Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Án văn (7)

 Nguyễn Thông

Chính trị áp đặt, tính đảng trên hết

Tôi những kỳ trước đã lược lại một số vụ “án văn” nổi cộm trong đời sống văn nghệ lẫn đời sống xã hội xứ này, như Nhân văn - Giai phẩm (nhiều văn nghệ sĩ bị đi tù, cải tạo, tước quyền sống, quyền sáng tác), Việt Phương với Cửa mở, Hoàng Cát với Cây táo ông Lành, Hữu Loan với Màu tím hoa sim, Quang Dũng với Tây tiến, Bùi Ngọc Tấn với Chuyện kể năm 2000

Đương nhiên văn nghệ sĩ là nạn nhân, chỉ bởi họ là những người cương trực, thẳng thắn, tôn trọng quyền tự do sáng tác, không chịu khép mình vào thứ văn nghệ phục vụ chính trị thô thiển; còn thủ phạm không phải ai khác... Lúc nào miệng họ cũng nói quyền tự do cho văn nghệ sĩ nhưng tay thì chỉ nhăm nhăm chụp vòng kim cô chính trị lên đầu đám sáng tác, anh nào cố tình chạy trốn, thoát ra sẽ bị pháp luật (cũng của họ) trừng trị.

Viết đến đây, tôi lại nhớ chuyện hoặc giai thoại về những nhà lãnh đạo xứ này chỉ đạo văn nghệ. Hồi những năm giữa thập niên 60, khi giới văn nghệ vẫn chưa hoàn hồn sau cuộc đấu tố long trời lở đất trừng trị “đám phá hoại Nhân văn - Giai phẩm” (được ví như cuộc Cải cách ruộng đất trong văn nghệ) thì ông Trường Chinh tìm cách trấn an.

Chuyện kể rằng, anh Năm (tên thân mật của ông Trường Chinh) trong một buổi gặp các nhà văn nhà thơ, nghệ sĩ sân khấu, điện ảnh, khi nghe đây đó có ý kiến về quyền tự do sáng tác, ông liền tủm tỉm, rằng “Ai nói đảng không cho các anh các chị quyền tự do sáng tác. Nói thế là hồ đồ. Đảng vẫn cho các anh các chị quyền tha hồ chửi đế quốc Mỹ đó sao”. Đám nghệ sĩ, nhà văn nhà thơ cách mạng ngồi nghe chết lặng. Mà đúng thật, những gì “anh Năm” nói đều có thực tế, và sau chỉ đạo ấy, quyền tự do chửi Mỹ tràn ngập trong các sáng tác.

Tôi vẫn nhớ hồi bé đọc báo nghe đài đều thấy/nghe gọi tổng thống Ngô Đình Diệm bằng thằng, thậm chí có cả câu thơ tương truyền của Bút Tre ghê lắm. Rồi sau ông Diệm bị miệt thị là thằng thì tới thằng Thiệu, thằng Kỳ. Năm 1966, nhà thơ trào phúng Nguyễn Đình có viết trên báo Nhân Dân chửi Thiệu-Kỳ (tôi đọc bài này bởi được thày tôi sai ra ủy ban mượn báo để đọc ké, vẫn còn nhớ câu mở đầu: “Hội nghị Gu-am được gọi đi/Thằng Thiệu thằng Kỳ tầm váo tầm vênh”.

Mà chả riêng “ngụy” bị gọi là thằng, các đời tổng thống Mỹ đều được phong “thằng” tuốt: thằng Ai xen hao, thằng Ken nơ đi, thằng Giôn xơn, thằng Ních xơn, thậm chí người ta còn khuyến khích các gia đình nuôi chó đặt tên chó là con Giôn xơn, con Ních xơn để chửi cho sướng miệng.

Nhân chuyện quyền tự do sáng tác của ông Trường Chinh, tôi lại nhớ hồi học ở Mễ Trì, thầy chủ nhiệm khoa Hoàng Xuân Nhị tuy ghế lãnh đạo khoa nhưng vẫn tham gia dạy phần văn học Xô viết và tính đảng trong văn học. Một lần thầy nhắc đến chi tiết trong đại hội các nhà văn Xô viết, nhà văn Ilia Erenburg đã rất hùng hồn khẳng định: “Chúng ta được viết theo tiếng gọi của trái tim mình. Nhưng trái tim chúng ta đã thuộc về đảng”. Thầy bảo đó là quyền tự do sáng tác, là tính đảng trong văn học của nền văn học xã hội chủ nghĩa ưu việt.

Vị đứng đầu khác ở xứ này để lại dấu ấn với đời sống văn nghệ là ông Nguyễn Văn Linh. Năm 1986 ông được bầu làm tổng bí thư. Ông Linh từng một thời được ca ngợi là nhân vật đổi mới, với những mẩu ngắn trên báo Nhân Dân trong mục “Những việc cần làm ngay” ký tên NVL, tên tắt của ông, nhưng tuyên giáo và báo chí khen nịnh thành “Nói và làm”, còn dân gian cứ gọi nôm na là ông “en nờ vê e lờ”.

Một trong những việc đầu tiên ông Linh làm sau khi ngồi ghế nóng là lấy lòng văn nghệ sĩ. Ngày 6.10.1987, ông gặp họ, tuyên bố hùng hồn phải “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, còn ai trói, trói thế nào, vì sao trói, v.v. thì ông không nói.

Đám văn nghệ phấn khởi, lại được các bác Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên Ngọc hô xung phong nên hào hứng lắm. Những tác phẩm vang dội như Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc, hàng loạt phóng sự của Trần Huy Quang, những quan điểm táo bạo của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến… ra đời trong dịp này.

Nhưng ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) cuối cùng cũng chỉ nửa vời, đảng không ủng hộ quan điểm cởi trói nên ổng co dần lại, sống chết mặc bay. Kết quả là báo Văn Nghệ bị bóp chết, các ông Trần Độ, Nguyên Ngọc bị đưa lên “đoạn đầu đài”, đời sống văn nghệ lại một lần nữa tan tành, chả khác gì văn nghệ Trung Quốc sau cú lừa “Trăm hoa đua nở” mấy chục năm không gượng dậy được. Cứ vừa ló ra là hồng vệ binh diệt, mà vụ Hải Thụy bãi quan của tên tuổi lừng danh Ngô Hàm bị đánh tan tác năm 1965.

Phải những ai từng nếm mùi phê phán từ bộ máy tuyên giáo truyên truyền của đảng thì mới hiểu thế nào là “văn nghệ phục tùng, văn nghệ phục vụ chính trị”. Đảng có thể quy một tác phẩm hết sức bình thường thành thứ cực kỳ nguy hiểm, gán vào đó những âm mưu, ý đồ, biểu tượng hai mặt, cao hơn nữa thì quy rằng nó ẩn chứa hoặc công khai thái độ thù nghịch, chống phá.

Nhiều nhà văn nhà thơ bị đánh tơi tả, không ngóc đầu dậy nổi, phải ẩn dật, trốn chui trốn lủi, tìm đủ mọi cách mới sống qua ngày đoạn tháng. Hữu Loan là ví dụ cụ thể. Thời ấy, những người dân bình thường đã chịu cuộc sống cực kỳ vất vả, huống hồ người có tiền án tiền sự với chế độ, dù chỉ là án văn nghệ.

Thời tôi đi học, tôi được chứng kiến, được nghe, được biết khá nhiều vụ án văn, xuất phát từ quan điểm như vậy, dưới sự chỉ đạo của những Trường Chinh, Tố Hữu, Hà Xuân Trường, Như Phong, Hoàng Trinh... Như đã kể, tạp chí Học tập (sau đổi tên thành tạp chí Cộng sản) tháng 9.1974 dõng dạc kết án ông Phạm Tiến Duật “Giữa lúc cần nói to lên niềm sung sướng tự hào về cái được vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thì nhà thơ lại chỉ thấy cái mất, chỉ thấy tang tóc đau thương và than thở...”. Chỉ cần chừng ấy thôi là thành án, ông Duật mất bao nhiêu công phân trần, giãi bày nhưng đảng chả chịu nghe.

Dưới thời “văn nghệ cách mạng”, bất cứ động thái nào của văn nghệ sĩ mà nhà cầm quyền không ưa đều có thể thành tội. Người cai trị hay lo sợ vu vơ, nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm, bởi “văn nghệ sĩ chúng nó thâm lắm”. Có khi đang bình thường, nghe ông bà kễnh nào phát ra ý nhận xét chi đó về tác phẩm này nọ, thế là người ta vội vàng tổ chức chiến dịch đánh cho tơi tả, rồi cấm.

Miền Bắc có dạo cấm suốt một thời gian dài những bộ phim rất hay của Liên Xô anh em cùng chiến hào chống tư bản đế quốc, như Đàn sếu bay, Bài ca người lính, Số phận con người (đầu thập niên 1960), hoặc cuốn Truyện núi đồi và thảo nguyên (của Aitmatov) chỉ bởi lúc ấy ở Liên Xô có “chủ nghĩa xét lại”, mà chủ nghĩa này bị Việt Nam cho là phản động, đi chệch khỏi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản, nên phải cấm.

Án văn xứ này nhiều lắm. Nếu kể ra, phải vài cuốn sách dày, đặc biệt những vụ tịch thu và thiêu hủy “văn hóa đồi trụy”, bắt văn nghệ sĩ đi cải tạo (thực chất là tù đày) sau ngày 30.4.1975. Nhiều sự việc đã bị lãng quên, nhiều vụ nhạt dần theo năm tháng, nhưng có lẽ vẫn có người nào đó, bộ phận nào đó vẫn lặng lẽ ghi chép đầy đủ, sau này bổ sung vào cuốn sử chân thực về đời sống văn nhệ cho cháu con được tỏ tường.