Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

Một cuốn sách đi qua giới tuyến (Góc nhìn Văn học sử)

 Nguyễn Xuân Vượng

Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977) là một cây bút lão thành của văn học Việt Nam hiện đại, có sức sống bền bỉ trong nhiều thế hệ độc giả. Ông tham gia cách mạng, đảm nhiệm nhiều công việc trong kháng chiến chống Pháp. Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, năm 1957, Hội Nhà văn Việt Nam được thành lập và Nguyễn Công Hoan trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội. Vị trí ấy khiến người ta liên tưởng đến Nguyễn Tuân, người từng giữ cương vị Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam từ Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất năm 1948. Hai nhà văn lớn, hai cá tính văn chương rất khác nhau, nhưng đều được đặt vào những vị trí tiêu biểu của đời sống văn nghệ trong những năm đầu của một thời đại mới.

Nhìn lại, những lựa chọn của lịch sử và nghề nghiệp đôi khi thật tinh tế: Nguyễn Công Hoan bước vào cách mạng và trở thành người đứng đầu Hội Nhà văn, nhưng những tác phẩm làm nên sức sống lâu bền nhất của tên tuổi ông lại phần lớn được viết từ trước đó - trong một không gian văn chương mà tài năng của nhà văn được định hình bằng chính sức quan sát xã hội, tiếng cười trào phúng và bản lĩnh riêng của ngòi bút.

Ở một góc khác, ở Sài Gòn, tháng 1 năm 1967, khi chiến tranh Việt Nam đang ở một trong những giai đoạn khốc liệt nhất. Đất nước bị chia cắt. Hai miền không chỉ đối đầu bằng súng đạn mà còn bằng ý thức hệ, tuyên truyền, văn hóa và cách nhìn về con người ở phía bên kia. Vậy mà tại Sài Gòn, Nhà xuất bản Hợp Lực lại cho tái bản cuốn tiểu thuyết Lá ngọc cành vàng của Nguyễn Công Hoan. Chuyện tưởng bình thường, nhưng đặt đúng vào thời điểm ấy lại không hề bình thường.

Nguyễn Công Hoan khi đó đâu phải một nhà văn tiền chiến đã lui vào quá khứ. Ông sống ở miền Bắc, tham gia cách mạng từ trước năm 1945, là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và giữ những vị trí quan trọng trong đời sống văn nghệ miền Bắc. Em trai ông là Lê Văn Lương, một cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng Lao động Việt Nam. Con trai ông, Nguyễn Tài, cũng là một cán bộ quan trọng của phía Bắc. Nhà xuất bản ở Sài Gòn chắc chắn không thể không biết Nguyễn Công Hoan đang đứng ở đâu. Thậm chí họ nói thẳng điều ấy trong lời giới thiệu: “Hiện tại, Ông là một nhà văn đang phục vụ cho chính quyền Miền Bắc…”. Không né tránh. Không nhập nhằng. Họ còn phê phán chế độ miền Bắc và cho rằng trong một môi trường "suy tưởng một chiều”, Nguyễn Công Hoan khó có thể tiếp tục sáng tạo được những tác phẩm có giá trị như thời tiền chiến. Đó là quan điểm chính trị của người viết lời giới thiệu. Có thể đồng ý hoặc không đồng ý. Nhưng điều khiến tôi chú ý lại nằm ở một câu chuyện khác: Họ phê phán con đường chính trị của Nguyễn Công Hoan, nhưng vẫn xuất bản văn chương Nguyễn Công Hoan. Họ không xóa tên ông khỏi văn học Việt Nam chỉ vì ông đang sống bên kia vĩ tuyến 17.

Không những thế, NXB còn trân trọng giới thiệu hàng loạt tác phẩm của ông, từ Bước đường cùng, Cô giáo Minh, Tấm lòng vàng… và thừa nhận rằng một số tác phẩm đã được tuyển chọn làm tài liệu tham khảo cho chương trình Đại học Văn khoa. Và họ tuyên bố lý do tái bản là để sinh viên có tài liệu tham khảo, đồng thời “sưu tập và bồi dưỡng lại những áng văn hay của nền văn học nước nhà”. Tôi đặc biệt chú ý bốn chữ: “Văn học nước nhà.” Năm 1967, “nước nhà” đang bị chia đôi. Nguyễn Công Hoan ở miền Bắc. Nhà xuất bản ở Sài Gòn. Hai chính quyền đang trong chiến tranh. Nhưng tác phẩm của ông vẫn được nhìn nhận như một phần của văn học Việt Nam. Đó là điều đáng suy nghĩ.

KHI TÁC PHẨM KHÔNG BỊ XÉT LÝ LỊCH

Có lẽ điều thú vị nhất từ bản Lá ngọc cành vàng này không chỉ nằm trong nội dung cuốn tiểu thuyết, mà nằm ngay ở việc nó được xuất bản. Người ta có thể chống lại tư tưởng của một nhà văn nhưng vẫn đọc ông. Có thể phê phán lựa chọn chính trị của ông nhưng vẫn thừa nhận giá trị văn chương của ông. Có thể coi ông thuộc về phía đối phương mà không nhất thiết coi toàn bộ những gì ông từng viết là sản phẩm cần loại bỏ. Ở đây xuất hiện một ranh giới rất quan trọng: Nhà văn có đời sống chính trị của nhà văn. Tác phẩm có đời sống riêng của tác phẩm. Tất nhiên, không nên từ một cuốn sách mà lý tưởng hóa toàn bộ đời sống văn hóa của Việt Nam Cộng hòa. Miền Nam thời chiến cũng có kiểm duyệt. Cũng có sách báo bị cấm, bị tịch thu. Cũng có những giới hạn mà chính quyền đặt ra đối với báo chí và xuất bản. Nhưng trường hợp Nguyễn Công Hoan năm 1967 vẫn là một chứng cứ đáng nghiên cứu. Bởi ông không phải một tác giả “không rõ lập trường”. Lập trường của ông quá rõ. Gia đình ông cũng quá rõ. Vậy mà Lá ngọc cành vàng vẫn được in tại Sài Gòn. Không phải in lén. Không phải chuyền tay. Mà được một nhà xuất bản công khai phát hành, có lời giới thiệu, có mục đích phục vụ độc giả và sinh viên.

VÀ MỘT CÂU HỎI TỪ PHÍA BÊN KIA

Chính điều đó khiến tôi nghĩ đến một câu hỏi khó hơn: Trong cùng thời kỳ ấy, văn học của những tác giả thuộc phía bên kia được đối xử như thế nào ở miền Bắc? Sau năm 1954, đời sống văn học miền Bắc được tổ chức trong một hệ thống tư tưởng và quản lý văn hóa rất khác. Văn chương gắn chặt với nhiệm vụ chính trị và cách mạng. Những tác giả, tác phẩm bị xem là không phù hợp về tư tưởng có thể bị hạn chế phổ biến hoặc bị loại khỏi không gian chính thống. Sau năm 1975, nhiều sách báo xuất bản dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng từng trải qua một thời kỳ bị xem xét chủ yếu từ nguồn gốc chính trị của chúng. Không ít giá trị văn học, giáo dục, học thuật của miền Nam phải rất lâu sau mới dần được đọc lại bằng cái nhìn bình tĩnh hơn. Bởi vậy, bản Lá ngọc cành vàng của Hợp Lực khiến tôi suy nghĩ không phải vì muốn phân định bên nào “văn minh” hơn bên nào. Tôi nghĩ đến một điều giản dị hơn: Một nền văn hóa mạnh có cần sợ tác phẩm của người bất đồng với mình không? Một cuốn tiểu thuyết hay không trở thành dở chỉ vì tác giả là cộng sản. Một công trình có giá trị cũng không tự nhiên mất giá trị chỉ vì người viết từng đứng về phía Việt Nam Cộng hòa. Nếu lấy lý lịch của tác giả làm tiêu chuẩn đầu tiên để quyết định tác phẩm có được đọc hay không, thì cuối cùng chính văn hóa là thứ bị nghèo đi. Gần sáu mươi năm sau ngày Hợp Lực in lại Lá ngọc cành vàng, cầm cuốn sách cũ ấy trên tay, điều khiến tôi chú ý không chỉ là Nguyễn Công Hoan đã viết gì. Tôi chú ý đến cách người ta đã cho phép Nguyễn Công Hoan được hiện diện như thế nào trong một xã hội đang chiến tranh với chính phía mà ông lựa chọn đứng về. Một nhà xuất bản Sài Gòn năm 1967 có thể nói: "Chúng tôi không đồng ý với ông hôm nay. Nhưng những gì hay ông đã viết hôm qua vẫn thuộc về văn học nước nhà."

Tôi cho rằng đó là một cách ứng xử đáng để hậu thế suy ngẫm. Bởi chiến tranh rồi cũng kết thúc. Chế độ có thể thay đổi. Những đường biên ý thức hệ cũng có thể dịch chuyển theo thời gian. Nhưng văn hóa của một dân tộc chỉ thực sự giàu có khi nó đủ rộng để giữ lại những giá trị của cả những người từng đứng ở phía bên kia. Gần sáu mươi năm sau, chúng ta đã đủ bình tĩnh để đọc những di sản của quá khứ bằng giá trị của chính nó, hay vẫn còn phải hỏi trước: - Tác giả ấy từng đứng về phía nào?

Trân trọng!

NXV. 26-7-26

Lời Nhà Xuất bản Hợp Lực:

ĐỘC GIẢ thân mẫn,

Nhắc đến NGUYỄN CÔNG HOAN, chắc Quý Vị không còn xa lạ gì nhà văn ấy,

Trong thời Tiền chiến, ai mà chẳng đọc qua các quyển: Tắt lửa lòng, Bước đường cùng, Tấm lòng vàng, Cô giáo Minh, Trên đường sự nghiệp, Lệ Dung, Nợ nần, Bơ-, v.v.

Hơn nữa, một số tác phầm của Ông đã được vài Đoàn Kịch-nghệ nồi tiếng thời ấy phóng-tác thành tuồng cải lương, lưu diễn từ Nam chí Bắc và được đồng bào các giới tán thưởng nồng nhiệt !

Ông sáng-tác đủ mọi xu hướng: Trữ tình, Xã hội, Tranh đấu, Giai cấp... nhưng có một điềm nồi bật hơn hết, là mỗi tác phầm của Ông đều mang một sắc thái đặc biệt..., đánh dấu một bước tiến mới cho bộ môn tiều thuyết thời ấy.

Nhưng, từ 20 năm qua... những tác phầm của Ông hầu hết đều thất lạc, hay mai một vì nạn Đất Nước qua phân tranh.

... cho đến bây giờ, một số tác phầm của Ông đã được tuyền chọn làm Tài liệu Tham khảo Văn chương cho Chương trình Đại-học Văn-khoa.

Vì vậy, đề giúp cho các sinh viên Đại học có đầy đủ tài liệu tham khảo cũng như sưu tập và bồi dưỡng lại những áng văn hay của nền văn học nước nhà, chúng tôi không ngại, tái bản một số tác phầm chọn lọc của Ông.

Ngoài ra, nhắc và nói đến Ông, chúng tôi không vì mục đích chính trị hay một tham vọng nào khác.

Ở đây, chúng tôi chỉ nhắc và nói đến Ông: con người NGUYỄN CÔNG HOAN của thời xa xưa Chứ hiện tại, Ông là một nhà văn đang phục cho chính quyền Miền Bắc thì, dù muốn dù không, ngồi bút của Ông cũng không thể phục vụ một cách thiết thực và hữu hiệu cho nền văn học hiện đại.

Và, sống dưới chế độ đảng trị, với lối suy tưởng một chiều, chúng ta không tin rằng Ông sẽ sáng-tác được những tác phầm mà, tương đối, có được một tầm giá trị sâu rộng, và được quần chúng ưa chuộng như những tác phầm mà Ông đã sáng tác trong thời Tiền chiến.

SAIGON, ngày 1 tháng 4 năm 1967.

------

Tóm tắt truyện:

Lá ngọc cành vàng viết về gì?

Đây là một đoản thiên tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan viết xong khoảng năm 1935, xuất bản lần đầu vào tháng 5/1939.

Câu chuyện xoay quanh Nga, con gái một quan tri phủ, và Chi, con trai một bà góa nghèo bán hàng. Hai người yêu nhau nhưng đứng ở hai đầu của trật tự xã hội: một bên là “lá ngọc cành vàng”, gia đình quyền thế; bên kia là người nghèo.

Bi kịch bắt đầu khi gia đình Nga phát hiện mối tình ấy. Quan phủ coi việc con gái yêu một người không “môn đăng hộ đối” là làm nhục gia phong, bất hiếu với tổ tiên. Nga bị ép buộc, hành hạ; tình yêu càng bị cấm đoán càng trở thành bi kịch. Sau những biến cố, Nga mang thai với Chi. Người cha bắt con gái phá thai; Nga không chịu và cuối cùng bị chính cha đánh đến chết.

Bởi vậy, đọc nó chỉ như một tiểu thuyết tình yêu bi thảm thì chưa đủ. Nguyễn Công Hoan dựng lên ít nhất ba xung đột chồng lên nhau: giàu – nghèo, quyền lực gia đình – quyền sống cá nhân, lễ giáo cũ – khát vọng tự do của con người. Một nghiên cứu về tác phẩm cũng nhấn mạnh kết cấu xung đột giàu/nghèo và cũ/mới, cùng giọng điệu phê phán đặc trưng của Nguyễn Công Hoan.

Tên Lá ngọc cành vàng vì thế mang màu sắc mỉa mai rất Nguyễn Công Hoan: một cô gái được coi là “cành vàng lá ngọc”, tưởng được nâng niu nhất, cuối cùng lại trở thành nạn nhân của chính gia đình, địa vị và thứ “gia giáo” được dựng lên để bảo vệ cô.