Nguyễn Hồng Anh

Nhà văn Nguyễn Khắc Ngân Vi phát biểu tại Diễn đàn về Phát triển Văn học Chất lượng cao tại Khu vực Vịnh Lớn Quảng Đông - Hồng Kông - Ma Cao, tại Bảo tàng Văn học Quảng Đông.
Tôi đã đọc bài phát biểu của nhà văn Nguyễn Khắc Ngân Vi tại Trung Quốc với một sự ngạc nhiên thú vị. Thực ra, ý quan trọng nhất cô đề cập đến không phải hoàn toàn mới lạ: Trong văn học di dân và văn học thiểu số, câu chuyện về tiếng nói, căn tính và quyền đại diện đã được thảo luận ngay từ đầu, từ nửa cuối thập niên 1990. Nhưng trước đây, tôi thường gặp nhận thức ấy ở những nhà văn gốc Việt sống bên ngoài Việt Nam, những người trực tiếp trải nghiệm việc mình bị đọc như một đại diện sắc tộc. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một nhà văn sống và viết hoàn toàn trong nước phát biểu rõ ràng, tỉnh táo đến thế về cái bẫy mà nhà văn Việt Nam có thể bước vào khi tác phẩm của mình đi ra thế giới.
Một nhà văn viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp có thể viết vài ba trăm trang về sự buồn chán, về một cuộc hôn nhân thất bại hay nỗi cô độc của cá nhân mà không nhất thiết phải trả lời xem tác phẩm ấy nói gì về dân tộc mình. Cái riêng tư của họ dễ dàng được đọc như kinh nghiệm phổ quát của con người. Nhưng cái riêng tư của nhà văn đến từ một nền văn học nhỏ thường bị yêu cầu phải chuyên chở một ý nghĩa tập thể. Như Ngân Vi nói: “Một nhà văn Việt Nam lắm lúc phải đối mặt với câu hỏi: Những dòng này thể hiện gì về nỗi đau lịch sử của dân tộc bạn?”.
Chính ở đây xuất hiện cái gọi là “cái bẫy của căn tính sắc tộc”. Khi nhà văn xuất thân từ một cộng đồng thiểu số (minority community), anh ta/ chị ta thường không được đón nhận đơn thuần như một cá nhân sáng tạo mà như đại diện của cộng đồng ấy. Tác phẩm của anh/chị được kỳ vọng phải trình hiện dân tộc tính theo cách mà nhóm đa số (majority) mong muốn nhìn thấy. Anh/chị được trao tiếng nói, nhưng đó có thể là một tiếng nói đã được đặt hàng từ trước, từ thị trường bán sách và tệp độc giả tiềm năng.
Nguyễn Thanh Việt từng phân tích rất sâu tình thế này trong cuốn Nothing Ever Dies:
“Minority writers know they are most easily heard in America when they speak about the historical events that defined their populations. These writers can speak of something else, but they are rewarded for speaking about their history and their race.” (Chương 7)
(“Các nhà văn thiểu số biết rằng họ dễ được lắng nghe nhất tại Hoa Kỳ khi viết về những biến cố lịch sử đã định hình cộng đồng mình. Những nhà văn ấy có thể viết về những điều khác, nhưng họ được tưởng thưởng khi viết về lịch sử và chủng tộc mình”)
Sở dĩ tình thế ấy khó thoát ra vì các cộng đồng thiểu số tồn tại trong cái mà Nguyễn Thanh Việt gọi là một “nền kinh tế tự sự khan hiếm”. Nhóm đa số có vô số câu chuyện và vô số gương mặt đại diện. Một nhân vật da trắng ích kỷ, tầm thường hay lệch lạc chỉ cần đại diện cho chính mình. Nhưng khi chỉ có vài tác phẩm Việt Nam được dịch, mỗi tác phẩm dễ bị xem như một ô cửa nhìn vào “con người và đất nước Việt Nam”. Một nhà văn Việt Nam bước ra nước ngoài bỗng được hỏi về toàn bộ văn học Việt Nam. Một nhân vật Việt Nam hư cấu bỗng phải gánh trên vai danh dự, lịch sử và căn tính của cả cộng đồng.
Bởi vậy, tôi đặc biệt chú ý đến câu nói của Ngân Vi: “Mà tôi chỉ là một nhà văn người Việt Nam, tôi không phải Việt Nam” và “Tôi nghĩ một nền văn học thực sự được tôn trọng khi nhà văn của nó cuối cùng được hưởng quyền không đại diện”.
Nhưng quyền không đại diện ấy không dễ dàng có được. Muốn bước ra thế giới, nhà văn trước hết phải nói mình đến từ đâu; song khi đã bước ra, điều họ khao khát lại là được đọc như một nhà văn chứ không chỉ như người cung cấp thông tin về quốc gia mình. Đây không phải việc chối bỏ căn tính Việt Nam, càng không phải khát vọng trở thành một chủ thể phi-căn-tính. Đó là quyền được có một căn tính phức tạp, mâu thuẫn và không thể bị quy về vài dấu hiệu dễ nhận diện (một kiểu stereotype – tính khuôn mẫu).
Đến một lúc nào đó, câu hỏi của nhà thơ Bảo Phi (Bao Phi) (trích từ tập thơ Sông I Sing) đã trở thành sự cảnh báo đối với mọi nhà văn đến từ cộng đồng thiểu số:
“When you can no longer tell
if you’re liberating yourself through expression
or selling your oppression.”
(“Khi bạn không còn phân biệt được
mình đang giải phóng bản thân bằng cách biểu đạt
hay đang đem sự áp bức của mình ra bán.”)
Đây có lẽ là một câu hỏi đau đớn: Tiếng nói vốn là phương tiện giải phóng nhà văn nhưng cũng có thể trở thành một loại hàng hóa; nỗi đau trong văn học có thể được sở hữu, khoác lên người rồi đem rao bán (như kiểu nhân vật Việt Nam mang chấn thương chiến tranh rất được ưa chuộng ở thị trường văn học Mỹ vậy!). Nhà văn có thể chống lại định kiến, nhưng cũng có thể được tưởng thưởng vì trình diễn đúng định kiến ấy. Anh/chị có thể kể về sự tổn thương để giành lại nhân tính, nhưng cũng có thể bị giữ mãi trong tư cách nạn nhân, bởi nhóm đa số chỉ muốn nghe từ anh/chị một nỗi đau duy nhất.
Nhưng như thế không có nghĩa là nhà văn không nên viết về những đề tài quen thuộc nữa: Ví dụ nhà văn có thể viết về chiến tranh; vấn đề là cuộc chiến ấy phải hiện ra với tất cả nghịch lý, mơ hồ và phần bóng tối không chịu phục vụ một kết luận có sẵn (thế nên quan điểm của tôi về Nỗi buồn chiến tranh trước sau vẫn như một). Nhà văn có thể viết về căn tính sắc tộc; vấn đề là con người phải luôn lớn hơn nhãn căn tính được đặt lên họ.
Sau bài phát biểu này, tôi càng nể Ngân Vi. Một mặt, cô nhận ra cái bẫy của sự “đại diện”, mặt khác cô hiểu tự do của nhà văn không nằm ở việc thoát khỏi mọi ràng buộc (một điều không thể) mà ở khả năng không để những ràng buộc ấy lên tiếng thay mình. Có lẽ tư thế cần thiết của một nhà văn Việt Nam khi ra thế giới không phải là cố chứng minh mình phổ quát bằng cách xóa đi nguồn gốc, cũng không phải tô đậm căn tính để vừa vặn với trí tưởng tượng của người khác. Còn để hỏi tiếp: Thế thì tư thế đó phải như thế nào? thì mỗi nhà văn sẽ tự có con đường đi riêng, tuỳ thuộc vào bản lĩnh, tài năng và phẩm cách.
Trong một cuộc hội thảo về Văn học di dân do Học viện Công giáo tổ chức vài tháng trước, tôi có bày tỏ băn khoăn này, rằng làm sao để một nhà văn di dân có thể thoát khỏi thế lưỡng nan của căn tính sắc tộc mình. Đến bài phát biểu của Nguyễn Khắc Ngân Vi, tôi bắt gặp một gợi ý đáng suy ngẫm cho câu hỏi đó. Điều thú vị, và có phần nằm ngoài hình dung của tôi, là gợi ý ấy không đến từ một nhà văn di dân, mà từ một nhà văn sống và viết trong nước, đang đường hoàng bước ra thế giới.
N. H. A.
5/9/2026