Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (20)

 Mai An Nguyn Anh Tun

18.

Thế được một Trung tâm Bảo tồn văn hóa mời tham dự Hội thảo khoa học: “Lê Đại Cang - Tấm gương kẻ sĩ” tổ chức tại Quy Nhơn - Bình Định. Khi tới thăm từ đường họ Lê làng Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, anh rất chú ý tới bản vẽ mô hình một chiếc đòn khênh võng - kỷ vật duy nhất của cuộc đời làm quan do chính cụ Cang đem về Từ đường họ Lê. Ai cũng biết rằng: hiện vật này đang được lưu giữ tại Bảo tàng Bình Định. Nhưng không phải ai cũng biết: chiếc đòn khênh võng đó chứa đựng một lai lịch đặc biệt, có khả năng giúp mọi người hiểu rõ về sự nghiệp và thân thế của một nhân vật lịch sử cũng thật đặc biệt.

Trong 41 năm làm quan qua ba triều vua Nguyễn, Lê Đại Cang đã từng để lại nhiều dấu ấn, nhiều công tích tại Hà Nội, Sơn Tây, các tỉnh miền Tây Bắc, Quảng Nam, An Giang, Hà Tiên… – nghĩa là khắp cả ba miền đất nước, qua rất nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục, văn hóa, ngoại giao… Chiếc đòn khênh võng đó liên quan đến hai biến cố quan trọng trong giai đoạn làm quan ở phương Nam của cụ: năm 1833, khi đang là Tổng đốc An Giang – Hà Tiên, vì cô thế, để mất thành An Giang vào tay quân phiến loạn, trong cảnh ngộ từ một đại quan văn bị cách chức thành lính khiêng võng, phải ra trận đi đầu lập công chuộc tội, cụ đã tự chiêu tập binh mã, trở thành một võ quan đích thân huấn luyện một đội quân hỗn hợp Việt – Miên, từ đó góp phần đánh bại quân phiến loạn và quân xâm lược. Và năm 1838, khi đang là Trấn Tây tham tán đại thần bảo hộ Cao Miên, cụ lại bị cách chức bởi bất tuân mệnh triều đình theo lối ngu trung; nhưng trong thân phận một anh lính khiêng võng, cụ lại nhận lãnh việc tổ chức và huấn luyện lại đội binh đang rời rã kỷ luật và yếu kém kỹ năng chiến đấu, biến nó thành đội hùng binh đánh giặc Chân Lạp. Vì việc này mà cụ đã bị vua Minh Mạng phê phán: “Đại Cang tội cách hiệu, sao dám tôn mình là đại tướng? Chẳng sợ phép nước, chẳng kể công luận”, và khép vào tội mất đầu cho “trảm giam hậu” (Theo Quốc triều chính biên toát yếu). Thử nghĩ: một người đang là lính khênh võng, sao lại có thể kêu gọi được người khác quy tụ dưới ngọn cờ lệnh của mình, sao có thể thuyết phục nổi vị thống lĩnh nọ trao quyền cho mình huấn luyện quân sĩ? Cụ không có thuật phù thủy gì cả, ngoài tiếng tăm về đức độ và tài năng đã thấm sâu vào nhiều tầng lớp “dân đen con đỏ”, ngoài những việc làm cụ thể với tất cả ý thức trách nhiệm về công vụ, với lòng yêu nước thương dân sâu xa, và cả lòng nhẫn nhịn phi thường nữa trên cơ sở đại lượng, hiểu thấu sự đời và lòng người như một trong những biểu hiện của Phật tính. Phải là một trái tim nhân hậu và một nghị lực kiên cường, tha thiết với vận mệnh đất nước đến thế nào mới “Chẳng sợ phép nước, chẳng kể công luận” như vua đã quy tội!

Khi hưu quan, cụ Cang chỉ mang theo về một thanh đại đao và chiếc đòn khênh võng nói trên. Thanh đại đao sau đó gắn với nhiều giai thoại huyền bí, và đã bị thất lạc. Theo Thế, chiếc đòn khênh ngoài tư cách “là một kỷ niệm đau đớn” như có người nói, nó được cụ Cang trân trọng mang về quê như một lời nhắn nhủ con cháu thật da diết, xúc động: Vật dụng nào cũng có ích, con người ta dù ở cương vị nào cũng có thể tạo nên những giá trị cho cuộc sống - miễn là trung thực và lương thiện. Điều đó tựa nội dung những câu đối giàu giá trị văn chương và đạo lý làm người của cụ để lại ở từ đường họ Lê làng Luật Chánh mà tiêu biểu nhất là vế đối: Tích thiện di tử tôn khả cửu khả đại, có nghĩa: Sống làm điều thiện để lại phúc cho con cháu thì phúc đó được lâu dài và to lớn.

Tìm đến Bảo tàng Bình Định, Thế mới biết: chiếc đòn khênh võng của cụ Cang đã bị nhét trong kho! Thế đã thuyết phục được lãnh đạo Bảo tàng cho lục tìm rồi mang chiếc đòn khênh võng phủ bụi ra để lau chùi, đánh biển chữ và bày biện như nó đang được hiện diện trước khách tham quan, để có thể quay phim, chụp ảnh chỉ trong nửa giờ! Trong nửa giờ tác nghiệp đó bên chiếc đòn khênh võng, anh đã được sống trong một cảm xúc thực kỳ lạ, kính phục xen lẫn bùi ngùi. Cụ Cang không để lại một tấm hình chân dung nào, thì đây, có chiếc đòn khênh võng làm vật thay thế! Một chiếc đòn khênh võng từng thấm mồ hôi của một trong những con người làm vẻ vang cho vùng “địa linh nhân kiệt”, chốn “Thượng võ tôn văn”, nơi phát tích, quy tụ và lập nghiệp của nhiều anh hùng, nhiều thi nhân nổi tiếng, vùng đất mà danh sĩ Phan Huy Ích từng ca ngợi: “Quy Nhơn thang mộc địa/ Khu Hoãn ỷ khôi thạc” (Phủ Quy Nhơn là đất quý của vua/ Vùng trọng yếu phải dựa vào bậc anh tài nắm giữ)… Chiếc đòn khênh võng đó bất chợt trở thành một biểu tượng chân thực, sống động của một hiện tượng lịch sử khá bi hùng: trong khi vượt qua “tấn bi kịch nhân cách của nhà nho và bi kịch của hệ tư tưởng quan lại” (viện sĩ Alêchxêep), nho tướng Lê Đại Cang đã vượt qua những hạn chế của thời đại, đã lập nên một sự nghiệp lớn và bộc lộ những phẩm chất tuyệt vời của một bậc quốc sĩ.

Sau đó, Trung tâm mời anh làm một phim tài liệu chân dung về bậc quốc sĩ Lê Đại Cang. Một trong những địa điểm quay quan trọng của phim này, ở phía Bắc, là sông đào Ngũ Huyện Khê - một chi lưu của sông Đuống, bắt nguồn từ địa phận huyện Đông Anh, Hà Nội và đổ vào sông Cầu tại thành phố Bắc Ninh. Từ đây, Thế đã lang thang bằng tàu thuyền là chủ yếu, đi dọc sông Hồng và một vài đoạn sông nhánh quan trọng đến với các làng xã truyền thống vùng châu thổ Hà Nội, để mong tìm được dấu vết của cụ Cang thời được vua Minh Mệnh sung cho chức “Quản lý Nha Đê chính Bắc Thành”, mà theo một số tư liệu thành văn và truyền miệng, cụ đã được một vài nơi tôn làm Thành hoàng làng…

Trên dòng sông Hồng, tức sông Cái, anh đã suy ngẫm nhiều về hành trạng của Quan hộ đê Bắc Thành Lê Đại Cang. Đây là dòng sông mà từ hồi đầu thế kỷ XX, nhà địa lý học nhân văn người Pháp Pierre Gourou đã nhận định: “là con sông chủ yếu của Bắc Kỳ; chính nó đã tạo ra châu thổ bằng phù sa và chính nó luôn luôn đe doạ châu thổ khi tràn ngập. Sông Hồng chảy qua châu thổ như một kẻ xa lạ đáng sợ chứ không phải như một ngưòi cộng sự hữu ích, đó là do sự hung dữ và những trận lụt lớn của nó”.

Người dân châu thổ tưởng tượng cái sức mạnh ma quái của nước sông Hồng bằng những thần tượng như: Long vương, Hà bá, Thuỷ tề, Bạch xà, Thuồng luồng… khi hầu như không làm chủ được nó, và đôi khi còn lập đền thờ các lực lượng siêu nhiên ấy ở bên sông để mong kìm bớt cơn giận dữ khủng khiếp của nước lũ. Trong ký ức của nhiều người dân châu thổ Bắc Bộ vẫn còn in đậm hình ảnh những ngôi nhà đổ sụp khi sóng sông ào tới, từng cụm làng xóm trôi dạt, những gốc cổ thụ bật gốc cuốn đi trong cơn xoáy lũ, những bàn tay phụ nữ con trẻ chới với trong dòng nước đục ngầu gầm réo, đồng lúa ruộng màu bị cướp trắng trước cặp mắt ưá lệ đau đớn xót xa… Những con đê mồ hôi xương máu của biết bao người đã nhiều khi không chịu đựng được sức tàn phá của thuỷ thần. Hết đời này qua đời khác, người dân châu thổ không chịu đầu hàng lũ lụt, họ đã oằn mình ra để quai đê, hàn đê ngăn lũ không mệt mỏi… Không ít người ngày hôm nay vẫn còn lưu giữ trong ký ức của mình hình ảnh kinh hoàng của một thời: Tiếng trống ngũ liên thúc hối hả, tiếng kẻng canh đê, tiếng quát tháo của tuần đinh, cảnh nhốn nháo như ong vỡ tổ, những ngọn đuốc đỏ rừng rực từng đoạn sông, người dân châu thổ mồ hôi chan nước mắt chân cắm trong đất, tay ken vào nhau làm bức tường chắn sóng…

Cụ Lê Đại Cang đã sống giữa một giai đoạn cực kỳ phức tạp của lịch sử; dấn thân vào chốn quan trường nhiều cám dỗ và đầy bất trắc, cụ đã chọn cho mình con đường “ngày đêm chăm chỉ, một lòng báo quốc… vì nước quên nhà, vì công quên tư” (Lê thị gia phả) để có thể đem trí tuệ xuất chúng và tài năng đa diện của mình cống hiến cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đầy gian khó, lập nên một sự nghiệp lớn. Nhưng có một sự nghiệp để đời của cụ mà trong Lê thị gia phả hầu như không kể, nhưng lại được chính sử triều Nguyễn ghi chép lại rất nhiều: đó là công việc của một quan đê chính ở Bắc Thành những năm 1828-1831, với sứ mệnh cao cả là “giữ dân và vệ nông”- như sớ cụ tâu vua mà sử có chép lại.

Dân gian còn lưu truyền: tại công đường Nha đê chính – ở cửa Nam thành Hà Nội, cụ Cang đã cho treo hai câu đối: “Đê tồn Cang tại - Đê hoại Cang vong”, bộc lộ rõ quyết tâm sống chết với đê của một vị quan liêm chính, cương trực, ý thức sâu sắc về công vụ, người đặt trách nhiệm tồn vong của đê – tức sự sống còn của Dân lên trên sự sống còn của bản thân mình. Thực cảm động, và quả là bài học thấm thía đối với những công bộc của Dân hôm nay!

Khi đảm nhiệm phụ trách việc đê điều ở Bắc Thành, Lê Đại Cang đã lặn lội đi khảo sát, gặp các bô lão nhiều kinh nghiệm khắp các vùng Sơn Nam, xứ Đoài, Kinh Bắc… Cụ đã quan sát kỹ lưỡng dòng chảy của các con sông lớn, nhỏ, tìm ra quy luật dâng lũ của chúng để tìm cách giãn lũ – ví như cụ đã cho giãn lũ sông Cái – Nhĩ Hà qua sông Đuống, ra sông Cầu, bằng sông đào Ngũ Huyện Khê. Cụ còn dày công biên soạn cuốn sách thống kê các đê công – tư, giúp việc quản lý và phòng hộ đê điều chặt chẽ hiệu quả hơn. Sự nghiệp đê điều gian nan khôn xiết, bằng tinh thần tận tụy, trí thông minh, lòng quả cảm, cụ đã cùng dân chúng nhiều vùng quê châu thổ sông Cái – Nhĩ Hà xả thân đắp đê, sửa đê, ngăn được lũ lụt tàn phá làng mạc. Vua phê và khen rằng: “…nước sông lên to, mà đê phòng đều được vững chắc, thực nhờ phúc thần nhiều lắm”. Thực ra, Phúc thần ở đây lại chính là Quan hộ đê Lê Đại Cang, người bốn lần được trọng thưởng, ba lần bị phế chức, người trong hoàn cảnh hiểm nguy nào cũng không rời bỏ chức phận giữ dân và vệ nông. Và cho đến nay, một số vùng quê ven sông Hồng vẫn đang thờ cụ như một phúc thần thành hoàng làng, mà nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu văn hóa – lịch sử hôm nay cần phải tìm cho ra những di tích đặc biệt đáng quý này.

Vốn là một người làm phim truyện, Thế đặc biệt “mê” giai đoạn này của cụ Lê Đại Cang, thời mà vị quan văn võ toàn tài quê Bình Định đã kết mối lương duyên với người phụ nữ xinh đẹp dòng dõi nhà vua là quận chúa Lê Ngọc Phiên, rồi cùng bà vượt qua bao sóng gió hiểm nguy, để sau đó cụ trở thành một Quan hộ đê Bắc Thành đáng kính trọng vào bậc nhất trong lịch sử dựng nước của Dân tộc ta, được dân lập đền thờ hương khói đời đời… Trong óc anh đã hình thành đường dây câu chuyện cơ bản và hệ thống nhân vật của Âm bản một bộ phim điện ảnh mang tên: Quan hộ đê Bắc Thành.

Vùng đất Bình Định còn liên quan tới kịch bản điện ảnh Kiếm gỗ & Kiếm thép - một Âm bản của Thế mong dựng lại một đoạn đời khá quan trọng của danh nhân Đào Tấn, người từng được nói tới trong văn học, sân khấu, nhưng chưa hề được thể hiện trên màn ảnh lớn, để giúp cho đông đảo người Việt hiểu thêm một cách sinh động và toàn vẹn về một nhà văn hóa lớn của Bình Định. Trong hình tượng Kiếm giả - Kiếm thật, có một chủ đề ẩn sâu trong nguyên tác vở tuồng “Thanh gươm hát bội” của soạn giả Mịch Quang mà bộ phim cần khai thác: Đó là tấn Bi kịch lớn của một con người nhân hậu, chỉ muốn dùng tiếng nói của nghệ thuật để cải hóa dân chúng, thuyết phục nhà cầm quyền, thậm chí chinh phục kẻ thù dân tộc - nhưng cùng bất đắc dĩ phải dùng máu để rửa máu - phải dùng tới thanh kiếm thép thay cho thanh gươm hát bội để lấy lại công bằng! Đào Tấn lúc cuối phim đã thốt lên: “Ta mong sẽ được viết những lớp tuồng mà ngay cả thanh gươm giả này cũng không được dùng tới, hay chỉ được treo trên tường vĩnh viễn!” Đào Tấn khi buộc phải đổi ra Nghệ An làm tổng đốc An Tĩnh, đồng thời ông cũng quyết định toàn tâm toàn ý quay trở lại với nghệ thuật hát bội, với thanh kiếm gỗ, với một chí hướng đã chín muồi trong ông: chỉ nghệ thuật mới có khả năng cải hóa nhân tính, tác động mạnh tới phong hóa - đạo đức xã hội; chỉ thanh gươm hát bội mới có khả năng thay thế vĩnh viễn mọi thanh gươm thép trên đời - dù chúng sắc bén và chắc chắn đến đâu! Bởi giết một tên Bồi Ba chỉ là thành công nhất thời, và buộc phải nhuốm máu, nhưng cuộc sống sẽ sản sinh ra những tên Bồi Ba khác và chúng còn nguy hiểm hơn; điều quan trọng là cần triệt tiêu cái ác trong bản chất con người, cần tạo ra một môi trường sống nhân đạo mà trong đó những thú tính của Bồi Ba không còn đất sống nữa! Đây chính là tinh thần Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn/ Lấy chí nhân thay cường bạo của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi; và cũng là chính là tư tưởng của văn hào Nga Lev Tolstoy, của thánh Gandhi, của nhiều nhà nhân văn lớn trên thế giới từ xưa tới nay.

 19.

Thế và nhà báo Ngọ về huyện Nga Sơn Thanh Hóa để thực hiện một bộ phim tài liệu mang tên Vùng quê cổ tích theo hợp đồng. Nhưng đến Nga Sơn, việc đầu tiên là hai nhà báo tìm tới làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh thăm nhà thơ ẩn dật xứ Thanh: ông Hữu Loan.

Trước đó, Thế đã biết được đôi điều về thân thế, gia cảnh của ông: Trong Cách mạng tháng 8, ông đảm nhiệm chức Phó chủ tịch Ủy Ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, sau đó phục vụ trong đại đoàn 304. Ai ngờ rằng, bài thơ Màu tím hoa sim từng được lưu hành rộng rãi trong vùng kháng chiến, rồi được bao thế hệ người đọc say mê lại trở thành thứ “định mệnh” của đời thi sĩ: nó đã bị vu là “làm ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của quân nhân”, nên ông bị giải ngũ. Sau năm 1954 ông về làm việc tại báo Văn Nghệ ít năm, rồi bìu díu cùng vợ con trở về quê hương. Ông bắt đầu kiếm sống với nghề thợ đá trong nhiều năm ròng…

Khi Thế tới thăm một ông lão râu tóc bạc trắng như Tiên ông, trên người thi sĩ vẫn chưa biến hết dấu vết của những năm cực nhọc cần phải rắn rỏi trước đá tảng của người làm nghề thợ đá và trước những quan hệ xã hội của người mang cái án không tuyên là “phức tạp về chính trị, không trong sáng về tư tưởng” ở địa phương…

Nhưng tính cách khảng khái, cương nghị, thẳng thắn vẫn toát lên ở con người mang vóc dáng Đạo sĩ không chấp nhận một mảy may sự dối trá, lươn lẹo nào có thể đã giúp cuộc đời ông đỡ vất vưởng… Trong ba giờ đồng hồ, ông như không thèm để ý tới ống kính máy quay và máy ghi âm chĩa vào ông.

Ông nói về quê hương Mai An Tiêm gắn với sự tích quả dưa hấu, về một làng hầu hết mang họ Mai, về Thám hoa Mai Anh Tuấn mà tên cụ được đặt cho một mái trường của Nga Sơn và một con phố ở Thủ đô, về nữ tướng Lê Thị Hoa giúp Hai Bà Trưng đánh giặc Đông Hán tại vùng Nga Sơn, rồi tiếp tục tổ chức dân khai hoang, lập làng, lấn biển, và đã anh dũng hy sinh ngay trên mảnh đất mà bà đã dày công khai khẩn.

Ông kể về Động Từ Thức sống trong tuổi thơ ông, gắn liền với truyền thuyết Từ Thức gặp Tiên, nơi dừng chân của rất nhiều tao nhân mặc khách. Ông kể về Chiến khu Ba Đình, nơi nghĩa quân Cần Vương và nhân dân ba làng Mậu, Thượng và Mỹ Khê dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng đã đánh bại nhiều đợt tấn công của Pháp.

Ông say sưa kể về Cửa Thần Phù, động Lục Vân, động Bạch Ác – các động đẹp có chùa ở trong, nhiều vua chúa để lại những bài thơ khắc trên vách đá (ma nhai)…

Nhưng ông nói nhiều nhất là về những suy nghĩ của ông về thời cuộc, về vài “nhân vật lớn thời đại”, về cái hệ thống chính trị mà ông đã tham dự rồi rời bỏ không thương tiếc… Ông chắc biết rõ chuyện kiểm duyệt báo chí & truyền hình là thế nào, song dường ông không quan tâm. Ông chẳng cần biết những điều bộc bạch với mấy tay nhà báo này có đến được với công chúng hay không, chỉ cần được nói to nói rõ ràng với mấy kẻ tạm gọi là “đồng nghiệp” loại con cháu có vẻ đáng tin cậy này, thế là ông thấy mãn nguyện! Thế rụt rè bảo: “Nói thực với bác, nếu chúng cháu đưa mấy lời này của bác ra, sẽ bị mất nghề, bị an ninh “hỏi thăm” ngay…” Ông vuốt râu cười khà, rót rượu quê nút lá chuối như thưởng cho sự thực thà của hai nhà báo, rồi dẫn hai đứa ra thăm chùa quê ông - Chùa Vân Hoàn, giảng giải những gì ông biết rõ về lai lịch ngôi chùa và văn tự hiện còn trong chùa.

Chùa xưa kia có tên là Sùng Nghiêm Linh Tự, rồi chùa Vân Lỗi - là ngôi chùa lớn đầu tiên của huyện Nga Sơn, đã được chép trong sử sách. Theo lời truyền tụng, chùa là nơi tụ hội thường xuyên của những dải mây có màu sắc rực rỡ, nơi các nàng tiên giáng xuống để du ngoạn, đúng như ý nghĩa của từ Vân Hoàn (mây tụ lại). Theo hoa văn trên các bia đá quanh Chùa, thì chùa được dựng vào khoảng thế kỷ 12. Chùa có 11 văn bia khắc vào vách đá. Nay dù chỉ còn lại ba tấm bia nhưng cũng đủ để cho hậu thế hình dung cảnh sắc vùng này như cảnh tiên, cùng sự linh thiêng của ngôi chùa... Tấm bia thứ nhất còn nguyên vẹn một bài ký, một bài minh, và một bài thơ của danh nho Phạm Sư Mạnh thời Trần (Trích bài minh, dịch nghĩa từ chữ Hán): Đây núi Vân Lỗi/ Am sát ven sông/ Ai người tạo dựng/ Hoàn hảo vô cùng/ Giúp kẻ sống chết/ Ngàn năm phúc chung/ Đức lớn rủ lòng/ Chúng sinh cứu vớt/ Trên dẫn bến mê/ Dưới đưa cõi sống/ Người người phấn chấn/ Chốn chốn nghe danh/ Đạo huyền sâu sắc/ Biết đâu là cùng... (“Sùng Nghiêm tự Vân Lỗi sơn đại tự bi”).

Bia thứ hai, vẫn còn nguyên vẹn bài ký của tiến sĩ Ninh Tốn triều Lê - Trịnh, khi vãn cảnh chùa ông đã viết (dịch nghĩa): Kìa núi xanh rậm và vút lên thẳng đứng như bức bình phong ngọc, lại như trướng gấm thế kia. Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của núi Vân Lỗi ư? Phía trước núi là dòng sông lớn, triều dâng sóng cuộn, lồng lộng vòng eo, thủy triều lên xuống sớm chiều nhiều vẻ... Đó chẳng phải là cái hùng tráng, dũng mãnh của dòng sông bên sườn Vân Lỗi kia ư? Giữa eo núi hương thơm sắc tỏa, mịt mùng như móc như mây, lại như lầu gác cô đơn mà cao vút lên, thấp thoáng trong mây, lúc ẩn lúc hiện... Đó chẳng phải là cái vẻ đẹp của chùa Vân Lỗi này ư?.

Tấm bi ký thứ ba của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm khắc thơ vịnh (dịch nghĩa): Danh thắng nêu cao đệ nhất châu/ Dáng non như mực nước như dầu/ Am mây nửa khép mong huyền hạc/ Bãi cát dường ngăn cợt bạch âu/ Nẻo tuyết tiều men chân đá cứng/ Đường sao khách vượt bước nghềnh sâu/ Cao trông sóng cuộn theo tầm mắt/Trời đất mênh mang một sắc thâu.

Sách Đại Nam nhất thống chí cũng ca ngợi thắng cảnh này (dịch nghĩa): Lên núi trông ra ngoài cửa biển Bạch Câu thì thấy chim biển, thuyền buồm hiện ra trước mắt.

Ngoài cảnh đẹp nổi tiếng, chùa Vân Lỗi còn ghi lại dấu tích của mặt trận quyết chiến thời Trần. Sau khi chiến thắng quân Nguyên lần thứ ba, Hoàng thái hậu nhà Trần về chùa Vân Lỗi làm lễ cầu siêu cho các vong hồn của cả quân Nguyên và quân Trần được siêu thoát. Dân làng Vân Hoàn kéo đến rất đông và sáng tác trò diễn “Bát man” (giết chết tám tên tướng giặc).

Tại ngôi chùa cổ kính này, nhân dân làng Vân Hoàn đã nuôi dấu bà mẹ Trần Xuân Soạn để ông an tâm cùng nghĩa quân Ba Đình chống giặc Pháp…

Ông Hữu Loan kể: các cụ cao niên cho biết trước kia trên đỉnh núi Vân Hoàn có một cái hang, không rộng lắm nhưng rất sâu, người dân nối nhiều sợi dây thừng buộc hòn đá vào đầu dây thả mãi mà hòn đá vẫn không chạm đất, thì nay chỉ còn một cái hang nhỏ nông cạn. Ông bảo, tuổi thơ ông sống với sân chùa chim sáo ríu rít và vườn táo chín vàng, trẻ con thoải mái ăn... Giờ đây không gian chùa ngày càng bị thu hẹp, con sông trước mặt cũng đã bị bồi… Nhưng Sùng Nghiêm tự, Vân Lỗi sơn vẫn là nơi gửi gắm tâm linh duy nhất; ngày rằm, mùng một ngày tết, dân làng đều tới thắp nhang cầu mong mọi điều tốt lành.

Bài thơ Màu tím hoa sim của ông có mấy câu:

Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Trong khung cảnh thanh tịnh yên bình của ngôi chùa quê, Thế chợt hiểu: một trong những nơi nhà thơ “với vọng” để làm điểm tựa cho tâm hồn ông giữa gian nguy, khổ đau, mất mát, chính là ngôi Chùa quê này… Đó là ngôi chùa cổ rêu phong kiểu Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá/ Sư cụ nằm chung với khói mây (Nguyễn Khuyến); một ngôi chùa mà ở đó dân chúng và& Phật tử với tăng - ni cùng san sẻ tình nghĩa đồng bào qua mọi cảnh ngộ vui buồn sướng khổ, cúng dường và tiếp nhận cúng dường dâng lên Tam Bảo vài nải chuối, mấy quả cau và cả tấm lòng hướng về cái Thiện, cái Tuệ, cái Nhẫn…

Thế càng thấm hiểu vì sao con người tài hoa gầy yếu ấy, cùng với người vợ đảm đang, chắt chiu, tần tảo đã kiên cường được giữa một vùng quê nghèo để nuôi dạy nổi mười người con lớn lên và trưởng thành… Vì sao ông có thể sống được qua cảnh phải nạy từng khối đá đưa lên chiếc xe cút kít thô sơ đem đi bán ở các lò thợ làm cối, làm thớt, làm kê chân cột và làm vật liệu xây dựng; nhưng bán cả chục xe đá, rồi ban đêm lại vác te vó đi, mới kiếm đủ cơm dưa muối hai bữa cho đàn con nhỏ…

Những trăn trở của ông về thế sự mà anh có dịp may mắn ghi lại, chưa biết đến bao giờ mới có thể công bố được, nhưng anh biết rõ: ngay cả những nỗi bức bối, buồn phiền, phẫn nộ của ông cũng đều có nhịp đập của một Trái tim Thiền đáng quý vô hạn, sẽ cần thiết lâu dài cho cuộc đời, bởi chúng được sinh ra ở vùng quê Cổ tích đang chật vật khổ đau tìm về cội nguồn Cổ tích đích thực của một dân tộc sùng Đạo Phật và yêu Lẽ phải…

20.

Thế và đoàn làm phim đang đi trên sông nước của một vùng quê Hà Tĩnh đượm màu huyền thoại...

Trước khi đưa đoàn làm phim tới đây để thực hiện bộ phim tài liệu về một danh thắng và một lễ hội cổ truyền đặc sắc vào bậc nhất vùng An Tĩnh xưa, anh đã tìm đọc khá nhiều tài liệu, và thả hồn trong chính sử, dã sử...

Truyền thuyết kể lại: xưa kia, sau cuộc kỳ ngộ trên bãi sông để nên duyên vợ chồng, công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử bị vua cha là vua Hùng thứ III tức giận và không nhận làm con nữa. Đôi vợ chồng trẻ phải bươn chải buôn bán nơi đầu sông cuối chợ. Rồi một ngày kia Chử Đồng Tử đã giong buồm đến một ngọn núi ở giữa biển để tu hành đắc đạo. Trong tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái đời Trần, ở truyện Nhất Dạ Trạch có nói đến chuyện một nhà sư tên là Phật Quang đã truyền dạy đạo Phật cho Chử Đồng Tử và Tiên Dung tại một ngôi chùa ở núi Quỳnh Viên. Ngọn núi ấy chính là Quỳnh Viên - Nam Giới, một danh thắng bậc nhất của xứ Nghệ. Nhưng giới nghiên cứu Việt Nam trong một thời gian dài đều coi đó là "một ngọn núi chỉ có trong thần thoại" (như nhóm chủ biên Thơ văn Lý Trần tập III), cho tới khi TS. Lê Mạnh Thát trong cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam đã xác nhận rằng, núi Quỳnh Viên là có thật, và đưa dẫn chứng bằng mấy câu trong bài Nam giới hải môn của vua Lê Thánh Tông làm năm 1470 khi đưa quân đi chinh phạt Chiêm Thành: Di miếu man truyền Kim Vũ Mục/ Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên (Di miếu còn truyền nay Vũ Mục - Danh sơn vẫn nhắc cổ Quỳnh Viên).

Sau khi miêu tả lai lịch di tích Vũ Mục, tác giả Lịch sử Phật giáo Việt Nam khẳng định núi Quỳnh Viên nằm tại cửa Sót là có thật, trên đó còn có một ngôi chùa, và như vậy đã hé mở được phần nào vấn đề Phật giáo được truyền vào nước ta từ thời đại Hùng Vương vốn là đề tài tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu. Sách Nghệ An chí của tiến sỹ Bùi Dương Lịch đời Gia Long cũng chép: “Huyền sử đời Hùng Vương tương truyền rằng Chử Đồng tử và nàng Tiên Dung tu tiên đắc đạo ở Rú Bể nên gọi là núi Quỳnh Viên và đó cũng là cái tên xưa nhất của dãy Nam Giới này”.

Dân gian thì gọi dãy Quỳnh Viên Nam Giới là “Núi Sót”, “Rú Bể”, Rú Bằng”; “Rú Bằng đội mũ, Rú Bể mang tơi” thì trời động mưa. Đây là ranh giới phía nam của Việt Thường xưa thuộc nước Nam hồi thế kỷ thứ IX. Bên kia sông Sót ngày xưa là núi Mốc, hay tên chữ là Mục Sơn. Trên mình Quỳnh Viên và xung quanh nó là cả một vùng di tích lịch sử văn hoá có niên đại kéo dài từ thời hậu kỳ đá mới cho đến tận thời hiện đại, mà tiêu biểu nhất là đền Chiêu Trưng.

Dãy núi Quỳnh Viên, với đền Chiêu Trưng thờ danh tướng Lê Khôi là một danh thắng thiên nhiên và di tích lịch sử đẹp nhất của tỉnh Hà Tĩnh cũng như của cả miền Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình. Quần thể miếu, lăng này hài hoà trong vẻ đẹp hùng vĩ của biển trời lồng lộng đã dâng cho đời sự hoành tráng, cổ kính của kiến trúc dân tộc. Trên những mái núi trập trùng nhiều khe suối ngày đêm chảy, nổi tiếng nhất là khe Hau Hau, nước ngọt uốn lượn. Ngày xưa là nước cống tiến vua khi ngài ngự qua tỉnh An Tĩnh. Nơi đây đã in biết bao dấu chân tao nhân mặc khách của cả nước, như nhà Vua - chủ soái thi đàn Hồng Đức Lê Thánh Tông, như thi nhân lãng tử Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu... Cách đền Chiêu Trưng đại vương không xa là đền Thánh Mẫu và đền Ngư ông họp lại thành một quần thể di tích thắng cảnh độc đáo vùng Quỳnh Viên - Nam Giới - Cửa Sót...

Đền Chiêu Trưng là một di tích lịch sử văn hoá từ thế kỷ XV đặc biệt hiếm hoi còn sót lại. Di tích lại đặt tên một ngọn núi vươn ra biển cả, phong cảnh ít nơi nào sánh được. Danh thắng Quỳnh Viên và di tích lịch sử đền Chiêu Trưng đã được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia. Sách Nghệ An chí có đoạn viết về Long Ngâm: “Hình núi như trán rồng, liền ở dưới có một dải sống như vòi rồng, hai bên tả hữu có hai tảng đá tròn như mắt rồng, dưới núi có một cái ao lộ thiên rộng và sâu, hình miệng rồng, bốn phía xung quanh ao toàn là cỏ rậm, bùn lầy không thể vào được. Hai bên có hai nhánh núi ôm quặt lại như hai chiếc râu rồng, nước ao chảy quanh co từ trong núi ra biển, ngoài biển lại nổi lên một ngọn chắn ngang, sóng vỗ ầm ầm như sấm động".

Đền Chiêu Trưng thờ đại vương Lê Khôi, là khai quốc công thần của nhà Lê. Ông đã từng dự hội thề Lũng Nhai lịch sử năm 1416, là một võ tướng toàn tài của nghĩa quân Lam Sơn, có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp Bình Ngô cứu quốc của Lê Lợi. Lê Khôi làm quan trải ba triều, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng. Khi ông mất, cả triều đình đều xúc động, cảm thương, Nhà vua cho bãi triều ba ngày. Sau đó, truy tặng ông chức "Nhập nội đô đốc", phong thần và cho dựng đền thờ trước lăng mộ. Ngọn Long Ngâm, nơi an táng phần mộ và lập đền thờ Lê Khôi ở phía đông bắc dãy Quỳnh Viên. "Thượng đẳng phúc thần" - đó là một danh hiệu cao quý ghi trong một Sắc phong của triều đình cho đức thánh Lê Khôi.

Xa xa, nhìn về phía tây nam ở ngã ba Hộ Độ, ba con sông của huyện Thạch Hà hợp lưu thành một dòng lớn đổ ra Cửa Sót như một dải lụa xanh mềm mại, sóng đuổi nhau vô tận, hoà chảy vào mênh mông xanh biếc của đại dương, tạo nên một cảnh quan kỳ thú...

Trước ngày chính hội, các xã đã tổ chức rước trọng thể trong làng, về tới đền thờ vọng. Đoàn làm phim đã tới hai đền thờ vọng ở Mai Phụ và Thạch Hải, ghi cảnh náo nhiệt tập rượt chuẩn bị cho chính hội hôm sau. Đêm trước chính hội, đoàn làm phim nghỉ lại trong Đền. Thế đi xuống bãi đá, nhìn về đất liền hàng phi lao tối xẫm đang ấp ủ hàng trăm cờ xí, kiệu lọng, phục trang cổ... để sớm mai sẽ rực rỡ trên mặt biển đi tới Đền. Suốt đêm trên sân Đền nóng bức, muỗi như trấu, Thế tranh thủ hỏi chuyện các cụ trực Đền về ký ức của dân gian với Đức Thánh Lê Khôi cũng như về tiến trình Lễ hội hôm sau. Lễ rước ở đây có một điều khá đặc biệt - đó là điểm xuất phát của lễ rước được bắt đầu từ các đền thờ vọng của các xã Mai Phụ, Thạch Kim, Thạch Hải và Thạch Bàn, cùng với hai ngôi đền gần với đền Lê Khôi là đền Thánh Mẫu và đền Ngư Ông. Nhưng trước khi về đền chính, các đoàn rước đều dừng lại ở đền Thánh Mẫu. Sau đó, các đoàn rước đi bằng đường biển sẽ nhập với đoàn rước của xã Thạch Hải đi đường bộ qua núi tập kết tại đền chính. Đoàn làm phim của Thế đã rất vất vả để có thể ghi hình được hết các đoàn rước tới Đền - cả đường bộ lẫn đường biển.

Những năm Lê Khôi trị nhậm ở châu Hóa, ông đã làm được nhiều việc mà cả quân sĩ và dân chúng đều khâm phục tài cai quản của viên võ tướng này. Lúc ấy, đất nước đang có chiến tranh, nên dân chúng lưu tán khắp nơi, đặc biệt là đến các vùng rừng núi hẻo lánh, san đồi, vỡ đất, để tự nuôi sống mình. Ông cho quân sĩ đến thăm hỏi và chiêu dụ dân về những nơi quy định mà ông đã phác họa trên bản đồ. Ông khuyên mọi người làm ruộng, lấy nghề nông làm nghề cơ bản để có lương thực nuôi mình quanh năm và đóng góp để nuôi binh sĩ. Lê Khôi còn khuyên các gia đình trồng dâu nuôi tằm, dệt lấy lụa, vải mà mặc. Ông cử từng đội quân nhỏ kiên trì vận động đồng bào làm ăn lương thiện và giúp đỡ quân sĩ truy bắt những tên trộm cướp. Những tên có tội nặng thì chiếu luật mà nghiêm trị. Những tên mới lần đầu phạm ở mức nhẹ thì khuyên răn rồi cho về. Nhờ đức và uy của ông, những tên "đầu trộm đuôi cướp" dần dần tỉnh ngộ, tự thấy tội lỗi của mình và ăn năn hối cải, làm ăn lương thiện...

Đời vua Thái Tông, Lê Khôi bị vu cáo bởi một số kẻ xu nịnh, ông bị cách chức, trở thành dân thường. Nhưng rồi, nỗi oan được giải tỏa, nhờ sự sáng suốt của vua Nhân Tông, ông được phục chức và được cử đến trị nhậm xứ Nghệ An. Đến năm 1487, khi gia phong Lê Khôi tước vương, vua Lê Thánh Tông có bài thơ giao cho tỉnh thần đưa vào tế lễ ở Long Ngâm có câu: “Võ Mục hưng trung ẩn giáp binh”, khen ông là "người trầm tĩnh, cương nghị, trung dũng hơn người". Các bài tán của Tể tướng Bùi Huy Bích cũng ca ngợi ông là vị anh hùng đất nước, đem gươm đi mở cõi và giữ vững biên cương tổ quốc...

Xưa kia, Lê Khôi đi đánh trận về đến cửa Sót là đi bằng đường biển từ Thuận Hóa ra, vì thế, nhân ngày kỵ của ông, người dân Cửa Sót đã tổ chức những cuộc thi bơi thuyền để diễn tả lại chiến tích của ông, và đoàn phim đã đi theo thuyền chủ khảo để ghi lại những hình ảnh sôi động này trên sông biển ngập nắng.

Như vậy là, khi sống, Lê Khôi là một vị tướng giỏi giúp dân dẹp loạn, chống giặc ngoại xâm, khi mất ông trở thành một vị thánh che chở cho muôn dân mỗi khi gặp hoạn nạn... Không chỉ có công lao to lớn với đất nước, ông còn là người hết mực thương yêu, đùm bọc, chăm lo đời sống cho nhân dân, được nhân dân Hóa Châu một lòng tin yêu, mến phục, kính trọng. "Sanh vi danh tướng, tử vi thần" - trong lòng người, ông đã hóa thần, luôn dõi theo phù hộ nhân dân và canh giữ vùng biên cương. Nhân dân ở khắp mọi nơi, tiêu biểu là vùng Thạch Hà, Lộc Hà - Hà Tĩnh, Nghi Lộc, Hưng Nguyên - Nghệ An và Đông Ngạc - Từ Liêm Hà Nội đã lập đền thờ vọng ông, mong nhận được sự che chở của ông... Công đức và ân nghĩa của danh tướng Lê Khôi - đặc biệt là tấm lòng thương dân như trời biển của ông đã biến thành dòng suối ngọt ngào di dưỡng tâm hồn và in hằn mãi mãi trong tâm tưởng của người dân Việt, như cảm giác của thi sĩ Tản Đà: Nước núi Sót mát lòng ưu ái. Phải chăng, đó cũng là bài học thấm thía cho các bậc cầm quyền cai trị dân ở bất kỳ thời đại nào...

Việc làm phim giữa những ngày cuối tháng 5 bỏng lửa của Thế có sự giúp đỡ tận tụy vô tư của người dân Thạch Hà, Lộc Hà, họ đã không quản mưa nắng đêm hôm, tạo mọi điều kiện cho đoàn Thế vượt biển nhiều lần ra núi Quỳnh Viên, đã xốc vác giúp đoàn khuân đồ lề quay phim có khi hàng cây số leo núi trong suốt giai đoạn quay bộ phim mà anh sẽ đặt tên là: Nước núi Sót mát lòng ưu ái

Nhưng đợt làm phim này đối với Thế còn có một ý nghĩa riêng tư hết sức đặc biệt: Thế đã bỏ đoàn nửa ngày sau hôm quay chính hội, một mình đi thuê thuyền để tới ngọn Quỳnh Viên, leo tới đỉnh mong tìm được sự tích về ngôi chùa đầu tiên nước Việt, và may ra được hưởng chút linh khí nguyên sơ của Đạo Phật Việt tự ngàn xưa để có thể viết nổi kịch bản điện ảnh về Người Phật Tử đầu tiên của nước Việt mà anh ấp ủ nhiều năm… Tại ngôi chùa mang tên Quỳnh Viên[110] gần sát đỉnh núi, từ trên cao, Thế nhìn ra biển khơi. Trong ánh sáng loáng bạc đang dần hòa lẫn vào màu nước lục mịt mù, anh có cảm tưởng đang xuất hiện mấy cánh buồm lớn thời cổ đang lướt gió hướng về vùng đất huyền thoại…

[110] Ngày 28/3/2023, tại Trung tâm văn hóa Phật giáo tỉnh Hà Tĩnh (xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà), Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Trường Đại học Vinh tổ chức hội thảo khoa học quốc gia “Phật giáo Hà Tĩnh trong dòng chảy lịch sử - văn hóa Phật giáo Việt Nam”. Tại Hội thảo này, TS. Lê Mạnh Thát có đề nghị: "Thời gian tới, tỉnh Hà Tĩnh cần tổ chức một cuộc khảo cổ về những di tích tại núi Long Ngâm, trong đó có nền nhà Chử Đồng Tử bên chùa Quỳnh Viên để góp phần minh chứng cho việc khẳng định vấn đề nêu ra". Cũng trong Hội thảo, các tham luận tập trung đưa ra các luận điểm và bằng chứng khoa học để khẳng định: chùa Quỳnh Viên nằm trên núi Long Ngâm, cạnh Cửa Sót (thuộc địa phận xã Thạch Hải, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh) ngày nay là nơi phát tích của Đạo phật Việt Nam.