cách đó khoảng 500 km về phía tây theo đường chim bay. Con đường dễ dàng nhất lẽ ra là đi xuống cao nguyên, xuống đồng bằng thẳng đến Thành Đô, rồi lại leo lên núi. Tuy nhiên, ngay cả việc vượt sông Jialing (Gia Lăng 嘉陵)– một con sông sâu và rộng với những dòng nước xiết cuồn cuộn chảy qua vách đá và sườn núi dựng đứng – cũng là một thách thức quân sự đặc biệt, khi quân tỉnh được triển khai chiến lược dọc theo bờ tây. Con sông chia tỉnh thành hai phần, đông và tây, chảy xiết xuống từ núi trước khi mở rộng thành một cửa sông rộng lớn có thể đi lại được, uốn lượn xuống Trùng Khánh, nơi nó hợp lưu với sông Dương Tử. 27
Hồng Quân Thứ Tư đã chọn vượt sông tại Cangxi (Thương Khê蒼溪), chế tạo hàng chục chiếc bè tạm bợ và vận chuyển chúng qua núi. Vào tháng 4 năm 1935, họ đã bất ngờ tấn công lực lượng quân đội tỉnh, xây dựng một cầu phao trên sông, chiếm đoạt các tàu thuyền địa phương và vượt sông vào giữa đêm. Sự hoảng loạn bùng phát tại Thành Đô, với hàng trăm người nước ngoài sơ tán bằng ô tô, cùng hàng nghìn người dân địa phương ồ ạt đổ về phía nam hướng tới Trùng Khánh. Tưởng Giới Thạch đã điều động năm sư đoàn của mình vào tỉnh để bảo vệ thành phố. Đảng Cộng sản không còn lựa chọn nào khác ngoài việc hành quân vòng qua đồng bằng qua địa hình núi non hiểm trở, đi qua Jiange (Kiếm Các 劍閣) và Jiangyou (Giang Du 江油) trước khi thiết lập thủ đô tạm thời tại thành phố nhỏ Beichuan (Bắc Xuyên 北川) vào cuối tháng 5. Beichuan, nằm trong một thung lũng bao quanh bởi những đỉnh núi cao với những con đường uốn lượn, dốc đứng được đục khoét từ vách đá, cũng là một vùng nghèo khó, nơi người dân chủ yếu là các dân tộc thiểu số với các trưởng làng, lạt ma và thủ lĩnh riêng của họ. Hàng thập kỷ dưới chế độ cộng sản sau năm 1949 cũng không làm giảm bớt được tình trạng nghèo đói, và vào năm 2008, một trận động đất kinh hoàng đã xóa sổ nơi này khỏi bản đồ hoàn toàn. 28
Nhận ra rằng Soviet Trung ương Trung Quốc đã ngừng hoạt động kể từ khi Hồng Quân Thứ Nhất rời Giang Tây, thay vào đó Trương Quốc Đào quyết định thành lập Liên bang Tây Bắc tại Beichuan (Bắc Xuyên北川). Thuế má bị bãi bỏ, tiền thuê nhà được giảm và thuốc phiện bị cấm. Nhưng để tồn tại, ông và các đồng minh phải thích nghi với phong tục địa phương, chứ không phải ngược lại. Suốt thời gian đó, những trận chiến khốc liệt diễn ra với quân chính phủ. Máy bay ném bom nhắm vào các vị trí của phe Cộng sản gần thủ đô tạm thời của họ, gây ra thương vong nặng nề. Tháng 6 năm 1935, họ lên đường đến Mougong, đi qua các cao nguyên do người Tây Tạng kiểm soát. 29
Cuộc họp tại Lưỡng Hà Khẩu diễn ra không suôn sẻ. Chu Đức ca ngợi Hồng Quân Thứ Tư, thừa nhận rằng lực lượng của chính ông “từng là một người khổng lồ, nhưng giờ đây tất cả cơ bắp đã biến mất, chỉ còn lại bộ xương”. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông lại nghi kỵ trước một đối thủ đầy sức hút và tự tin, người có thể làm lu mờ uy tín của ông. Liên minh Tây Bắc dường như là một thách thức trực tiếp đối với vị trí lãnh đạo. Trong một chiến dịch bôi nhọ, Trương Quốc Đào bị cáo buộc là “cơ hội chủ nghĩa” và “lạc hậu về chính trị”. Đáp lại, Trương Quốc Đào đặt câu hỏi về tính hợp lệ của các quyết định đạt được tại Tuân Nghĩa, đặc biệt là cách thức mà Mao Trạch Đông đã được đưa vào Bộ Chính trị. Họ cũng có quan điểm khác nhau về chiến lược cần theo đuổi. Cả hai nhà lãnh đạo đều muốn tiến gần nhất có thể đến biên giới với Liên Xô, nhận thức rằng nếu không có sự hỗ trợ tài chính và quân sự từ Moscow, họ sẽ không thể tồn tại. Mục tiêu của Trương là tiến vào Tân Cương qua tỉnh Thanh Hải. Tuy nhiên, Hồng Quân Thứ nhất, vốn đã kiệt sức sau mười tháng hành quân không ngừng nghỉ, không muốn băng qua những đèo núi băng giá, vùng đầm lầy cao nguyên và sa mạc đá cùng đồng muối của Trung Á. Một thỏa hiệp đã được đạt được, khi quân đội được chia thành hai cánh quân tiến quân riêng rẽ về phía Cam Túc, nơi Mao sẽ rẽ sang phía đông dọc theo Con đường Tơ lụa cổ đại hướng về Thiểm Tây, trong khi Trương sẽ đi về phía tây hướng tới Tân Cương. Phía bắc Mougong, cả hai cánh quân đều phát hiện ra một vùng đất cạn kiệt lương thực. Được báo trước về sự xuất hiện của họ, người dân địa phương đã bỏ lại các thị trấn và trang trại, giấu hoặc mang theo lương thực và đuổi gia súc đi nơi khác. Trương cuối cùng bị mắc kẹt ở một góc hẻo lánh, nơi ông phải chiến đấu với người Tây Tạng để sinh tồn. “Sự kháng cự của người Tây Tạng khiến chúng tôi cảm thấy xấu hổ,” Trương sau này thừa nhận. 30
Nhưng chính đoàn quân bên phải dưới sự chỉ huy của Mao mới phải đối mặt với địa hình khó khăn nhất, khi dãy núi dẫn vào một cao nguyên ở độ cao 4.000 mét so với mực nước biển. “Lớp thảm thực vật xanh mướt đánh lừa thị giác, che giấu một đầm lầy đen đặc và nhớt, hút chìm bất cứ ai phá vỡ lớp vỏ mỏng manh hoặc lạc khỏi con đường hẹp.” Mưa lạnh chuyển thành mưa đá vào ban đêm, khi các binh sĩ co ro bên nhau trong khung cảnh hoang vắng, không một bụi cây nào trong tầm mắt. Một số người trong số họ không bao giờ tỉnh dậy. Tình hình dịu bớt sau một tuần, nhưng cuộc hành quân đến Cam Túc cũng gian nan không kém, với những đỉnh núi xen kẽ với vách đá trơ trọi, những con sông cuồn cuộn được bắc qua bằng cầu treo, tất cả những rào cản tự nhiên này rải rác đây đó với những thị trấn có quân đồn trú mà họ phải tấn công — thường phải trả giá đắt — hoặc tìm cách vượt qua bằng cách nào đó. Tại Cam Túc, đoàn quân gặp phải các đơn vị tiên phong của Hu Zongnan (Hồ Tôn Nam胡宗南), một cựu học viên Học viện Quân sự Hoàng Phố và là vị tướng đáng gờm, người trước đó đã chặn đường họ trên cao nguyên Tứ Xuyên. Chỉ xảy ra những cuộc giao tranh nhỏ lẻ chứ không phải các trận đánh quy mô lớn. Đến cuối tháng 9, Hồng Quân Thứ Nhất tiến gần khu vực Minxian (岷县Mân Huyện) ở phía nam Cam Túc, cách thủ phủ Lanzhou (Lan Châu兰州) trên sông Hoàng Hà chỉ khoảng một trăm kilômét về phía nam, không xa một cao nguyên hoàng thổ khổng lồ ở phía đông, được hình thành từ các lớp trầm tích bụi vàng xốp do gió lắng đọng qua hàng thế kỷ. Những ngọn đồi hoàng thổ nằm dọc biên giới giữa phía đông Cam Túc và phía bắc Thiểm Tây, được một nhà thám hiểm mô tả vào năm 1913 là “một ổ cướp bị lạc trong hoang dã”, đã trở thành nơi ẩn náu cho các băng cướp trong hàng thế kỷ. Các nhà truyền giáo bắt đầu rời các trạm của họ để đến Lan Châu. 31
Tại Cam Túc, các thành viên của Lực lượng Tiên phong địa phương dưới sự chỉ huy của Từ Hải Đông (Xu Haidong 徐海東) và Lưu Chí Đan (Liu Zhidan 劉志丹)đã tiếp cận Hồng Quân Thứ nhất, hướng dẫn cho các binh sĩ và giúp họ tìm đường đi qua Cam Túc hướng về Thiểm Tây. Khi dãy núi dần lùi xa và các binh sĩ tiến vào vùng đất hoàng thổ, những ngôi nhà hang động thay thế cho các ngôi nhà thông thường, trong khi lương thực trở nên khan hiếm do đất bị vôi hóa một phần. Đường sá bị xói mòn nhanh chóng và thường chìm xuống dưới mặt đất, với những bánh xe gỗ của xe bò và xe lừa nghiền nát lớp đất giòn. Vào tháng 10, khoảng 6.000 người sống sót sau Cuộc hành quân vạn dặm đã đến Wayaobao (Ngõa Diêu Bảo 瓦窑堡), một thị trấn khai thác mỏ nhỏ gần Yan’an (Diên An延安) ở phía bắc Thiểm Tây.
Tưởng Giới Thạch đã tận dụng lực lượng Cộng sản để thiết lập một mức độ thống nhất nhất định ở các tỉnh miền nam vốn đang hỗn loạn, đồng thời điều động quân đội trung ương đến Quý Châu và Tứ Xuyên. Hồ Tôn Nam, người đã chặn đường tiến của lực lượng Cộng sản vào Tân Cương, sắp sửa tiến vào Lan Châu, từ đó thay đổi cách thức quản lý tỉnh Cam Túc. Còn một khía cạnh khác trong cuộc truy đuổi lực lượng Cộng sản qua những vùng đất hoang vu rộng lớn: Tướng Tưởng Giới Thạch biết rằng kẻ thù chính là Nhật Bản, nhưng khó có thể huấn luyện quân đội công khai để chuẩn bị cho cuộc chiến với một kẻ thù quân sự vượt trội, vốn đã triển khai quân đội khắp Mãn Châu. Như một tùy viên quân sự sắc sảo của Hoa Kỳ đã nhận xét, chiến dịch chống Cộng không chỉ giữ cho một lực lượng quân đội khổng lồ bận rộn, mà còn cung cấp cơ hội huấn luyện cho binh lính, tương tự như cách Lực lượng Biên phòng Mexico đã làm cho Lực lượng Vệ binh Quốc gia ngay trước khi Hoa Kỳ tham gia Chiến tranh Thế giới Thứ nhất. Phái viên quân sự Anh tại Nam Kinh vào tháng 6 năm 1936 đã lưu ý rằng các báo cáo về các hoạt động chống Cộng sản “phần lớn nhằm che đậy các chuẩn bị quân sự của Tưởng Giới Thạch trước khả năng xảy ra chiến tranh với Nhật Bản”. Một phái viên hải quân Nhật Bản cũng bày tỏ quan điểm tương tự, nhận xét rằng Tưởng Giới Thạch “đã lợi dụng mối đe dọa từ phe Cộng sản làm cái cớ để huấn luyện quân đội của mình trong các tình huống chiến đấu thực tế”. 32
Nhật Bản nhận thức rõ mối nguy hiểm này. Điều mà Tokyo lo ngại nhất chính là một liên minh giữa Nam Kinh và Moscow. Vào ngày 17 tháng 12 năm 1932, gần như đúng 5 năm sau ngày Tưởng Giới Thạch trục xuất toàn bộ các lãnh sự và cơ quan thương mại của Liên Xô, quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô và Trung Quốc đã được khôi phục. Đây là kết quả tất yếu của cuộc xâm lược Mãn Châu của Nhật Bản, nhất là khi Hội quốc Liên lại tỏ ra hoàn toàn bất động trước sự việc này. Mặt khác, ngay khi Quân đoàn Quan Đông đến Cáp Nhĩ Tân, hai đối thủ này bỗng nhiên có chung một đường biên giới dài hơn 2.000 km. Từ ngày 1 tháng 3 năm 1932, khi Nhật Bản biến Mãn Châu thành nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc, sử dụng vị hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh là Phổ Nghi làm bù nhìn, cho đến ngày 30 tháng 11 năm 1935, Tokyo đã lên án 255 hành vi và sự cố vi phạm pháp luật dọc biên giới Mãn Châu–Liên Xô, bao gồm 30 vụ xâm phạm không phận. Bên kia sông Amur tại Vladivostok, các công sự cổ xưa đang được gia cố, với dòng chảy liên tục của máy bay và tàu ngầm được phát hiện tại cảng. Dân cư địa phương sống trong cảnh khốn khổ, nhưng ngũ cốc được vận chuyển đều đặn bằng tàu từ Argentina và Úc để cung cấp thực phẩm cho 5.000 lính thủy đánh bộ. 33
Vào mùa hè năm 1935, Tưởng Giới Thạch buộc phải nhượng bộ Nhật Bản một lần nữa. Trong một thỏa thuận bí mật giữa Hà Ứng Khâm và Yoshijirō Umezu, Tổng Thống Lĩnh Quân đoàn Quan Đông, tất cả các lực lượng và tổ chức được coi là thù địch với Nhật Bản đều bị buộc phải rút khỏi các tỉnh Hà Bắc và Chahar. Những tin đồn do hãng thông tấn Nhật Bản tại Tokyo khởi xướng, được các tờ báo ở Thượng Hải đăng tải rầm rộ, bắt đầu lan truyền, cáo buộc rằng Tổng Thống Lĩnh đã đạt được thỏa thuận với phe Cộng sản và các lãnh đạo Quốc Dân Đảng đang công khai kêu gọi liên minh với Liên Xô để chống lại Nhật Bản. Thiếu tướng Kenji Doihara, Giám đốc Phòng Dịch vụ Đặc biệt của Quân đoàn Quan Đông, bắt đầu thảo luận các biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập của phe Cộng sản vào Chahar. Đến tháng 10, khi các lực lượng Cộng sản Trung Quốc đến Wayaobao, họ đã cách đó 600 kilômét. 34
***
Đằng sau những cáo buộc về một thỏa thuận bí mật giữa Tưởng Giới Thạch và Đảng Cộng sản là cuộc thoát thân của Hồng Quân Thứ hai dưới sự chỉ huy của Hạ Long. Năm 1933, quân chính phủ đã đẩy lùi Hạ Long và những gì còn lại của lực lượng tan tác của ông ta trở lại tận Hefeng. Hạ Long được gia nhập bởi Xiao Ke (Tiêu Khắc萧克), một thanh niên phong độ, người đã dẫn đầu một nhóm quân rời khỏi Giang Tây vào tháng 8 năm 1934 để tìm kiếm các tuyến đường thoát khỏi Soviet Trung ương. Tại Quý Châu, ngay tại biên giới giáp với Tứ Xuyên, Hồ Nam và Hồ Bắc, Hạ Long và Xiao Ke đã thành lập một Soviet mới, tồn tại được khoảng một năm. Cách tiếp cận của họ tuân theo một quy trình đã được thiết lập từ lâu: những người giàu có bị xử tử, nợ nần bị xóa bỏ, đất đai được phân phối lại. Một người nông dân tự cày cấy mảnh đất của mình được dung thứ, nhưng ai để người khác làm việc trên ruộng của mình thì bị tố cáo là “địa chủ”. Các phiên xử tử diễn ra trên những sân khấu được trang trí bằng cờ và hoa giả. Đám đông, sớm quen với nghi thức này, đồng thanh đưa ra phán quyết theo hiệu lệnh, như thể chỉ có một tiếng nói duy nhất. Khi họ hét lên “giết”, những người bị kết án tái mét, rồi bị dẫn đi và xử tử. Tù nhân thường xuyên bị tra tấn. Những người chết vì đói, bị ngược đãi hoặc bệnh tật được mang đi chôn cất mà không có quan tài, “như cách người ta chôn một con chó”, theo lời Rudolf Bosshardt, một nhà truyền giáo Thụy Sĩ từng bị bắt làm con tin và đi cùng quân đội trong một năm. Có lúc các cuộc hành quyết gần như diễn ra hàng ngày, khi những người đàn ông bị trói chặt và cởi trần đến thắt lưng bị dẫn đi, quần áo của họ thường bị những kẻ hành quyết chiếm đoạt. 35
Dayong (Đa Dung 大庸) là thủ đô của chính quyền Soviet. Cuộc giao tranh ác liệt bùng nổ vào tháng 3 năm 1935, buộc phe Cộng sản phải sơ tán khỏi vùng Soviet và rút lui về tận Sangzhi (Tang Thực桑植), quê hương của Hạ Long. Trước khi rời Dayong, phe Cộng sản đã giết hại hàng nghìn người, bỏ lại thi thể của họ để thối rữa. “Một ao nước bên ngoài Cổng Tây chật cứng xác chết đang bị chó xé xác,” sĩ quan quân đội Anh K. E. F. Millar – người được cử đi đàm phán để giải cứu các con tin nước ngoài do Hạ Long bắt giữ – đã viết. Ông cũng khen ngợi rằng người dân địa phương là những con người dũng cảm, trước tiên bị Hạ Long tước đoạt mọi thứ, sau đó phải đối mặt với nạn đói do Quốc dân đảng gây ra khi họ trưng thu lương thực để nuôi quân. Dayong không phải là nơi duy nhất bị tàn phá. Khắp nơi, đất nông nghiệp trong khu vực khoảng mười kilômét bên ngoài căn cứ Cộng sản cũ đều bị bỏ hoang, không còn một cây rau nào. Bên ngoài căn cứ Cộng sản, những cánh đồng trông gọn gàng, tràn ngập đậu và đậu Hà Lan. “Sự tương phản rất rõ rệt,” ông Bosshardt nhận xét. Dọc theo con đường ra khỏi khu Soviet, ba tình nguyện viên được cử đi đàm phán việc thả các nhà truyền giáo “đã nhìn thấy thi thể của nhiều người bị bắn và chặt đầu”. “Tình trạng của cả huyện thật kinh hoàng,” họ tiếp tục ghi nhận. 36
Đến tháng 10 năm 1935, Hạ Long và Tiêu đã phải hứng chịu một loạt thất bại quân sự trước lực lượng hùng hậu của quân đội tỉnh và chính phủ. Khi nguồn cung cấp cạn kiệt và lo sợ bị bao vây, họ quyết định rút lui. Vào tháng 11, gần Dayong – thủ phủ cũ của họ – lực lượng Cộng sản đã phá vỡ vòng phòng thủ và vượt qua sông Lishui (Lễ Thủy 澧水), tiếp đó là sông Yuan (Nguyên 沅) – con sông hùng vĩ hơn nữa, ngăn cách vùng phía bắc nhiều núi non với phần còn lại của Hồ Nam. Hầu như không có giao tranh nào xảy ra, vì các lực lượng chính phủ và tỉnh đã dẫn dắt họ theo hướng cần thiết, tức là về phía nam. Tướng chỉ huy nhiệm vụ ngăn chặn làn sóng Cộng sản đã nhận hai điểm trừ từ Chủ tịch tỉnh Hồ Nam. Hạ Long và Tiêu Khắc chia quân thành hai cánh quân. Cuộc tiến quân về phía nam xuyên qua tỉnh diễn ra ngoạn mục, với lực lượng chính lần lượt chiếm đóng các thành phố như Anhua (An Hoa 安化) và Xinhua (Tân Hoa 新化). Vì khu vực này giàu mỏ bạc và thiếc, và công nhân từ chối nhận tiền giấy, chính phủ buộc phải dự trữ một lượng lớn đồng bạc để chi trả lương cho họ. Quân Đỏ Thứ Hai, ước tính khoảng 15.000 người, đã chiếm được phần lớn số tiền này, và có thể đã dùng nó để mua đường đi an toàn, làm dấy lên nghi ngờ thêm về quyết tâm của chính phủ trung ương trong việc tiêu diệt lực lượng Cộng sản. Cả hai cánh quân sau đó rẽ về phía tây để chiếm đóng Xupu (Tự Phố 溆浦), nơi họ xé bỏ tất cả các áp phích của chính phủ và thay thế bằng các tài liệu tuyên truyền của riêng mình trước khi tiến hành cướp bóc các cửa hàng và nhà ở của giới giàu có. Trên khắp thị trấn, có thể thấy binh lính mang theo giỏ và thùng chứa đầy các vật phẩm bị tịch thu, đặc biệt là quần áo và giày dép. 37
Trong vài ngày, Changsha sống trong nỗi lo sợ bị xâm lược, nhưng sớm rõ ràng rằng Hồng Quân Thứ Hai có ý định đi theo cùng tuyến đường vòng quanh Tứ Xuyên mà Mao và Chu đã đi một năm trước đó. Các đoàn quân di chuyển với tốc độ rất nhanh, tiến vào Quý Châu phía trên Tongren (Đồng Nhân 銅仁). Tất cả các tỉnh trung tâm nay đã không còn sự hiện diện của cộng sản. Tưởng Giới Thạch siết chặt quyền kiểm soát Hồ Nam, tương tự như cách ông đã củng cố quyền kiểm soát Tứ Xuyên và Quý Châu. Khác với năm trước, Quý Dương đã chuẩn bị kỹ lưỡng, với sự hỗ trợ của các đơn vị quân Quảng Tây bổ sung cho lực lượng chính phủ trung ương. Vào tháng 1 năm 1936, họ đã gây ra một thất bại nặng nề cho phe Cộng sản, chính tại địa điểm Long Li (龍里)nơi Mao đã mất hàng nghìn binh sĩ vào tháng 4 năm trước. Hạ Long buộc phải rút lui về biên giới Vân Nam gần Zhaotong (Chiêu Thông 昭通). Tại Vân Nam, binh lính của ông liên tục bị buộc phải giao chiến, chịu tổn thất nặng nề. Họ hành quân về phía bắc, băng qua sông Jinsha (Kim Sa金沙) gần Lijiang (Lí Giang漓江) và di chuyển ngược dòng qua Tây Tạng, thỉnh thoảng chiếm một thị trấn, nghỉ ngơi rồi tiếp tục hành quân. Hàng trăm người đã chết vì đói trên các đèo cao và dọc theo những vùng đất hoang vu. Đến tháng 6, đoàn quân ồ ạt đổ vào thung lũng Bát Tang trước khi rẽ về phía đông hướng tới Ganzi (Cam Tư 甘孜) ở Tứ Xuyên. 38
Hành trình vòng vèo mà họ thực hiện còn lớn hơn cả hành trình của Hồng Quân Thứ nhất. Họ hợp nhất với Trương Quốc Đào, người mà cuộc hành quân từ Tứ Xuyên hướng về Cam Túc đã bị cắt ngắn do mùa đông ập đến và sự bố trí chiến lược của các lực lượng trung ương. Vào tháng 10 năm 1935, ngay khi Hồng Quân Thứ nhất tiến vào tỉnh Thiểm Tây, Trương đã thành lập một Ban Chấp hành Trung ương thay thế, lên án Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và các nhà lãnh đạo khác vì đã “vi phạm tinh thần của Đảng” và làm suy yếu sự đoàn kết của Hồng Quân. Lúc này đã có hai Hồng Quân, hai Hội đồng Quân sự và hai Ban Chấp hành Trung ương. 39
Moscow đã can thiệp, cử Anh họ của Lâm Bưu đến với thông điệp kêu gọi đoàn kết. Lin Yuying (Lâm Ngọc Oánh 林玉瑩), người đến miền bắc Thiểm Tây vào tháng 11 năm 1935, đã gửi một bức điện tín cho Trương, giải thích rằng sau khi Adolf Hitler lên nắm quyền vào năm 1933, các đại biểu tại Đại hội lần thứ Bảy của Quốc tế Cộng sản đã thông qua một chính sách mới chống phát xít. Điều này có nghĩa là tất cả các lực lượng ở Trung Quốc nên gác lại những bất đồng và đoàn kết trong Mặt trận Thống nhất chống Nhật. Lâm biết Trương, hai người đã từng hợp tác với nhau từ tận năm 1922. Trương đáp lại bằng một danh sách dài các khiếu nại chống lại Mao. Một loạt điện tín tiếp theo được gửi đi, nhưng Trương, người cứng đầu, từ chối nhượng bộ. Chỉ sau khi Zhang Wentian (Trương Văn Thiên) viện dẫn toàn bộ quyền uy của Stalin, ông ta mới cuối cùng đồng ý. “Chúng tôi phải dụ ông ta ra khỏi hang động của mình, từng bước một,” Zhang Wentian sau này hồi tưởng. 40
Vào tháng 8 năm 1936, Trương Quốc Đào và Hạ Long đến Cam Túc, quyết tâm tái hợp với Hồng Quân số 1 tại tỉnh Thiểm Tây. Tuy nhiên, lần này những người Cộng sản vấp phải sự chống cự quyết liệt. Các chiến sĩ của họ, những người đã sống sót suốt nhiều tháng chỉ với khẩu phần lúa mạch hàng ngày, rất mong muốn có thức ăn ngon hơn và đã cố gắng chiếm Minxian. Mặc dù vượt trội về số lượng so với lực lượng đồn trú bên trong thành, họ vẫn không thể giành chiến thắng. Một cuộc vây hãm kéo dài năm tuần với kế hoạch thiếu chu đáo đã diễn ra, và máy bay của quân đội tỉnh đã đến giải cứu bằng cách thả đạn dược và vật tư y tế. Quân Cộng sản chịu tổn thất nặng nề và cuối cùng bị đẩy lùi, chỉ để rồi bị quân chính phủ trung ương tiêu diệt tan tác khi họ cố gắng băng qua một nhánh của sông Hoàng Hà gần Qingyuan. Phải đến ngày 2 tháng 12 năm 1936, Trương Quốc Đào – người đã rút ra bài học cay đắng – mới cuối cùng đến được Thiểm Tây cùng 10.000 binh sĩ. Ông đã mất hơn một nửa quân số kể từ khi hội quân với Mao gần Mougong hơn một năm trước đó. Các lực lượng hợp nhất của Hồng Quân Thứ nhất, Thứ hai và Thứ tư chính thức được thống nhất lại. Để đánh dấu sự kiện này, trong một lễ kỷ niệm đặc biệt tại thủ đô mới Bao’an (Bảo An保安), nơi được trang hoàng bằng những tấm áp phích rực rỡ và cờ đỏ, Cuộc Vạn Lý Trường Chinh chính thức được tuyên bố kết thúc. 41
***
Một năm trước đó, Mao, người luôn là một nhà hùng biện, đã biến cuộc tháo chạy thảm hại và liều lĩnh thành một kỳ tích chưa từng có kể từ khi nhân vật thần thoại Pangu (Bàn Cổ 盤古) tách trời và đất. “Chúng ta nói rằng Cuộc hành quân vạn lý là chưa từng có trong lịch sử, rằng Cuộc hành quân vạn lý là một bản tuyên ngôn, một đội tuyên truyền, một cỗ máy gieo mầm.” Ông tiếp tục: “Cuộc hành quân vạn lý đã thông báo cho khoảng 200 triệu người ở mười một tỉnh rằng con đường của Hồng Quân là con đường duy nhất dẫn đến giải phóng của họ.” 42
Nhưng như chính những người Cộng sản thừa nhận vài năm sau đó, họ gần như đã bị tiêu diệt hoàn toàn: tổn thất trong tổ chức của họ được ước tính là “100% ở các khu vực Quốc dân đảng và 90% ở các khu vực Soviet và Hồng Quân”. Số đảng viên giảm xuống còn 40.000 trong suốt Cuộc hành quân vạn lý, tương đương khoảng một đảng viên trên mỗi 11.000 người. 43
Nói tóm lại, Đảng Cộng sản lúc bấy giờ chỉ có sức hút tương đương với một giáo phái tôn giáo ít người biết đến hoặc một hội kín nhỏ lẻ. Thông điệp về “cuộc nổi dậy vô sản” chống lại “chủ nghĩa tư bản” của họ, dù đã được Moscow tài trợ và tuyên truyền không ngừng nghỉ trong mười lăm năm, vẫn không nhận được sự ủng hộ đáng kể nào từ giới công nhân ở bất kỳ thị trấn hay thành phố nào trên cả nước. Những lời kêu gọi phân phối đất đai có sức hấp dẫn nhất định ở nông thôn, mặc dù danh tiếng của Đảng, sau nhiều năm cướp bóc nếu không muốn nói là khủng bố trắng trợn, đã khiến hầu hết người dân làng nhìn nhận sự xuất hiện của Hồng Quân với sự lo sợ. Những nông dân bình thường không cần phải có bằng tiến sĩ kinh tế học để nhận ra rằng họ sẽ phải làm việc vất vả hơn nhiều mà thu nhập lại ít hơn để nuôi sống các binh lính. Và đối với những ai tìm kiếm bằng chứng học thuật, có cuộc điều tra về nông dân do một nhóm nghiên cứu của Đại học Nam Kinh dẫn đầu bởi nhà kinh tế học người Mỹ John L. Buck thực hiện. Từ năm 1929 đến 1933, họ đã nghiên cứu 168 làng trải rộng trên 22 tỉnh, thu thập một lượng lớn thông tin về mọi khía cạnh cuộc sống của hơn 16.000 hộ gia đình. Cuốn “Sử dụng đất đai ở Trung Quốc” đã ghi chép tỉ mỉ những khác biệt khu vực đa dạng ở nông thôn, nhưng bức tranh tổng thể từ nghiên cứu này không cho thấy sự tồn tại của những bất bình đẳng lớn. Hơn một nửa số nông dân là chủ đất, nhiều người là chủ đất một phần và ít hơn 6% là người thuê đất. Hầu hết các trang trại đều có quy mô tương đối nhỏ, và rất ít trang trại có diện tích lớn hơn gấp đôi diện tích trung bình. Người thuê đất nói chung không nghèo hơn nhiều so với chủ đất, vì chỉ có đất màu mỡ mới được cho thuê. Phần lớn dân làng bổ sung thu nhập bằng nghề thủ công và các hình thức việc làm phi nông nghiệp khác, mang lại khoảng một phần sáu thu nhập của họ. Một phần ba số người canh tác được khảo sát không nhận thức được bất kỳ yếu tố bất lợi nào trong nông nghiệp. Không ai đổ lỗi cho tín dụng đắt đỏ, thương nhân bóc lột hay chế độ sở hữu đất đai. Rất ít người coi chiến tranh là nguyên nhân chính gây ra nạn đói, mặc dù họ xác định hạn hán và lũ lụt là nguyên nhân chính, tiếp theo là sâu bệnh, sương giá và gió. Đây không hẳn là một vùng nông thôn sôi sục với nhiệt huyết cách mạng. 44
Tất nhiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phản đối chủ nghĩa đế quốc, nhưng ngoài những lời lên án gay gắt và việc phá hủy có hệ thống tài sản của các nhà truyền giáo, bao gồm cả trại trẻ mồ côi và bệnh viện, những hành động này không mang lại nhiều tác động, đặc biệt khi so sánh với áp lực không ngừng mà chính phủ trung ương gây ra đối với các cường quốc nước ngoài nhằm xóa bỏ hệ thống cảng hiệp ước và quyền ngoại giao. Đến năm 1933, một loạt khu nhượng địa nước ngoài đã bị từ bỏ, trong khi vào tháng 6 năm 1931, việc từ bỏ vô điều kiện các khu vực ngoại giao và quyền ngoại giao tại Thiên Tân sau năm năm và Thượng Hải sau mười năm đã được thỏa thuận. “Như vậy, nhờ sự can thiệp tình cờ của các sự kiện khác, câu chuyện về chiến dịch của Chính phủ Quốc dân nhằm bãi bỏ các quyền ngoại giao ngoại lệ của nước ngoài – pháo đài của các ‘Hiệp ước Bất bình đẳng’ – đã khép lại,” Đại sứ Anh Miles Lampson kết luận vào năm 1933. Vào tháng 9 năm 1930, các quỹ bồi thường vốn bị chỉ trích gay gắt mà các cường quốc nước ngoài thu được để bù đắp thiệt hại do Cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn gây ra – cuộc nổi dậy đã đạt đỉnh điểm với việc bao vây các phái bộ ngoại giao nước ngoài tại Bắc Kinh vào năm 1900 – đã được chuyển giao toàn bộ cho chính phủ trung ương, nhằm sử dụng cho giáo dục, xây dựng đường sắt và các công trình công cộng. 45
Các thành phố và những vùng nông thôn rộng lớn đang từng bước được đưa vào thời đại hiện đại. Ngay cả khi Đảng Cộng sản hứa hẹn sẽ tạo ra một thế giới mới chỉ trong một đêm, các chính quyền tỉnh và trung ương vẫn đang thực hiện một chương trình hiện đại hóa khổng lồ, thường với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ các nước ngoài. Về mặt giáo dục, riêng Quỹ Rockefeller đã chi 37 triệu USD tại Trung Quốc trong giai đoạn 1913–1933, một con số chỉ đứng sau 117 triệu USD mà quỹ này chi tại Hoa Kỳ. Trên khắp đất nước, những con đường mới đang được xây dựng một cách hăng hái và nhiệt tình, “những con đường đang san phẳng các bức tường và hoàn toàn thay đổi diện mạo của các thành phố cổ Trung Quốc, những con đường chạy dọc theo bờ sông, uốn lượn qua lại các làng mạc, thậm chí leo qua các đèo núi”. Đến năm 1933, hệ thống đường sắt đã phủ hơn 10.000 km, vận chuyển 45 triệu hành khách mỗi năm. Một cơn sốt xây dựng đang biến đổi cả những thành phố lớn lẫn nhỏ, khi các bức tường bị phá bỏ, hào nước bị san phẳng, đầm lầy được lấp đầy, đường quốc lộ được xây dựng và cầu được dựng lên. Các công viên công cộng, thư viện, bảo tàng, trường học và bệnh viện đang dần thay thế những địa danh truyền thống của các thị trấn thời phong kiến, dù đó là cổng kỷ niệm, đền thờ, tháp trống, hội trường hội nghề, quán trà hay tiệm cầm đồ. Vào năm 1933, Quảng Châu đã khác xa so với thời kỳ bị quân Cộng sản chiếm đóng năm 1927; những ngôi nhà bị cháy đen ở khu phố Tàu đã bị phá bỏ và thay thế bằng những con đường, tòa nhà mới cùng các công trình cải thiện đô thị, bao gồm cả Đài tưởng niệm Tôn Trung Sơn bắt buộc phải có. Xa hơn về phía bắc, Nam Kinh đã được xây dựng lại hoàn toàn, với các thư viện, nhà máy điện, đèn điện, nhà máy xay bột, nhà máy xà phòng, đường nhựa, đèn neon, hệ thống điện báo và điện thoại, trường học, cao đẳng, bệnh viện và khách sạn hiện đại. Những thành phố này không phải là ngoại lệ. Thư ký thống kê của Đại sứ quán Anh đã viết vào năm 1932 rằng: “Hầu như mọi thành phố lớn và thậm chí nhiều làng mạc hiện nay đều được thắp sáng bằng điện; hệ thống cấp nước bằng trọng lực hiện đại đang dần được cung cấp; hầu hết các thành phố đều có hệ thống điện thoại, với nhiều tổng đài tự động, và hầu hết các tỉnh đều có dịch vụ điện thoại đường dài rộng khắp.” 46
Nếu có một mối đe dọa áp đảo đối với đất nước, đó chính là Nhật Bản. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc, vốn tập trung vào Tưởng Giới Thạch, hầu như không bao giờ đề cập đến quốc đảo này. Cuộc Vạn Lý Trường Chinh sau này được giải thích là nỗ lực của Đảng Cộng sản nhằm tiến gần hơn đến các vùng lãnh thổ bị Quân đoàn Quan Đông chiếm đóng, nhưng quốc gia đã xâm lược toàn bộ miền Bắc lại không được nhắc đến dù chỉ một lần tại Hội nghị Tuân Nghĩa vào tháng 1 năm 1935. Quyết định tiến về Thiểm Tây chỉ được đưa ra vài tháng sau đó, dựa trên lý do tỉnh này gần Liên Xô hơn – nơi mà sự hỗ trợ tài chính và quân sự là điều thiết yếu nếu Đảng muốn tồn tại. 47
Stalin một lần nữa ra tay cứu giúp, mang đến cho những người theo ông tại Trung Quốc một tia hy vọng. Một năm sau khi các đại biểu Nhật Bản rút khỏi Hội Quốc Liên, Moscow đã quay về với Geneva, lo ngại trước sự trỗi dậy của Đức Quốc xã. Maxim Litvinov, người phụ trách ngoại giao từ năm 1930 trở đi, ủng hộ chính sách an ninh tập thể cùng các nước dân chủ phương Tây chống lại Hitler. Stalin, hoàn toàn nhận thức được mức độ thù địch cơ bản của Anh đối với Liên Xô, đã tỏ ra nghi ngờ, nhưng vẫn đồng ý, do thiếu bất kỳ giải pháp thay thế khả thi nào. Dù sao đi nữa, các chiến thuật tiêu chuẩn của chủ nghĩa Marx-Lenin quy định phải tìm kiếm liên minh với một kẻ thù không đội trời chung, một kẻ luôn có thể bị cô lập và tiêu diệt ở giai đoạn sau. Khi Nhật Bản bắt đầu mở rộng kiểm soát sang miền bắc Trung Quốc, một cuộc tiến quân chung vào Moscow của hai cường quốc chống Cộng quyết liệt nhất, tức Đức và Nhật Bản, đã trở thành một khả năng rõ rệt. Sau những tranh chấp biên giới kéo dài, đến tháng 7 năm 1935, Quốc tế Cộng sản (Comintern) đã công khai gọi Tokyo là “kẻ thù phát xít”. 48
Câu trả lời là một Mặt trận Thống nhất chống phát xít. Georgi Dimitrov, trong bài phát biểu bế mạc Đại hội lần thứ Bảy của Quốc tế Cộng sản vào ngày 13 tháng 8 năm 1935, đã kêu gọi “giai cấp công nhân” đoàn kết thành một “mặt trận nhân dân chống phát xít”. Các đảng xã hội dân chủ, trước đây bị chế giễu là “xã hội phát xít”, bỗng nhiên được chào đón như những đồng minh. “Dân chủ tư sản”, Dimitrov giải thích, thực chất là một hình thức độc tài tư sản, nhưng vẫn tốt hơn so với một hình thức độc tài tư sản mang tính phát xít. Stalin bắt đầu khuyến khích các đảng Cộng sản trên toàn thế giới tìm kiếm mặt trận thống nhất với những người đang cầm quyền thay vì cố gắng lật đổ họ. Tiếng trống cách mạng thế giới im bặt, nhường chỗ cho những lời kêu gọi mạnh mẽ về sự đoàn kết chống phát xít. Tại một số quốc gia, bao gồm Pháp và Tây Ban Nha, các chính phủ mặt trận nhân dân đã được thành lập vào năm 1936. 49
Wang Ming, nhân vật chủ chốt của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Moscow, đã không chậm trễ trong việc phát động “Lời kêu gọi gửi tới tất cả đồng bào”, được soạn thảo vào ngày 1 tháng 8 năm 1935 và công bố vài tháng sau đó, kêu gọi đồng bào đứng lên và đoàn kết trong cuộc chiến chống Nhật Bản. Tuy nhiên, Tưởng Giới Thạch và một số nhà lãnh đạo khác đã bị loại trừ rõ ràng với tư cách là “kẻ phản bội”. Không một thông điệp nào trong số này đến được với các đảng viên Cộng sản Trung Quốc, những người lúc bấy giờ đang lang thang trong hoang mạc, chia rẽ thành hai Ban Chấp hành Trung ương đối địch và không ngừng chửi bới lẫn nhau. Nhưng khi Lin Yuying đến Wayaobao vào tháng 11 năm 1935 mang theo cùng thông điệp đó, Mao lập tức nhận ra tầm quan trọng của nó. Mặt trận Thống nhất chống Nhật cuối cùng đã mang đến cho Đảng Cộng sản một thông điệp được quần chúng ủng hộ và được hậu thuẫn bằng lời hứa về nguồn tài trợ thêm từ Moscow. Học sinh trên khắp Trung Quốc, ngay cả trong đợt lũ lụt năm 1931, đã kêu gọi chiến tranh, dường như không nhận thức được sự chênh lệch quân sự khổng lồ giữa hai cường quốc và thực tế là đất nước họ vẫn chưa hình thành được ý thức đoàn kết dân tộc mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của một chính phủ trung ương. Trong vài năm, các nhóm “cứu quốc” đã xuất hiện ở hầu hết các thành phố, tổ chức các “cuộc biểu tình phẫn nộ”, phát đi các điện tín vòng, tuyên ngôn và lời kêu gọi, đồng thời kêu gọi người dân đứng lên chống lại Nhật Bản. Hoạt động kích động gia tăng vào năm 1935 sau khi Nhật Bản đưa ra các yêu sách mới đối với các tỉnh Hà Bắc và Chahar. Vào tháng 12, 5.000 sinh viên tại Bắc Kinh (lúc bấy giờ được gọi là Bắc Bình do thủ đô đã chuyển đến Nam Kinh) đã đình công, yêu cầu chính phủ điều động binh lính từ khắp các vùng miền trong cả nước để chống lại kẻ thù. 50
Gần như chỉ trong một đêm, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thay đổi giọng điệu. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1936, Mao ủng hộ Mặt trận Thống nhất, giải thích với các đồng chí của mình rằng Quốc tế Cộng sản (Comintern) giờ đây coi Đảng Cộng sản Trung Quốc là “đảng Bolshevik lớn nhất bên ngoài Liên Xô”: sự công nhận này chắc chắn sẽ dẫn đến sự hỗ trợ quân sự quy mô lớn, hoặc ít nhất đó là suy đoán của ông. Vài tuần sau, Mao bắt đầu làm suy yếu liên minh lỏng lẻo của các quân đội tỉnh do Tưởng Giới Thạch đứng đầu bằng cách tiếp cận Trương Học Lương. Khi “Thống chế Trẻ” này rút quân khỏi Mãn Châu vào tháng 12 năm 1931, Tưởng Giới Thạch đã giao cho ông nhiệm vụ đàn áp các lực lượng Cộng sản tại Hà Bắc. Vào mùa hè năm 1935, sau khi Quân đoàn Quan Đông trong một thỏa thuận bí mật yêu cầu tất cả các đơn vị thù địch với Nhật Bản phải rút khỏi miền Bắc Trung Quốc, quân đội của Trương Học Lương đã phải rút lui xa hơn nữa, theo lệnh của Tổng Thống Lĩnh đến các tỉnh Cam Túc và Thiểm Tây, nơi dự kiến các lực lượng Cộng sản sẽ tiến vào qua Tứ Xuyên. 51
Lúc này, 130.000 cựu binh Mãn Châu đã cách xa quê hương và đầy bất mãn. Đi cùng các đơn vị quân đội là vài trăm sinh viên và giáo viên, những người đã gia nhập họ sau khi người Nhật đóng cửa các trường học của họ ở Mãn Châu. Thu nhập của Trương Học Lương phụ thuộc vào các mỏ, đất đai và rừng rậm ở Mãn Châu, vốn đã bị Quân đoàn Quan Đông chiếm đoạt, và chẳng bao lâu sau, ông buộc phải phụ thuộc vào Nam Kinh để có kinh phí, khiến quân đội của ông bị trả lương thấp, còn các trường học và trụ sở của ông lâm vào tình trạng khốn đốn. Một số sĩ quan của ông mong muốn trở về quê hương để chiến đấu chống Nhật Bản, chứ không phải chống Cộng sản. Một số binh lính và sinh viên dễ dàng trở thành mục tiêu của tuyên truyền Cộng sản. Điều này cũng áp dụng cho 40.000 binh lính tỉnh tại Thiểm Tây dưới quyền Tướng Yang Hucheng (Dương Hổ Thành杨虎城), những người cũng bị trả lương thấp và nằm dưới sự giám sát của “Thống chế Trẻ”. 52
Vào ngày 28 tháng 11 năm 1935, chính “Thống chế Trẻ” đã thực hiện một chuyến đi bí mật đến Nam Kinh để tiếp cận Đại sứ Nga, Dimitri Bogomolov. Ông không yêu cầu hỗ trợ quân sự, nhưng cho thấy mình là một trong những nhà lãnh đạo trẻ của Quốc Dân Đảng hoàn toàn hiểu rõ tầm quan trọng của mối quan hệ chặt chẽ với Liên Xô. Ông đảm bảo với đại sứ rằng, trong bất kỳ cuộc chiến nào giữa Tokyo và Moscow, Trung Quốc sẽ đứng về phía Liên Xô. Hai tháng sau, vào ngày 20 tháng 1 năm 1936, Mao chỉ thị cho đặc phái viên Li Kenong (Lí Khắc Nông 李克农) mở các cuộc đàm phán với “Thống chế Trẻ”, đề xuất thành lập một mặt trận thống nhất chống lại Nhật Bản và Tưởng Giới Thạch. Ngày hôm sau, Mao được thông báo rằng “Thống chế Trẻ” đã bày tỏ sẵn sàng hợp tác để thành lập một chính phủ cứu quốc, trong khi trong quân đội của ông không thiếu những binh sĩ có thiện cảm với Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, các cuộc gặp tiếp theo cho thấy Trương Học Lương, dù háo hức chống Nhật, lại không muốn đối đầu với cấp trên của mình tại Nam Kinh. 53
Ngày 9 tháng 4, Chu Ân Lai được cử đi thay thế, ông đã ở lại Diên An một đêm để thương lượng một thỏa hiệp với “Thống chế trẻ”. Trương, người được giao nhiệm vụ đàn áp Đảng Cộng sản, thực tế đã đồng ý để Hồng Quân tự do di chuyển trong khu vực, mặc dù ông từ chối công khai hủy bỏ các mệnh lệnh của Tổng Thống Lĩnh. Vào nửa đêm cùng ngày, Mao đã gửi một bức điện đề xuất rằng Đảng Cộng sản nên kêu gọi sự đoàn kết trong nhân dân và “chấm dứt nội chiến” chống lại Tưởng Giới Thạch. Cuối cùng, thời điểm mà việc “ra lệnh đàn áp Tưởng Giới Thạch” trở nên “có thể và thực tế” sẽ đến, nhưng trước tiên cần có sự ủng hộ từ “nhiều người và nhiều quân đội” hơn. 54
Sau khi đến Wayaobao vào tháng 10 năm 1935, Mao nhận thấy khu vực này chìm trong cảnh nghèo đói tột cùng, người dân hầu như không thể kiếm sống. Quân đội của ông lang thang khắp tỉnh, nhưng cơ hội cướp bóc rất hạn chế. Sau khi cạn kiệt mọi nguồn lực địa phương, đến cuối tháng 2, quân của ông đã vượt qua con sông đóng băng ngăn cách Thiểm Tây với Sơn Tây ở phía tây, và chiếm đóng bảy huyện chỉ cách thủ đô mẫu mực của Diêm Tích Sơn tại Taiyuan (Thái Nguyên) khoảng một trăm kilômét. Họ làm điều này dưới danh nghĩa Mặt trận Thống nhất, công khai tuyên bố quyết tâm chiến đấu chống lại “chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản và bọn phản bội, trộm cắp Trung Quốc”, bao gồm cả Diêm Tích Sơn. Đảng Cộng sản Trung Quốc, theo lời họ tuyên bố, sẵn sàng hợp tác với tất cả đồng bào chống Nhật, và sẵn sàng từ bỏ đấu tranh giai cấp. Các khẩu hiệu thông thường ủng hộ việc phân phối đất đai đã bị loại bỏ. Trương Học Lương (Zhang Xueliang) hoàn toàn có thể truy quét và tiêu diệt họ, nhưng đã từ chối làm điều đó. Ngay cả trước thỏa thuận bí mật ngày 9 tháng 4, các điệp viên ngầm đã hoạt động trong hàng ngũ quân đội của ông, lan truyền “Lời kêu gọi gửi các sĩ quan và binh lính Quân đội Đông Bắc” cùng các tài liệu tuyên truyền khác. 55
Diêm Tích Sơn ban bố thiết quân luật tại Thái Nguyên và gửi gia đình đến Bắc Bình. Diêm, giống như một số đồng nghiệp cũ của ông ở Quý Châu và Tứ Xuyên, không muốn mời quân đội của Tưởng Giới Thạch vào lãnh địa của mình, vì lo sợ một cuộc tiếp quản âm thầm từ Nam Kinh. Như Joseph Stilwell, một tùy viên quân sự Hoa Kỳ, đã diễn đạt, “Thống đốc Mẫu mực” đang “hoảng loạn vì sợ sẽ nhận được quá nhiều sự giúp đỡ”. Mặt khác, sự hiện diện đông đảo của lực lượng Cộng sản công khai thách thức Nhật Bản tại một tỉnh giáp ranh với Jehol có thể kích hoạt một cuộc can thiệp tàn khốc hơn nữa từ Quân đoàn Quan Đông. Một số nhà quan sát thậm chí tin rằng Mao đang cố tình khiêu khích để kích động một cuộc tấn công của Nhật Bản, đẩy nhanh cuộc chiến mà ông khao khát. Sau khi lực lượng tỉnh quân của “Thống đốc Mẫu mực” chứng tỏ không đủ sức hoàn thành nhiệm vụ, lần đầu tiên trong 25 năm cai trị sắt đá tại tỉnh này, ông miễn cưỡng phải cầu cứu chính quyền trung ương. Đến đầu tháng 5, lực lượng Cộng sản, cùng với những người bị thương, nguồn lương thực và kho báu cướp được, đã bị dồn qua sông Hoàng Hà trở lại miền bắc Thiểm Tây, nơi họ không gặp phải sự chống cự nào từ quân đội của Trương Học Lương. Tình trạng thiết quân luật tại Thái Nguyên được dỡ bỏ. Diêm Tích Sơn đã ngoan ngoãn từ chức, nhưng đơn từ chức của ông bị từ chối. “Thống đốc Mẫu mực” phải được đối xử nhẹ nhàng, vì lo ngại ông có thể đột ngột chấp nhận các điều kiện từ phía Nhật Bản. 56
Tuy nhiên, ngay cả khi Mao tìm cách lôi kéo chính vị tướng được giao nhiệm vụ đàn áp ông, Stalin vẫn để ngỏ cánh cửa với Tưởng Giới Thạch. Các cuộc đàm phán về hiệp ước không xâm lược, hỗ trợ quân sự tiềm năng và hiệp ước hỗ trợ lẫn nhau đã diễn ra kể từ khi quan hệ ngoại giao được khôi phục vào tháng 12 năm 1932. Đối mặt với kẻ thù chung, Moscow và Nam Kinh cần nhau, mặc dù cả hai đều cố gắng áp đặt các điều kiện của riêng mình. Stalin đưa ra lời hứa về viện trợ quân sự, trong khi Tưởng Giới Thạch lợi dụng sự đối đầu giữa Moscow với Berlin và Tokyo – cả hai đều háo hức với Hiệp ước chống Comintern. Mặc dù tuyên bố tháng 8 năm 1935 của Vương Minh đã loại trừ Tưởng Giới Thạch với tư cách là “kẻ phản bội” khỏi mọi hình thức Mặt trận Thống nhất, Stalin vẫn cố gắng ép Tổng Thống Lĩnh này phải đạt được một thỏa thuận nào đó với Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Ngược lại, Tưởng Giới Thạch cố gắng trì hoãn, hy vọng rằng cuối cùng sẽ tiêu diệt được phe Cộng sản. Vào ngày 19 tháng 10 năm 1935, một tuần sau khi chỉ có 6.000 người biểu tình dưới sự lãnh đạo của Mao xuất hiện tại Wayaobao, Tưởng Giới Thạch đã gặp Đại sứ Nga Bogomolov tại Nam Kinh. Ông ám chỉ rằng Nhật Bản đang đề nghị một liên minh quân sự, mặc dù ông không có ý định chấp nhận nó. Vài tuần sau đó, tại Đại hội Quốc Dân Đảng lần thứ Năm, nhiều nhân vật thân Nhật đã được thăng chức. Ngay sau đó, Bogomolov được thông báo rằng Moscow đã đồng ý về nguyên tắc việc bán vũ khí cho Nam Kinh. Tuy nhiên, sự hỗ trợ này phụ thuộc vào việc Tưởng Giới Thạch phải tham gia đàm phán với phe Cộng sản. Như Litvinov đã chỉ ra, phải có sự đảm bảo rằng vũ khí đó thực sự sẽ được sử dụng chống lại Nhật Bản, chứ không phải chống lại phe Cộng sản. Vào tháng 1 năm 1936, Tưởng Giới Thạch yêu cầu đại diện của mình tại Moscow, Deng Wenyi (Đặng Văn Nghi 鄧文儀), gặp Wang Ming. Trên bàn đàm phán là một Mặt trận Thống nhất, bao gồm vũ khí, đạn dược và khẩu phần dành cho Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, để đổi lại, Tướng Tưởng kiên quyết yêu cầu giải tán Hội đồng Soviet và sáp nhập Hồng quân vào lực lượng quân đội trung ương. 57
Các cuộc tiếp xúc giữa phe Quốc dân đảng và phe Cộng sản vẫn tiếp diễn trong những tháng tiếp theo, nhưng các cuộc đàm phán đã đi vào bế tắc. Tưởng Giới Thạch là một người cứng đầu, không chịu nhượng bộ về nguyên tắc rằng chính phủ duy nhất được công nhận là chính phủ ở Nam Kinh, chứ không phải ở Wayaobao. Mao Trạch Đông cũng quyết tâm không kém trong việc giữ cho quân đội của mình thoát khỏi sự kìm kẹp của chính quyền trung ương.
Nhưng Tưởng Giới Thạch đã xử lý tình thế khôn khéo hơn. Cuộc tiến quân của Mao vào Sơn Tây kéo dài ba tháng và kết thúc trong một thảm họa quân sự. Thay vì một cuộc chiến dựa trên nguyên tắc chống Nhật, nó lại bị coi là một cuộc cướp bóc nữa, dẫn đến sự thất bại của chính sách Mặt trận Thống nhất mới. Trái với dự đoán, nó không tạo ra làn sóng ủng hộ rộng rãi trên toàn quốc. Ngược lại, Tổng Thống Lĩnh Tưởng Giới Thạch đã thiết lập được một vị thế vững chắc hơn nhiều tại tỉnh Sơn Tây, gần các vùng lãnh thổ do Nhật Bản kiểm soát. Khi vào mùa hè, Trần Tế Đường (Chen Jitang) ở Quảng Đông cố gắng tách mình khỏi Nam Kinh bằng cách tự xưng là Tổng Thống Lĩnh của một cuộc viễn chinh chống Nhật, quân đội của ông ta đã không theo lệnh người chỉ huy. Sau khi Li Zongren (Lí Tông Nhân李宗仁), người đứng đầu tỉnh Quảng Tây lân cận, đề nghị hỗ trợ bằng cách đặt quân đội tỉnh của mình dưới sự điều động của Chen Jitang, toàn bộ Không quân Quảng Đông đã cất cánh với khoảng sáu mươi máy bay, đào ngũ sang Nam Kinh. Đơn giản là không còn ai muốn dính líu đến một cuộc chiến khu vực nữa. Chen Jitang trốn sang nước ngoài, trong khi Li Zongren được đề nghị một chức vụ mới tại Nam Kinh, nơi Tưởng Giới Thạch có thể giám sát ông ta. Đến mùa hè năm 1936, theo lời Joseph Stilwell, tùy viên quân sự sau này trở thành một trong những nhân vật quan trọng nhất tại Trung Quốc trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, “Trung Quốc đang gần gũi với sự thống nhất hơn bao giờ hết và điều này đã được thực hiện mà không cần đến cuộc nội chiến có thể tạo cơ hội cho Nhật Bản đẩy mạnh kế hoạch của họ ở miền Bắc.” 58
Vào tháng 7 năm 1936, một năm sau khi Comintern rầm rộ công bố chính sách Mặt trận Thống nhất mới, thậm chí không có được một hình thức giả tạo nào của sự thống nhất với chính phủ được công nhận. Khi Quảng Đông và Quảng Tây nổi dậy, trước mặt một số nhà báo, Mao đã ca ngợi tinh thần kháng cự “dũng cảm và độc lập” của họ cùng việc họ từ chối “trở thành những kẻ phản bội và nô lệ không có tổ quốc” bằng cách gia nhập phe Tưởng Giới Thạch. Ông nhấn mạnh rằng việc một số lãnh đạo trong Quốc Dân Đảng muốn “tách khỏi Nam Kinh” là “không chỉ tự nhiên mà còn cần thiết”. 59
“Thống chế Trẻ”, khi nói chuyện với Bogomolov lần nữa vào ngày 24 tháng 7 năm 1936, đã thể hiện quan điểm hoàn toàn trái ngược, chỉ ra với Đại sứ Liên Xô rằng, trước sức mạnh quân sự của Nhật Bản, sự đoàn kết quốc gia là điều cần thiết hơn hết. Trương Học Lương coi cuộc nổi dậy ở miền Nam chỉ là một sự phân tâm. Một lần nữa, ông bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với Liên Xô, đặc biệt là với Hồng Quân. Ông không hề đề cập đến Đảng Cộng sản Trung Quốc dù chỉ một lần. 60
Ngay cả khi các cuộc đàm phán giữa Nam Kinh và Moscow bế tắc, quan hệ với Berlin vẫn phát triển mạnh mẽ. Thương mại bùng nổ, khi Đức, lần đầu tiên, xuất khẩu sang Trung Quốc nhiều hơn cả Anh. Bên cạnh hàng hóa, bao gồm thiết bị công nghiệp và vũ khí, các chuyên gia cũng đến Trung Quốc với số lượng ngày càng đông. Tổng Thống Lĩnh đã lâu nay sử dụng các cố vấn quân sự Đức, bao gồm Đại tá Max Bauer vào năm 1927 – cánh tay phải của Erich Ludendorff trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất – và sau đó là Hans von Seeckt, cựu Tổng Thống Lĩnh Lực lượng Vũ trang Đức (Reichswehr), cho đến khi ông bị Hitler triệu hồi vào tháng 3 năm 1935. Alexander von Falkenhausen, người đã có mặt tại Trung Quốc từ tháng 4 năm 1934, đã tiếp quản vị trí này và tiếp tục huấn luyện quân đội của Tưởng Giới Thạch để họ sẵn sàng chiến đấu. Vào tháng 7 năm 1936, một thỏa thuận hàng đổi hàng trị giá 100 triệu mark đã được ký kết, với tungsten và những quặng khác hướng tới nước Đức để đổi lấy vũ khí. Nhưng Tưởng đã cố giữ một sự cân bằng, lặp đi lặp lại yêu cầu Moscow cử Vasily Blyukher quay lại, chính người đã giúp ông xây dựng Học viện quân sự Hoàng Phố trước khi lãnh đạo chiến tranh Trung-Soviet 1929.61
Vì Mao là người khác biệt, cản trở việc thành lập Mặt trận Thống nhất, nên Moscow đã can thiệp. Trong bức thư viết ngày 27 tháng 7 năm 1936, với sự ủng hộ của Stalin, Dimitrov đưa ra một số “lời khuyên khẩn cấp”, lên án tuyên bố ủng hộ các lực lượng nổi dậy ở miền Nam là “sai lầm”. Ông đánh giá rằng việc đặt Tưởng Giới Thạch vào cùng một hạng với những kẻ chiếm đóng Nhật Bản là một “sai lầm chính trị”, nhất là khi việc chiến đấu đồng thời chống lại cả Nhật Bản và Nam Kinh chỉ là một giấc mơ viển vông. Cần phải “ngay lập tức” giơ cành ô liu hòa bình tới Nam Kinh. 62
Vào ngày 25 tháng 8, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có một sự thay đổi hoàn toàn, kêu gọi trong một bức thư ngỏ về “lịch sử hợp tác vinh quang giữa hai đảng chúng ta trong cuộc cách mạng vĩ đại vừa qua”. Đảng Cộng sản đề xuất tham gia vào một chính phủ quốc phòng và hứa rằng Hồng Quân sẽ tuân theo sự chỉ huy của một bộ chỉ huy quân sự tập trung. Họ tỏ ra hào hiệp, hy sinh và vô cùng yêu nước. Điều này không chỉ là lời nói suông: Pan Hannian (Phan Hán Niên 潘汉年), nhà đàm phán chính giữa Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng, được thông báo rằng chính sách mới từ nay trở đi là “hợp tác với Tưởng Giới Thạch và chống Nhật”. Sau khi Pan Hannian tiến hành thêm các cuộc đàm phán với Nam Kinh, Chen Lifu (Trần Lập Phu), một trong những phụ tá đáng tin cậy nhất của Tướng Tưởng, đã nói với ông rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ phải chấm dứt chính sách phá hoại, ngừng việc tịch thu đất đai bằng vũ lực, bãi bỏ tất cả các Soviet hiện có và loại bỏ tên gọi cùng huy hiệu của Hồng Quân, để chịu sự kiểm soát của Hội đồng Quân sự Chính phủ. Chen không đặt nhiều hy vọng. “Họ chưa bao giờ giữ lời hứa, và lừa dối là sở trường của họ,” ông than phiền. 63
Tất nhiên, phe Cộng sản đã đồng ý. Lúc này, Tưởng Giới Thạch đã sẵn sàng củng cố toàn bộ vùng tây bắc, giống như cách ông đã đưa miền nam và tây nam vào trật tự. Vào tháng 6, sau khi phe Cộng sản bị đuổi khỏi Sơn Tây, các đơn vị của chính phủ trung ương đã chiếm được Wayaobao, đánh tan Hồng Quân và thu giữ một lượng lớn vật tư quân sự. Đảng Cộng sản buộc phải chạy trốn đến Bao’an (Bảo An), một thị trấn nhỏ với phần lớn nhà cửa đổ nát, bị dân cư bỏ hoang sau một loạt thảm họa. Ban lãnh đạo phải sống trong các hang động đất sét ở chân đồi, và nửa năm sau đó, họ đã biến nơi đây thành thủ đô của mình. Vào ngày 25 tháng 8, cùng ngày mà phe Cộng sản khẳng định mong muốn thành lập Mặt trận Thống nhất trong một bức thư ngỏ gửi toàn dân, Mao đã kêu gọi Moscow hỗ trợ quân sự để tài trợ cho một cuộc tấn công mới tại Ningxia (Ninh Hạ宁夏), một dải đất hẹp nằm giữa Cam Túc và Mông Cổ. Phe Cộng sản trông cậy vào máy bay và pháo hạng nặng, nhưng không nhận được gì, vì Stalin lo ngại rằng sự giúp đỡ của ông sẽ làm phá hỏng các cuộc đàm phán với Tưởng Giới Thạch về Mặt trận Thống nhất. 64
Dù vậy, Đảng Cộng sản vẫn tiếp tục chiến đấu, nhưng vào tháng 10, họ lại phải hứng chịu một đòn đánh tàn khốc khác. Tại Weizhou (Vị Châu 渭州), một thành phố chỉ cách biên giới Ningxia 60 km, người dân Hồi giáo quyết tâm bảo vệ thành phố đến mức họ đã dùng đá, cuốc, xẻng và các vũ khí tự chế khác để đẩy lùi quân xâm lược. Khi Đảng Cộng sản quyết định đàm phán thay vì tấn công, đưa ra nhiều lời hứa hẹn với các bậc trưởng lão trong thành phố, những lời đề nghị của họ đã bị từ chối. Lực lượng quân đội tỉnh đã đến cứu viện, dẫn đến những cuộc giao tranh đẫm máu với thương vong nặng nề ở cả hai phía. Hu Zongnan (Hồ Tôn Nam), người chỉ huy lực lượng quân đội chính phủ trung ương trong khu vực, đã thu hồi lại tất cả các thành phố lớn và dồn quân Cộng sản vào thế bí trên bờ tây sông Hoàng Hà. Vào ngày 18 tháng 10, quân Cộng sản bắt đầu van xin ông thành lập Mặt trận Thống nhất, nhưng không thành công. Một tuần sau, 46 nhà lãnh đạo Cộng sản do Mao Trạch Đông và Chu Đức dẫn đầu đã gửi lời kêu gọi đến Tưởng Giới Thạch và các tướng lĩnh khác ở vùng tây bắc, yêu cầu ngừng ngay lập tức cuộc tấn công và thay vào đó thành lập Mặt trận Thống nhất. Trong nhật ký của mình, Tưởng Giới Thạch viết rằng “dù họ có thành thật hay không, họ cũng chỉ là những con rối của Quốc tế Cộng sản, những kẻ sẽ hy sinh nhân dân Trung Quốc.” 65
Ngay cả khi đối mặt với nguy cơ bị tiêu diệt, Đảng Cộng sản đã đạt được một chiến thắng lớn về mặt tuyên truyền khi Edgar Snow, một nhà báo trẻ đến từ Missouri, đăng tải loạt bài phỏng vấn với Mao trên tạp chí China Weekly Review vào các ngày 14 và 21 tháng 11. Mao, được giới thiệu là “Chủ tịch Chính phủ Soviet Trung ương Trung Quốc”, tự giới thiệu mình là người lãnh đạo của một nhà nước thay thế, người đã hào hiệp chấp nhận tất cả các yêu cầu của Nam Kinh, với điều kiện Tưởng Giới Thạch đồng ý “tuyên chiến, một cách dứt khoát và triệt để, chống lại sự xâm lược của Nhật Bản”. Ông hứa rằng Hồng Quân sẽ không lợi dụng chiến tranh “theo cách cơ hội chủ nghĩa”. Ông lập luận rằng, nếu Đảng Cộng sản kiểm soát thêm ba hoặc bốn tỉnh nữa, họ có thể huy động một lực lượng lớn hơn và hiệu quả hơn so với toàn bộ quân đội của Nam Kinh. Mao tự xưng là một nhà dân chủ, lưu ý rằng bất chấp sự đàn áp nghiêm trọng, sinh viên trên toàn quốc đã tự tổ chức về mặt chính trị. “Khi quần chúng được trao tự do kinh tế, xã hội và chính trị, sức mạnh của họ sẽ được nhân lên gấp trăm lần,” ông tiên đoán. 66
Thông điệp về Mặt trận Thống nhất ngày càng trở nên phổ biến, một phần vì Đảng Cộng sản có thể tự trình bày mình như một đảng tiến bộ và kiên quyết hơn. Đặc biệt, sinh viên và trí thức dường như bị thuyết phục bởi ý tưởng này. “Dù có học vấn cao đến đâu, [họ] dường như chưa bao giờ nghe nói đến ‘con ngựa thành Trojan’,” đại sứ Anh bình luận. 67
Mao đòi phải khai chiến ngay lập tức, nhưng không một chỉ huy nào có thể để một người ngoài quyết định thời điểm và cách thức tiến hành chiến dịch quân sự. Tưởng Giới Thạch, giống như mọi nhà quan sát khác có kiến thức cơ bản về cán cân quân sự giữa các lực lượng, đều biết rằng cần có thời gian để thống nhất đất nước và hiện đại hóa quân đội. Ông đã kiên định theo đuổi cả hai mục tiêu này, và đang chuẩn bị đưa vùng Tây Bắc – khu vực có tầm quan trọng chiến lược – trở lại dưới sự kiểm soát của chính quyền. Trong nhiều tháng, ông cũng bận rộn chuẩn bị cho cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi với Nhật Bản. Từ sông Hoàng Hà ở phía nam đến sông Dương Tử, một số đoạn đường sắt chạy theo hướng đông–tây và bắc–nam đang được củng cố. Những hầm trú ẩn khổng lồ, được xây dựng bằng bê tông và thép gia cố, đang được hoàn thiện tại các thành phố có vị trí chiến lược, được thiết kế để làm nơi trú ẩn cho dân thường và kho chứa lương thực, đạn dược, dầu nhiên liệu và xăng. Để đối phó với một cuộc xâm lược của Nhật Bản, Trung Quốc đã mua một đội máy bay, ước tính lên tới 750 chiếc vào năm 1936, cùng với hệ thống tuyến phòng thủ trải rộng như một chiếc quạt, bao gồm các sân bay tiền phương, trung gian và căn cứ. Tưởng Giới Thạch cũng đã mua mìn hải quân từ nước ngoài và bí mật chuyển đổi nhiều tàu của mình thành tàu rải mìn. Việc mua sắm trang thiết bị chiến tranh được đẩy mạnh, đặc biệt thông qua Đức Quốc xã. Tưởng Giới Thạch đi khắp đất nước, mỗi chuyến đi đều nhằm mục đích gắn kết đất nước chặt chẽ hơn. 68
Miền tây bắc là điểm yếu, và Tướng Tối cao rất quyết tâm trực tiếp chỉ đạo chiến dịch thứ sáu và cũng là chiến dịch cuối cùng chống lại phe Cộng sản. Vào tháng 10, ông đích thân chuyển đến Luoyang (Lạc Dương 洛陽), một cố đô Phật giáo cách Tây An 400 km về phía đông, theo cách tương tự như khi ông từng định cư tại Trùng Khánh vài năm trước đó. Ông giao trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ này cho Trương Học Lương (Thống chế Trẻ) và Dương Hổ Thành. Nhưng Trương đã phản đối, liên tục kêu gọi thành lập Mặt trận Thống nhất. Tưởng Giới Thạch, với tính cách cứng đầu, đã phớt lờ những lo ngại của ông. “Thống chế Trẻ” than thở với một cố vấn thân cận rằng Tưởng Giới Thạch có “đầu óc cứng như đá” và từ chối lắng nghe. “Quân lính của tôi sẽ không chiến đấu chống lại phe Cộng sản,” ông nói. Tưởng, ngược lại, đã ghi trong nhật ký rằng Trương “muốn chiến đấu với người Nhật, nhưng không muốn tiêu diệt Cộng sản, vì ông ta không có quyết tâm để trụ được thậm chí năm phút”. “Thống chế Trẻ” cũng tìm đến Dương Hổ Thành (Yang Hucheng), người được một nhà quan sát thân cận mô tả là “một trong những tướng cướp vô liêm sỉ nhất còn sót lại từ những ngày đầu của nền cộng hòa”. Dương đến từ Thiểm Tây và coi tỉnh này như lãnh địa riêng của mình. Khi được hỏi ý kiến, ông ta đề xuất một ý tưởng cực đoan hơn nhiều so với những lời kêu gọi đoàn kết đơn thuần: “Hãy chờ Tổng Thống Lĩnh Tưởng Giới Thạch đến thăm Tây An. Chúng ta có thể bắt hoàng đế làm con tin và yêu cầu tất cả các vương công trong vương quốc phải thần phục.” 69
Chú thích:
1
‘The Chinese Soviet Mystery Man’, North-China Herald, 30 Jan. 1935; ‘Otto Braun is Dead’, New York Times, 23 Aug. 1974.
2
Otto Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, London: Hurst, 1982, pp. 81–3; Nym Wales (Helen Foster Snow), The Chinese Communists: Sketches and Autobiographies of the Old Guard, Westport, CT: Greenwood Publishing, 1972, pp. 245–6; Chang and Halliday, Mao, pp. 158–9; về Otto Braun, người ta nên đọc Freddy Litten, ‘Otto Brauns frühes Wirken in China (1932–1935)’, Working Papers, no. 124, Munich: Osteuropa-Institut, 1988.
3
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 89–90; việc xử lý Chen Jitangđược nhắc tới trong Sun Shuyun, The Long March, London: HarperPress, 2006, p. 70.
4
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 89–90; nhật ký và chiến lược đào ngũ được đề cập trong Sun, The Long March, pp. 74–6.
5
Shi Zhongquan, Changzheng xing (Vạn Lí Trường Chinh), Beijing: Zhonggong dangshi chubanshe, 2006, p. 43; Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 89–90; ‘Defence of Kwangsi’, South China Morning Post, 15 Nov. 1934.
6
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 89–90; ‘Kwangsi Quiet’, South China Morning Post, 5 Dec. 1934; Central China Post, Guilin, 12 Dec. 1934, được trích trong HIA, Hanwell (Norman David) Papers 1928–1944, box 3, ‘Communists let [sic] by Chu Teh and Mao Tse-tung’.
7
Yan Daogang, ‘Jiang Jieshi zhuidu changzheng hongjun de neimu’ (Câu chuyện bên trong về cuộc truy đuổi Hồng quân của Tưởng Giới Thạch trong cuộc Vạn lí Trường chinh), Wenshi jinghua, no. 10 (1996), p. 24.
8
‘Liping Plundered’, South China Morning Post, 29 Dec. 1934; ‘Red Advance into Kweichow’, North-China Herald, 9 Jan. 1935; Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 91–2.
9
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 93–4; ‘Kweichow War’, South China Morning Post, 24 Jan. 1935.
10
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 95–107; xem cả nghiên cứu tỉ mỉ của Frederick S. Litten, ‘The Myth of the “Turning-Point”: Towards a New Understanding of the Long March’, Bochumer Jahrbuch zur Ostasienforschung, no. 25 (2001), pp. 2–44.
11
Hàng loạt thất bại tại Tucheng và các nơi khác được đề cập trong PRO, FO 371/19264, J. W. O. Davidson, Report, British Consulate General, Chongqing, 11 Feb. 1935, pp. 74–5; S. W. Lovat Fraser, Military Attaché, Minute on Communism, 28 Feb. 1935, pp. 102–3; các trích dẫn từ một người sống sót được ghi trong Sun, The Long March, pp. 125; Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 108–111.
12
‘Chỉ vì lợi ích của chính mình’ được trích trong PRO, FO 371/17061, H. F. Handley Derry, Consul General in Kunming, ‘Political Situation in Kweichow’, 16 Feb. 1933, p. 199; Reuters, Guiyang, 10 April 1935, and Reuters, Guiyang, 11 April 1935, cả hai trong Hanwell, ‘Communists let [sic] by Chu Teh and Mao Tse-tung’, box 3.
13
‘Reds in Szechuen’, North-China Herald, 8 Feb. 1933; ‘Missionaries in Szechwan Flee Red Approach’, China Press, 16 Feb. 1933; ‘Marshal Chang and Gen. Chiang Confer at Kweiyang’, China Weekly Review, 20 April 1935; xem cả NARA, RG 165, MID 2657-1-276/443, G-2 Report No. 9016, 3 Jan. 1935.
14
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, p. 113; GSG, 002-060100-00095-010, 10 April 1935.
15
Sun, The Long March, p. 128; Sun cũng trích dẫn lời của Lâm Bưu ở trang 129, nhưng nội dung này khác xa so với bản gốc đến mức tôi đã dịch lại hoàn toàn; bản gốc có thể tìm thấy trong Nie Rongzhen, Nie Rongzhen huiyilu (Memoirs of Nie Rongzhen), Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2007, p. 206.
16
North China Daily News, Guiyang, 3 April 1935; Reuters, Guiyang, 14 April 1935, cả hai trong Hanwell, ‘Communists let [sic] by Chu Teh and Mao Tse-tung’, box 3.
17
Reuters, Guiyang, 21 April 1935, trong Hanwell, ‘Communists let [sic] by Chu Teh and Mao Tse-tung’, box 3; Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, p. 116; PRO, FO 371/19266, H. I. Harding, Consul General, Kunming, ‘Communist Invasion of Yunnan’, 8 and 15 May 1935, pp. 140–5 and 168–70.
18
Reuters, Guiyang, 21 April 1935, trong Hanwell, ‘Communists let [sic] by Chu Teh and Mao Tse-tung’, box 3; ‘Huili Relieved’, South China Morning Post, 29 May 1935; Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, p. 116; PRO, FO 371/19266, H. I. Harding, Consul General, Kunming, ‘Communist Invasion of Yunnan’, 8 và 15 May 1935, pp. 140–5 và 168–70; Peng, Memoirs of a Chinese Marshal, pp. 369–70.
19
‘Red Advance’, South China Morning Post, 9 May 1935, p. 117; ‘Zhongyangjun yi zengfang Huili’ (Quân Trung ương tăng cường cho Huili), Yunyang ribao, 26 May 1935; ‘Red China Away’, North-China Herald, 20 March 1935.
20
Chiến dịch tuyên truyền này được kể lại một cách chuyên nghiệp trong Sun, The Long March, p. 156.
21
Chang and Halliday, Mao, pp. 153–4.
22
Sun, The Long March, pp. 157–61.
23
Việc truyền giáo ở khu vực này được đề cập trong bài ‘Letters from High Altitudes’, North-China Herald, 2 June 1928; MAE, 513PO/A/63, S. P. Valentin, Report on Luding, 16 June 1935; cũng như Georges Bechamp, Chengdu Consulate, ‘A.s. de la lettre de Mgr Valentin’, 29 June 1935; máy bay được nhắc tới trong ‘Reds Beaten Back in Szechuen’, North-China Herald, 12 June 1935; việc phá hủy cây cầu được nhắc tới trong ‘Luting Taken’, China Press, 12 June 1935, và Sun, The Long March, p. 162; trích dẫn ca ngợi cây cầu có trong bài ‘The Red Attack on Tachienlu’, North-China Herald, 31 July 1935; sửa cầu được nhắc tới trong ‘Reds Reduced in Numbers’, North-China Herald, 4 Sept. 1935.
24
Sun, The Long March, pp. 22–4.
25
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, p. 120.
26
Ibid., pp. 122–3.
27
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 361–5.
28
‘40,000 Chinese Reds Preparing Chengtu Attack’, New York Times, 21 April 1935; ‘Troops’ Plight’, South China Morning Post, 24 April 1935; Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 366–70.
29
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 361–5; ‘Heavy Fighting Reported on Chengtu Front’, China Press, 6 June 1935.
30
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 135–41; Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 379 and 434.
31
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, pp. 136–42; trích dẫn về những kẻ cướp bóc trong J. C. Keyte, The Passing of the Dragon: The Story of the Shensi Revolution and Relief Expedition, London: Hodder & Stoughton, 1913, p. 227, được trích trong Mark Selden, ‘The Guerrilla Movement in Northwest China: The Origins of the Shensi–Kansu–Ninghsia Border Region (Part I)’, China Quarterly, no. 28 (Dec. 1966), p. 63; ‘Szechwan Reds Said to Have Entered Kansu’, China Press, 27 Sept. 1935.
32
NARA, RG 165, MID 2055-622/174, W. S. Drysdale, ‘Comments on Current Events’, Report No. 8409, 12 Oct. 1932, p. 5; PRO, FO 371/20233, Military Attaché, Nanjing, ‘Communist Situation: China’, 2 June 1936, p. 98; quan điểm của Tham tán Hải quân Phụ tá Nhật Bản được trích dẫn trong PRO, FO 371/20952, T. J. N. Hilken, Report, 20 July 1937, p. 173.
33
MAE, 513PO/A/322, Auguste Wilden Đại sứ tại Nam Kinh, Báo cáo gửi Bộ trưởng Ngoại giao, 17 Dec. 1932; H. Bonnafous, Quản lí Lãnh sự tại Harbin, ‘Les préparatifs militaires à Vladivostok’, 24 Oct. 1934; Louis Reynaud, Lãnh sự tại Harbin, ‘Les incidents de frontière soviéto-mandchous’, 18 Dec. 1935; Wilden là một trong những đại sứ nước ngoài đầu tiên, bên cạnh đồng nghiệp người Nga của ông, chuyển nơi cư trú từ Bắc Kinh sang Nam Kinh.
34
‘Nanking Denies Understanding with Reds’, China Weekly Review, 5 Oct. 1935.
35
Rudolf A. Bosshardt, The Restraining Hand: Captivity for Christ in China, London: Hodder & Stoughton, 1936, pp. 31–2, 39, 48 and 56.
36
PRO, FO 371/19266, K. E. F. Millar, ‘Journey to and from Szechuan and Subsequent Travel in Hunan’, 24 April 1935, pp. 40–1; Bosshardt, The Restraining Hand, pp. 65–8; volunteers: PRO, FO 371/19264, Report of Trip Made by Three Volunteers, 4 March 1935, pp. 159–61.
37
PRO, FO 371/20233, Military Attaché, Beijing Embassy, ‘Communist Situation in China’, 3 Feb. 1936, pp. 11–23; PRO, FO 371/20232, S. L. Burdett, Consul in Changsha, 2 Dec. 1935, pp. 182–7; ‘Reds’ Main Body Estimated at Fifteen Thousand’, South China Morning Post, 24 Dec. 1935; quần áo và giày: Bosshardt, The Restraining Hand, p. 145.
38
PRO, FO 371/20233, H. I. Harding, Consul in Kunming, ‘Communists’, 14 April 1936, pp. 56–63; ‘Communists Flee from Yunnan’, North-China Herald, 2 Sept. 1936.
39
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 426–8.
40
Liu Tong, Beishang: Dang zhongyang yu Zhang Guotao douzheng jishi (Ghi chép về cuộc đấu tranh giữa Ban Chấp hành Trung ương và Trương Quốc Đào), Nanning: Guangxi renmin chubanshe, 2004, pp. 201–11.
41
‘15,000 Reds Lay Siege to Minhsien’, New York Times, 2 Sept. 1936; ‘Communist Defeat’, South China Morning Post, 7 Nov. 1936; Sun, The Long March, p. 227.
42
Mao Zedong, ‘On Tactics against Japanese Imperialism’, 27 Dec. 1935, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 5, p. 92.
43
Zhongyang dang’anguan (eds), Zhonggong zhongyang kangri minzu tongyi zhanxian wenjian xuanbian (Tuyển tập tài liệu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về Mặt trận Thống nhất Dân tộc trong cuộc chiến chống Nhật), Beijing: Dang’an chubanshe, 1985, vol. 3, p. 674; các số đảng viên trong Benjamin Yang, From Revolution to Politics: Chinese Communists on the Long March, London: Routledge, 1990, p. 233.
44
John L. Buck, Land Utilization in China, Nanjing: University of Nanking, 1937, được phân tích sâu rộng trong tác phẩm xuất sắc của Gray, Rebellions and Revolutions, pp. 156–61.
45
PRO, FO 371/17064, Miles Lampson, Ambassador, Farewell Report, 24 Aug. 1933, pp. 199 and 216.
46
James C. Thomson, While China Faced West: American Reformers in Nationalist China, 1928–1937, Cambridge, MA: Harvard University Press, 1969, pp. 35–8; đường bộ: Department of Overseas Trade, Economic Conditions in China to September 1st, 1929, London: His Majesty’s Stationery Office, 1930, p. 26; đường sắt: Chang Jui-te, ‘Technology Transfer in Modern China: The Case of Railway Enterprise (1876–1937)’, Modern Asian Studies, 27, no. 2 (1993), p. 291; Department of Overseas Trade, Trade and Economic Conditions in China, 1931–33, London: His Majesty’s Stationery Office, 1933, p. 120.
47
Braun, A Comintern Agent in China, 1932–1939, p. 130.
48
Alvin D. Coox, Nomonhan: Japan against Russia 1939, Stanford, CA: Stanford University Press, 1988, p. 93.
49
Georgi Dimitrov, ‘Unity of the Working Class against Fascism’, 13 Aug. 1935, trong Georgi Dimitrov, Selected Works, Sofia: Sofia Press, 1972, vol. 2, pp. 86–119.
50
Wang Ming, ‘Message to Compatriots on Resistance to Japan’, 1 Aug. 1935, trong Saich and Yang, The Rise to Power of the Chinese Communist Party, pp. 692–7; ‘Students Strike to Stir Chinese over Autonomy’, New York Herald Tribune, 11 Dec. 1935.
51
Mao Zedong, điện tín cho Chu Đức, 1 Jan. 1936, Mao Zedong quanji, vol. 8, p. 157.
52
Powell, My Twenty-Five Years in China, pp. 322–3.
53
Báo cáo của Bogomolov về cuộc trò chuyện với Trương Học Lương (Zhang Xueliang), 28 Nov. 1935, doc. 309, trong Andrei M. Ledovskii et al. (eds), Russko-kitaiskie otnosheniia v XX veke: Materialy i dokumenty, Moscow: Nauka, 2010, vol. 3, pp. 473–4; Mao Zedong, các điện tín ngày 20 và 25 Jan. 1936, Mao Zedong quanji, vol. 8, pp. 173 and 175–8.
54
Mao Zedong, các điện tín ngày 9 và 11 April 1936, Mao Zedong quanji, vol. 8, pp. 336–7 and 340.
55
MAE, 513PO/A/229, Henri Hoppenot, ‘Campagne contre les Communistes au Chansi’, 19 March 1936; tuyên bố ban hành 21/2/1936 được đính kèm trong NARA, 893.00/13696, Nelson Johnson, ‘Communist Situation in Northwest China’, 7 Aug. 1936.
56
NARA, RG 165, MID 2657-1-276/475, Joseph Stilwell, ‘Situation Report’, Report No. 9330, 27 March 1936; NARA, RG 165, MID 2657-1-276/479, Joseph Stilwell, ‘Situation Report’, Report No. 9369, 22 May 1936.
57
‘Spravka o peregovorov’, 19 Oct. 1936, doc. 352, và ‘O dal’ne- vostocčnyh problemah’, 1 Dec. 1936, doc. 311, cả hai trong Ledovskii, Russko-kitaiskie otnosheniia v XX veke, vol. 3, pp. 478–80 và 576–7; Báo cáo về các cuộc thảo luận giữa Deng Wenyi và Vương Minh, 17, 22 và 23 Jan. 1936, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 4, part 2, pp. 941–58.
58
NARA, 893.00/13696, Nelson Johnson, ‘Communist Situation in Northwest China’, 7 Aug. 1936; NARA, RG 165, MID 2657-1-276/484, Joseph Stilwell, ‘Situation Report’, Report No. 9446, 31 July 1936.
59
Mao Zedong, ‘Guangyu liangguang shibian de huatan’ (Về Sự kiện Tây Nam), trong Mao Zedong quanji, vol. 8, pp. 413-5.
60
Biên bản cuộc trò chuyện giữa Bogomolov và Trương Học Lương, 24 July 1936, doc. 347, trong Ledovskii, Russko-kitaiskie otnosheniia v XX veke, vol. 3, pp. 569–70.
61
- F. Liu, A Military History of Modern China, Princeton: Princeton University Press, 1956, p. 101; Yêu cầu của Tưởng Giới Thạch xin ý kiến của Blyukher được ghi trong Biên bản cuộc trò chuyện giữa Blyukher và Deng Wenyi, 20 Jan. 1936, doc. 320, trong Ledovskii, Russko-kitaiskie otnosheniia v XX veke, vol. 3, p. 499.
62
Thư của Dimitrov gửi Stalin, ngày 27 tháng 7 năm 1936, và Điện tín từ Ban Thư ký Comintern gửi Ban Chấp hành Trung ương, ngày 15/8/1936, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 4, part 2, pp. 1,067–71; điện tín được dịch trong Alexander Dallin and F. I. Firsov, Dimitrov and Stalin, 1934–1943: Letters from the Soviet Archives, New Haven, CT: Yale University Press, 2000, pp. 102–6.
63
“Thư của Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi Quốc Dân Đảng Đảng Trung Quốc”, ngày 25/ 8/ 1936, và “Trái tim của chính sách chúng ta là đoàn kết với Tưởng Giới Thạch để chống Nhật”, ngày 30/8/1936, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 5, pp. 323–32 và 334; Ch’en, The Storm Clouds Clear over China, p. 120.
64
‘Government Troops Take Communist Stronghold’, China Press, 26 June 1936; Mao Trạch Đông, Thư gửi Vương Minh, 25 Aug 1936, trong Mao Zedong quanji, vol. 9, p. 65; về việc không thể nhận được máy bay và pháo hạng nặng, xem Yang Kuisong, ‘Sulian daguimo yuanzhu Zhongguo hongjun de yici changshi’ (Nỗ lực của Liên Xô trong việc cung cấp viện trợ quy mô lớn cho Hồng quân Trung Quốc), Jindaishi yanjiu, 1995, no. 1, p. 266.
65
‘Mohammedans Resist Red Invasion’, China Press, 30 Oct. 1936; ‘Reds Cornered in North-West’, North-China Herald, 25 Nov. 1936; Mao Zedong, ‘Wei Xu Xiangqian qicao de zhi Hu Zongnan xin’ (Bản thảo thư của Xu Xiangqian gửi Hu Zongnan), 18 Oct. 1936, trong Mao Zedong quanji, vol. 9, pp. 202–3; Nhật ký của Tưởng Giới Thạch ghi ngày 25/10/1936 và được trích trong Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 5, p. 169.
66
Edgar Snow, ‘Interviews with Mao Tze-tung, Communist Leader’, China Weekly Review, 14 and 21 Nov. 1936.
67
PRO, FO 371/20991, Thư của Sir Hughe Knatchbull-Hugessen gửi Anthony Eden, 12 Feb. 1937, pp. 9–15.
68
Abend, My Life in China, pp. 223–4; John H. Jouett, ‘War Planes over Asia’, Asia, vol. 37 (1937), pp. 827–30.
69
Seele, Donald of China, pp. 318–19; Nhật ký của Tưởng Giới Thạch, 28 Nov. 1936, được trích trong Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 5, p. 190; một nhà quan sát: PRO, FO 371/20970, Hughe Knatchbull-Hugessen, Ambassador, ‘Political Situation in China’, 2 March 1937, p. 44; Yang Hucheng được trích trong Wu Tien-wei, The Sian Incident: A Pivotal Point in Modern History, Ann Arbor: Center for Chinese Studies, University of Michigan, 1976, p. 71, với một số thay đổi nhỏ về phong cách trong trích dẫn.