Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Truyện Kiệt tác giấu kín của Honoré de Balzac (1799-1850) (1)

 Liễu Trương dịch và giới thiệu

Trong văn học Pháp, ít có tác giả được đồng hóa với tác phẩm của mình như Balzac. Nhắc đến tên ông, người ta nghĩ ngay đến tác phẩm đồ sộ của ông: La Comédie humaine (Trò đời), gồm nhiều tiểu thuyết nổi tiếng như: Eugénie Grandet, Le père Goriot, Les Illusions perdues, Le lys dans la vallée, v.v.

Balzac ví tác phẩm của ông như một ngôi thánh đường mà ông đã dần dần kiến trúc. Qua các cuốn tiểu thuyết, Balzac chủ yếu vẽ lên xã hội thời của ông và những hiện thực kinh tế thời đó. Trong bộ truyện La Comédie humaine có ba truyện ngắn đặc biệt viết về nghệ thuật và có một tầm quan trọng đáng kể. Cả ba văn bản đều nói lên quan niệm của Balzac về nghệ thuật: Le Chef-d'oeuvre inconnu về hội họa, GambarraMassimilla Doni về âm nhạc.

Trong truyện Le Chef-d'oeuvre inconnu (Kiệt tác giấu kín) sau đây, sự đam mê sáng tạo của Frenhofer đã đẩy thiên tài của nhân vật này đến cái giới hạn tột cùng và làm cho thiên tài bị tiêu diệt. Suốt đời, Frenhofer đã hao tổn nhiều công sức để đi tìm cái Đẹp và ông muốn thực hiện cái không thể có được. Về nghệ thuật, sự quá lạm đưa đến bất lực.

Đọc truyện Kiệt tác giấu kín người ta không khỏi ngạc nhiên trước kiến thức sâu sắc của nhà văn Balzac về hội họa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là dấu hiệu ảnh hưởng của nhà văn Đức Hoffmann. Nhưng ảnh hưởng của Hoffmann không quan trọng bằng những tài liệu mà Balzac đã gom góp để viết truyện này. Ông đã học hỏi với ai về những vấn đề sáng tạo nghệ thuật và về kỹ thuật hội họa? Hẳn ông có đọc sách về mỹ học của Diderot, những bài phê bình nghệ thuật của Théophile Gautier, nhưng theo nhiều nhà nghiên cứu như F. Fosca, Albert Béguin, Marc Eigeldinger, Max Milner, v.v. thì mỹ học của danh họa Delacroix đã ảnh hưởng mạnh đến truyện Kiệt tác giấu kín. Truyện này đã gây tiếng vang trong giới nghệ sĩ, đáng chú ý nhất là truyện báo hiệu quan niệm về mỹ học của Baudelaire, và biểu hiện định mệnh của Cézanne, danh họa này đã tự hóa mình với nhân vật Frenhofer.

 


KIỆT TÁC GIẤU KÍN

I

Gillette

          Vào khoảng cuối năm 1612, một buổi sáng tháng chạp trời lạnh, một thanh niên mặc áo quần mỏng manh, đi dạo qua trước cửa một ngôi nhà ở đường Grands-Augustins, ở Paris. Sau khi đi bộ khá lâu trong con đường đó, với sự ngập ngừng của một người tình không dám đến trình diện ở nhà người yêu, dù người yêu có dễ tính đi nữa, người thanh niên cuối cùng bước vào ngưỡng cửa, và hỏi thầy François Porbus có ở nhà không. Khi một người đàn bà già đang quét dọn một căn phòng ở tầng dưới trả lời là có, người thanh niên bèn chậm rãi leo lên cầu thang, anh dừng lại từng nấc một, như một nịnh thần mới vào nghề, áy náy về cách đối xử của vua. Khi anh đã lên đến trên cao cái cầu thang xoáy, anh đứng một lúc ở thềm, do dự không biết có nên cầm lên cái búa gõ cửa có hình người kỳ dị trang trí cái cửa xưởng vẽ không, đây là nơi làm việc của nhà họa sĩ đã vẽ chân dung vua Henri thứ 4. Nhà họa sĩ này đã bị hoàng hậu Marie de Médicis bỏ rơi, để chọn họa sĩ Rubens. Người thanh niên cảm thấy một nỗi xúc động sâu xa, nỗi xúc động có thể đã từng làm rung cảm con tim của các nhà nghệ sĩ trứ danh, khi đang tuổi xuân xanh và ở thời kỳ họ yêu chuộng nghệ thuật nhất, họ đến gần một thiên tài hay một tác phẩm nào. Trong những tình cảm của con người có một bông hoa nguyên thủy nảy sinh từ một nhiệt tình cao thượng, nhiệt tình này dần dần yếu đi cho đến lúc hạnh phúc chỉ còn là một kỷ niệm và vinh quang chỉ là một sự dối trá. Trong số những xúc động, không gì giống tình yêu bằng sự đam mê vừa chớm nở của người nghệ sĩ khi họ bắt đầu cái khổ hình tuyệt vời của số phận vinh quang và tai họa của mình, nỗi đam mê đó đầy táo bạo và nhút nhát, đầy tin tưởng mơ hồ và đầy nản chí chắc chắn. Đối với một người nghèo, có tài hoa ở tuổi niên thiếu, mà không hồi hộp mãnh liệt khi đến trình diện trước một bậc thầy, thì đối với người đó trong lòng vẫn thiếu một tình cảm, một nét cọ, một cảm tính trong tác phẩm, một nét vẽ nên thơ. Nếu một vài kẻ khoe khoang, thấm đầy cái tôi của mình mà tin tưởng quá sớm vào tương lai, những kẻ đó chỉ là hạng trí thức đối với người ngu ngốc. Cứ theo lập luận đó thì người thanh niên xa lạ này có vẻ có công thật sự, nếu phải đo lường tài năng với tính nhút nhát lúc đầu, với tính e lệ khó xác định, tính e lệ mà những người có triển vọng đi đến vinh quang mất đi trong việc luyện tập nghệ thuật của mình, cũng như những thiếu phụ đẹp mất tính e lệ của họ trong thủ đoạn làm dáng. Thói quen của sự thành công rực rỡ làm giảm bớt sự hoài nghi, và có lẽ tính e lệ là một sự hoài nghi.

Đang ủ rũ vì cảnh khốn cùng, và trong lúc này kinh ngạc vì sự xấc xược của mình, người tín đồ mới đáng thương lẽ ra không bước vào nhà của danh họa đã thực hiện bức chân dung tuyệt diệu của vua Henri thứ 4, nếu không có sự trợ giúp phi thường của một sự ngẫu nhiên. Một ông lão đang bước lên cầu thang. Nhìn bộ đồ kỳ dị, cái vẻ sang trọng của cái cổ áo bẻ có ren, và dáng đi vững vàng của ông ta, người thanh niên đoán nhân vật này là người bảo trợ hay người bạn của danh họa. Anh lùi bước để nhường lối đi cho ông lão, và anh tò mò nhìn ông, hy vọng tìm thấy nơi ông cái bản chất tốt của một nhà nghệ sĩ hoặc tính hay giúp đỡ của những kẻ yêu nghệ thuật; nhưng người thanh niên nhận thấy có cái gì ma quái trên gương mặt, và nhất là cái không biết gọi là gì nó quyến rũ những người nghệ sĩ. Các bạn hãy tưởng tượng một cái trán hói gồ, lồi ra, sa xuống một cái mũi dẹp, đầu mũi vểnh lên như cái mũi của nhà văn Rabelais hay của triết gia Socrate; một cái miệng tươi cười và nhăn nheo, một cái cằm ngắn, hất cao một cách ngạo nghễ, bộ râu xám tỉa nhọn, đôi mắt màu lục nước biển có vẻ bị mờ đi vì tuổi tác, nhưng do sự tương phản của màu trắng xà cừ có con ngươi nổi lên, đôi mắt có lẽ đôi khi ném những cái nhìn thu hút trong cơn giận dữ tột độ hay những lúc nhiệt tình cao hứng. Vả chăng gương mặt héo hon một cách lạ thường vì những mệt mỏi của tuổi tác, và hơn thế nữa, vì những tư duy đã đào sâu tâm hồn cũng như thể xác. Đôi mắt không còn lông mi, còn chút ít dấu vết lông mày ở phía trên vành xương lông mày nhô ra. Hãy đặt cái đầu đó trên một thân hình mảnh khảnh và yếu ớt, hãy vòng cái đầu với một giải ren trắng xóa được tỉa với con dao xắn cá, hãy ném trên cái áo khoác đen của ông lão một sợi dây chuyền vàng to, nặng, và bạn sẽ có một hình ảnh không được hoàn hảo của nhân vật đó. Ánh nắng yếu ớt trong cầu thang làm cho gương mặt có một màu sắc kỳ ảo, tưởng chừng đó là một bức tranh của Rembrandt không có khung đang bước đi trong yên lặng, trong cái không khí tối đen mà Rembrandt chiếm hữu. Ông lão ném về người thanh niên một cái nhìn sáng suốt, ông gõ cửa ba lần, và nói với một người đàn ông ốm yếu, khoảng bốn mươi tuổi, ra mở cửa: - Kính chào thầy.

Porbus kính cẩn cúi đầu và để người thanh niên bước vào vì tưởng người này là do ông lão đưa đến. Porbus lại càng ít lo tiếp người tín đồ mới khi anh này bị thu hút, như những người họa sĩ có thiên tài bị thu hút trước cảnh tượng cái xưởng vẽ đầu tiên mà họ thấy, nơi đó biểu lộ một vài phương thức cụ thể của nghệ thuật. Một tấm kính gắn trên vòm nhà chiếu sáng xưởng vẽ của thầy Porbus. Ánh sáng ban ngày tập trung trên một bức tranh gác trên giá vẽ, bức tranh chỉ mới có ba bốn nét vẽ màu trắng, ánh sáng không tràn đến những góc sâu tối của căn phòng mênh mông; nhưng một vài ánh phản chiếu lạc loài thắp lên trong cái bóng tối đỏ hung một lớp mỏng màu bạc trên cái áo giáp kỵ binh treo trên tường, những ánh phản chiếu quẹt ngang một đường ánh sáng trên cái đường viền chạm khắc và bóng loáng của một cái tủ cổ đựng bát đĩa lạ kỳ, hay rải rác những điểm chói sáng trên mặt vải gấm vàng sần sùi của những chiếc màn cũ có những nếp xếp không thẳng được vứt ra đấy để làm mẫu. Những tượng người bằng thạch cao, những mảnh và những bán thân của nữ thần thời xưa được những chiếc hôn của nhiều thế kỷ mài nhẵn một cách tình tứ, tất cả những thứ đó nằm la liệt trên những bàn, kệ. Vô số những bản phác thảo, những nghiên cứu về lối vẽ với bút chì ba màu, với bút chì nâu gạch hay với ngòi bút, phủ đầy tường lên đến trần nhà. Những hộp sơn màu, những chai dầu và tinh dầu, những chiếc ghế đẩu lật ngược chỉ chừa một lối đi hẹp để đi đến chỗ có ánh sáng hào quang chiếu từ vòm kính trên cao. Những tia sáng rọi xuống ngay trên gương mặt nhợt nhạt của Porbus và trên cái đầu trắng ngà của người đàn ông kỳ dị. Nhanh chóng người thanh niên chỉ chăm chú vào một bức họa đã trở nên lẫy lừng vào thời buổi biến loạn, thời buổi cách mạng này; bức họa đã được một số người bướng bỉnh thăm viếng, nhờ họ mà lửa thiêng được bảo tồn trong những ngày đen tối. Bức họa đẹp cho thấy “Marie, cô gái Ai Cập” đang sắp sửa trả tiền chuyến tàu. Tác phẩm này được tặng cho hoàng hậu Marie de Médicis, bà đã bán nó trong thời kỳ bà khốn khổ.

- Tôi thích bà thánh của anh, ông lão nói với Porbus, và tôi sẽ trả cho anh mười đồng tiền vàng, hơn giá tiền mà bà hoàng hậu đã trả; nhưng trở lại cái nếp cũ đó sao?... Chán lắm!

- Thầy thấy nó đẹp à?

- Ờ! Ờ! ông lão trả lời, - Đẹp?... Đúng và không đúng. Cái người phụ nữ của anh khá gọn gàng, nhưng không sống động. Các anh họa sĩ, các anh tưởng đã làm được tất cả khi các anh vẽ đúng một hình ảnh và đặt mỗi thứ đúng chỗ của nó theo luật tự nhiên của thân thể con người! Các anh tô màu những nét phác sơ khởi này với cái màu da thịt có sẵn trên bảng màu, bằng cách cẩn thận làm cho bên này đậm hơn bên kia, và bởi vì đôi khi các anh nhìn một người phụ nữ khỏa thân đứng trên một cái bàn, các anh tưởng đã sao chép được thiên nhiên, các anh tưởng tượng mình là những nhà họa sĩ và đã trộm được điều bí ẩn của Thượng đế!... Ối Trời! Để trở thành một nhà thơ lớn, không phải chỉ cần biết rõ cú pháp và đừng phạm lỗi về ngôn ngữ! Porbus, hãy nhìn bà thánh của anh đây. Thoạt nhìn bà thánh có vẻ tuyệt diệu, nhưng liếc nhìn lần thứ hai, người ta nhận thấy bà thánh bị dính chặt vào cái nền của bức tranh và không thể nào đi vòng quanh thân thể của bà. Đó là một bóng dáng chỉ có một mặt, một bề ngoài bị cắt ra, một hình ảnh không thể được lật lại, cũng không thể đổi tư thế. Tôi không cảm thấy có không khí giữa cánh tay này và khung cảnh của bức tranh; thiếu không gian và chiều sâu; tuy thế tất cả đều đúng theo phép phối cảnh; và kỹ thuật mờ dần trong không trung đã được quan sát một cách xác thực. Nhưng mặc dù những cố gắng đáng khen, tôi không thể tin rằng cái thân hình đẹp này được hơi thở ấm áp của sự sống làm cho nó linh hoạt. Nếu tôi đặt bàn tay trên cái bộ ngực tròn trịa, chắc nịch đến như thế, tưởng chừng tôi sẽ cảm thấy nó lạnh như đá hoa cương! Không, anh bạn tôi ơi, máu không tuần hoàn dưới làn da trắng ngà này, sự sống, với hơi sương đỏ thắm của nó, nó không thổi phồng những tĩnh mạch, những sợi nhỏ li ti quyện vào nhau thành những mạng lưới dưới làn da trong suốt màu hổ phách ở thái dương và ngực. Chỗ này phập phồng, nhưng chỗ kia im lìm; trong mỗi chi tiết, sự sống và sự chết chống chọi nhau: đây là một người phụ nữ, kia là một pho tượng, xa hơn là một xác chết. Sự sáng tạo của anh không đầy đủ. Anh thổi vào tác phẩm yêu chuộng của anh chỉ một phần của tâm hồn anh. Ngọn đưốc của Prométhée đã tắt hơn một lần trong tay anh, và có nhiều chỗ trên bức tranh của anh không được ngọn đuốc thiêng chạm đến.

- Nhưng, thưa thầy, tại sao? Porbus kính cẩn nói với ông lão trong khi người thanh niên cố dằn xuống cái ý muốn đập ông ta.

- À! Đây này, ông lão nói. Anh đã do dự giữa hai phương thức, giữa hình vẽ và màu sắc, giữa cái tính điềm tĩnh, tỉ mỉ, sự cứng nhắc rõ nét của những bậc thầy già Đức và sự nồng nhiệt chói sáng, sự phong phú thành công của những danh họa Ý. Anh muốn bắt chước vừa Hans Holbein và Titien vừa Albrecht Durer và Paul Véronèse. Hẳn đó là một tham vọng tuyệt đẹp! Nhưng cái gì đã xảy ra? Anh không có cái đẹp nghiêm khắc của sự khô khan, cũng không có những ma lực làm thất vọng của thuật vẽ sáng tối. Ở chỗ này giống như chất đồng thanh bị nung chảy làm vỡ cái khuôn quá yếu, cái màu phong phú, vàng nhạt của Titien mà anh đổ vào làm vỡ tung cái đường viền mảnh mai của Albrecht Durer. Ở chỗ khác, các nét sơ khởi cầm cự và giữ được những tuôn trào tuyệt đẹp của màu sắc phái Venise. Cái hình của anh không được vẽ lên hoàn toàn và cũng không được tô màu hoàn toàn, nó mang dấu vết của sự ngập ngừng đáng tiếc đó. Nếu anh không cảm thấy đủ sức mạnh để hòa chung hai phương cách cạnh tranh nhau trong ngọn lửa thiên tài của anh, thì trước đó phải chọn lựa rõ ràng một trong hai phương cách, ngõ hầu có được sự nhất quán, sự nhất quán có vẻ như một trong những điều kiện của đời sống. Anh chỉ thật ở phía giữa, các đường viền của anh sai, chúng không bao trùm và không hứa hẹn gì ở phía sau. Có sự thật ở đây, ông lão vừa nói vừa chỉ bộ ngực của bà thánh. Rồi ở đây, ông nói tiếp vừa chỉ cái chấm ở cuối vai trên bức tranh. Nhưng ở kia, ông vừa nói vừa trở về giữa bộ ngực, tất cả đều sai. Chúng ta đừng phân tích gì cả, vì như thế sẽ làm anh tuyệt vọng.

Ông lão ngồi trên cái ghế đẩu ba chân, ông ôm đầu và im lặng.

- Thưa thầy, Porbus nói, con có nghiên cứu kỹ bộ ngực trên hình khỏa thân; nhưng rủi ro cho chúng ta: có những ấn tượng thật sự trong thiên nhiên mà không còn là ấn tượng trên bức tranh…

- Sứ mệnh của nghệ thuật không phải là sao lại thiên nhiên, mà là biểu thị thiên nhiên! Anh không phải là một người sao chép ít có giá trị, nhưng anh là một nhà thơ! Ông lão kêu lên giọng gay gắt, và cắt lời Porbus bằng một cử chỉ chuyên chế. Nói một cách khác, một nhà điêu khắc được miễn làm mọi việc khi ông đúc tượng một người phụ nữ! À! Vậy anh hãy thử đúc bàn tay của người tình anh và đặt nó trước mặt anh đi, anh sẽ thấy một xác chết ghê tởm, không giống bàn tay người tình chút nào, và anh sẽ bị bắt buộc đi tìm cái kéo của người đã tạo nên sự cử động và sự sống, mà không sao chép y hệt cái bàn tay. Chúng ta phải nắm bắt cái tinh thần, cái linh hồn, cái diện mạo của vật và người. Những ấn tượng! Những ấn tượng! Nhưng chúng là những bất trắc của cuộc sống chứ không phải là cuộc sống. Một bàn tay, bởi vì tôi đã lấy ví dụ đó, một bàn tay không chỉ gắn liền vào thân thể, nó biểu đạt và tiếp tục một tư duy mà mình phải hiểu và làm thể hiện ra. Nhà họa sĩ, nhà thơ, cũng như nhà điêu khắc không được tách rời nguyên nhân và kết quả, cả hai, cái này ở trong cái kia, không làm sao tách rời nổi. Sự tranh đấu thật sự là ở đấy! Có nhiều nhà họa sĩ thành công theo bản năng mà không biết đến cái bí quyết đó của nghệ thuật. Anh vẽ một người phụ nữ, nhưng anh không thấy cô ta. Không phải làm như thế mà thắng được những bí ẩn của thiên nhiên. Một cách vô thức, bàn tay của anh tạo lại cái mẫu mà anh sao chép nơi thầy của anh. Anh không đi vào đủ trong sự thầm kín của hình thể, anh không đuổi theo nó đủ với tình yêu và tính kiên trì trong những đường vòng, những trốn thoát của nó. Vẽ đẹp là cái nghiêm khắc, khó khăn, nó không để cho người ta đạt đến nó như thế, phải chờ cái lúc của nó, phải rình rập nó, thôi thúc nó, ôm ghì lấy nó để ép nó đầu hàng.

Hình thể là một thần Protée còn khó nắm bắt và có nhiều chỗ sâu kín hơn thần Protée của chuyện hoang đường, chỉ sau khi chiến đấu lâu dài người ta mới có thể buộc nó lộ diện dưới cái vẻ thật của nó. Các anh ấy à, các anh bằng lòng với cái bề ngoài đầu tiên mà Hình thể để lộ cho các anh, hay cùng lắm là cái bề ngoài thứ hai hay thứ ba: những kẻ tranh đấu và chiến thắng không hành động như thế! Những nhà họa sĩ chưa từng thất bại đó không để tất cả những lối tránh né lừa gạt mình, họ kiên trì cho đến lúc thiên nhiên bị bó buộc phải xuất hiện trong sự lột trần của nó và trong sự thật của nó. Danh họa Raphael đã tiến hành như thế, ông lão vừa nói vừa cất cái mũ bằng nhung đen để tỏ lòng kính trọng mà ông vua của nghệ thuật đã gợi cho ông, tài ba lỗi lạc của Raphael là do cái cảm giác sâu kín nơi ông, cảm giác này dường như muốn phá vỡ Hình thể. Qua những hình tượng của nó, Hình thể đối với chúng ta là cái môi giới để truyền đạt những ý tưởng, những cảm giác, một bài thơ bao la. Mọi hình tượng là một thế giới, một chân dung mà cái mẫu đã hiện ra trong một hình ảnh tuyệt vời, sáng ngời, được một tiếng nói bên trong chỉ định và do một ngón tay siêu nhiên lột bỏ những rườm rà, trong quá khứ của suốt một đời, ngón tay siêu nhiên đã chỉ cho những nguồn của sự biểu hiện. Anh tạo cho những phụ nữ của anh những cái áo đẹp bằng xương thịt, những mái tóc đẹp phủ lên đầu, nhưng đâu là dòng máu làm nảy sinh sự bình tâm hay nỗi nhiệt tình và gây nên những ấn tượng đặc biệt? Bà thánh của anh là một phụ nữ tóc đen, nhưng, anh bạn Porbus đáng thương của tôi ơi, đây là hình vẽ một người phụ nữ tóc vàng! Thế thì những hình tượng của anh là những bóng ma nhợt nhạt được tô màu mà anh trưng ra trước mắt, và anh gọi đó là hội họa và nghệ thuật. Bởi vì anh đã làm một cái gì giống một người phụ nữ hơn là một ngôi nhà, anh tưởng đã đạt đến đích, và anh rất hãnh diện vì không bị bắt buộc phải viết bên cạnh những hình tượng của anh cái câu: currus venustus[1] hay pulcher homo[2], như những họa sĩ đầu tiên, anh tưởng tượng mình thuộc hạng nghệ sĩ tài hoa. Ha! ha! Các bạn đồng hành dũng cảm của tôi ơi! Các anh chưa phải thế đâu, các anh cần cả khối viết chì, cần phủ đầy cả khối tranh trước khi thành công. Chắc chắn là một người phụ nữ có cái đầu như thế, bà ta nâng cái váy như thế, đôi mắt lờ đờ và tan trong cái vẻ dịu dàng cam phận, cái bóng phập phồng của lông mi phảng phất như thế trên đôi má! Đúng thế, mà cũng không đúng thế. Thiếu cái gì? Một cái không là gì, nhưng cái không là gì đó là tất cả. Anh có cái bề ngoài của sự sống, nhưng anh không biểu lộ cái dư thừa tràn ra ngoài, cái tôi không biết là gì, có lẽ nó là linh hồn, nó phất phơ như mây trên cái vỏ bên ngoài, tóm lại cái hoa của sự sống mà Titien và Raphael đã bắt gặp. Đi từ cực điểm, nơi anh thành công, có lẽ người ta sẽ làm nên một bức họa rất đẹp, nhưng anh đã nhàm chán quá mau chóng. Người dung tục thán phục, và kẻ thành thạo thật sự mỉm cười. Ôi! Danh họa Mabuse, nhân vật lạ lùng đó nói tiếp, ôi vị thầy của tôi! Thầy là một kẻ trộm, thầy đã đem sự sống đi theo thầy! Ngoài điều đó ra, bức tranh này có giá trị hơn những bức tranh của tên đê hèn Rubens với những cái núi thịt xứ Flamand của hắn, có rắc bột thần sa, những mái tóc đỏ xòa xuống như mưa rào, những màu chói chang. Ít ra ở đây anh có màu sắc, tình cảm và hình vẽ, ba phần cốt yếu của nghệ thuật.

- Nhưng mà bà thánh này tuyệt đẹp, ông ơi! Người thanh niên la lớn khi anh ra khỏi giấc mơ mộng làm anh chìm đắm. Hai cái hình tượng này, hình tượng của bà thánh và của người chèo thuyền, có một chủ ý tinh tế mà các nhà họa sĩ Ý không biết đến, tôi không biết có một người nào trong số họ đã sáng tạo được sự ngập ngừng của người chèo thuyền như thế này.

- Cái anh chàng kỳ khôi này có phải là người quen biết của thầy không? Porbus hỏi ông lão.

- Rất tiếc là không, thưa thầy, người tín đồ mới nói và đỏ mặt, xin thầy tha lỗi cho sự liều lĩnh của tôi. Tôi là kẻ vô danh, vẽ nguệch ngoạc theo bản năng, và vừa mới đến trong thành phố này, nơi là nguồn gốc của mọi khoa học.

- Vậy hãy trổ tài đi nào! Porbus nói với anh ta và đưa cho anh ta một cây bút chì đỏ và một tờ giấy.

Kẻ lạ mặt nhanh nhẹn chép lại bức tranh “Marie” theo nét vẽ.

- Ồ! ồ! ông lão kêu lên. Tên anh là gì?

Người thanh niên viết ở phía dưới hình vẽ: Nicolas Poussin.

- Đấy là khá lắm đối với một người bắt đầu tập tành, nhân vật lạ lùng nói, rồi ông ta ba hoa. Tôi nhận thấy có thể nói chuyện hội họa trước mặt anh, tôi không khiển trách anh đã khâm phục bà thánh của Porbus. Đây là một tác phẩm đối với mọi người, và chỉ những kẻ sành sỏi nhất về những bí ẩn của nghệ thuật mới khám phá ra được khuyết điểm của nó. Nhưng mà bởi vì anh xứng đáng nhận lãnh bài học, và anh có khả năng hiểu, tôi sẽ cho anh thấy chỉ cần chút ít để bổ sung họa phẩm này. Hãy mở mắt và chăm chú nghe, một cơ hội dạy anh như thế này có lẽ sẽ không bao giờ tái diễn. Bảng màu đâu, Porbus?

Porbus đi tìm bảng màu và cọ. Ông lão người nhỏ bé xắn tay áo với một cử chỉ đột nhiên co giật, ông thò ngón tay cái vào bảng màu có nhiều màu sắc lóng lánh mà Porbus đưa cho ông, ông giật mạnh từ tay Porbus, đúng hơn là ông lấy, cái bó cọ đủ cỡ, và bộ râu hớt nhọn của ông thình lình cử động bằng những cố gắng có vẻ đe dọa, chứng tỏ sự ngứa ngáy muốn làm một điều phóng túng đầy tình tứ. Vừa lấy màu với cây cọ ông vừa lầm bầm trong miệng:

- Đây là những màu đáng vứt ra cửa sổ cùng với cái người đã biến chế ra chúng, chúng sống sượng và giả tạo đến gây phẫn nộ, làm sao vẽ được với những thứ đó? Rồi với vẻ nhanh nhẹn bồn chồn, ông nhúng cái đầu cọ trong nhiều màu, có khi ông lướt hết cả thang màu, nhanh hơn một người chơi đàn ống trong nhà thờ lướt phím đàn khi họ đàn bản tụng ca “O Filii” mừng lễ Phục sinh.

Porbus và Poussin, mỗi người đứng yên mỗi bên bức họa, họ chìm đắm trong sự lặng ngắm háo hức nhất.

- Anh bạn trẻ thấy không, ông lão nói mà không quay lại, anh thấy là với ba hay bốn nét cọ và một lớp tráng mỏng, xanh nhạt, người ta có thể làm luân chuyển không khí xung quanh cái đầu bà thánh tội nghiệp này, chắc bà bị ngạt thở và cảm thấy bị giam hãm trong cái không khí dày đặc đó! Hãy nhìn xem cái áo choàng giờ đây nó bay lượn biết chừng nào, và người ta hiểu là nó được một làn gió nhấc lên ra sao! Trước kia cái áo choàng có vẻ như một tấm vải cứng nhắc vì hồ bột và được chống đỡ bằng những cây ghim. Anh có để ý không cái lớp bóng mịn mà tôi vừa thoa lên ngực làm cho da người con gái tròn trĩnh và mềm mại, và cái màu nâu đỏ trộn lẫn với màu thổ hoàng nung khô làm ấm lên cái màu xám lạnh lùng của cái bóng này, cái bóng mà trong đó máu đông lại thay vì luân chuyển. Này anh bạn trẻ, anh bạn trẻ, những điều tôi cho anh thấy ở đây, không một bậc thầy nào có thể dạy cho anh. Chỉ có thầy Mabuse mới có được cái bí quyết đem sự sống lại cho hình tượng. Mabuse chỉ có một người học trò là tôi. Tôi không có học trò, và tôi đã già. Anh có đủ trí thông minh để đoán cái còn lại, qua những điều mà tôi cho anh thoáng thấy.

Ông lão kỳ lạ vừa nói vừa sửa khắp nơi trên bức tranh: chỗ này hai nét cọ, chỗ kia chỉ một nét, nhưng luôn luôn rất thích hợp, tưởng chừng như là một bức họa mới, nhưng là một bức họa nhuốm đầy ánh sáng. Ông làm việc quá hăng hái đến mức mồ hôi lấm tấm trên cái trán hói của ông, ông làm nhanh quá bằng những cử động quá nóng nảy, giật giật từng hồi, đến nỗi đối với chàng trai trẻ Poussin, hình như trong thân thể của nhân vật lạ lùng này có một quỷ thần đang hành động qua hai bàn tay ông và dùng chúng một cách huyền hoặc ngược lại với ý muốn của ông. Ánh mắt siêu nhiên và những co giật như là kết quả của một sự kháng cự làm cho ý nghĩ đó có vẻ thật và có tác động trên một óc tưởng tượng trẻ trung. Ông lão nói:

- Đốp, đốp, đốp! Nhồi nhét thế đấy, anh bạn trẻ à! Những nét cọ của tôi ơi, hãy đến đây, hãy làm cho đỏ hoe cái màu lạnh buốt này! Nào! Bong! bong! bong! Ông ta vừa nói vừa làm cho ấm lên những nơi mà ông ta báo cho biết là thiếu sự sống, bằng cách làm biến mất những chênh lệch với vài mảng màu, và bằng cách phục hồi sự nhất quán về màu sắc cần thiết cho một phụ nữ Ai Cập nhiệt tình.

- Thấy không, chú bé, chỉ có nét cọ cuối cùng là đáng kể. Porbus đã đưa ra một trăm nét, tôi, tôi chỉ đưa ra một nét. Không ai biết ơn chúng ta về những gì ở phía dưới đâu. Hãy biết rõ điều đó.

Cuối cùng quỷ thần đó ngừng, và quay lại Porbus và Poussin đang câm nín vì thán phục, ông nói:

- Cái này không bằng bức tranh “Người Đẹp ở Noiseux” của tôi, tuy nhiên có thể ký tên dưới một họa phẩm như thế này. Vâng, tôi sẽ ký tên, ông nói thêm khi ông đứng dậy lấy tấm gương để nhìn họa phẩm trong đó. Bây giờ chúng ta hãy đi ăn trưa. Cả hai người hãy đến nhà tôi đi. Tôi có thịt dăm bông hơ khói và rượu ngon! Ha! ha! Mặc dù thời buổi đen tối, chúng ta sẽ đàm đạo về hội họa! Chúng ta có sức mà! Đây là một cậu bé có triển vọng, ông nói thêm vừa vỗ vai Nicolas Poussin.

Lúc bấy giờ ông nhìn thấy cái áo khoác tồi tàn của người thanh niên sinh trưởng vùng Normandie, ông rút trong lưng ra một cái ví da, lục lọi trong đó, lấy ra hai đồng tiền vàng và đưa cho anh ta:

- Tôi mua hình vẽ của cậu đấy!

- Hãy nhận đi, Porbus nói với Poussin khi ông thấy người thanh niên giật mình và đỏ mặt vì xấu hổ, bởi vì người tín đồ mới trẻ trung này có cái tự hào của người nghèo. Hãy nhận đi, ông ấy có trong túi số tiền đủ để chuộc tới hai ông vua kia mà!

Cả ba người từ trên xưởng vẽ đi xuống, và họ vừa đi vừa chuyện trò về nghệ thuật, cho đến khi họ đến một ngôi nhà đẹp bằng gỗ, gần cầu Saint-Michel. Poussin kinh ngạc trước những trang trí, cái búa gõ cửa, những khung cửa sổ và những đường lượn vòng. Bỗng nhiên người họa sĩ trẻ đi vào một cái phòng có trần thấp, anh đứng trước lò sưởi có lửa ấm, bên cạnh một cái bàn đầy thức ăn ngon, và do một diễm phúc phi thường, người họa sĩ trẻ được gần gũi với hai nhà họa sĩ trứ danh đầy lòng nhân ái, không kiểu cách.

- Này chú em, Porbus nói với Poussin khi thấy anh ta sửng sốt trước một bức tranh, đừng nhìn bức tranh đó nhiều quá, chú sẽ tuyệt vọng đấy!

Đây là bức tranh “Adam” mà Mabuse đã vẽ để được ra khỏi tù, nơi mà chủ nợ của ông cầm giữ ông quá lâu. Cái hình tượng quả có một tính hiện thực quá mạnh mẽ đến nỗi Nicolas Poussin từ giây phút đó bắt đầu hiểu cái nghĩa thật sự của những lời nói tối nghĩa của ông lão ban nãy. Ông lão nhìn bức tranh với vẽ hài lòng, nhưng không phấn khởi, ông có vẻ nói: “Tôi đã vẽ khá hơn!”.

- Có sự sống trong đó, ông lão nói, vị thầy đáng thương của tôi đã tỏ ra xuất sắc hơn thường khi; nhưng còn thiếu một chút sự thật ở cuối bức tranh. Người đàn ông đang sống hẳn hòi, ông ta đứng dậy và sắp đi đến phía chúng ta. Nhưng không khí, bầu trời, làn gió mà chúng ta thở, thấy và cảm thấy, đều không có ở đấy. Rồi chỉ có mỗi một người đàn ông! Thế nhưng cái người duy nhất đã lập tức ra khỏi tay Thượng đế thì phải có cái gì tuyệt trần chứ, điều này thiếu trong bức tranh. Chính Mabuse đã bực bội nói lên điều đó, khi ông say rượu.

Poussin lần lượt nhìn ông lão và Porbus với vẻ tò mò lo lắng. Anh đến gần Porbus như để hỏi tên người chủ nhà; nhưng Porbus để một ngón tay lên môi vẻ bí mật, và người thanh niên, tuy muốn biết, đành im lặng, hy vọng sớm hay muộn một chữ nào đó sẽ cho phép anh đoán cái tên người chủ nhà. Sự giàu có và thiên tài của chủ nhà đủ để được xác thực bởi lòng tôn kính của Porbus và bởi những cái đẹp tuyệt vời chồng chất trong căn phòng này.

Khi thấy trên nền gỗ sồi lát tường một chân dung phụ nữ tuyệt đẹp, Poussin kêu lên:

- Bức tranh của Giorgione lộng lẫy làm sao!

- Không phải đâu, ông lão trả lời, anh đang nhìn một trong những bức tranh đầu tiên mà tôi đã bôi lem luốc.

- Trời đất ơi! Vậy là tôi đang ở nhà của vị chúa tể của hội họa, Poussin nói một cách ngây ngô.

Ông lão mỉm cười, như ông đã quen thuộc với lời khen ngợi đó từ lâu.

- Thưa thầy Frenhofer! Porbus nói, thầy có thể đem ra đây cho con chút rượu ngon của sông Rhin của thầy không?

- Hai thùng, ông lão trả lời. Một thùng là để đền đáp cái thú tôi có được sáng nay khi thấy người phụ nữ đẹp tội lỗi của anh; và thùng kia là một món quà cho tình bạn chúng ta.

- Chà! Nếu con không thường đau ốm, Porbus trả lời, và nếu thầy chịu để cho con xem cái “Người Đẹp ở Noiseux” của thầy, thì con có thể vẽ một bức tranh cao, rộng và sâu, trong đó những hình tượng có cỡ lớn như thật.

- Trưng ra tác phẩm của tôi à? Ông lão xúc động kêu lên. Không, không, tôi còn phải cải tiến nó thêm. Hôm qua, vào lúc tối, ông nói, tôi tưởng đã xong. Đôi mắt bà ấy có vẻ ướt át, da thịt linh động, bím tóc rung rinh. Bà ấy thở! Mặc dù tôi đã tìm ra cái cách vẽ nổi và vẽ những đường cong của thiên nhiên trên một bức tranh phẳng, sáng nay, dưới ánh sáng, tôi nhìn nhận sự sai lầm của tôi. Chà! Để đạt đến kết quả vinh quang, tôi đã nghiên cứu kỹ các bậc thầy trứ danh về màu sắc, tôi đã phân tích và giở lên từng lớp một các bức tranh của Titien, ông vua của ánh sáng. Cũng như danh họa tột bậc này, tôi đã phác họa hình tượng của tôi trong một màu nhạt với thứ bột dẻo và đặc, bởi vì cái bóng tối chỉ là một bất trắc, hãy nhớ điều này, cậu bé. Rồi tôi trở lại tác phẩm của tôi, nhờ cách dùng những màu nhạt và những lớp tráng, tôi dần dần giảm được sự trong suốt, tôi đã tạo ra những bóng tối đậm nhất cho đến những màu đen sâu thẳm nhất; bởi vì những bóng tối của các nhà họa sĩ tầm thường, chúng có một bản chất khác với những màu của chúng dưới ánh sáng; đó là gỗ, là đồng thanh, là tất cả những gì người ta muốn, ngoại trừ da thịt trong bóng tối. Người ta cảm thấy rằng nếu hình tượng của họ đổi tư thế, thì những nơi có bóng tối sẽ không được gột sạch và sẽ không trở nên sáng. Tôi đã tránh khuyết điểm đó, cái khuyết điểm mà nhiều người trong số những người nổi tiếng nhất đã rơi vào, và trong tranh của tôi màu trắng hiện ra dưới cái lớp mờ đục của cái bóng tối đậm nhất! Cũng như vô số những người không hiểu biết tưởng tượng mình vẽ đúng bởi vì họ vẽ một nét được cẩn thận xén gọn, cũng như họ, tôi không vẽ những đường viền ngoài của hình tượng một cách khô khan, và không làm nổi bật cái chi tiết nhỏ nhất của thân thể, vì thân thể con người không kết thúc bằng những đường thẳng. Về mặt này, các nhà điêu khắc có thể đến gần sự thật hơn chúng ta. Thiên nhiên gồm một loạt đường tròn, những đường này bao bọc những đường khác. Nói một cách nghiêm khắc, không có hình vẽ! Đừng cười, anh bạn trẻ! Dẫu cho cái câu đó có vẻ lạ lùng đối với anh, ngày nào đó anh sẽ hiểu lý do của nó. Đường thẳng là phương tiện do đó con người nhận thấy tác động của ánh sáng trên đồ vật, nhưng trong thiên nhiên không có đường thẳng, trong thiên nhiên tất cả đều đầy: chính khi nặn hình mà người ta vẽ, nghĩa là người ta tách rời những đồ vật khỏi cái môi trường của chúng, chỉ có sự phân phối ánh sáng mới cho thân thể cái bề ngoài. Cho nên tôi không ngừng những nét phác, tôi vãi lên những đường viền một đám mây màu nhạt hoe vàng, ấm áp, điều này làm người ta không biết đặt ngón tay đúng cái chỗ mà các đường viền gặp những cái nền. Nhìn gần thì việc làm này có vẻ phơn phớt và thiếu sự rõ ràng, nhưng đứng cách hai thước, tất cả đều vững vàng hơn, rõ nét và nổi bật; thân thể xoay quanh, những hình thể nhô ra, người ta cảm thấy không khí luân chuyển xung quanh. Tuy nhiên tôi vẫn chưa hài lòng, tôi có những hoài nghi. Có lẽ không nên vẽ một nét duy nhất, và tốt hơn nên vẽ cái hình tượng ở ngay chính giữa, bằng cách trước tiên chăm chú vào những chỗ nổi bật được chiếu sáng nhất, để rồi sau đó vẽ những phần tối nhất. Phải chăng mặt trời làm như thế, mặt trời, nhà họa sĩ thần thánh của vũ trụ; ôi thiên nhiên! thiên nhiên! Ai đã từng bắt gặp ngài trong những lúc ngài trốn tránh? Đấy, nhiều khoa học quá cũng như sự dốt nát đều đi đến tiêu cực. Tôi nghi ngờ tác phẩm của tôi!

Ông lão ngưng một lúc, rồi ông nói tiếp:

- Anh bạn trẻ ơi, tôi cặm cụi vẽ đã mười năm rồi; nhưng mười năm ngắn ngủi là gì khi phải đấu tranh với thiên nhiên? Chúng ta không biết cái thời gian mà chúa tể Pygmalion đã dùng để làm một pho tượng duy nhất có giá trị!

Ông lão chìm vào một cơn mơ mộng sâu thẳm, ông ngồi mắt đăm đăm, trở qua trở lại con dao một cách máy móc.

- Ông ấy đang trò chuyện với hồn của ông ấy đấy, Porbus nói nhỏ.

Khi nghe cái từ đó, Nicolas Poussin cảm thấy bị thu hút bởi sức mạnh của sự tò mò khó giải thích của người nghệ sĩ. Cái ông lão đó có đôi mắt trắng dã, chăm chú và ngốc nghếch; đối với anh, ông trở nên còn hơn một con người, tưởng chừng ông là một thần bản mệnh kỳ ảo sống trong một thiên cầu xa lạ. Ông ta làm thức tỉnh nghìn ý tưởng lờ mờ trong tâm hồn. Cái hiện tượng trong tâm giới do cái thứ mê hoặc đó gây ra không thể được định nghĩa rõ hơn sự biểu lộ nỗi xúc động do một bài ca nhắc nhở tổ quốc trong lòng kẻ lưu đày. Sự khinh thường mà ông lão vờ tỏ ra đối với những cố gắng đẹp nhất về nghệ thuật, đối với sự phong phú, phong cách của nghê thuật, đối với sự tôn kính của Porbus, đối với tác phẩm của ông được giữ kín trong một thời gian khá lâu, một tác phẩm được kiên nhẫn tạo dựng, một tác phẩm của thiên tài tất nhiên, nếu căn cứ vào bức tranh vẽ cái đầu của Thánh Trinh nữ mà chàng trai trẻ Poussin đã thẳng thắn thán phục, và bức tranh vẫn đẹp nếu đặt nó bên cạnh bức tranh “Adam” của Mabuse, sự khinh thường giả vờ đó xác nhận cái phong cách ưu đẳng của một bậc vương giả về nghệ thuật. Tất cả nơi ông lão đều vượt quá mức bản chất con người. Khi nhìn con người siêu nhiên đó, cái điều rõ ràng có thể nhận thấy, mà óc tưởng tượng dồi dào của Nicolas Poussin nắm bắt được là hình ảnh đầy đủ của một bản chất nghệ sĩ, một bản chất điên rồ được phú cho biết bao là quyền uy mà lắm khi bản chất đó lạm dụng, bằng cách dẫn lý trí lạnh lùng, dẫn những người tư bản và ngay cả vài kẻ nghiệp dư đi qua nghìn con đường lởm chởm đá, nơi đó đối với họ chẳng có gì cả trong khi cái cô gái có đôi cánh trắng kia nhởn nhơ vui đùa, phát hiện ở đấy những sử thi, những lâu đài, những tác phẩm nghệ thuật. Bản chất ông lão thích chế nhạo là tốt, phong phú và nghèo nàn. Như thế, đối với Poussin, con người đầy phấn khởi, ông lão, do một sự thay hình đổi dạng đột ngột, đã trở nên chính Nghệ thuật, nghệ thuật với những bí ẩn, những hăng say và những mơ mộng của nó.

- Vâng, thưa anh bạn Porbus của tôi, Frenhofer nói tiếp, cho đến bây giờ, cái điều mà tôi thiếu là sự gặp gỡ một người phụ nữ hoàn hảo, một thân hình có những đường cong tuyệt đẹp, và màu da… Nhưng nàng sống ở đâu, nữ thần Vénus của người xưa không tìm thấy được, nữ thần mà lắm khi người ta tìm kiếm, nhưng chỉ thoáng thấy vài vẻ đẹp rải rác đây đó, nàng ở đâu? Ồ! để thấy được trong khoảnh khắc, chỉ một lần thôi, cái thiên chất hoàn hảo, tóm lại cái lý tưởng, tôi sẽ hiến dâng cả tài sản của tôi, hỡi người đẹp trên trời, tôi sẽ đi tìm nàng trong u giới! Như chàng Orphée, tôi sẽ xuống địa ngục của nghệ thuật để đem về sự sống.

- Chúng ta có thể ra về, Porbus nói với Poussin, ông ấy không còn nghe tiếng chúng ta nữa, không còn thấy chúng ta nữa.

- Chúng ta đi vào xưởng vẽ của ông ấy đi, người thanh niên đầy thán phục trả lời.

- À, cái ông lão chiến binh cộc cằn đó đã cấm vào. Kho tàng của ông được giữ kỹ quá, chúng ta không thể thấy được. Tôi đâu có chờ ý kiến và sự ngông cuồng của chú em để cố xông vào sự huyền bí.

- Vậy là có một sự huyền bí?

- Đúng, Porbus trả lời. Ông lão Frenhofer là người học trò duy nhất mà Mabuse muốn đào tạo. Khi Frenhofer trở thành người bạn, vị cứu tinh, người cha của Mabuse, ông đã hy sinh phần lớn tài sản của ông để thỏa mãn những đam mê của Mabuse. Để đền đáp lại, Mabuse đã truyền cho ông cái bí quyết vẽ hình nổi, cái khả năng làm cho hình tượng linh động một cách lạ thường. Cái hoa tự nhiên đó, nỗi tuyệt vọng đời đời của chúng ta, nhưng Mabuse biết vẽ nó một cách quá thật, đến nỗi ngày nọ, khi ông đã uống rượu với tiền ông bán thứ vải có dệt hoa nổi, thứ vải mà ông phải mặc để chào đón hoàng đế Charles Quint, ông đã tháp tùng hoàng đế với bộ đồ bằng giấy vẽ thành vải hoa. Sự lộng lẫy đặc biệt của thứ vải Mabuse mặc trên người làm hoàng đế kinh ngạc, hoàng đế muốn khen người bảo trợ ông già nghiện rượu, và hoàng đế đã phát hiện sự gian trá. Frenhofer là một người mê say nghệ thuật của chúng ta, ông nhìn cao hơn và xa hơn những danh họa khác. Ông đã suy ngẫm sâu xa về màu sắc, về sự thật tuyệt đối của đường thẳng; nhưng vì mải miết nghiên cứu, cuối cùng ông đâm ra hoài nghi chính mục tiêu của sự nghiên cứu của ông. Trong những lúc tuyệt vọng, ông cho rằng không có hình vẽ và người ta chỉ có thể vẽ những hình tượng có tính hình học với nét vẽ; ý tưởng của ông vượt quá sự thật, bởi vì với nét vẽ và màu đen, màu đen không phải là màu, người ta có thể tạo nên một hình tượng; điều này chứng tỏ nghệ thuật của chúng ta, cũng như thiên nhiên, gồm có những yếu tố bất tận: hình vẽ đưa ra một bộ xương, màu sắc là sự sống, nhưng sự sống không có bộ xương là một điều còn không đầy đủ hơn bộ xương không sự sống. Tóm lại, có cái này còn thật hơn tất cả những điều vừa nói, đó là sự thực hành và việc quan sát là tất cả nơi người nghệ sĩ, và nếu có sự bất đồng ý kiến giữa sự lập luận, tính nên thơ và cây cọ, thì người ta đi đến hoài nghi như ông lão đây, ông là người điên cũng như ông là họa sĩ. Là họa sĩ tuyệt diệu, ông xui xẻo sinh ra trong sự giàu có, điều này cho phép ông suy nghĩ vớ vẩn, chú em đừng bắt chước ông ấy nhé! Hãy vẽ đi! Các nhà họa sĩ chỉ phải suy ngẫm với cây cọ trong tay.

- Chúng ta sẽ đi vào xưởng vẽ của ông ấy, Poussin kêu lên, anh không còn nghe Porbus nữa, và không còn nghi ngờ điều gì.

Porbus mỉm cười khi thấy sự nhiệt tình của người thanh niên xa lạ, ông từ giã anh ta và mời anh ta trở lại gặp ông.

Nicolas Poussin chậm rãi bước về con đường La Harpe, anh vượt khỏi cái khách sạn khiêm tốn nơi anh trọ mà không hay. Anh bước lên cái cầu thang nghèo nàn một cách nhanh nhẹn, lo lắng và đến cái căn phòng trên cao, ngay dưới mái nhà có sườn bằng gỗ, một mái nhà ngây ngô, nhẹ nhàng của những ngôi nhà trong thành phố Paris cổ xưa. Cạnh cái cửa sổ duy nhất và tối tăm, anh thấy một thiếu nữ; khi nghe tiếng mở cửa, cô đứng phắt dậy, trong một cử chỉ yêu thương, cô nhận ra người họa sĩ ở cái cách anh mở then cửa.

- Anh làm sao thế? cô hỏi.

- Anh, anh, người họa sĩ kêu lên và ngạt thở vì vui sướng, anh cảm thấy mình là họa sĩ! Cho đến bây giờ anh tự nghi ngờ mình, nhưng sáng nay anh đã tự tin! Anh có thể là một vĩ nhân! Em Gillette ơi, chúng ta sẽ giàu, sẽ hạnh phúc! Có vàng trong những cây cọ này.

Nhưng bỗng nhiên anh im bặt. Gương mặt nghiêm nghị và rắn rỏi của anh mất đi niềm vui khi anh so sánh những hy vọng bao la của mình với cái vốn nghèo nàn anh đang có. Trên tường phủ đầy giấy với những phác họa bằng bút chì. Anh chẳng có được bốn bức tranh của riêng anh. Lúc bấy giờ sơn màu đắt tiền, và người thanh niên đáng thương thấy cái bảng màu của mình gần như trống trơn. Sống giữa cảnh nghèo khó, anh cảm thấy tâm hồn mình có một sự giàu có khó tin được và chan chứa một thiên tài háo hức. Được một người bạn thuộc giới quý tộc đưa đến Paris, hay có lẽ do tài năng của anh mà anh đến đây, Poussin thình lình gặp người yêu, một trong những tâm hồn cao thượng và rộng lượng, mang lấy cái khổ bên cạnh một người có chí lớn, lãnh nhận sự nghèo khó và cố hiểu những thất thường của cảnh nghèo. Cô có sức mạnh tinh thần để đảm nhận cảnh khốn khổ và tình yêu, cũng như những kẻ gan dạ mang vào người sự sang trọng và đem phô trương sự dửng dưng của mình. Với nụ cười trên môi, Gillette làm sáng rực cái kho chứa đồ này, và nó không thua gì ánh sáng ngoài trời. Không phải lúc nào cũng có ánh sáng mặt trời, còn cô thì lúc nào cô cũng hiện diện, cô thầm lặng trong tình yêu say đắm, cô nhiệt thành với hạnh phúc, với đau khổ, cô an ủi người có thiên tài chan chứa trong tình yêu trước khi đoạt lấy nghệ thuật.

- Hãy nghe anh, em Gillette, đến đây với anh nào!

Cô gái biết vâng lời và vui vẻ nhảy lên đùi người họa sĩ. Cô là cả sự kiều diễm, cả sắc đẹp như mùa xuân, cô được tô điểm với tất cả sự phong phú của nữ giới, và cô làm cho sự phong phú đó sáng rực lên với ngọn lửa của một tâm hồn cao đẹp.

- Chúa ơi! Anh ta kêu lên, anh không bao giờ dám nói với ông ấy…

- Một bí mật à? Cô hỏi, em muốn biết.

Poussin mơ màng.

- Nào, anh hãy nói đi.

- Em Gillette ơi! Tội cho em yêu của anh!

- Ồ! Bộ anh muốn em làm gì sao?

- Phải.

- Nếu anh muốn em làm người mẫu nữa như bữa trước, cô nói tiếp với vẻ hờn dỗi, em sẽ không bao giờ chấp nhận, bởi vì trong những lúc như thế, đôi mắt của anh chẳng có ý nghĩa gì đối với em. Anh không còn nghĩ đến em mặc dù anh đang nhìn em.

- Vậy em có thích anh vẽ một người phụ nữ khác không?

- Có lẽ, cô nói, nếu người phụ nữ đó rất xấu xí.

- Vậy thì, Poussin nghiêm nghị trả lời, nếu để anh được vinh quang trong tương lai, nếu để anh trở nên một họa sĩ trứ danh, em phải đi làm người mẫu cho một kẻ khác?

- Anh muốn thử lòng em đấy mà, cô nói. Anh biết chán rằng em sẽ không đi.

Anh chàng Poussin ngả đầu vào ngực cô như một người không cưỡng nổi với một niềm vui hay một sự đau đớn quá lớn.

- Anh hãy nghe em đây, cô vừa nói vừa kéo cái tay áo khoác cũ mèm của Poussin, em đã nói với anh, anh Nick, rằng em sẽ hy sinh đời em cho anh, nhưng em không bao giờ hứa với anh, em mà còn sống, em sẽ từ bỏ tình yêu của em.

- Từ bỏ tình yêu à? Poussin kêu lên.

- Nếu em trưng ra như thế cho một kẻ khác, anh sẽ không còn yêu em nữa. Và chính em, em sẽ tự nhận thấy không xứng đáng với anh. Tuân theo những ý muốn thất thường của anh, không phải là điều tự nhiên và đơn giản sao? Bất đắc dĩ, em sung sướng và cả hãnh diện làm theo ý muốn tha thiết của anh. Nhưng mà làm cho một người khác! Thôi đi!

- Em Gillette của anh ơi, người họa sĩ nhào xuống quỳ gối và nói. Anh muốn thà được yêu hơn là được vinh quang. Đối với anh, em đẹp hơn tiền tài danh vọng. Thôi, em hãy vứt đi những cây cọ của anh, đốt đi những phác họa. Anh đã sai lầm. Thiên hướng của anh là yêu em. Anh không phải là họa sĩ, anh là kẻ si tình. Nghệ thuật và những bí quyết của nghệ thuật hãy chết tiệt đi!

Cô khâm phục anh, cô sung sướng, say mê! Cô ngự trị trong lòng anh, theo bản năng, cô cảm thấy nghệ thuật bị quên lãng vì cô và bị ném dưới chân cô như một hạt nhựa hương.

- Thế nhưng ông ấy chỉ là một ông già, Poussin nói tiếp. Ông chỉ có thể thấy nơi em một người phụ nữ. Em hoàn toàn quá mà!

- Phải yêu dữ lắm, cô nói, phải sẵn sàng hy sinh những đắn đo trong tình yêu để thưởng người yêu mình về những hy sinh mà người đó đã làm cho mình. Nhưng, cô nói tiếp, như thế là em sa đọa. Ôi! Sa đọa vì anh. Phải, điều này đẹp lắm! Nhưng anh sẽ quên em. Ôi! Sao anh lại có ý tưởng xấu xa như thế!

- Anh có cái ý tưởng đó và anh yêu em, Poussin nói với vẻ ăn năn thống hối; nhưng anh là kẻ bỉ ổi.

- Chúng ta hãy hỏi ý kiến của cha Hardouin nhé! cô nói.

- Ồ không! Phải là một bí mật giữa hai chúng ta.

- Vậy thì em sẽ đi; nhưng anh đừng ra mặt. Anh đứng trước cửa, tay cầm con dao găm; nếu em la lên thì anh xông vào và anh giết cái ông họa sĩ.

Chỉ biết có nghệ thuật của mình, Poussin ôm ghì Gillette.

“Anh ấy không yêu mình nữa!” Gillette nghĩ thầm khi còn một mình cô. Cô hối hận về sự quyết định của mình. Nhưng nhanh chóng cô bị dằn vặt bởi một sự kinh hãi còn ghê gớm hơn sự hối tiếc, cô cố gạt đi cái ý tưởng hãi hùng đang hiện ra trong lòng cô. Cô tưởng đã bớt yêu người họa sĩ vì cô nghi anh ít đáng quý hơn trước.

[1] Cỗ xe lịch sử.

[2] Người đàn ông đẹp.