Truyện ngắn của Đa Mi
Còn nhớ đồi Ma chứ? Ừ, đúng, chỗ bọn mình đi đào cái gốc bằng lăng về làm bonsai. Giờ người ta khoanh vùng, không cho vô đó nữa. Họ làm một căn cứ quân sự. Hôm qua mới biết. Một quá khứ đã bị chặt lìa rồi.
Tôi viết cái email ngắn và nhấn send. Sáng nay trời âm u nhiều. Thời tiết của kỷ niệm. Hồi đó, trời vầy là nghỉ, không đi làm. Bọn tôi sẽ đạp xe vô rẫy của một thằng, bắt con gà, vớt con cá, hì hụi nổi lửa.
Mưa càng to, vui càng bự.
Nhưng Saigon âm u thì lại khác. Nhớ, và ướt sũng trong cơn nhớ cũng là một ân sũng. Nói ân sũng cho to, thực thì, được toàn tâm toàn ý để nhớ cũng là của hiếm.
Những cơn mưa kéo dài từ chiều qua đêm có hấp lực khó cưỡng. Tôi luôn muốn nhúng mình đẫm trong đó. Lý tưởng nhất là bỏ một chai rượu, cây đàn, máy ảnh vô cốp xe và lên đường. Một mình. Không chọn đường, không định chỗ.
Cách mình đi đó là cách tôi thấy được sống đủ nhất. Đó cũng là lúc nghe nhạc thích nhất. Con đường phía trước và âm nhạc chung quanh. Hết.
Lâu rồi tôi không có được những chuyến đi như vậy. Lý do thì có một ngàn. Nhưng lớn nhất, là tôi đang bị cái chây ì thị dân đóng dính vô.
Tôi đã có 30 năm sống ở phố, nhưng dường như chưa đủ để tự thấy mình thuộc về nó. Một kiểu nước đôi. Không phải loại bi kịch “không thuộc về nơi nào”, nhưng có những giằng xé, mơ hồ đâu đó.
Điện thoại báo có mail. Là thư trả lời. Một icon gương mặt mếu. Và một câu ngắn: Nhớ mùi mưa!
Chỉ là cách để tôi níu hờ lại ký ức, từ cái hộp mail. Vì hiện tại đang là một câu chuyện khác. Hiện tại đang tới, đúng bằng một tin nhắn: Trưa thu xếp ghé Dạ Lan nhé. Tớ sắp về lại bên kia rồi.
Tôi chỉ đọc từ thông báo ngoài màn hình. Điều đó tốt vì bên kia sẽ không thể biết mình đã nhận và đọc chưa. Tôi không chắc mình sẽ đi. Không phải vì lười biếng. Chỉ là những khi không khỏe, tôi ngại tiếng ồn.
Ở đô thị này, gần đây có nhiều tiệm hát với nhau. Một cách để người trung niên tìm vui. Hát, với guitar thùng và violon, hoặc kém hơn một chút, với một cây organ, cũng là cách để nhiều người thấy mình vẫn là mình.
Tôi thỉnh thoảng vẫn ghé cùng bạn bè. Nhưng không ham lắm. Lý do, thì cũng tương tự chuyện đi, có tới một ngàn. Nhưng hôm nay thì phân vân.
Người nhắn tin mời là một bạn vong niên, anh ở hải ngoại về. Và sắp quay lại nơi anh định cư.
Thôi cứ để đó.
Giờ thì tôi muốn khởi đầu sự nhớ nhung của mình trong tiết trời âm u này đã.
***
Con bé chặn tôi lại, ỉ ôi nhờ vả, chú giúp con, câu thêm một con cá nữa, là đủ. Nó đã ở đó, hằng giờ, chú mục vào cái trò chơi online và để kết thúc, nó cần một dấu vân tay khác, một quyền trợ giúp. Tôi gật đầu, làm theo cách nó chỉ trên cái tablet của nó và nhận từ nó một lời cảm ơn.
Công viên chiều nắng vẫn rát. Mấy cái lá vàng rớt xuống, như không hề bay liệng chút nào trong không khí.
Tôi hỏi nó chỗ mình phải tới. Nó nhoay nhoáy bấm bấm chọt chọt, chỉ cho tôi rẽ phải rẽ trái, đi thẳng... Nhìn mớ hổ lốn chằng chịt trên màn hình, tôi chào thua. Thời may. Thằng cu có đôi khuyên tai bước tới, nói, chỗ ông này tìm là ngay đây mà!
Cô nhỏ tròn mắt dòm nó: Sao mày biết?
Thằng cu đưa tay níu cái khuyên tai của chính nó: Tao mơ cùng giấc mơ với ông này!
Tôi nghe sống lưng lành lạnh. Muốn hỏi mà môi miệng không mấp máy nổi. Con nhỏ xếp cái tablet bỏ vô balo, ngáp không thèm che miệng: Vậy tao lầm. Tao mơ chung với một ông có lẽ giống ông này nhưng không phải là ông này. Và nó vẫy cái bàn tay nhỏ xíu chào tôi rồi quay lưng bỏ đi.
Thằng cu chỉ xuống dưới chân nó: Chỗ ông tìm ngay đây!
Mẹ kiếp, giấc mơ đêm qua, hay tôi cũng đang đẫm trong ú mớ ngay lúc này đây, chỉ dẫn tôi, vào một nghĩa trang, đi tìm huyệt mộ chính mình.
Tôi vẫn đang mở mắt, tự trấn an mà nói với thằng nhỏ: Mày nhầm người rồi!
Rồi bỏ đi. Bước chân lạt xạt trên lá khô. Lá rất nhiều, không cứ là mùa thu. Xứ nhiệt đới, mưa rồi nắng. Xứ vàng da, mỗi năm chỉ một mùa: mùa xa xót!
Vẫn tiếng bước chân phía sau, không ngoảnh đầu, tôi cũng biết ai đang đi theo mình. Nghe mệt mỏi khôn cùng, tôi ngồi xuống. Nó cũng tới, ngồi xuống cạnh tôi, con mắt như cười cợt. Nản lòng, tôi buông một câu: Rồi sao nữa?
Nó lại chỉ ngay dưới chân tôi: Đó đó! Tôi gắt: Cái gì đó đó? Nó đứng dậy, giơ tay chào kiểu nhà binh: Cái huyệt của ông, nó ở ngay dưới chân ông, không cần phải tìm đâu!
Tôi điên máu, nhổ một bãi nước miếng, quay mặt chỗ khác. Nó chẳng lý tới, cứ lạnh tanh nói: Ông khờ bỏ mẹ, cho con nhỏ đó dấu vân tay ông rồi.
Tôi vặc: Nó đi làm sinh trắc tính cách tao à? Thằng cu cười: Ông làm quái gì có tính cách. Nó giữ vân tay ông, nghĩa là ông cũng không chết được. Dở dở ương ương lay lay lắt lắt một thân trung ấm vậy.
Là cùng lắm thì cũng một cô hồn vô chủ, như giờ đây thôi, tôi lảm nhảm!
Thằng cu ghé sát mặt tôi, nghe rõ khuyên tai nó lủng xẻng: Ông biết vì sao bọn nhà binh đưa tay chào vậy không?
Tôi lắc đầu. Và nó bỏ đi!
***
Vài bóng cây đổ xuống, không đủ khỏa lấp cái nắng đô thành mùa bê tông. Nhưng đó là hang ổ tốt nhất của thằng nghiện thuốc lá. Khổ thân thằng nghiện. Những thằng nghiện ngày một hiếm đi và bị cạch mặt, ghẻ lạnh ở khắp mọi nơi.
Tôi thương cảm cái thằng nghiện trong tôi, dù biết nó chẳng hay ho gì. Và cũng chưa bao giờ nghiêm túc nghĩ mình sẽ bỏ hẳn cái món khói trời bay lên cây.
Chỉ giản dị biết mình là một giống gì đó rất mơ hồ, thiếu thốn, vô cùng, mà thiếu nhiều nhất là muôn vàn lòng dạ quyết tâm.
Cái cao ốc văn phòng tôi làm ké, cũng còn vài thằng nghiện như thế. Đa phần, là các chú lái xe cho chủ. Thỏn mỏn vài bóng cây.
Nhóm người ngồi ở đây không hút thuốc thì cũng quẹt điện thoại, hoặc cả hai.
Tôi trở thành khách quen của họ. Họ nhận tôi, như nhận một tai nạn chung nhất, với những nụ cười kiểu ok, ok, bọn mình bịnh in hệt nhau mà.
Một tài xế - triết gia, thỉnh thoảng dúi cho tôi vài câu hỏi trời ơi, kiểu, sống để làm gì, chết đi về đâu... Mệt xác với những mệnh đề kiểu Mark Zuckerberg bạn đang nghĩ gì. Mặc kệ triết gia tài xế, tôi cứ yên yên nhả từng bụm khói.
Hôm nay, vừa leo bốn tầng lầu xuống thì đụng mặt cán bộ đường lối kiêm triết gia.
Tôi chìa cho lão một điếu, và tẩn mẩn kể cái giấc mơ con nhỏ chơi game đang giữ cái vân tay của tôi và thằng nhỏ đeo khuyên tai cao đạo.
Triết gia cười khùng khục: “Đù mẹ nhỏ lớn giờ mới thấy cái ông mơ bự chảng như ông. Tính tỷ lệ dân tộc, ông là của hiếm đó”. Lão bấm ngón tay tính toán rồi khoe: “Ông thuộc 0.17% người Việt quý hiếm!”.
Tôi mồi thêm một điếu nữa cho bõ công leo lầu, và chuẩn bị chuồn lên cái chuồng của mình cày trả nợ đời, thì lão níu lại: “Nè, thằng cu nó nói ông đếch có tính cách hả?”. Tôi ờ. Lão ra chiều thương cảm: “Có buồn không?”. Tôi nói, đù mẹ, đó là mơ, can cớ gì phải buồn.
Lão lắc đầu: “Nó nói đúng quá đó chớ. Nhưng buồn quái gì, hơn chín chục triệu dân xứ này in hệt tôi và ông, nghĩa là đếch có tính cách”.
“Nhân loại này cơ bản cũng vậy a. Có hai loại, mà loại đếch có tính cách thì nhiều vô thiên”.
Lão chìa tay xin thêm điếu thuốc rồi tiếp tục bài kinh khô mùa nắng cháy: “Tôi ngẫm mãi thì con người ta có hai loại, hoặc hai loại rưỡi. Một là loại phát kiến, hay là loại có tính cách. Chính loại này làm nên lịch sử tối tăm của chúng ta đây.
Và loại kia là loại thực hiện. Cũng như con kiến, bầy đàn làm chân sai vặt đầy ra đó. Ngay cả mấy chính khứa bây giờ, có oai cai trị thì cũng chỉ là chân sai vặt của lịch sử. Cho nên không việc quái gì phải buồn”.
Tôi buồn quái gì đâu! Đôi khi hoang mang vì cái giấc mơ hợm đời đó, buột miệng mà kể vậy! Nhưng còn cái loại hai rưỡi thế nào?
À, cũng có vài đứa có khả năng là người phát kiến và biết luôn cả việc thực hiện. Đám này không nhiều, đa phần là trộm đạo!
Tôi dúi luôn gói thuốc còn hơn nửa cho lão, coi như hối lộ để chuồn. Và chuồn một lèo vô đúng cái chuồng của mình. Cả một buổi sáng, không còn dám bước xuống nữa!
***
Tôi ghé Dạ Lan. Lý do là trời đã hừng nắng lên. Cơn mưa tôi chờ đã không tới. Anh bạn vong niên gật gật cười cười. Trên bàn có một chai rượu mạnh.
Quán chỉ có đúng một bàn khách, là bọn tôi. Và một nhạc công, một tay guitar sầu đời, quen mặt. Tay guitar hay tự trào, nhạc công gì tôi. Là nhạc cụ mới đúng. Chơi lâu quá không chen lên hàng sao được thì kêu bằng cụ là đúng quá rồi.
Lão thấy tôi thì mừng. Tôi có thể đánh giúp lão dăm bài để lão xuống bàn khề khà vài ly. Lão luôn có mùi rêu. Tôi chơi guitar không giàu có gia vị như lão, nhưng cũng đủ sạch để người hát không quá khó chịu.
Bàn có thêm dăm người nữa. Không thân không sơ. Chỉ là cái vòng kết nối của anh bạn vong niên. Có hai nữ. Một làm báo và một làm thời trang. Họ hát khá ổn.
Vì các nhân vật trong câu chuyện này không có một cái tên nào, nên tôi sẽ gọi họ theo cách tôi nghĩ. Là cô nhà báo và cô nhà may. Đôi khi gọi một cái tên lại sợ trùng một cái tên, gây những xôn xao phiền toái không đáng. Thôi thì cứ khuyết danh cho tiện.
Tôi dễ chuyện trò với cô nhà may hơn cô nhà báo. Không phải vì nghề nghiệp hay ngoại hình. Chỉ là cô nhà may cũng là dân nhập thành như tôi.
Dường như tôi đọc được từ cô tính nước đôi lưng chừng phố lưng chừng quê đó, nên dễ nhận nhau hơn.
Tôi không giỏi rượu. Nên chỉ nhấm nháp gọi là. Mọi người tạm ngưng hát. Lão nhạc cụ buông đàn xuống vỗ vai tôi: Mạnh giỏi hả? Cữ này có đi đâu không?
Tôi nói dà, mạnh giỏi, lâu nay chỉ làm con gà què ăn quẩn cối xay thôi. Lão cười: Gió heo may đã về. Tuổi già không chừa ai đâu!
Anh vong niên kể về trại gà của anh ở xứ người. Đại khái là gà, gà và gà. Sáng mở mắt gà tối đi ngủ cũng gà. Nhưng sống ổn. Thiên tai dịch hại có bảo hiểm lo, không phải rúm ró như ở đây.
Nhưng anh chốt hạ: Sống với gà vậy, nhưng về xứ mình thì món đầu tiên tôi tìm phải là món gà bung muối ở Đức Linh. Đợt này không ghé được, nhưng đợt sau về thì tôi phải bưng hết anh em mình lên đó.
Con người mà. Dù có là triết gia, nghệ sĩ, doanh nhân, chính khách thì ăn vẫn là thứ ịn lên đầu tiên trên bản đồ gene. Cả bàn hào hứng góp chuyện ăn. Món nào ngon. Chỗ nào hợp. Cô nhà may quay sang tôi: Anh thì thích món gì?
Tôi nói cũng tùy khi. Nhưng món tôi sợ nhất là hủ tiếu. Cô dòm sững: Sao?
À, tôi ký sổ bà hủ tiếu gần nhà nhiều quá. Đúng hơn là sợ bà hủ tiếu chứ không phải sợ tô hủ tiếu.
Mọi người cười vui. Vậy, rồi đột ngột lão nhạc cụ ghé tai tôi hỏi nhỏ: “Có còn gặp con bé chơi game với thằng cu xỏ khuyên ở công viên không?”.
Có gì đó lùng bùng lục bục trong đầu! Lẽ nào lão nhạc cụ cũng mơ chung với tôi một giấc mơ? Hay, cái bùng nhùng của tôi có liên đới tới lão? Hoặc giả, đây đang là những thân trung ấm như khói là đà chạm vô nhau?
Tôi vờ như không nghe. Điện thoại rung nhẹ. Tôi nhấc lên. Là email: “Cây bằng lăng bonsai còn sống chứ?”.”Còn. Nó sống tốt!”.
Tôi nói láo. Tôi bán nó rồi. Người ta trả giá tốt quá mà.
Ba đứa đi đào nó. Đất nhão vì mưa đẫm, quá chật vật. Một đứa dòm trời nói: Căng rồi, về thôi, coi chừng suối Chà Răng. Nhưng hai đứa còn lại hăng máu, cố xác đào. Xong thì mưa ào ạt. Nước thượng nguồn xối xả đổ về. Suối Chà Răng ba bước nhảy giờ như lũ hoa đào sông Tiền Đường bên Tàu.
Bọn tôi phải ba đứa dìu từng chiếc xe đạp, men bờ đá mà đi. Nước xiết đã xém cuốn trôi một đứa. Một trăm mét phía dưới là thác Ông Ơn, tuột xuống đó là coi như xong. May mà còn vói tay níu kịp.
Mà, giữa lằn ranh sống chết đó, mắt tôi lại đóng băng vô những đường cong con gái sau lớp áo quần sũng nước hằn lên da thịt. Mà, như là tôi nhận lại được một thoáng nhìn đồng lõa.
Bọn tôi đào cái gốc bằng lăng này vì có người ở phố muốn mua nó. Nhưng rồi không thấy họ quay lại. Tôi giữ lại ở nhà mình. Cũng không mấy chăm chút. Mở mắt ra là rừng nguyên sinh, ngày tháng đó, không nhiều người cần nó, dù dáng nó khá lạ.
Tôi đàn cho cô nhà báo hát. Một bài hát của Từ Công Phụng. Tiết tấu gốc chậm, buồn, đúng hồn cốt của ca từ. Nhưng cô muốn tôi đi nhịp bốn, nhanh hơn. Đánh, không hứng thú.
Người hát nhận ra, hát giữa chừng thì buông micro, kiểu như hờn lẫy. Tôi ngại quá, nói xin lỗi, cô hát lại, để anh nhạc cụ lên đánh cho nó đúng.
Cô ơ hờ không thèm trả lời. Nhưng vẫn ở lại cái bục giả sân khấu. Lão nhạc cụ cười hô hô: Ông hại người đẹp của tôi rồi.
Tôi về chỗ mình. Nhấp một hớp rượu rồi ngó ra ngoài. Trời lại âm âm ủ một cơn mưa.
Tôi nói với anh bạn vong niên: Giờ tôi về, có vài việc phải làm. Anh chơi vui, nếu trước ngày đi nhín được chút thời gian thì anh em mình cụng cái. Không thì tôi chúc anh thượng lộ bằng an!
Anh nói cám ơn, dịp này chắc khó, nhưng chừng nửa năm nữa lại về.
***
Tôi vô thang máy, xuống chỗ đồng bọn có lão triết gia lái xe. Có một cô từ lầu trên xuống ở sẵn trong đó, cứ dòm tôi mãi. Tôi hỏi: Sao dòm tôi?
Cổ: Làm ở đây hả?
Tôi ừ, làm ở đây, có sao không?
Cô nói: Tại thấy ở đây toàn người trẻ trẻ không hà.
Tôi cáu: Ủa, bộ tôi già lắm hử?
Cửa thang máy mở, tôi bước ra, còn nghe sau lưng mình tiếng cười khúc khích đáng ghét. Nhưng đúng, cái tòa nhà văn phòng nhỏ nhỏ này, toàn cổ cồn trắng choai choai. Tôi thuộc hàng cha chú họ. Công việc của tôi đúng là của người trẻ. Nó là chuyện quảng cáo tiếp thị của thời số hóa. Digital Marketing.
Tôi có công việc này vì sự gởi gắm của vài người bạn khi tôi nói muốn thay đổi cho hồn mình lai láng trẻ dại chút. Và chạy đua với nó mệt đứt hơi.
Hồi bọn tôi đào bồn, đắp bờ cho cây café cũng mệt vậy. Mùa mưa thì làm việc khác. Nắng là phải đào và đắp. Mỗi cây cần đâu đó một cái hố ngang mét rưỡi dọc mét rưỡi. Bờ nổi cũng phải năm tấc và rộng cũng y vậy. Cây café mùa nắng cần nhiều nước. Mỗi cái hố cỡ vậy mới đủ cho nó trữ nước tầm nửa tháng trước khi người ta tưới đợt kế tiếp.
Đào bồn mùa nắng thì khỏi nói. Đi tiểu ra máu là bình thường. Cái Digital Marketing này, với tôi cũng vậy. Chạy trối chết với thuật toán thay đổi mỗi ngày của các nền tảng social network. Nhưng cũng quen dần.
Lão triết gia tài xế đang ngồi ở bệ xi măng cắm mớ trúc giả, tay cầm một ly nhựa café, mắt mơ màng đâu đó. Tôi ghé ngồi kế bên, cũng không chào hỏi gì, bật quẹt mồi thuốc.
Vậy, mà té ra lão không có mơ màng. Lão nói, kiểu như tôi với lão đã ngồi lâu lắm: Ông có công nhận với tôi không, đời này chỉ có hai loại người, một có tính cách và hai, không có tính cách…
Tôi cắt ngang: Đù mẹ, tôi thì chỉ thấy có hai loại người, một, mặc áo cài nút từ trên xuống và hai, cài nút từ dưới lên!
Lão cười sặc lên. Cười chảy nước mắt. Tôi cũng bị lây, cười theo. Cũng sặc sụa chảy nước mắt. Cái sân nhỏ, dăm bảy người đang đứng chờ gì đó, quay lại dòm hai thằng già. Cái cô trong thang máy cũng vậy. Tôi cố đọc khẩu hình, nghe như cô đang nói đúng một chữ: Khùng!
Lão triết gia ăn lương tài xế đưa ly café cho tôi: Của ông nè. Tôi dòm lão thay cho một câu hỏi. Lão cũng dòm lại: Ủa? Nãy có thằng cu đeo khuyên chạy qua đây nói ông nhờ nó ship qua mà?
Tôi giả vờ à à, tôi quên!
Trời đất cứ lộn tùng phéo lên vầy, làm sao sống chớ!
Cái điện thoại kéo tôi về lại. Một email: Hôm bữa nói gì quá khứ bị chặt lìa? Nó còn nguyên đó nha. Bên đó có đang mưa không? Nhớ mùi nó kinh khủng!
Tôi nhớ cuộc chia tay.
Rừng nguyên sinh nơi bọn tôi lớn lên, toàn những cuộc chia tay. Kinh tế mới, nơi đóng váng những gia đình sỹ quan, viên chức Việt Nam Cộng hòa tơi tả đổ về. Phá rừng cây đổ, chết. Cuốc đất mìn nổ, chết. Suy dinh dưỡng, ăn thịt cóc, trúng mật, chết. Sốt rét rừng, đặc trị Xuyên tâm liên, chết.
Rồi đùng đùng HO, giấc mơ Mỹ mời gọi, cứu rỗi. Tôi chia tay cả hai đứa cùng đào gốc bằng lăng như vậy.
Nhiều đêm trước một cuộc chia tay, tôi và nàng, một trong hai đứa đó, cứ xoắn xuýt tìm cách tách riêng ra, trong khao khát rát bỏng. Rồi khi có được cơ hội, dưới bụi tre khuất mặt con người, quấn lấy nhau, nức nở, không lời.
Ba mươi năm, đôi khi vẫn bỏng rát khi gửi cho nhau hay nhận từ nhau một cái email. Không rời ra được. Cả khi cơn mưa ụp xuống. Đẫm nước. Những cái hôn chới với, thơm mùi mưa, đọng mùi mưa.
***
Mưa hoài hoài không nhỏ
nhà ta đơn chiếc những cọng rời
cái lá còng queo thèm diệp lục
như ta cần đâu đó non tươi
Nghe mưa nghe nhỏ
giọt hiền khô thất lạc chỗ ta ngồi!
Tôi ra công viên. Và tôi thấy con nhỏ. Nó vẫn đang chú mục vô cái tablet. Tôi bước tới, cố để cái bóng mình đổ xuống che lấy nó. Nó ngẩng mặt lên, nhìn tôi. Cái nhìn có một ngàn dấu hỏi của một người không quen biết.
Tôi hơi khựng lại. Nhưng vẫn cố: Trả tao cái vân tay!
Nó: Chú, chú nói gì con không hiểu!
Tôi: Hôm trước, mày nhờ tao ịn cái vân tay để mày có thêm một mạng chơi game, nhớ không?
Nó chìa cái máy tính bảng ra: Con học bài chú ơi. Con chưa từng biết một cái game nào hết!
Lại thêm một cú choáng váng nữa. Tôi ấp úng xin lỗi rồi bỏ đi. Có cái ghế đá trống, tôi ngồi xuống, thở dốc. Từ phía xa, con bé vẫn thỉnh thoảng ngước lên dòm tôi. Thấy mình thật dị hợm, tôi bỏ đi xa hơn nữa. Chỗ này không có cái ghế đá nào. Tôi ngồi bệt xuống bãi cỏ.
Thằng nhỏ đeo khuyên tai đi tới: A, ông đây rồi. Café tôi gửi ngon không?
Tôi mệt mỏi quá, còn hơn đang đào một chục bồn café. Nói: Mặc mẹ mày, tao không biết! Biến đi.
Nó cười cười, ngồi xuống cạnh tôi: Bữa tôi có hỏi ông là có biết vì sao bọn nhà binh hay đưa tay lên trán chào không đó, ông có nhớ không?
Tôi nói: Tao nhớ làm gì mấy chuyện tào lao đó.
Nó nói: Thôi để tôi giải thích. Xong là ông tự hiểu hết mọi thứ hà.
Tôi: Ờ, vậy thì mày nên làm điều đó giúp tao!
Nó: Là hồi xưa bọn hiệp sĩ gặp nhau là phải hất cái mũ có mạng che mặt lên, ý là muốn đưa cái mặt ra để nhận diện, cũng là cách để ngầm báo với nhau chính là tôi đây! Riết, cái việc đưa tay hất cái mạng che mặt thành ra cái kiểu chào nhà binh bây giờ. Nó là cách để khoe ra cái mặt của mình, vừa tự hào vừa tự trọng. Ông cũng nên vậy, phải có cho được một cái mặt chớ. Hiểu ý tôi không?
Tôi nổi điên: Biến mẹ mày đi cho tao nhờ. Khùng điên gì đâu không! Nó cười khặc khặc, chỉ xuống đất nói: Chỗ của ông đây nè. Rồi bỏ đi!
Tôi mặc nó. Lòng dạ rối bời. Chỉ mong một cơn mưa xuống.
Lạy trời mưa xuống lấy nước tôi uống lấy ruộng tôi cày… Cái bài đồng dao đó chạy rạt rạt về, cố che tôi lại. Mưa đi mưa đi, đẫm lại một mùi mưa. Chỉ cần vậy. Chỉ cầu vậy!
Mai lạy trời cho gió
thổi trên miền xa xôi
mưa dậy thì nắng dậy thì biêng biếc
ta nhỏ nhoi hạt bụi cuối chân trời
Nghe mưa nghe nhỏ
giọt hiền khô thất lạc chỗ ta ngồi!