Nguyễn Thị Khánh Minh

Mở đầu tuyển tập Đuổi bắt một mùi hương[1], là bốn câu thơ:
Bên trời ngồi viết
tóc rối như mây
quê nhà mờ mịt
chữ lạnh đôi tay.
Tôi rất thích hình ảnh, bên trời ngồi viết, có lẽ bởi cái vô định của không gian, và vô cùng điểm xô đẩy nhau trên dòng thời gian, cái ẩn chủ thể của viết, của tóc rối, của lạnh đôi tay trong không khí bài thơ này.
Bên trời là ở đâu? Phía bên kia một nơi đã chia xa?
Phía quê nhà mờ mịt, tức vẫn còn đó nhưng chẳng phải cùng ta nữa…
Chỉ còn tóc rối quyến luyến vào chập chùng mây, để như ai xưa nhìn mây là nhớ nhà? Hai hình ảnh bật khởi lên, như nhân duyên giữa tóc và mây. Và cái neo để nối, là chữ. Và dư âm để lại là lạnh. Một nỗi lạnh của cô độc. Không khép lại. Không hứa hẹn.
Cứ như, Bên trời ngồi viết đã từ nghìn năm rồi và, viết là một biểu tượng của tồn tại trường cửu (hay một tồn tại cuối cùng?).
Tôi cũng được hiểu theo nghĩa siêu hình, quê nhà kia là một vẫy gọi mầu nhiệm của tâm, và chữ là những bước tìm trở lại bản tánh.
Trong một bài viết trước đây, tôi đã xem Người tới như mộng[2] là biểu tượng siêu thực của nhà văn Phan Tấn Hải. Và lúc này tôi lại thấy biểu tượng ấy gặp gỡ một cách rất thú vị với hình ảnh bên trời ngồi viết. Có gì đó ngẫu nhiên kết hợp một cách thơ mộng – Người tới như mộng bên trời ngồi viết – và dường như nó cắt nghĩa mọi can cớ huyễn ảo của không gian và thời gian cùng nhân vật trong không khí truyện của Phan Tấn Hải.
Nhà văn, nhà thơ, nhà báo Phan Tấn Hải, cũng là cư sĩ Nguyên Giác. Những tác phẩm của cư sĩ Nguyên Giác đã chứng tỏ được giá trị và lợi ích của nó về cả hai mặt Phật Học cũng như Văn Học. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến một Phan Tấn Hải, nhà văn, nhà thơ, người nhìn cuộc đời qua lăng kính mẫn cảm của trái tim nghệ sĩ.
Nhân vật “Tôi” của ông, nhìn, nghĩ, phản ứng, như có gì ngây ngô, nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ đã dùng chữ này khi nói về ông “ngây ngô một cách khiến người ta phải nhìn lại mình.” Một ngây ngô không dễ gì mà có nếu không có tâm thiện, tính lành, một nếp nghĩ, biết, trong sáng, một lối hành xử của người có sức mạnh của tu tập, nội lực của tri thức. Một Ngây Ngô viết hoa mà nghĩa của nó đẹp như nghĩa của Ban Sơ.
Tôi không thể cắt nghĩa vì sao tôi gắn cái hình ảnh Người tới như mộng với Phan Tấn Hải. Tôi nói thế có gì sai với một người tu hay không tôi không biết, nhưng tôi có sự yên tâm, lâu rồi, trong một e-mail gửi cho tôi và Nguyễn Lương Vỵ, ông nói, “Cho nên rồi cũng phải bỏ hết tham sân si (hiểu là sẽ tới lúc bỏ hết truyện, thơ?) để về ngồi tụng kinh, thí dụ ngồi uống café với hai bạn sáng mai cũng là tụng kinh vậy”. Vâng, nếu xem được tất cả việc ta đang làm đều là tụng kinh thì đó là hộ pháp ngăn ta làm, nghĩ điều bất thiện. Trực cảm lúc mới gặp ông, Im lặng đến, Rồi lặng lẽ về. Cái cười hiền lãng đãng, ánh mắt như vừa khép lại niềm vui, không khí của lời có cái gì trang nghiêm. Hình ảnh ấy nó thiện mỹ làm sao, ý tứ ấy nó đánh thức cái tâm ban sơ người ta đến vậy. Thế nên lời đã cảm động được người đọc.
Đuổi bắt một mùi hương là một tuyển tập gồm 33 truyện, không gian của nó được đặt dưới cái nhìn trầm tĩnh, thái độ yêu người yêu đời với lòng nhân ái, trắc ẩn, và thơ mộng. Nhà văn Phan Tấn Hải nói: “Tôi viết để tan ra…” và tôi đã nương theo đó để đọc bằng cách tan vào tâm cảnh ấy, để thấy để nghe được mùi hương của chữ, của hạnh phúc cùng đau khổ của kiếp nhân sinh, để thấy sự không ngừng đối diện với vô thường qua nghệ thuật ném tất cả vào mộng để nhắc nhớ phù du. Và nhắn nhủ người đọc, trước khi đọc:
“… xin hãy nhớ rằng tất cả những gì được thấy và được nghe, trong tận cùng là vắng lặng và rỗng rang.” (tr. 312)
Cấu trúc truyện của nhà văn Phan Tấn Hải được định hình qua lăng kính giấc mơ và nhãn quang Phật học, trong đó, theo tôi, có sự hiện diện cả hai khái niệm Hiện Thực Huyền Ảo và Hiện Thực Huyễn ảo.
“Tôi tin vào phép lạ, bởi vì cuộc sống tự nó đã là phép lạ” (tr. 22), “… tôi tin sâu vào nhân quả, và đã quá sợ hình ảnh luân hồi bất tuyệt trong vô minh…” (tr. 73).
“Tôi chỉ viết lên những dòng chữ như thả lên những cánh chim trong tâm mình cho bay qua bầu trời văn học… Độc giả sẽ quên hết những chữ tôi viết, và sẽ chỉ còn nhớ rằng tôi đã đem truyện cổ tích vào đời thường, để làm cho cuộc đời đẹp hơn. Và đó sẽ là hạnh phúc của người viết và của người đọc.”
Ông kết hợp giữa thực tế đời thường và kỳ bí cổ tích, chấp nhận một thực tại đa dạng, xem phép lạ, đời sống tâm linh như một phần của thực tại, đây là những yếu tố của hiện thực huyền ảo.
Và,… “Nơi chữ sẽ hóa thân trở thành những truyện cổ tích cho những người của mai sau…”, có phải là kim chỉ nam cho sự sáng tạo của ông?
Cũng từ cảm nhận:… “Từ lâu rồi anh vẫn thấy mọi chuyện trên đời chỉ là những giấc mơ thôi... (tr. 19) khiến truyện của ông hư hư thực thực, thời gian thì phi tuyến tính, cái hấp dẫn là bắt đầu từ mấu chốt thực, rồi lan man đi vào mơ, rồi tan như ảnh ảo, đó là không khí của hiện thực huyễn ảo. Mơ thực đan xen nhau hay tới mức mà người đọc cảm thấy cái huyễn đó thật hợp lý để thắt mở cốt truyện, tạo nên một ấn tượng hết sức mong manh lẫn lâu dài về những thứ mà ta biết là không thuộc về, nhưng cũng không bao giờ mất đi. Như mùi hương ẩn mật, như vạt nắng sớm trong lời kinh Pháp Cú.
Phan Tấn Hải có một bút pháp không bút pháp, chỉ giản dị như nghĩ tới đâu thì kể tới đó, uyển chuyển theo cảm xúc, suy tư lúc đang viết, khi thì tả chân, khi thì nghị luận, khi thì tình cảm tinh tế trong diễn tả nội tâm nhân vật, hấp lực ở chỗ chữ vô cùng bình thường nhưng sức chở thì sâu xa, độc đáo, khiến ông có phong cách vừa triết lý vừa trữ tình.
Đọc hết 33 truyện trong tập truyện này, tôi cảm giác người viết như đang vẽ hình trên cát, rồi xóa đi, cứ thế, vẽ hoài. Rốt rồi chính người vẽ cũng tự xóa mình, như con sóng vừa đi vừa xóa dấu vết…
“Mỗi truyện là một kiếp sống tôi đã đi qua. Tôi sinh ra trong cốt truyện, sống trong từng dòng chữ, và rồi tan biến khi câu chuyện khép lại…”
Trong giới hạn của vốn liếng tri thức, tôi giản lược mình chỉ với tư cách một người đọc bình thường để được tung hoành với cảm xúc riêng khi đọc truyện của ông, và tất nhiên không tránh được niềm hâm mộ chủ quan.
VẾT SON ƠI, QUÊN NHAU LÀ CHUYỆN KHÓ (truyện thứ 4, tr. 41)
Sáng nay, trong cái vươn mình khoan khoái của cây lá sau trận mưa, trong phơi phới của tấm lòng chờ đón, tôi trang điểm, mẹ tôi bảo, môi con nhợt nhạt lắm, nhớ tô chút son. A, màu son, nó làm mặt mũi phụ nữ tươi tắn, và không ngờ nó là một vệt sáng lung linh trong dòng sông tâm hồn của ai kia trong câu truyện này, một truyện có cấu trúc của hiện thực huyền ảo, nó mang chất cổ tích.
“Đó là phép thuật và bí ẩn, nơi tận cùng ẩn giấu của đời sống đời thường là những thế giới kỳ diệu của tâm hồn.” (Lời thưa).
Kiểu gió thoảng của mối tình – nếu có thể gọi như thế – hai nhân vật trong đó là ngọn gió đầu mùa chứa đầy năng lượng của sự bắt đầu và thốc tới tâm hồn ta với vận tốc trực cảm. Khi đọc xong đoạn cuối, cảm xúc như một dòng sáng xẹt qua tim, mà niềm cảm động thì ngân nga dằng dặc. Cái buồn, mất, xa, không tồn tại trong tâm người viết, chỉ là ngay lúc đó ông nói về một tâm trạng hiện hữu.
“Tôi không nhận được tin gì về nàng nữa, từ đó. Tôi vẫn cầu nguyện cho nàng khi bắt đầu các buổi thiền tập hàng ngày. Và biết rằng, sẽ rất lâu, sẽ còn rất lâu, hình ảnh nàng mới nhạt đi trong tâm mình. Kể cả vết son.” (tr. 50)
Chuyện của vết son kết thúc như vậy. Nhưng hãy nghe cái ban đầu của họ.
“Suýt nữa là quên nói bí mật này: tôi thích nhất là nhìn thấy hình ảnh “con bé Mai” khi làm xong các thứ, là đứng dậy nơi sàn xi-măng, nghiêng người, một tay túm nơi đầu gối hai ống quần, và tay kia cầm chiếc thau nhỏ múc nước tưới vào hai bàn chân rồi chải hai bàn chân vào nhau cho sạch cát đất.
Sau này đọc Kinh Phật, tôi nghĩ ra rằng chuyện mình ưa ngó hình ảnh nhỏ Mai nghiêng người rửa chân được sách gọi là “tùy phiền não” – nghĩa là, niệm cứ khởi đi, khởi lại về một thứ gì đó. Những khi nhớ ra như thế, tôi lại như mỉm cười, khi nghĩ rằng, có thể, và có lẽ, nếu một hôm nào đó, tôi đưa tay nắm lấy bàn chân của nàng, và khi tay nhận ra bàn chân nàng đầy xương xẩu gầy gò, hẳn là sẽ không bao giờ khởi lên các thứ hình ảnh như thế nữa” (tr. 46-47)
“Hình ảnh cô bé chân trần nhảy cò cò ngoài sân cũng hiện lên trong đầu tôi. Tôi tự nhủ, có lẽ, người ta không cần tới thuyền để qua dòng sông sinh tử đâu, cứ mãi nhảy cò cò trong chiếc sân cát tuổi thơ cũng sẽ qua bờ. Tôi nghĩ thế, nhưng không chắc là Phật pháp có ý nào như thế. Chỉ có điều khó hiểu, vì sao những bước nhảy cò cò cứ mãi in sâu trong hồn mình như thế.” (tr. 50)
Tôi thấy lòng mình nhẹ hẳn đi. Dường như quá khứ và hiện tại nối nhau chỉ vài bước nhảy cò cò con trẻ, nắng thời ấy đem cả thủy tinh đi theo, cổ tích hóa mọi điều, hư vô hóa hết thảy, kể cả không gian một tiệm kem ở Pasadena.
“Từ pháp hội Pasadena tới khi tôi viết những dòng này cũng đã mười mấy năm rồi, nhưng hình ảnh nàng vẫn đôi khi thoang thoảng hiện trong mơ, trong trí nhớ tôi mơ hồ như khói, phả lên một cặp môi son không đầy đặn, và đôi mắt nàng đầy các nỗi xao xuyến về cuộc đời” (tr. 42). Chưa thấy cái tả nào về đôi mắt đẹp như vậy.
“Tôi chợt thấy một sợi tóc bạc bên viền tai bên trái của nàng… Tôi nhìn vào mắt nàng, nói như thì thầm rằng đây là thơ Neruda nhé, – Tình yêu thì quá ngắn, quên nhau lại quá dài – ... Tôi lại thấy vài sợi tóc bạc trên đầu Mai. Tôi tự thắc mắc, không lẽ chỉ trong vài phút, tóc bạc mọc nhanh như thế; hay hồi nãy, mình nhìn nàng không kỹ...” (tr. 48)
Ngẩn ngơ, tự hỏi thời gian nào họ ngồi với nhau, và thời gian nào để sợi tóc bạc đi? Hồi nãy là hồi nào… Chi tiết mang mang vô tuyến tính của thời gian này khiến cả câu chuyện cũng có khí của hiện thực huyễn ảo.
“Tấm thiệp chỉ có hình một dòng sông, và chiếc ghe không người đang neo nơi bờ…”
.
“Tôi nhìn dòng sông mở ra trên tay nàng…”. Ôi sao hình ảnh đẹp, lạ và thơ đến vậy, dòng sông của đất trời bỗng lung linh trên lòng bàn tay nhỏ, hữu hạn và vô hạn không biên giới để biện biệt nữa.
Thế còn, dấu son môi?
“Mai đưa tấm thiệp lên môi nàng, in làn son trên môi vào trang trắng trong thiệp, rồi đưa cho tôi. Tôi cầm thiệp, chưa kịp nhìn kỹ, đã thấy nàng quay lưng, bước vội ra ngoài cửa tiệm sách. Tôi nói vói theo, để anh tìm tập thơ cho Mai đã... nhưng nàng đã mất hút ngoài cửa. Tôi cầm tấm thiệp có vết môi son, tới xếp hàng nơi quầy, chờ trả tiền. Khi bước ra, nàng đã như biến vào hư vô.” (tr. 49)
“… nàng đã mất hút ngoài cửa… nàng đã như biến vào hư vô…”, không gian ấy là ẩn hiện của màn sương, và thời gian chỉ còn thỏ thẻ sự hiện hữu của nó nơi vết son…, nhưng tôi biết nó sẽ theo con thuyền trôi vào con sông tâm hồn kia, cho dù, vâng, cho dù “…Sau này, tôi cứ lo mãi, hình ảnh đẹp của đời này tràn ngập trong trí nhớ của mình, làm sao tu giải thoát nổi.” (tr. 44).
“Tôi hiểu điều này, và có lẽ kinh cũng nói nơi nào đó: khi đi bộ với nàng trên phố Pasadena, tôi không ôm nàng, không hôn nàng vì ngờ ngợ như có ai ngăn cản, hẳn đó là vị hộ pháp hộ giới. Vì với người phát tâm xuất gia như nàng, có khi chỉ một nụ hôn cũng có thể kéo nàng đi chệch thêm nhiều kiếp sau.”
… Ánh đèn trên phố Pasadena vẫn hắt mãi trên trí nhớ của tôi…
… Tôi không nhận được tin gì về nàng nữa, từ đó. Tôi vẫn cầu nguyện cho nàng khi bắt đầu các buổi thiền tập hàng ngày. Và biết rằng, sẽ rất lâu, sẽ còn rất lâu, hình ảnh nàng mới nhạt đi trong tâm mình. Kể cả vết son.” (tr. 50)
Câu chuyện làm tôi mỉm cười và mơ mộng, đọc xong tôi chỉ biết ngó lung vào ngõ nhỏ đang cong lên theo con gió lạnh cuối mùa. Cơn gió đầu mùa của họ cũng dường như tiên cảm một điều, tôi và Mai hệt như các nhân vật trong cuốn truyện cổ tích nằm ở các trang cách biệt, khi trang sách này mở ra, là trang sách kia khép lại. Nhưng tiếng động những trang sách là âm vang của đời người, và lặn vào trong tĩnh lặng của thời kinh sớm…
MÀU NẮNG RỰC SÁNG (truyện thứ 6, tr. 63)
Một ngày chan chứa nắng sau ba hôm mưa dầm, nắng, trông lại càng mới dù lúc nào nó cũng mới, trong một tản văn tôi viết năm 2012 về nắng ở miền nam Calif., “cái mùi nắng ấy như ngọn rễ non cho tôi bám vào vùng đất còn đầy xa lạ này… ngày đầu tiên đến đây tôi nhớ mình đã thốt lên, y chang nắng ở nhà, một niềm vui rộn ràng, con đường mình đang bước tới là một nối dài từ nơi mình đã chia xa… có mùi nắng quen quen…”.
Thật là đồng điệu làm sao khi tôi đọc Màu nắng rực sáng của Phan Tấn Hải, lòng tôi vui kể gì – mượn câu của ông, cái duyên của văn chương Phan Tấn Hải nằm trong những câu chân chất kiểu này.
“Tôi đã ưa thích màu nắng ở quê nhà từ những ngày thơ ấu… Màu nắng Sài Gòn đó vẫn còn rực rỡ mãi trong tôi…” (tr. 63) Tôi nghĩ trái tim phải đầy thiên nhiên tính thì mới cảm được trọn vẹn ý tình của nắng mưa trời đất.
“Tôi ngây ngất nhìn màu nắng, và rồi nhìn thẳng vào mặt trời – chói kinh khủng, chẳng thấy gì… Lúc đó mới biết, tôi chỉ có thể nhìn được màu nắng trên mọi thứ khác. Lúc đó, tôi đã thấy rằng có một cái không thấy được, nhưng nó là cái làm cho mọi thứ hiện lên…
…Tôi vẫn nhớ màu nắng như dường nghiêm trang hơn trong sân trường, như dường ngả nghiêng đùa cợt trên các lối đi xe đạp chen nhau khi tan trường, như dường loang vữa tường rêu ở các hẻm Phố Tàu gần nhà tôi, và cũng như dường nhảy múa dịu dàng trên mái tóc mấy cô nữ sinh trường Bác Ái đi xe đạp trên đường Nguyễn Trãi.
… tôi thấy nắng chói thật đẹp trên các tường vôi ngả vàng của tường phố, và thấy lòng mình như chết trong màu nắng...” (tr. 63)
“Nghĩa là, một tuổi thơ của tôi ngập nắng, lòng cực kỳ hồn nhiên, và các phố Tàu Sài Gòn – nơi vẫn quen gọi là Chợ Lớn – là một phần đời của tôi, một mảng da thịt tim óc của tôi. Đó cũng là lý do sau này, khi từ Virginia về thăm Quận Cam, nhìn thấy màu nắng trên các hè phố Bolsa…. Tôi biết rằng, tôi yêu màu nắng này. Tôi thấy ngay lúc đó, rằng tôi sẵn sàng ngồi trên ghế đá ở phố Bolsa, chỉ để suốt đời ngồi nhìn nắng thôi.” (tr. 66)
Giống y cảm giác của tôi lần đầu nhìn nắng ở Bolsa này. Tôi hiểu thấm cái chết trong màu nắng, cái khựng lại sững sờ, cái sẵn sàng suốt đời ngồi nhìn nắng, và tôi bâng khuâng, có phải trong màu nắng ấy âm ba tiếng guốc lấp lánh nắng tuổi thơ, tiếng chân nhảy cò cò thánh thót nắng? Có lẽ..., nên chủ thể đã, lòng cực kỳ hồn nhiên…
Tôi cho rằng với hồn nhiên ấy cộng với trải nghiệm của tu tập, đã khiến ông có thói quen sống được hạnh phúc bất cứ lúc nào. Hơn nữa ông có niềm tin vào bản thân, chân thật nhìn mình, và sống từng phút giây với tất cả cảm xúc trọn vẹn của Tinh Thần lẫn Giác Quan. Điều này rất gần với quan niệm của văn hào Lâm Ngữ Đường, “Hạnh phúc của ta thuộc về cảm giác... Một thứ triết học cao thượng phải tạo được cho ta niềm tin vào cái cơ quan đẹp đẽ, nơi tiếp nhận cảm xúc, là cơ thể ta đây.” (Sống đẹp, Nguyễn Hiến Lê dịch)
Hãy nghe Phan Tấn Hải cho ta thấy niềm tin ấy:
“Tôi ưa thích những buổi sáng ở đây, cả buổi trưa, buổi chiều, buổi tối. Ngày và đêm là một phần cơ thể tôi…… có khi lang thang đi xe đạp quanh phố phường, để nghe đủ thứ âm vang ngôn ngữ và tiếng xe, tiếng hô phụ ky, tiếng gõ hủ tiếu, ngấm vào da thịt tôi… Không phải tôi nghe bằng tai đâu. Tôi nghe bằng cả da thịt, nghe bằng mắt, nghe bằng mũi, nghe bằng trọn cả gân xương tóc tai da thịt… và cứ mải mê thấy cuộc đời ngấm lạnh vào da mình, mà lòng như say hương đời. Tôi yêu thích cuộc đời này biết là bao nhiêu.” (tr. 65, 66)
“Tôi vẫn giữ tay nàng, đây là lần đầu tiên chạm vào thịt da nàng. Xiết tay thật chặt rồi buông ra, tôi cảm được những luồng điện chạy trong tay… Tôi hít thở gió đêm, hạnh phúc ùa vào người, cả thế giới của trăng sao của cây lá vi vu của đèn đêm phố vắng tan vào da thịt…” (tr. 115)
“Thức dậy, pha ly cà phê hoặc trà, và ngồi nhâm nhi lúc bốn hoặc năm giờ sáng. Giây phút này hình như tai mắt tinh tường hơn. Không phải để thấy gì hay nghe gì cụ thể, nhưng nơi đây và giờ này như dường thịt da cảm nhận cuộc đời nhạy hơn. Những năng lực cuộc đời có thể chạy rần rần trên tay, trên chân, và có vẻ như là chúng ta đang đưa tay sờ chạm lấy cuộc đời… Vào lúc sáng sớm, hít thở vài hơi sâu vào người thì sẽ thấy và xúc chạm được dòng sông biến dịch của cuộc đời…” (tr. 120, 121)
“Đêm đó, trong khi ngồi thiền, đôi mắt cô ta hiện ra… Tôi mở to mắt, nhìn vào bức tường trắng trước mặt, tôi có cảm giác như thấy được mùi hương. Thấy được mùi hương? Tôi tự hỏi, tại sao lại có cảm giác thấy được bằng mắt...” (tr. 136)
“Họ cảm được thời gian như đang trôi qua trên làn da của họ, như nhìn được, như sờ được, như nắm bắt được. Hai anh em im lặng cảm nhận hạnh phúc...” (tr. 233)
Hầu như truyện nào trong tập sách này ta cũng đều bắt gặp những phút giây cảm nhận cuộc đời và hạnh phúc kiểu như thế. Giác Quan khiến tâm trạng vui vẻ hay u buồn và Cảm Xúc Tinh Thần đưa đẩy hay chế ngự để thân xác có trạng thái dễ chịu. Tiếp cận với thiên nhiên và cuộc sống đầy sinh động như thế, nói theo thiền giả Stephanie J. T. Russell, đó là “tâm thiền tận hưởng thực tại”. Điều này khiến Phan Tấn Hải diễn tả khi tán thưởng, khi thụ hưởng vui buồn, đều mang cốt cách tao nhã của văn chương, vừa có cái rung động hiện thực rất gần gũi của giác quan.
Suýt nữa là tôi quên kể câu chuyện tình. Ở những truyện có thể xem như truyện tình thì dường như lúc nào ông cũng – xém quên – chủ đề chính. Và đây, xin bạn cùng tôi xem một khúc phim trên tường nắng,
“Một phụ nữ trong trang phục kimono bước ra từ chiếc bàn trưng bày hoa, đưa tay chào trước mắt tôi. Tôi không thể nhớ được rằng đó là ai, chỉ nói một chữ “Hi” để chào. Tôi thấy ngay hình ảnh như từ thơ cổ Đường thi…” (tr. 68)
Con người xương thịt đi ra từ trang thơ cổ huyền ảo. Và cũng là màu nắng trong phút giây người diện bích.
“… tôi mở mắt ra, nhìn thẳng vào vách tường. Chặp sau, bức tường trong phòng tối có lúc như bật sáng. Tôi nghĩ, đây là màu nắng quê nhà. Nắng hiện rực rỡ trong tâm tôi. Những lúc đó, tôi bật đèn sáng, lấy sách ra đọc, có khi lấy giấy mực ra vẽ. Lúc đó, niệm gì cũng biết là hỏng, niệm thân thọ tâm pháp… niệm gì cũng thấy màu nắng hiện ra trước mắt… Đức Phật đã dạy rồi, khi thấy màu nắng, chỉ là màu nắng thôi… Thế nhưng, bây giờ tôi biết mình bị vướng. Tôi lấy tạ ra, tập thể dục nặng… tới khi mệt thì nằm ngủ.” (tr. 67)
“Đúng vậy, tôi sợ. Cô là màu nắng hiện ra trên vách tường, khi tôi ngồi thiền mấy hôm trước.” (tr. 69)
“Trang thơ cổ hắt ra vạt nắng chiếu lên tường thiền định, thì, May quá. Tôi bật cười khi nghe ông nói như một tiếng thở ra nhẹ nhõm,… May quá, một chặp sau, cô đứng dậy, nói thôi em về, để anh làm việc. Tôi mừng kể gì.” (tr. 70) Ý tứ câu này cho mình cái mỉm cười rất ý nhị. Hiểu sao với tất cả những gặp gỡ, vì có “hộ pháp hộ giới che chở”, “có khi chỉ một nụ hôn cũng có thể kéo nàng đi chệch thêm nhiều kiếp sau…”.
“…Tôi bật mấy ngọn đèn sáng, để không ai suy nghĩ gì bất thiện. Tôi bảo cô lên giường nằm, và đắp hai lớp mền cho cô… Tôi ngồi dưới sàn nhà, dựa lưng vào bờ giường, lấy cuốn Kinh Pháp Cú, đọc thật chậm từng chữ, để cô nghe không sót chữ nào… Nghe được mấy trang Kinh Pháp Cú, cô nói: “Em muốn nắm tay anh,” và tự cô chìa tay qua lớp mền, nắm một bàn tay của tôi.
Tôi vẫn ngồi dưới sàn, liếc thấy mắt cô như buồn ngủ, trong khi bàn tay cô nắm tay tôi, dịu dàng nồng ấm… Tôi siết nhẹ tay cô, rồi đọc tiếp, thật chậm, những trang kinh…
Trong khi lần giở từng trang, tôi thấy rực rỡ màu nắng trên từng trang Kinh Pháp Cú, và rồi tay cô buông tay tôi, cô có vẻ như ngủ gục rồi. Và lòng tôi rực sáng, một màu nắng chưa bao giờ tắt…” (tr. 71)
Và tôi tin cái màu nắng chưa bao giờ tắt, cả khi hai người ngủ trong lời đọc kinh. Chi tiết này nên thơ không kém gì những chi tiết thường tình khác, theo tôi còn cực kỳ lãng mạn nữa.
Câu chuyện tình dài theo con đường nắng khua tiếng guốc trẻ con từ Sài Gòn về đọng lại trong chớp mắt của giấc ngủ, rồi lần theo từng câu kinh Pháp Cú mở ra cho người ánh nắng ban mai. Đọc xong tôi thấy màu nắng mình vẫn thích giờ mang hình ảnh con đường của nắng soi rọi cho mình trở về mình. Ôi Màu nắng rực sáng, có phải bản tánh đấy không?
NGƯỜI TỚI NHƯ MỘNG (truyện thứ 17, tr. 138)
“Tôi đã gặp những người như thế. Những người như mộng, như thật. Những người đã tới để cho tôi thấy đời này như mộng, như thật. Họ tới để nói rằng cõi đời này là bất khả nghĩ bàn, nói mộng cũng hỏng, mà nói thật cũng sai.” (tr. 138)
Mở đầu truyện là “… Tôi còn đứng ngẩn ngơ với mùi hương tóc rất lạ còn phảng phất, nhìn Diệu My bước hẳn vào sương mù nơi chiếc cầu trên đường State Street…”. Khởi đi đã là một mơ hồ, mùi tóc lạ, và bóng nàng khuất vào sương. Không khí cổ tích làm xa vắng hay ngưng đọng thời khắc hiện tại, hay xóa hết thời gian? Tất cả. Ai biết điểm gặp gỡ giữa cái Ảo đương đại với cái Ảo thời Bích Câu Kỳ Ngộ? Từ bức tranh bước ra gặp người tương tư, từ trái thị bước vào nấu nướng nơi bếp nghèo, và rồi nhân vật của Phan Tấn Hải đời nay bước ra từ điệu vũ của đàn chim sẻ khi nghe Bát Nhã Tâm Kinh.
“… khi tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh, giọng của nhỏ út Diệu My nghe như tiếng nhạc trong âm vang hội chúng chỉ mươi người, và ngó ra sân thì thấy đàn chim sẻ sà xuống, nhảy múa hay tụng đọc gì theo kiểu riêng của loài chim. Tôi chợt nghĩ ra một câu thơ, kiểu như hẳn rằng kiếp trước em là chim, hát theo một câu kinh giữa sân chùa, nhưng rồi cũng không dám viết xuống cho thành trọn bài. Lúc nào tôi cũng sợ nghiệp. Nhất là cứ nhớ mãi lời Thầy dạy là hãy như chim bay, không để lại hình ảnh nào trên không…” (tr. 142)
Âm vang lời đọc kinh của nàng từ ngày rất xưa, bước thẳng vào thời gian của chàng hôm nay, với vận tốc của vũ điệu nắng, của giấc chiêm bao, hay của thời gian đời người ngắn quá, cứ ngồi dúi đầu vào đọc sách, viết sách, ngẩng đầu lên là thấy tóc trắng rồi? Và dâu biển nào xô đẩy hai điểm của họ gặp gỡ:
“… Tôi muốn nói một câu, nhưng rồi ghìm lại, rằng sẽ có lúc anh bật khóc vì nhớ em…” (tr. 146)
“Tôi nói, tôi muốn thời gian ngừng hẳn lại, muốn điạ cầu đừng xoay nữa, muốn nắng chiều đừng tàn thêm. Nàng cười và hỏi, sao vậy. Trời ạ, tôi muốn ngất đi khi nhìn thấy nụ cười của nàng, y hệt như thời trẻ dại…” (tr. 144, 145)
Mấu chốt huyễn ảo của câu chuyện này là giấc mơ:
“Trời ạ, đây là nụ cười thỉnh thoảng hiện về trong giấc mơ của tôi, mà tôi không bao giờ nhận ra là ai và từ đâu…
… mùi hương tóc nàng vẫn còn theo tôi, về tới Little Saigon. Vào cả giấc ngủ đêm hôm đó. Bàn tay tôi run rẩy, cảm xúc khi ôm nàng nơi bờ biển Santa Barbara vẫn còn mãi, còn nơi hai bàn tay tôi kể cả khi tôi gõ email hỏi Sơn về chuyện các bạn ở quê nhà.”
Và chi tiết huyền ảo rõ nhất ở đây:
“Còn nhỏ út Diệu My thì đã xuất gia từ lâu, bây giờ là một ni sư, trong hơn hai thập niên không hề bước xuống phố chợ… Tôi kinh ngạc khi đọc như thế…” (tr. 147)
Nàng đã đi tu và không vào cõi nhân gian đã hai mươi năm. Thế vừa rồi? Santa Barbara ấy ở đâu? Chuyến xe lửa từ đâu và đang đi về đâu? Họ là hai cơ thể có thật để nhận cái run rẩy của vòng ôm trao? Nàng là hình ảnh của phút xuất thần? Hay tất cả chỉ là vọng ảnh hiện lên khi chàng ngồi ngắm nắng và tan hết khi đàn chim bay xa? Còn nữa, chi tiết hai chiếc vé xe lửa, có thể bây giờ chàng mở ngăn tủ bàn ra sẽ thấy ở đó là hai chiếc lá. Vâng, hai chiếc lá khô từ bờ biển Santa Barbara. Tại sao không? Có gì ngăn được cổ tích.
Cũng có thể. Họ gặp nhau trong không-thời gian như Einstein nói chăng, có điều là làm sao để họ lọt vào cùng lúc cõi thời gian – chiều thứ tư – ấy để được gặp nhau, chắc chắn không phải ngẫu nhiên, phải có sự đồng thanh tương ứng của cái nghĩ về nhau, mới có được phút gặp gỡ diễm ảo ấy: “… Những khi bước dọc theo phố Bolsa buổi trưa, dưới nắng ấm mặt trời, lòng tôi lại nhớ tới những tia nắng lung linh với đàn chim sẻ ở sân chùa Tây Tạng Bình Dương...”. Cái nhớ theo nắng đi mãi đi mãi thì ắt một ngày, nắng Bolsa kia nhập vào nắng chùa Tây Tạng Bình Dương, và thế là các hình nhân lại đi đứng, gặp gỡ nói cười với nhau, và thế là cổ tích nối vào thực tại.
Chúng ta có thể chạm vào ảo bằng cảm xúc thực? Người ta có thể đi tới một nơi khác, gặp người khác bằng cái hồn nhẹ tưng, cảm nhận được cảm xúc của hơi thở, của làn da, của nắng gió nơi mà họ bay tới? Tôi có nghe lõm bõm một thứ Thực tế Ảo mà người ta đã áp dụng: “Thực tế ảo hay còn gọi là thực tại ảo (virtual reality, viết tắt là VR) là thuật ngữ miêu tả một môi trường mô phỏng bằng máy tính. Đa phần các môi trường thực tại ảo chủ yếu là hình ảnh hiển thị trên màn hình máy tính hay thông qua kính nhìn ba chiều… Hệ thống này mô phỏng các sự vật và hiện tượng theo thời gian thực và tương tác với người sử dụng qua tổng hợp các kênh cảm giác. Đặc điểm: Tương tác - Đắm chìm - Tưởng tượng.” (theo Wikipedia)
Hai nhân vật gặp gỡ trong truyện qua kênh giao cảm của trái tim. Chỉ có thế tôi mới hài lòng về sự đã hai chục năm rồi nàng không đi vào phố chợ, về sự đã xảy buổi họ gặp nhau cho tới khi bóng nàng tan vào cầu sương mù…
“… Bên tai tôi, vẫn còn âm vang bài Bát Nhã Tâm Kinh nàng tụng đêm qua...” nghe như “đêm qua” ấy là đêm của bậc thềm chùa nơi đàn sẻ đã cắp những hạt nắng bay đi khi nàng ngưng tiếng đọc kinh. Mỗi người chúng ta dường như ai cũng có hạt nắng ấy, âm thanh ấy cho riêng mình để khi nó vang vọng sẽ đồng thời mở ra một cõi khác để mình sống.
Sống thực như mơ. yêu đời như mộng. Tôi cảm động trước trái tim nghệ sĩ tận hiến này. Có kinh nghiệm, nên ông mới nói, “Tôi mừng kể gì… Con đang đi giữa những cơn mộng trần gian, làm tất cả những việc phải làm trong mộng mà không hề thấy có ai đang làm cả. Bọt nước rồi sẽ tan đi, tất cả chỉ còn là đại dương.” (tr. 160)
Tôi thích đọc những chuyện như vậy của Phan Tấn Hải. Nhưng ông đã nói thế này,
“… Tôi ngạc nhiên, tự nghĩ, sao lại có ai mê đọc mình như thế.
… Tôi đáp, như thế cũng là cái nghiệp… vì mê văn, đọc văn, quyến luyến văn là sẽ ở mãi cõi này; chỉ nên đọc cái gì làm mình không dính vào chữ nào nữa.”
Vì mê như tôi thì e… “lại bận rộn thêm một đời tương tự…”.
Nhưng tôi không biết sao một khi chưa đạt đến trình độ đọc cái gì làm mình không dính vào chữ nào, trong khi những truyện như vầy của Phan Tấn Hải thì đang làm mình rất vương tơ với cuộc sống hiện tại rất đẹp, trong khi một đời tương tự kia thì còn mơ hồ quá,… “làm sao được, vì mùi hương vẫn bay quanh tôi, thoang thoảng…” – mùi hương của cuộc sống này. “Đuổi bắt hay trốn chạy đều sai, đều trật”. Thôi thì, ráng như câu cuối của Đuổi bắt một mùi hương, “các pháp tự thân đã là vắng lặng, dù mùi hương có đến hay đi…”.
Trong truyện Vết son ơi, quên nhau là chuyện khó, ông nói, “ vì với người phát tâm xuất gia như nàng, có khi chỉ một nụ hôn cũng có thể kéo nàng đi chệch thêm nhiều kiếp sau…
… Em cũng biết là mỗi một chữ viết ra đều gây thêm nghiệp lực trùng trùng. Nhưng chẳng biết làm sao cả.” (tr. 156)
Với lòng chân thành e dè, tôi cầu nguyện, nếu điều tôi viết ở đây khiến tạo nên nghiệp, có làm chệch đi thì xin chệch một chút xíu thôi ở ngay kiếp đang sống này, là người Mộng chuyện Mộng sẽ thành Thực đôi ba lúc, để ai đó, như tôi bây giờ, được nương náu chút bình an, được hít thở vẻ đẹp thực trong cõi ta bà chìm nổi này…
HỒI CHUÔNG BUỔI SỚM (truyện thứ 29 tr. 278)
Đây là truyện cảm động khiến tôi run rẩy khi đọc, những dòng chữ mở ra tôi những hạt nước mắt. Tôi tin đây là một truyện thực, việc thực người thực, và đẹp như mơ. Việc làm của nhân vật chính phải nói là không tưởng, kiệt xuất đến nỗi thành linh hiển, như Cha xứ đã nói với anh: “Vấn đề không phải là tìm đến những đền thờ, mà chính thân này sẽ là đền thờ linh thánh nhất.” (tr. 285)
Chỉ với câu nói ấy, truyện đã đầy hương hiện thực huyền ảo.
Tôi tin sự hiện diện huyền ảo của loài hoa, không tên, mơ hồ xuất xứ, nó ở đó theo tuổi của thời gian, cùng niềm tin của giáo dân, và là linh hồn chàng nhạc sĩ đã dùng tiếng đàn thay cho hồi chuông ban sớm bị cấm.
“Trước nhà thờ là một vuông đất nhỏ trồng một loại hoa mà không ai biết tên cả… Có lần một trong những nhà bác học đáng kính ấy đã thì thầm vào tai ông từ già một giả thuyết là có lẽ loài hoa đơn sơ và khiêm tốn ấy đã do những hạt giống ẩn kín nơi rừng sâu mà loài chim nào đó đã mang đến từ một mùa trốn lạnh. Sau đó, tất cả giáo dân đều cũng đã được ai đó rỉ tai như vậy. Và mọi người đều tin như vậy…” (tr. 278)
“Và bạn có dịp ghé nhà thờ, bạn sẽ thấy nhà thờ bây giờ đã có những hàng hoa kỳ lạ kia bao quanh sân nhà thờ…” (tr. 290)
Tôi cũng tin vào ánh sáng và âm nhạc huyền bí này. Không thể dùng lý trí, mà chấp nhận kỳ bí ấy như một tất yếu của niềm tin:
“Có đêm, bác giật mình thức dậy và ngạc nhiên khi thấy phòng cha sáng rực lên và như có tiếng nhạc thoang thoảng trong phòng. Khi bác đến thì chỉ thấy cha đang quỳ trước bàn thờ Chúa cầu nguyện trong im lặng của bóng đêm. Không còn chút ánh sáng hoặc âm nhạc nào cả.”
“Cháu tin như vậy. Cháu vẫn nghĩ tới hình ảnh của Thánh Phanxicô khi nhìn dáng dấp của cha. Có lần cháu đã thấy một đàn chim bay xuống quanh quẩn dưới chân cha.”
“Và nó chỉ bay lên sau khi cha đã ban phép lành, phải không?”
“Cháu không nhớ có điều đó hay không. Cũng không nhớ cha đã làm gì hay có nói gì với chúng không. Cháu chỉ nhớ là nắng buổi chiều hôm ấy rất đẹp. Nhưng chắc chắn là loài chim không nhầm lẫn như con người.” (tr. 280)
Khi đọc truyện này lần đầu, tôi đọc với tư cách người đọc, nhưng khi đọc lần thứ hai, tôi là một người hành hương trên những dòng chữ lời văn, tới nơi chiêm ngưỡng một huyền nhiệm vô nhiễm – Hương thơm của một vị thánh.
“… Có khi họ kể lại chuyện này theo một hình thức nào đó, thì họ gọi là “Hương thơm của một vị thánh”. Có khi họ kể lại dưới hình một hình thức khác gọi tên là “Bí mật của chàng trai can đảm”. Nhưng tôi sẽ viết lại đây một cách trung thực những gì đã xảy ra và chỉ gọi đơn giản là “Hồi chuông buổi sớm”” (tr. 278)
“… Gần ngôi nhà thờ là nhà của hai chàng trai nhỏ. Người anh tên Hiến, người em tên là Nguyên. Mẹ của họ đã mất từ lâu. Người cha là một thiếu tá Thiết giáp… Vào năm 75, Hiến được 20 tuổi, còn Nguyên thì 15 tuổi. Vị Thiếu tá kỵ binh đã vào trại cải tạo. Hiến phải bỏ dở năm thứ hai trường luật để xoay sang nghề sửa đồng hồ…” (tr. 279)
Thực tại, một nếp nhà đang bị xáo trộn, và người thì sống như đang chờ đợi những bất trắc.
“Hiến ôm đàn ra ngồi chơi trên chiếc băng ghế bên sân nhà thờ nhìn xuống giòng sông. Những tia nắng chiều vàng lấp lánh cuốn theo những gợn sóng lặng lờ trôi đi dưới chân chàng một cách bình an… Và đôi khi cha xứ cũng đến ngồi bên cạnh. – Cha tin rằng âm nhạc có một sức mạnh có thể làm con người tốt hơn. – Con đôi khi cũng tin là âm nhạc có thể làm con người tốt hơn, nhưng thường thì con thấy trần gian đang càng lúc càng xấu đi.” (tr. 279)
Và tôi thấy trên đường hành hương, một nét đẹp trang nghiêm thiện lành của Cha xứ:
“Dáng gầy gò của cha tô đậm thêm màu áo đen vẻ khắc khổ. Mái tóc trắng bay bay trong gió chiều như những lọn mây trắng một hôm nào đó đã vướng phải vầng trán thánh thiện của cha và không rời đi nữa…” (tr. 279)
Và nghe ngân vang hồi chuông ban sớm mỗi 4 giờ rưỡi sáng, huyền ảo trong tín tâm giáo dân:
“Có một buổi sáng, Con nghe cả tiếng Cha giảng bay theo từng hồi chuông đến nỗi con không tin vào tai con nữa…
Trừ kẻ:… “Bọn công an họ bảo là tiếng chuông ban sớm của nhà thờ quấy rối bọn họ… mang theo những giấc mơ khủng khiếp đến với họ.” (tr. 283)
Rồi, có lệnh cấm nhà thờ đổ chuông sáng sớm trừ ngày Chủ Nhật.
““Thưa cha, thế là bây giờ con không được nghe hồi chuông buổi sớm nữa?” Cha xứ quay sang nhìn chàng và mỉm cười: “Vấn đề bây giờ của giáo dân không phải là chờ nghe những hồi chuông mà tự mình phải trở thành những hồi chuông. Vấn đề không phải là tìm đến những đền thờ, mà chính thân này sẽ là đền thờ linh thánh nhất.” (tr. 285)
Và nhân vật Hiến đã làm một việc – kiệt xuất, đến linh hiển,
“… Buổi sáng chàng đã dậy thật sớm và len lén ôm đàn bước ra ngoài trong khi cậu em còn cuộn mình trong chăn. Ngoài trời, gió đêm buốt giá hắt vào mặt chàng. Chàng bước vòng ra sau nhà và leo lên mái nhà bằng một chiếc thang giác sẵn trước khi ngủ. Chàng chọn để ngồi ở một nơi cao nhất trên mái nhà, lưng tựa vào ống khói. Chỗ ngồi không có vẻ thoải mái lắm. Còn nửa tiếng nữa mới tới bốn giờ ba mươi. Chàng mò mẫm những nốt nhạc trên cần đàn khe khẽ như sợ đêm sẽ tan ra dưới những ngón tay của chàng. Ở trên trời không một vì sao. Từng đám bụi trên ống khói dời ra mỗi khi chàng hơi cử động...
Khi đồng hồ tay chỉ đúng bốn giờ ba mươi, chàng bắt đầu đàn một cách nghiêm chỉnh. Đầu cúi nhìn xuống cần đàn chăm chú, mặc dầu những ngón tay và phím chỉ thấy được lờ mờ. Ngón tay di chuyển nhanh nhẹn chụp lấy những sợi dây, lại rời ra, nhảy qua ngăn này tới ngăn kia theo một dòng nhạc chàng mới soạn trong khi trằn trọc đêm qua. Chàng đàn say mê những nốt nhạc mạnh mẽ như sợ không bao giờ được cầm đàn nữa. Bản nhạc chỉ kéo dài 15 phút. Khi chàng rời những hợp âm cuối cùng ra, thì đầu đã như gục hẳn xuống cây đàn. Chặp sau, chàng mới lừng lững đứng lên leo xuống. Dưới chân thang, Nguyên đã đứng chờ sẵn: “… Tiếng chuông nghe rõ và vang lắm. Giống lắm. Em không ngờ là anh đàn hay đến thế.” (tr. 286)
Chàng trở thành hồi chuông, chàng trang nghiêm thân mình là đền thờ linh thánh, cứ thế mỗi sớm chàng leo lên mái nhà ngồi đàn thay cho hồi chuông 4 giờ rưỡi sáng, mà: ngay cậu em dưới chân thang cũng không thể phân biệt được với những hồi chuông của nhà thờ. Mà ông từ nhà thờ cũng “Tiếng chuông thật đấy”, Cha xứ bảo: “rồi tới một lúc không cần tới con người kéo chuông nữa, mà ngay đến một cọng cỏ, một lá hoa ở ngoài sân nhà thờ cũng tự vang lên những hồi bất tử ấy.”
Cho đến một ngày, tiếng đàn chuông của chàng bỗng thay đổi,
“Và tiếng đàn không còn là tiếng chuông thuần túy nữa. Anh đã nghe có tiếng vó ngựa dồn dập bay giữa những hồi chuông. Anh không còn kiểm soát được những ngón tay nữa, những hồi chuông như không còn phát xuất từ dây đàn nữa, nhưng đã từ khắp các tầng trời đổ xuống và sau đó là những hồi kèn xung trận…” (tr. 289)
Và, “…Dòng máu kỵ binh của Ba như sôi sục trong người anh. (tr. 288)
Và, “… Từ ba ngày nay, anh đã quên mất phần nào bài kinh Hòa Bình đọc mỗi tối.
Rồi “… không ai gặp Hiến nữa. Ngay cả Nguyên cũng không biết chàng đi đâu. Những người bạn thân của chàng cũng không đến nhà ga đó nữa. Không ai còn nghe được tiếng chuông kỳ lạ đó nữa. (tr. 289)
Chàng đi đâu?
Người mà dùng tiếng đàn của mình thay cho hồi chuông sớm bị cấm, để giữ lại phần thiêng liêng cuối cùng cho niềm tin, chàng đi đâu?
Người mà dùng tiếng đàn như một hành vi kháng cự thánh thiện, gióng lên tiếng chuông lương tâm cao hơn mọi mệnh lệnh, chàng đi dâu?
Người mà dùng tiếng đàn mình thay hồi chuông để cứu phẩm giá mình và mọi người, để ngân trong hàng hoa trắng lịch sử thầm lặng, chàng đi đâu?
Chàng không hô khẩu hiệu, không nói gì lớn lao, chàng chỉ đàn, gánh ước mơ, đau khổ của mọi người vào ngón đàn bật máu của mình, chàng đi đâu?
Vào thời mà, “…Thời đó, ngày đi rất chậm, đêm đi rất buồn, gió gần như chẳng muốn lay động, bởi vì đất nước vừa mới thống nhất cho nên trái đất lười biếng xoay quanh mặt trời” (tr. 303), thì họ đi đâu, những nhân vật trong những truyện Giọng nói trong tim, Táng treo, Hạnh ngộ bên trời Đại Lý…? Có phải họ đã nhắp men rượu lịch sử để thấy rỡ ràng hồn thiêng sông núi, họ đi, cô đơn, ngục tù, chết chóc, với ánh mắt thăm thẳm của Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học trong cái khép mắt cuối cùng của họ?
Những truyện này đánh động chúng ta cái nhìn lại về giá trị của những hy sinh lặng lẽ trong cuộc chiến đấu không cân sức để khôi phục lại lý tưởng đã mất.
Tập truyện Đuổi bắt một mùi hương ngoài giá trị văn chương còn lưu giữ ký ức một giai đoạn lịch sử.
Và đeo đẳng người sống là câu hỏi ám ảnh, “Những người đã chết, một đôi khi tôi nghe được họ hỏi tôi – Kỳ lạ thật, bây giờ lại vẳng theo giọng nói của thằng bạn tù của mình nữa – này kẻ sống sót, này thằng nhóc, cậu đang làm gì thế.” (tr. 251)
Vâng, chúng ta đang làm gì? Chúng ta mang ký ức thay cho những người đã mất, và có trách nhiệm với những gì ký ức đó đòi hỏi, cho các thế hệ sau nhìn đúng lý do sự lưu vong của hàng triệu người Việt Nam kể từ năm 1975. Và như Nguyên, chúng ta đọc bài kinh Hòa Bình mỗi đêm, cầu nguyện cho nhau, cho thế giới, cho niềm tin và hy vọng. Và như thế, với Chàng, với Phan Tấn Hải: Chỉ cần điều đó thôi, cũng đã đủ để sống và để mất.
KẾT TỪ
Chúng ta hiểu được vì sao ông viết, và sẽ còn viết mãi:
“… Mọi chuyện y hệt như tiền định… tôi ăn, ngủ, cười, nói, đi, đứng, nằm, ngồi đều như thấy mình tắm gội trong chữ, hít thở với chữ, tất cả đều làm tôi vui. Đây không phải là những gì có tính mê hoặc, mà chỉ là niềm vui rất đơn sơ, như dường tự nhiên là không có gì thay thế chữ được.” (tr. 322)
Văn chương ở đây là cái gì như níu mình lại với cái đẹp vô cùng của giản dị, chân thật. Và dường như không một sức mạnh nào đẩy tôi ra khỏi chân trời Hạnh Phúc của Chữ cùng niềm vui đơn sơ của người viết – một tác giả có cái nhìn minh triết về nhân sinh, cái nhìn thơ mộng về nhân tình, cái nhìn nhân bản về thế thái.
Nhà văn nói như nói thầm, rằng “Tôi viết để tan ra, để không còn là tôi, để trở thành một phần của dòng chảy.”
Vâng, ông là một phần của dòng chảy văn học Việt Nam đương đại.
Là một phần của dòng chảy trong cuộc sống này, trong tâm thức những ai còn lòng trắc ẩn và nhân ái.
Tôi tin là chúng ta đã chạm được mạch ngầm của dòng chảy đó. Xin cứ để yên nỗi xúc động nơi gặp gỡ diệu kỳ ấy, một nỗi xúc động tận cùng của tĩnh lặng, của cảm thông, và thức tỉnh.
Upland, tháng 1-2026
Bài viết hôm nay tôi có xen vài đoạn của bài viết trước, Bạn đọc có thể xem bài viết đó, tại đây https://sangtao.org/2016/03/28/phan-tan-hai-nguoi-toi-nhu-mong/
[1] Tuyển tập Đuổi bắt một mùi hương, Văn Học Press & Việt Báo Foundation đồng xuất bản, 2026.
[2] Tên một truyện trong Đuổi bắt một mùi hương.