Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

Nguyễn Viện: Tiểu thuyết "Có những kẻ đi mãi không về" – Cuộc trốn chạy trong mê cung Lịch sử

 Trịnh Y Thư

1.

Trong văn học, hành vi “thoát khỏi chiến tranh” hay “thoát khỏi cuộc sống” thường được thể hiện một cách gián tiếp, thông qua các phép ẩn dụ gợi lên sự rút lui, tan biến, siêu thoát hoặc quên lãng chứ không phải là sự chạy trốn theo nghĩa đen. Tuy vậy, trong cuốn tiểu thuyết Có những kẻ đi mãi không về của nhà văn Nguyễn Viện, ta thấy đó là một cuộc chạy trốn thật sự ra khỏi những thực tại tàn bạo, khốc liệt của chiến tranh, của đời sống. Nó không phải giấc ngủ hay giấc mơ để tạm thời quên đi những nhọc nhằn, khổ ải do đời sống đem lại, như giấc ngủ của Iliad của Homer, hoặc như Shakespeare từng nói: “Giấc ngủ hàn gắn những vết thương lòng.”

Con người trong thiên truyện này của nhà văn Nguyễn Viện không được quyền ngủ, hắn phải tỉnh thức, tỉnh thức để nhận lãnh tất cả mọi khổ đau, bầm dập của cái-gọi-là đời sống, và tỉnh thức để biết đường trốn chạy ra khỏi cái mê cung kinh hoàng của chiến tranh, của những thế lực phi nhân tính, phi đạo đức luôn sẵn sàng đè bẹp những tâm hồn yếu đuối chỉ có một mong ước duy nhất là được sống, được sống như con người.

Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện va chạm đến vấn đề cốt lõi của cuộc sống hiện đại: tại sao sống như một con người lại khó khăn đến thế; tại sao sống là trốn chạy, là bế tắc, một nghịch lý hết thuốc chữa khi những tiến bộ về cả mặt khoa học lẫn tư tưởng đều đạt được những thành tựu lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử?

2.

Thạch Xung, nhân vật chính diện của cuốn tiểu thuyết, người con của núi rừng, sinh ra trong một ngôi làng hẻo lánh heo hút ở vùng cao, với cái tên hoang dã, như chính nó, Rume. Mẹ gã trao thân cho một người đàn ông được mọi người trong làng gọi là “ông Thày” và sinh ra gã. Bà được gả cho một người đàn ông khác trong làng trước khi gã ra đời. Bởi thế trong suốt thời thơ ấu và niên thiếu gã mặc nhiên xem người đàn ông đó là cha mình. Cùng lúc có một người đàn bà khác cũng hiến dâng thân xác cho “ông Thày” và sinh ra một người con gái tên Thị. Ngôi làng mang một khí hậu hiện thực huyền ảo, “… ẩn khuất giữa đám cây rừng ấy chưa bao giờ lạnh lẽo. Nó luôn được sưởi ấm bởi những hơi thở nóng của đàn bà ở Rume. Bởi không một người đàn bà nào không bị xao xuyến bởi ánh mắt dịu dàng của Thày…” Và nặng mùi dục tính, “Mùi ma mị của bà hoà quyện với mùi rừng man dại nhồi ông lên xuống giữa chơi vơi của đất trời. Mơ và thật. Bà Mắm rất tự hào vì được ông yêu. Như ân sủng. Như biệt đãi. Cho dẫu niềm tự hào ấy vẫn phải che giấu như bóng tối trong lô cốt, nhưng vẫn làm cho thần thái bà trở nên rạng ngời.” (Tiểu đoạn 1: Cái lô cốt ở Rume).

Tình cảm khắng khít giữa Thạch Xung và Thị theo thời gian ngày càng nảy nở, nhưng không có một tình huống  “Trăm năm cô đơn” nào xảy ra, mà thay vào đó là chiến tranh. Chiến tranh ập đến kéo theo tất cả những chết chóc, đổ vỡ, chia lìa, tan tác. Làng Rume bị chặt khúc ra từng mảnh bởi cả hai phe, Quốc gia lẫn Giải phóng. Ông Thày bị cắt đầu vì bị tình nghi là Việt gian, các người khác như bầy chim vỡ tổ, mỗi người tìm một phương lánh nạn. Thạch Xung và Thị cũng bị cuốn trôi theo cơn thác lũ ấy về thành phố chạy trốn, kiếm miếng ăn, nhưng mất liên lạc với nhau một thời gian dài.

Nhà văn Nguyễn Viện dành khá nhiều câu chữ trong cuốn tiểu thuyết để nói về cuộc chiến tranh ấy, tuy vậy, ông không hề đả động gì đến việc cuộc chiến xảy ra như thế nào; năm tháng, những biến cố trọng đại cũng không được moi ra từ lịch sử hoặc ký ức, mà chỉ nói về những hệ lụy đau đớn do cuộc chiến gây ra. Điều này không lạ. Bởi sứ mệnh (nếu có) của tiểu thuyết không phải minh họa cho Lịch sử, mà là lấp đầy những chỗ trống do Lịch sử vô tình hay cố ý bỏ quên. Nguyễn Viện nhìn chiến tranh với con mắt kinh hoàng tột độ, “… Con người bị ném vào chiến tranh như miếng thịt ném cho thú dữ trong sở thú.” Ở một đoạn khác, ông viết:

“Đao kiếm hay súng ống, xưa nay vẫn là thứ vũ khí để giết người và nó gắn bó với lịch sử con người như một thuộc tính. Một cám dỗ huỷ diệt, mãnh liệt và ám ảnh. Vì thế, vũ khí mỗi ngày một tinh vi và hiệu quả hơn. Nó cũng lôi cuốn con người hơn. Mang đao kiếm hay súng ống không chỉ là tự vệ hay giết người, mà nó nâng cấp và thị uy bản ngã.” (Tiểu đoạn 5: Thành phố).

Đọc đến đây, tôi bỗng nhớ một câu viết của nhà văn Mỹ Henry Miller, “Chúng ta giết nhau vì chúng ta hãi sợ chính cái bóng của mình, sợ rằng nếu chúng ta sử dụng một chút lý trí, chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng những nguyên tắc cao cả của chúng ta là sai lầm.”

Đoạn văn trên của Nguyễn Viện là tiếng dội từ vách núi vọng về của câu nói của Henry Miller, mà tôi hiểu như sau:

Chiến tranh là sự hủy diệt mang tính biểu tượng đối với kẻ khác, nhưng bạo lực không bắt nguồn từ sức mạnh hay niềm tin, mà từ nỗi sợ hãi. Sợ hãi khi nhận ra khả năng tàn ác của chính mình. Sợ hãi khi thừa nhận rằng chúng ta không trong sạch về mặt đạo đức như chúng ta tuyên bố. Sợ hãi rằng “kẻ thù” không hoàn toàn ở bên ngoài, mà phản ánh điều gì đó chưa được giải quyết bên trong chúng ta. Bằng cách phóng chiếu bóng tối này ra bên ngoài, chúng ta biến xung đột nội tâm thành xung đột ngoại tại. Kẻ thù trở thành một vật chứa tiện lợi cho những gì chúng ta không thể chịu đựng được ở chính mình. Do đó, bạo lực là một hình thức trốn tránh tâm lý.

Đoạn, cái “bản ngã được nâng cấp” của Nguyễn Viện hay cái “nguyên tắc cao cả” của Henry Miller là gì, và tại sao chúng ta hãi sợ nó là sai lầm?

Đây là lời buộc tội cốt lõi. Miller không tấn công các nguyên tắc nói chung, mà là các nguyên tắc được tôn vinh – những lý tưởng được nâng lên vượt quá sự phê phán và tách biệt khỏi thực tế. Chúng trừu tượng (quốc gia, sứ mệnh, cách mạng, tự do, sự trong sạch, sự tiến bộ, hệ tư tưởng, vv.) Họ đòi hỏi sự hy sinh – nhưng không bao giờ từ những kẻ định nghĩa chúng. Họ biện minh cho sự tổn hại là cần thiết, không thể tránh khỏi. Nói cách khác, chiến tranh, việc giết chóc tiếp diễn không phải vì con người thiếu hệ thống đạo đức, mà vì họ bám víu vào chúng quá cứng nhắc. Bạo lực trở thành một cơ chế phòng vệ để bảo vệ hình ảnh bản thân về mặt ý thức hệ.

Tại đây, ý thức hệ được trừu tượng hóa; những lý luận đạo đức, luân lý thông thường bị đàn áp, dẹp bỏ; bạo lực được biện minh như một nguyên tắc. Và, khốn nạn thay! Ranh giới giữa nguyên tắc và tội ác mỏng manh hơn chúng ta nghĩ.

Câu chuyện “ông Thày” bị cắt đầu trong thiên tiểu thuyết không là một biểu tượng ẩn dụ, không là một sản phẩm của tưởng tượng. Nó từng thật sự xảy ra nhiều lần trong thời chiến tranh Việt Nam, từ nhiều phe phái, không riêng gì phe Việt Minh hay Cộng sản. Cắt đầu người, một hành động tàn bạo kinh khiếp, bạn đừng nghĩ nó chỉ xảy ra vào thời Trung cổ phong kiến, nó từng xảy ra vào thời gọi là văn minh hiện đại. Câu hỏi được đặt ra là, tại sao con người lại có thể tàn ác, nhẫn tâm như thế với đồng loại?

Câu hỏi này đã được chính nhà văn Nga Aleksandr Solzhenitsyn hỏi, và câu trả lời của ông giản dị là: Nó chính là cái ý thức hệ.

Theo Solzhenitsyn, nguyên uỷ của tội ác là ý thức hệ. Ý thức hệ cung cấp kẻ ác sự bền bỉ và quyết tâm, bằng mọi giá, phải tiêu diệt tất cả những kẻ cản trở bước đường của mình. Nó được bao bọc bởi lớp hào quang giả tạo rồi trang trọng đưa lên ban thờ. Từ đó kẻ gây tội ác cứ việc an tâm gây tội ác mà lương tâm chẳng hề bị cắn rứt, bởi hắn chỉ cần vái lạy, nhân danh cái ý thức hệ đó thì bất cứ việc gì, dù tàn độc cách mấy, hắn vẫn có thể thản nhiên làm được. Cái ác tiềm ẩn trong DNA của mỗi chúng ta, với ý thức hệ như thùng phuy dầu xăng, chỉ cần một tia lửa nhỏ lóe lên cũng đủ cho nó biến thành đám cháy lớn thiêu đốt bất kỳ thứ gì nằm cản đường cản lối nó.

3.

Những người con của núi rừng bỏ chạy về thành phố, một nơi chốn hỗn loạn, xã hội suy đồi đến tận đáy đất đen, mọi giá trị truyền thống bị lật nhào, không lý tưởng, mọi ý nghĩa tiêu tan, người ta giẫm đạp lên nhau mà sống, con trai làm du đãng, con gái làm đĩ, hoặc khá lắm thì buông thả, sao cũng được, miễn sống. “Một chủ nghĩa hiện sinh được hiện thực hoá đồng hành trong cuộc chiến giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản.” Tác giả viết như thế ở tiểu đoạn 7.

“… Trong cơn lốc xoáy ấy, Thạch Xung không muốn cầm súng vì tổ quốc hay một lý tưởng nào, chàng cũng không muốn cầm súng như cách để kiếm miếng ăn, hoặc giết người để bảo vệ cách sống của mình. […] Chiến tranh là một mâu thuẫn và nó tạo ra những mâu thuẫn khác. Hơn bao giờ hết, những mâu thuẫn nội tại xé vụn Thạch Xung. Và đó là một Thạch Xung du đãng. Từ chối làm nghĩa vụ công dân. Phủ nhận thực tại. Mỗi bước đi của Thạch Xung là một hố thẳm... Và chàng trở thành hố thẳm, bất khả vãn hồi.” (Tiểu đoạn 7: Những ngã ba lạc lối).

Thế là Thạch Xung bắt đầu cuộc trốn chạy của mình, trốn chạy theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Gã bị phe Quốc gia bắt lính. Đào ngũ. Bị đuổi, bơi qua sông trốn, gặp ngay thằng em Thạch Xâm chĩa AK vào đầu, lại bơi ngược về phía Quốc gia. Lại chạy. Chạy thục mạng. Chạy miết. Cho đến khi trở thành một tay du đãng khét tiếng.

Tiếng tăm gã được đồn thổi, và các thế lực chính trị thuộc cả hai phe tìm đến gã mời mọc, chèo kéo, thậm chí dọa nạt. Nhưng gã cương quyết và khôn khéo chối từ, “Tôi không đủ cao cả để hy sinh thân mình cho điều gì. Sự thật, tôi là kẻ sợ chết. Nên tôi sẽ không thể làm gì nguy hiểm đến an nguy của tôi. Tôi cũng không muốn gây nợ máu với ai.” (Tiểu đoạn 8: Những giấc mơ bụi bặm).

Thế nhưng, do hoàn cảnh và thời thế đưa đẩy, bỗng một hôm Thạch Xung trở thành một nhân vật chính trị sáng giá. Và, kết quả đáng buồn là gã ngày càng bị cuốn hút sâu vào vũng lầy của những thủ đoạn, mưu toan chính trị đen tối. “Chính trị vẫn là bán mình cho quỷ.” Gã phải quỵ lụy “điếu đóm” các nhân vật như cụ Dunhill, lão Hà Việt bên cốc rượu hay bàn đèn thuốc phiện. Gã cảm thấy chán ngán và cuối cùng, chịu đựng hết nổi, gã bỏ lại tất cả, đi lập một cái am và giả dạng thầy tu. Gã lại bắt đầu một cuộc trốn chạy mới.

Thạch Xung không muốn bị cuốn vào cuộc sát phạt địch-ta… Nhưng địch hay ta sẽ chẳng có bên nào cho con người quyền lựa chọn.” (Tiểu đoạn 8: Những giấc mơ bụi bặm). Đó là bi kịch của chiến tranh Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến phức tạp, có kẻ nhìn nó dưới góc độ một cuộc chiến ủy nhiệm giữa hai khối Tư bản và Cộng sản trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Sự thật là sau khi tách cái vỏ bọc mạ vàng giả, gạt bỏ tất cả những khẩu hiệu tuyên truyền, đại loại như “chống Mỹ cứu nước” hoặc “bảo vệ tiền đồn tự do”, thì cuộc chiến ấy hiện nguyên hình là một cuộc nội chiến, anh em giết nhau, không hơn không kém. Sự lựa chọn bi thảm của một con người trong cuộc nội chiến xuất phát từ sự xung đột giữa nghĩa vụ đạo đức, bản sắc cá nhân và lưỡi răng cưa tàn bạo của cỗ máy lịch sử vô nhân tính. Không giống như các cuộc chiến tranh thông thường chống lại kẻ thù rõ ràng từ bên ngoài, nội chiến làm tan vỡ chính khung cảnh đạo đức. Nó xóa bỏ sự phân biệt giữa “chúng ta” và “họ”, biến hàng xóm thành kẻ thù, anh em thành đối địch, và lương tâm cá nhân thành một chiến trường tranh chấp khốc liệt. Bi kịch không chỉ nằm ở sự đau khổ hay mất mát, mà còn ở sự không thể tránh khỏi việc lựa chọn sai lầm, lựa chọn nào cũng là một lựa chọn mà cuối cùng đều đưa đến những hậu quả đau đớn, những thảm cảnh, chẳng những cho mình mà còn cho bao người khác.

Nó không phải sự tự do lựa chọn giữa thiện và ác; thay vào đó, con người buộc phải lựa chọn giữa những điều tốt đẹp nhưng lại mâu thuẫn với nhau. Lòng trung thành với gia đình có thể xung đột với lòng trung thành với phe phái mình ủng hộ; lòng trung thành với nguyên tắc đạo đức có thể mâu thuẫn với sự sống còn; lòng trung thành với sự thật có thể gây nguy hiểm cho những người thân yêu. Bất kể con đường nào được lựa chọn, hắn đều phản bội điều gì đó thiết yếu đối với bản sắc của mình. Hành động lựa chọn không giải quyết được xung đột, nó vĩnh viễn bị đóng đinh vào tính cách của hắn.

Nội chiến cũng phá hủy chuẩn mực của sự rõ ràng về đạo đức. Trong lý luận đạo đức thông thường, trách nhiệm dẫn đến một khuôn khổ giá trị ổn định. Nội chiến phá vỡ khuôn khổ đó. Mỗi bên đều tuyên bố tính hợp pháp, công lý và sự cần thiết. Sự tuyên truyền, đe dọa, nỗi sợ hãi, lòng bất mãn, vv., làm méo mó nhận thức, khiến hắn gần như không thể biết liệu mình đang bảo vệ công lý và chính nghĩa hay đang phá hoại cho đất nước trở nên tan hoang. Người chọn một phe thường làm như vậy trong điều kiện bất ổn cực đoan, bởi biết rằng sự phán xét trong tương lai – bởi lịch sử hoặc bởi lương tâm của chính mình – có thể lên án hắn.

Một khía cạnh bi thảm khác là sự cưỡng bức được ngụy trang dưới dạng lựa chọn. Trong một cuộc nội chiến, trung lập thường bị xem là phản bội. Một con người có thể bị buộc phải chiến đấu không phải vì hắn tin tưởng, mà vì từ chối có nghĩa là chết, tù đày, gia đình bị liên lụy. “Sự lựa chọn” của hắn trở thành hành động sinh tồn chứ không phải niềm tin. Tuy nhiên, ngay cả hành động bị cưỡng bức cũng để lại hệ quả đạo đức. Hắn phải sống với những gì mình đã làm, ngay cả khi hắn chưa bao giờ thực sự muốn điều đó. Bi kịch xuất hiện ở đây từ khoảng cách giữa ý chí và trách nhiệm: hắn phải chịu trách nhiệm về những hành động mà hắn không thể nào tránh khỏi.

Chiến đấu trong một cuộc nội chiến thường đòi hỏi phải phi nhân hóa những người từng thân quen – những người nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng phong tục, cùng một lịch sử. Giết một kẻ thù như vậy gây ra vết thương sâu sắc hơn so với giết một người lạ, bởi nó hủy diệt một thế giới chung. Ngay cả khi mục đích là chính đáng, hành động đó vẫn làm xói mòn bản chất đạo đức của con người. Hắn không chỉ đối mặt với nguy cơ tử vong, mà còn đối mặt với nguy cơ trở thành một người vong thân không thể nào hoàn toàn hòa giải với con người trước đây của mình.

Nội chiến cũng đặt ra một lựa chọn bi thảm giữa hành động và tội lỗi. Hành động là tham gia vào bạo lực và bất công; không hành động là cho phép bạo lực và bất công hoành hành không kiểm soát. Điều này phản ánh một vở bi kịch Hy Lạp cổ điển, trong đó mọi hành động có thể đều vi phạm một giá trị thiêng liêng nào đó. Con người bị mắc kẹt trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, nơi hắn làm gì hay không làm gì đều có tội như nhau. Bi kịch của hắn không phải là hắn lựa chọn sai lầm, mà vì cái thế giới hắn ở bên trong đã được cài đặt để bất kỳ chọn lựa nào cũng sai lầm.

Cái bi kịch ấy không chấm dứt sau khi chiến tranh kết thúc. Con người phải sống trong một xã hội có những ký ức khác biệt so với hắn. Người chiến thắng viết nên lịch sử; người thua cuộc mang theo sự im lặng. Những hành động từng được ca ngợi là anh hùng có thể sau này bị coi là tội ác, hoặc ngược lại. Hòa giải đòi hỏi sự quên lãng, nhưng lương tâm lại chống lại sự xóa bỏ. Con người trở thành một mâu thuẫn sống – vừa là người tham gia vừa là người chứng kiến, vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm – không thể hoàn toàn biện minh hay hoàn toàn hòa giải. Theo nghĩa này, lựa chọn bi thảm của con người trong chiến tranh không phải là một khoảnh khắc mà là một trạng thái tê liệt kéo dài suốt đời. Nó tiết lộ một sự thật cơ bản về đời sống đạo đức của con người dưới áp lực cực đoan: rằng bi kịch không phát sinh từ sự yếu đuối về tính cách, mà từ những tình huống mà trật tự đạo đức tự thân sụp đổ. Nội chiến cho thấy sự mong manh của đạo đức, và cái giá phải trả để giữ được nhân tính khi lịch sử không cho phép ai có được một đôi bàn tay sạch sẽ và sự minh triết trong sáng.

Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết Có những kẻ đi mãi không về của nhà văn Nguyễn Viện (hay bất cứ một cuốn sách lịch sử cũng như văn học nào về chiến tranh Việt Nam) với tâm trạng như trên.

4.

Cuộc chiến nào cuối cùng rồi cũng kết thúc, nhưng gã Thạch Xung không tìm được nơi chốn an thân mà vẫn tiếp tục cuộc trốn chạy.

Thời chiến tranh lúc chạy về thành phố, gã gặp lại Thị, và khi biết ra hai người là anh em cùng cha khác mẹ, gã xem Thị như người em gái. Thị được xem là hoa khôi trong các chốn ăn chơi có lính Mỹ lui tới và được một người lính Mỹ tên James yêu thương lấy làm vợ. Thị theo anh ta về Mỹ sinh sống. Thạch Xung cũng gặp một cô gái tên Mimi Đen, một cô gái lớn lên trong thời loạn, sống buông thả, bất cần. Cô gái bám chặt gã trong bất kỳ cảnh huống nào, dù là khi gã đội lốt tu hành. Cuộc sống như bào ảnh. “Không phải sống, cũng không phải chết. Một cảnh giới vượt thoát mọi giới hạn, nhưng không phải niết bàn, mà chỉ là nhất thể hoá ba la mật, chân như thực tại.” (Tiểu đoạn 10: Đào thoát).

Cuộc sống ấy, như chúng ta đều biết, là một cuộc sống không có ngày mai, ngay cả khi đất nước thống nhất, hòa bình trở lại, khi xã hội đầy bất công, phi lý, khi con người bị phân biệt đối xử như súc vật. Gã vẫn sống với Mimi Đen, cả hai bươn chải kiếm sống, tình yêu ấy vẫn còn, nhưng là một thứ tình yêu bị đầu độc.

Tình yêu để kết sinh hoa trái nhưng tình yêu đã bị đầu độc. Bản năng và khao khát làm mẹ của Mi bị bóp chết nhưng nàng không dám ép Thạch Xung, bởi nàng biết hiện tại của họ mong manh bất trắc, mà tương lai thì không ai dám tin.” (Tiểu đoạn 13: Đường dài).

Cứ thế diễn tiến, phần I của cuốn tiểu thuyết chấm dứt với những nốt nhạc đượm buồn, chua xót trong câu nói của Thạch Xâm: “Chiến tranh hay hoà bình, lịch sử hay cuộc sống vẫn là cái cối xay thịt.” (Tiểu đoạn 13: Đường dài).

Trong phần II của cuốn tiểu thuyết, Thạch Xung từ chủ thể ngôi thứ ba trở thành ngôi thứ nhất, và lúc này đã là một ông già bảy mươi tuổi. Từ hòa bình tới chiến tranh rồi trở lại hòa bình, nhưng bao giờ ông cũng cảm thấy bị mắc kẹt giữa gọng kềm của kiếp sống. Hòa bình là một cuộc chiến khác không tiếng súng. Thế rồi, ông tự an ủi rằng dẫu sao ông sống sót, và ông tìm về sống trong ngôi làng Rume xưa cũ của ông. Rất khó khăn cho ông làm thế, không chỉ vì tiền bạc mà còn bởi một ký ức mà ông muốn xóa nhòa. Trở về ngôi làng xưa là một cách thế hòa giải với chính con người ông, bởi nó chính là món bảo vật linh thiêng nuôi dưỡng tâm hồn ông suốt đời người. “Tôi đã gìn giữ cái huyền hoặc ấy cho suốt cuộc đời mình như một thứ gia bảo. Đồng thời, tôi cũng bị dập vùi trong hiện thực khốc liệt của con người, một cách trần trụi nhất mà tôi không thể trốn chạy, dù tôi luôn trốn chạy.” (Tiểu đoạn 1, Phần II: Ký ức của mùi).

Lúc này Mimi Đen đã qua đời, Thị sống ở bên kia đại dương, những người thân yêu chẳng còn ai, ông Thạch về quê cũ Rume mua đất, dựng nhà làm lại từ đầu. Ngày ngày ông đi chăn bò, trồng rau, trồng cây, sống với những người dân quê lam lũ nhưng chân chất. Ông cũng vui vì có người bạn già, ông Giải phóng, vốn là người theo cách mạng dạo trước nhưng bị đánh bật ra ngoài như bao kẻ khác. Ông tạm ổn trong tuổi già, tự an ủi bằng ý nghĩ, “Con người có thể tàn ác, bất chấp… nhưng tính người sẽ không bao giờ mất đi.” (Tiểu đoạn 3, Phần II: Mùi ở chân mây). Ông an phận, vui với cuộc sống bình dị nơi thôn dã cho dù một hôm cơ ngơi của ông bị nhà nước nhân danh sự phát triển kinh tế cho xe ủi đất đến ủi bằng, cướp sạch. Ông chỉ cười, tự giễu, “… Tôi chỉ là kẻ trốn chạy. Luôn luôn trốn chạy. Nên chẳng chẳng làm gì ra hồn.” (Tiểu đoạn 5, Phần II: Mùi chuột đồng).

Ông Thạch cũng vui vì có một tình yêu khác với người phụ nữ thông minh lịch lãm tên Lữ Thảo, nhưng Lữ Thảo đến đến đi đi và cuối cùng cô đi luôn, không bao giờ trở lại. Chẳng còn thiết tha chạy theo cuộc sống nữa, ông dựng một cái am tre mãi tận thượng nguồn xa vắng của dòng suối, đêm đêm gõ mõ tụng kinh. Niềm an ủi sau cùng là trong những ngày cuối đời ông có người đàn bà quê mùa gốc Miên săn sóc ông, chính cô là người viết hai chữ THẠCH XUNG lên mộ chí của ông bên bờ suối. Kết thúc một đời người.

5.

Cuốn tiểu thuyết được viết với một văn phong bàng bạc tính hiện thực huyền ảo, đôi khi như phi thực, tuy không sử dụng những thủ pháp hiện đại như siêu hư cấu hoặc dòng ý thức. Chủ yếu của cuốn tiểu thuyết vẫn là miêu thuật một câu chuyện. Câu chữ mạnh mẽ, có lúc sống sượng, như muốn lột tả tính cách tàn bạo của điều muốn thuật. Cấu trúc truyện được viết theo tự sự biên niên, có những đoạn chuyển mạch bất ngờ. Bối cảnh truyện là lịch sử nhưng không đi sâu vào biến cố, cũng không đào sâu tâm lý nhân vật. Tự sự được sử dụng như những nét chấm phá trên một toàn cảnh dàn trải rộng lớn, và những chấm phá tự sự đó nối kết nhau để tạo nên mặt dệt của cuốn truyện.

Nhà văn Nguyễn Viện có tham vọng tóm gọn một đời người trong cuốn tiểu thuyết trên bốn mươi nghìn từ ấy, từ lúc sinh ra đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay trở về cát bụi. Cuốn tiểu thuyết là khúc giao hưởng buồn bã nói lên toàn bộ sự phi lý của kiếp người. Sống là trốn chạy. Sống trong thất lạc. Mọi chọn lựa đều vô nghĩa, đều đem đến cho bản thân sự hủy diệt.

Tự thân cuộc sống vốn là vô nghĩa, nó dửng dưng với ta một cách phi lý. Câu hỏi mang tính hiện sinh là, ta phải làm gì khi đối đầu với nó. Triết gia Jean-Paul Sartre có câu trả lời rất giản dị và dễ hiểu: Bởi hiện thể đi trước bản thể, điều đó có nghĩa là sự quan tâm hàng đầu cho mỗi cá nhân là chính cá nhân đó – một con người (“hiện thể”) độc lập trong hành động và có trách nhiệm, có ý thức – không phải cái gì thuộc về nhãn hiệu, vai trò, khuôn mẫu, định nghĩa, hoặc những phân loại ước định khác gán ghép lên cá nhân đó (“bản thể”). Đời sống thực sự của cá nhân mới đích thực là cái cấu tạo nên “chân bản thể” của hắn, không phải một bản thể do kẻ khác tùy tiện áp đặt lên hắn, định nghĩa hắn là gì. Do đó, con người, xuyên qua ý thức bản thân, kiến tạo nên giá trị cho chính mình và định hình một ý nghĩa cho cuộc sống.

Nói cho cùng, sống là đấu tranh và cuộc đấu tranh không hẳn là toàn bộ câu chuyện.

Chúng ta không ngừng cố gắng vượt qua cuộc sống bởi vì sự đấu tranh gắn liền với ý nghĩa. Nỗi đau, những nỗ lực và sự bất định là cái giá phải trả cho việc quan tâm đến điều gì đó – sự sống còn, tình yêu, sự phát triển, phẩm giá. Nếu không có gì quan trọng, sẽ không có đấu tranh… nhưng cũng sẽ không có lý do để thức dậy mỗi sáng.

Sự đấu tranh là bằng chứng của giá trị. Chúng ta không chiến đấu vì những điều vô nghĩa đối với mình. Chính việc cuộc sống cảm thấy khó khăn có nghĩa là có điều gì đó quan trọng trong đó.

Hơn nữa, chúng ta được tạo hóa ban cho hy vọng. Về mặt sinh học và tâm lý, con người được tạo ra để tìm kiếm sự giải thoát, sự cải thiện và những khả năng – ngay cả sau thất bại. Hy vọng không phải ngây thơ; nó là khả năng thích nghi.

Sự phát triển chỉ xảy ra khi có sự kháng cự. Sức mạnh vật thể, kỹ năng, tính cách, trí tuệ – tất cả đều hình thành bởi vì có điều gì đó chống lại.

Những khoảnh khắc quý giá bù đắp cho sự nỗ lực. Niềm vui, sự kết nối, vẻ đẹp, tiếng cười, tình yêu – những điều này không xóa bỏ nỗi đau khổ, nhưng chúng khiến nỗi đau khổ trở nên đáng chịu đựng.

Chính sự lựa chọn là sức mạnh. Ngay cả khi chúng ta không thể kiểm soát hoàn cảnh, việc lựa chọn cách phản ứng mang lại cho cuộc sống cảm giác chủ động thay vì chỉ đơn thuần là chịu đựng. Chúng ta không vượt qua cuộc sống để chiến thắng nó, mà để tham gia vào cuộc sống. Để nói rằng, “Tôi vẫn ở đây. Tôi vẫn đang lựa chọn.”

Và đôi khi, vào những ngày khó khăn hơn, câu trả lời đơn giản và nhẹ nhàng hơn: Chúng ta cố gắng bởi vì việc dừng lại, bỏ cuộc, là cái gì tồi tệ hơn là tiếp tục.

Khác với nhân vật Billy Pilgrim, trong cuốn tiểu thuyết Lò sát sinh số Năm của nhà văn Mỹ Kurt Vonnegut, từ chiến trận trở về tâm trí trở nên không bình thường, sống với những giấc mơ hoảng loạn, Thạch Xung của Nguyễn Viện may mắn hơn. Sau chừng ấy khổ đau và tuyệt vọng, ông vẫn tỉnh táo tìm được niềm vui an tĩnh ở cuối đời và có cái chết tương đối êm ả. Ta còn mong muốn gì hơn thế?

California, Trọng Đông, 2026

*

Có những kẻ đi mãi không về

Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Viện

Nhân Ảnh xuất bản

Giá US$20.00

Sách có bán trên amazon.com. Xin bấm vào đường dẫn sau:

Amazon.com: Có Những Kẻ Đi Mãi Không Về (Vietnamese Edition): 9798295678660: Vien, Nguyen: Books