Mai An Nguyễn Anh Tuấn
10.
Vào đầu những năm 90, cả nền điện ảnh Việt Nam tan tác như ong vỡ tổ, nhiều người làm phim đã phải tìm vào Sài Gòn – nơi đang sôi động với phim “mỳ ăn liền” để giữ nghề, và để kiếm sống, cùng với Thế có nhà biên kịch Nhuận. Trong khi Thế “chào thua” để làm dịch vụ văn hóa thì Nhuận lại lao vào viết kịch bản, làm cả đạo diễn loại phim như thế, có tên: Người nghèo cũng cười (theo motif phim “truyền hình xà-phòng” nước ngoài Người giàu cũng khóc xáo động màn ảnh nhỏ một thời!). Bế tắc vẫn hoàn bế tắc, bởi khó có thể “Khóc – Cười” lâu với với loại phim thị trường hạ cấp này, Nhuận cùng một số anh chị em điện ảnh tạm gọi là “trẻ” đứng ra thành lập “Trung tâm Điện ảnh Trẻ” mong cứu vớt điện ảnh nước nhà; cuộc họp ra mắt đông đảo tại Hội Điện ảnh Việt Nam, và đã bầu ra năm “thủ lĩnh đáng ghét” (dĩ nhiên là đáng ghét đối với những người lãnh đạo Văn hóa – Điện ảnh lúc đó) - gồm Trọng Lưu, Tiến Phi, Hoàng Nhuận, Nguyễn Quang, và Thế (được sự ủng hộ ngầm của một số đạo diễn đàn anh, trong đó có các đạo diễn Huy, Đặng Nhật).
Một ngày cuối đông vào năm Liên Xô sụp đổ, một sự kiện mà Lịch sử Điện ảnh Việt Nam chắc chắn sẽ phải trân trọng ghi lại, khi sự hẹp hòi vĩnh viễn trở thành quá khứ: Tổ chức của những người sáng tác & hoạt động trẻ trong ngành Điện ảnh ra đời mang tên TRUNG TÂM ĐIỆN ẢNH TRẺ. Thế đã thay mặt cả Trung tâm viết và đọc bài ra mắt của Trung tâm tại phòng chiếu phim của Hội Điện ảnh:
Nhu cầu trẻ hóa, năng động hóa luôn luôn nằm trong bản chất của một nghệ thuật nhạy cảm và giàu tính quần chúng - đó là nghệ thuật Điện ảnh. Những “làn sóng mới” của Điện ảnh nhiều quốc gia có thể nói là những cuộc “giải phóng năng lượng sức trẻ” ở ngay trong những “con tàu Điện ảnh” nặng nề tìm cách xuyên qua các châu lục và các thế kỷ… Không thể chậm chễ hơn được nữa, Điện ảnh Việt Nam cần phải chuyển mình sau những giấc ngủ dài mê mệt với những cơn mơ hãi hùng… Thế hệ Điện ảnh trẻ Việt Nam - thế hệ kế cận đã có lúc hoang mang, chán nản, bế tắc. Nhiều mảnh đất bỏ hoàng trong Điện ảnh mà trên đó đua nhau mọc đầu cỏ dai, cỏ độc… Mang dòng máu của cha ông đất Việt, kế thừa truyền thống của nền Điện ảnh Cách mạng gần 40 năm, thế hệ Điện ảnh trẻ Việt Nam hôm nay không thể khoanh tay phó mặc, họ thấy rằng cần phải tập hợp nhau lại trong một tổ chức tự nguyện để góp phần tháo gỡ khó khăn chung cho cả ngành… Trung tâm Điện ảnh Trẻ ra đời, cần hoạt động ra sao để duy trì sự tồn tại và uy tín cần thiết của mình? Làm gì có lối vạch sẵn! Lỗ Tấn từng nói: “Thế gian làm gì có đường đi, cứ đi mãi sẽ thành đường”. Cuộc tụ họp hôm nay cũng có thể là một lời kêu gọi các thế hệ điện ảnh đi trước cảm thông và trợ lực cho bước đường gian khó của những thế hệ Điện ảnh tiếp nối…
Sau khi Đại hội bầu ra được một Ban điều hành Trung tâm (gồm 5 người), Ban điều hành đã gấp rút tiến hành một loạt công việc: Hình thành các Tiểu ban hoạt động; làm thẻ cho các thành viên Trung tâm (hơn trăm người, có cả sinh viên, học sinh nhiều tỉnh thành); khắc con dấu riêng; xin giấy phép hành nghề của Bộ Văn hóa-TT-TT-DL; thành lập hoặc đỡ đầu một vài lớp học về năng khiếu Điện ảnh; không ít kịch bản vứt lay lắt phủ bụi trong ngăn kéo Biên tập các Hãng phim được Trung tâm đọc thẩm định; lo tìm nguồn đầu tư sản xuất và phát hành; liên kết với một số đơn vị nghệ thuật phía Nam; và sau đó một vài đầu phim của Trung tâm đã vào giai đoạn bấm máy…
Song không ít ý tưởng kịch bản của nhóm Điện ảnh Trẻ này, theo thói quen “cầm đèn chạy trước ô tô”, tự kiểm duyệt trước, ai cũng thấy ngay một điều là: nếu có được đầu tư cho quay thành phim thì sẽ không thể lọt qua Hội đồng duyệt phim Quốc gia, bởi chúng xoáy sâu vào số phận và những dằn vặt của kiếp người, là sự thao thức trăn trở kiểu B. Pasternak, M. Bulgakov, A. Solzhenitsyn, A. Kron, v.v, mà nhiều năm sau vẫn bị coi là vùng “cấm kỵ”! Thế rồi, như “đá ném ao bèo”, cuộc “khởi nghĩa” rầm rộ của dân làm phim Trẻ mà thực ra chẳng còn trẻ gì nữa đã mau chóng bị lãng quên, và chắc chắn đã bị ghi vào “Sổ Lưu ý để quan tâm giáo dục” của Lãnh đạo Văn hóa & Điện ảnh các cấp…
11.
Cũng vào thời gian này, Thế trở ra Hà Nội thì nhà không còn vì bố mẹ đã bán để chuẩn bị chuyển hết vào Sài Gòn, hiện ở tạm nhà cô em gái anh… Bố anh được một Công ty Du lịch có “máu mặt” hứa hẹn tổ chức triển lãm cá nhân để ông bán tranh…
Trong lúc lang thang vạ vật, anh được ông Văn, nhà biên kịch lâu năm đã về hưu của Hãng mời đến nhà ở, vì ông quý Thế và muốn anh gần gũi giúp đỡ cậu con trai đang làm thư ký trường quay. “Nó có nhiều năng khiếu, song ít chịu học hành, lại quen sống tự do trong môi trường làm phim mà ai cũng coi mình là ‘nghệ sĩ nhớn’… Chú muốn cháu kèm cặp, phụ đạo cho nó nên người và thành nghề hẳn hoi. Đến đây đi, chú dành cho một phòng riêng, hai anh em tha hồ đọc sách, xem phim, trao đổi nghề nghiệp phim ảnh. Chú thấy nó cũng rất quý cháu…”. Cảm động trước tấm chân tình đầy trọng thị đó, Thế đã ba lô khăn gói đến nhà ông ở hai năm ròng… Hai ông bà có nghề phụ đóng gói nhân trần, mở quán nước, thi thoảng Thế cũng sà vào đóng gói nhân trần giúp ông bà. Và một bài báo liền ra đời trên một tạp chí thời thượng với tiêu đề: “Chàng đạo diễn điện ảnh thất nghiệp chuyển sang nghề sản xuất nhân trần”!
Giai đoạn sống ở nhà ông Văn để nhiều dấu ấn đặc biệt cho Thế…
Ông Văn xuất thân là một anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp, từng tham gia đánh giặc tại Lào với chức vụ Chính trị viên Đại đội. Ông là con người cương nghị, chính trực và cũng giàu tình cảm. Tại nhà ông, Thế đã được nghe ông kể về những cuộc đấu đá, thanh trừng ghê rợn giữa lòng Xưởng phim nhiều năm trước, mà ông là một trong những đối tượng bị coi là “chống Đảng” suýt bị kỷ luật khai trừ khỏi đảng - bởi lãnh đạo không ưa tính ngay thẳng, bất cần của ông, nhất là khi ông thẳng thừng phê phán sự bao che tội lỗi một cách ngang ngược và bỉ ổi cho kẻ cùng vây cánh lãnh đạo! Ông đã bị vu là người đứng ra tập họp những kẻ thoái hóa để chống lại đảng bộ Xưởng phim, có ý đồ chống lại đường lối văn nghệ lấy Công Nông Binh làm đối tượng phản ánh và phục vụ, đã cố ý thổi phồng sự bất mãn cá nhân của vài người với mục đích ‘quấy rối phá nát nội bộ’… “Hồi ấy, có vài nghệ sĩ bị cơ quan an ninh đến Xưởng xích tay đưa đi… Chú có tên trong danh sách “chống đảng”, nhưng họ không dám quá tay với chú, không phải vì họ thương hại nể nang phục tài chú đâu, mà vì nếu họ quyết khai trừ chú ra khỏi Tổ chức, với lý do đảng bộ kết tội thì đâu phải chỉ mất thẻ đảng và bị xã hội coi khinh, mà còn dẫn tới bắt bớ, giam cầm, truy bức, bị tước đoạt tư cách công dân, nhưng họ cũng hiểu: nếu tới mức đó chú đâu có chịu - cấp trên đâu phải ai cũng quáng gà và nhẫn tâm như họ…”.
Những ngày tháng ăn nhờ ở chực đó liên quan tới một mối tình vô vọng của Thế: Thỉnh thoảng anh phóng xe máy Win (mà anh có được sau cuộc “cày thuê cuốc mướn” chữ nghĩa cho một ông đạo diễn nhớn cùng Xưởng), lên thăm chàng giáo khổ dạy văn học Việt Nam là nhà thơ-nhà báo Bình ở Đại học Sư phạm Hà Nội II trên Xuân Hòa, những hôm Bình có giờ dạy ở trường…
Lần ấy, khi tối mịt, sau khi ăn uống quấy quá cho xong tại quán cơm bình dân ở Thị trấn Xuân Hòa, hai tên đang định quay lên căn phòng tập thể của Bình, thì Bình bảo: "Tôi với ông dạo quanh thị trấn đi?" Thế đồng ý. Hồi ấy, chỉ cần ra khỏi khu vực của trường ĐHSP là khung cảnh vắng ngắt, ao chuôm đầm lầy ngổn ngang. Họ lang thang trong đêm vắng. Chỉ có tiếng côn trùng, ếch nhái hân hoan chào đón những bước chân lãng du...
Quang cảnh tịch mịch của thị trấn nghèo không xa lạ với hai tay nhà giáo ôm mộng thi sĩ, kịch sĩ, nhưng lần nào họ cũng đều tìm thấy thêm một điều gì đó thi vị, thân thương đối với hai kẻ cô đơn, tình yêu dở dang, hạnh phúc gia đình trắc trở... Đi mãi lên gần phía hồ Đại Lải, một cơn mưa giông bất chợt ào xuống, hai người chạy vội trú chân trong một quán lá sơ sài ven đường. Hai người rét run, im lặng nhìn mưa đêm, âm thầm theo đuổi những nỗi niềm run rẩy mơ hồ của cõi đời phù du...
Hơn tiếng sau, mưa ngớt, hai tên lóp ngóp trở về phòng tập thể của Bình... Quá nửa đêm, khi Thế đang gật gà ngủ ngồi bên một cuốn sách, thì Bình lay anh dậy. Bình đã đặt sẵn chai rượu trắng nút lá trên sàn đá hoa. "Ngủ làm gì ông, phí của giời!" Bình với tay lên bàn cầm một tờ giấy có những dòng viết vội. "Làm tí rượu nhạt cho tỉnh, rồi tôi đọc ông nghe. Tôi vừa viết xong đây." Bình đã đọc cho anh nghe bài thơ MAI EM VỀ NHÀ CHỒNG đề “Tặng Nguyễn Yên Thế” bằng cái giọng sang sảng của một giảng viên văn khoa và đượm nghẹn ngào của của một thi sĩ đa cảm mà sự mộng mị đắm đuối đầy những linh cảm bất trắc được khung cảnh vắng lặng nhoè mưa của thị trấn buồn phụ hoạ thêm:
…Chỉ còn đêm mưa này
Ngày mai em về nhà chồng
Mưa giăng trắng cánh đồng
Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả
Anh nhìn em qua mưa hun hút đường dài...
Anh thức qua đêm nhìn mưa
Anh thức qua năm tháng nhìn em
Anh thức qua cuộc đời nhìn tình yêu…
Thế định hỏi ngay: "Vì sao ông lại đề tặng tôi, chẳng phải là ông viết cho Em nào sẽ về nhà chồng?" Nhưng anh đã không hỏi, và không bao giờ hỏi nữa. Bởi ngay sau đó, anh chợt đặt mình trong tâm trạng của Bình. Nếu Thế có làm được một dòng thơ nào trong đêm ấy, dù là có nghĩ về ai hay làm cho một đối tượng nào đó, anh cũng sẽ chỉ đề tặng Bình mà thôi. Độc thoại trong đêm mưa và đối thoại trong im lặng đã là nguyên cớ để bài thơ ra đời. Cô em nào đấy ngày mai, hoặc ngày kia đi lấy chồng, đâu có quan trọng! Điều chính yếu là từ rất lâu rồi, Bình đã để tuột cơ hội tìm một tình yêu và hạnh phúc đích thực... Thế nói với Bình:
- Ông ơi! Nỗi cô đơn và cảm giác bất lực xót xa trước những gì tốt đẹp ta hằng khao khát cứ rời xa ta từng ngày từng giờ đã là nguồn cảm hứng thơ ca của nhiều thời đại; và thật không may, hay là may mắn, ông đã bị chúng bất chợt "tóm" mất hồn vía trong một đêm mưa thật buồn!
- Ông hiểu tôi như lòng bàn tay ông đấy! Thôi uống tiếp nào!
Thế miên man trong cảm nghĩ về bạn… Đêm mưa Xuân Hòa ấy thức dậy trong Bình bao đêm mưa và chiều mưa của một tuổi trẻ từ "xứ đồi" ra thành phố, nghèo túng, long đong, phải chật vật tìm hướng đi cho khát vọng đời mình, tìm cách giải tỏa bao cơn "tức nghẹn" của sự nghiệp văn chương, khi Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả và hạnh phúc tưởng đã nắm gọn trong tay mà hóa ra mịt mù sương khói... Giả sử Bình có một cô người yêu nào sắp lấy chồng ngày đó thì chắc cũng không da diết, buồn thương khắc khoải đến thế! Mà thực ra, không ít cô gái - trong đó có học trò thầm đeo đuổi anh chàng tài hoa đeo kính cận dày cộp có khả năng làm tan hoang rơi rụng trái tim người bởi giọng nói tự tin thủ thỉ, và có thể cũng được anh đền đáp ít nhiều về tình cảm, rồi họ chẳng liên tiếp báo tin là sẽ đi lấy chồng đấy thôi! Nói cho công bằng, "cô em mai đi lấy chồng" trong bài thơ là hình bóng của tất cả những cô gái yêu Bình, được anh trân trọng tình yêu đó - nhưng họ lại không có điều kiện để đến được với nhau lâu dài... Bình ít có khả năng dung hòa được giữa thực tế trần trụi và ước vọng cao vời, Bình tìm an ủi trong học trò, bè bạn. Không có bất kỳ khả năng "đập phá" nào, Bình tìm sự giải tỏa trong thơ, nhạc, tranh vẽ... Và Bình đã chọn một đêm mưa Xuân Hòa, đúng hơn là đêm mưa đó đã chọn anh - khi đồng cảm cùng thằng bạn cũng "ngơ ngẩn" về đời sống như mình, để lưu lại trong vườn Thơ một đóa hoa không màu mà chứa đủ các màu sắc như giọt mưa giữa bầu trời của tâm hồn thi sĩ…
Như hiểu được tâm trạng của Thế, Bình bảo:
- Trong nhóm sinh viên thân thiết của tôi có em Phạm Yến, người Điện Biên, tôi có ý định giới thiệu với ông từ lâu, cô bé có tâm hồn nhạy cảm nhưng không có tham vọng làm văn sĩ thi sĩ, diễn viên, nên có thể làm vợ ông tốt đấy, và ông chắc sẽ không phải rơi vào cảnh ngộ chia tay để “mai em đi lấy chồng” như tôi đâu…
“Ông mối” Bình quả mát tay: Chỉ sau một lần giới thiệu, Thế và cô sinh viên văn năm thứ ba đã quấn quýt nhau như hình với bóng, nhiều lần Thế lên Xuân Hòa chẳng có thời gian vào thăm “ông bạn vàng”. Thế và Yến trong cảnh “mèo ôm chuột” đã qua nhiều quán cơm bụi, nhà trọ bình dân ở Xuân Hòa, Hà Nội, Sơn La, Điện Biên… Khi Yến tốt nghiệp, Thế đưa cô tới ra mắt ông Văn. Ông cảm động lắm, bởi Thế đã coi ông như bậc làm cha khi bố mẹ anh không ở Hà Nội. Ông bảo riêng Thế: “Đó, cô chú đã từng mong có một cô con dâu như Yến, nhưng thằng Tùng con chú giờ đã thành đệ tử của ma men, cờ bạc rồi, chú chẳng hy vọng gì nữa… Nó mà lấy vợ sẽ làm khổ vợ con cả đời… Yến nó hiền lành, chẳng có tham vọng gì khác ngoài trở thành một cô giáo dạy văn, làm “nội tướng” cho cháu rất tốt, đồng thời cũng là bạn tâm tình về văn chương được. Cô chú sẽ cho hai cháu cái căn buồng cháu đang ở đấy, làm căn buồng hạnh phúc…” Thế đã mừng chảy nước mắt.
Nhưng đời ai tính được chữ “ngờ”!
Sau vài lần Thế đưa Yến tới nhà ông Văn, “nghệ sĩ nhớn” Tùng, thư ký trường quay dự bị của anh đã ra mặt tán tỉnh Yến, cậu ta còn bóng gió cho người yêu của anh hiểu: Căn buồng mà ông Văn hứa hẹn đó là của cậu ta, Thế chỉ là kẻ ăn nhờ ở đậu bữa đực bữa cái, cậu ta có thể bắt cuốn gói đi lúc nào cũng được… Chỉ với một điều kiện: Yến phải trở thành người của đạo diễn tương lai Tùng chứ không phải của tay đạo diễn nghèo bị cả Hãng phim hắt hủi kia, thì cả nhà sẽ cho hắn ta tiếp tục ở nhờ vô thời hạn… Yến đã ôm lấy Thế mà khóc: Em không ngờ anh lại phải sống với cái thằng thô lỗ miệng sặc mùi rượu đó gần hai năm trời… Sao anh khổ thế, anh! - Thế an ủi: Chỉ vì anh quý trọng chú Văn, một con người đáng quý, một cây bút có giá của văn học và điện ảnh nước nhà… Và anh thương chú ấy… Có mỗi cậu con trai độc đinh, đặt bao hy vọng vào nó, vậy mà… - Anh làm sao cải tạo được một kẻ như thế, hở anh? Chẳng phải anh từng bảo em: ông Lỗ Tấn nói từ huyết quẩn ra là máu, còn từ vòi nước thì chỉ có thể là nước lã… - Ừ, ngay từ ngày đầu, anh cũng đã cảm thấy như vậy, nhưng mong muốn của chú Văn thiết tha quá nên anh thành kẻ ảo tưởng mất rồi… Nhưng sự xuất hiện của em chẳng phải là giúp anh “Vỡ mộng” một cách đích đáng hay sao! Tuy vậy cái vỡ mộng của anh không đau đớn như của Luyxiêng với đời và của người thân với chàng ta trong tác phẩm của Balzac[48]! - Anh đúng là kẻ mơ mộng, thầy Bình nói không sai, lại mơ mộng hơn cả thầy ấy… Em trông mong gì được ở anh, hở nhà mơ mộng vĩ đại đáng thương của em?
Nói vậy nhưng Yến vẫn hết sức trông mong tin cậy vào tài xoay sở của Thế trong việc chạy xin việc cho cô, và gây dựng tổ ấm cho hai người, cho đến lúc cô hoàn toàn vỡ mộng. Lại cảnh “mèo ôm chuột” nhiều nơi trước hết để tìm chốn dung thân, sau đó tìm mọi ngóc ngách kẽ hở để chạy việc “làm cô giáo” cho Yến, thậm chí là dạy cấp một cấp hai hoặc làm nhân viên trường học cũng xong - giữa cái thời Kim tiền sấp ngửa kinh khủng gấp bội so với thời Thế yêu Thảo Bê tông! Thế có lần nhờ ông Văn giới thiệu đến một cơ sở làm bánh quẩy để Yến học nghề này, trong khi chờ cơ hội vào nghề dạy học, song chỉ được ba hôm, Yến nước mắt lưng tròng bảo người yêu: “Em chịu thôi, vất vả lắm, mà chẳng ăn thua gì đâu, chính cơ sở ấy cũng sắp đổ bể rồi… Hay anh tìm cách đưa em vào làm thư ký trường quay, làm trợ lý đạo diễn cho anh?” - “Đến kẻ có hai bằng đại học loại ưu như anh, chỉ vì rỗng túi thì cũng chẳng là cái thớ gì, và chuẩn bị phải bán xới khỏi nơi đó rồi! Mà em biết không, cậu phụ động thân với anh năm trước vì không có tiền chạy vào biên chế nên đành nuốt nước mắt nhường suất trợ lý đạo diễn thơm tho ấy cho con cháu lãnh đạo, phải bỏ đi xuất khẩu lao động, em đừng ngồi mơ Cung Trăng nữa…”.
Lần Thế phải vào Sài Gòn ba tuần giúp bố anh tổ chức triển lãm tranh cá nhân, anh nhận được hai thư của Yến.
“Hà Nội ngày…
Anh thân yêu và nhớ nhiều của em
Vậy là em xuống Hà Nội hôm nay là ngày thứ ba, nhớ và mong anh vô hạn… Sáng nay em tới nhà thầy Bình hỏi thăm anh đã ra chưa, thầy bảo: Nếu ra anh đã vào ngay chỗ thầy. Em có dặn thầy nếu anh ra, anh tìm em ở nhà bác Văn, bởi ở Hà Nội em chỉ có mỗi chỗ này… Em hiện đang ở nhà hai bác, buồn chán và cô đơn giữa chốn Đô thành xa lạ. Anh Tùng thấy em một mình thì lại tìm cách tán tỉnh gạ gẫm em, những lúc đó em liền dắt xe đạp ra khỏi nhà, một mình lang thang trên các phố ngắm nhìn cảnh vật mà không biết mình đi đâu… Nhớ anh kinh khủng, khi nào thì anh ra với em? 14 này em phải xuống trường để thi lại môn Giáo học pháp rồi, không chờ anh ở đây được nữa… Hôm ở Điện Biên, em đi nhờ được một xe con về Hà Nội, lúc 5 giờ chiều đi, 9 giờ tới Tuần Giáo, cả đoàn nghỉ lại Khách sạn Tuần Giáo, gần cả đêm em không sao ngủ nổi vì xa nhà và nhớ anh… Gần sáng vừa chợp mắt chút xíu thì các cô gọi dậy ra xe, em ngủ gà ngủ gật trên xe cho tới lúc không khí lạnh trên đèo Pa Đin tạt vào xe… Tỉnh dậy, em ngỡ ngàng trước cảnh rạng đông trên núi mà tới hôm đó em mới được chứng kiến… Lúc đó em ao ước giá như có anh bên cạnh thể nào anh cũng có một bài thơ hoặc một bức ảnh tuyệt đẹp về quang cảnh này… Xe đi trên đỉnh đèo, một bên là núi đá một bên là vực thẳm xung quanh mây mù bao phủ, ánh đèn pha ô tô rọi trên mặt đường tao nên một vệt sáng kỳ ảo. Phía dưới thung lũng là một biển mây bồng bềnh, có chỗ bằng phẳng như một tấm thảm, như một mặt biển đóng băng, thỉnh thoảng có những ngọn núi mây phủ kín chỉ hở ít chăn như những hòn đảo nhỏ giữa biển khơi; còn trước mặt là nền trời mầu hồng có những tia nắng đầu tiên xuyên dần qua lớp mây đen như thể khó khăn lắm, nhưng lại càng làm cho nền trời góc đó càng trở nên sáng hồng hơn, và bắt đầu hòa thêm sắc vàng, sắc tím, sắc xanh lam đẹp tuyệt vời… Em thêm hiểu vì sao anh gắn bó với Tây Bắc đến thế, vì sao anh đã yêu thương em, và vì sao em chấp nhận ngay tình yêu của anh như một định mệnh… Qua khỏi đèo Pha Đin sang tới địa phận Sơn la - “quê hương thứ hai của anh” như anh tự nhận, em lại được chứng kiến cảnh tàn phá của trận lụt vừa rồi ở Mai Sơn, bao nhiêu công trình, nhà cửa, ruộng vườn bị san phẳng, nước và bùn còn ngập đường giao thông, vất vả lắm xe em mới qua được. Tới Hòa Bình, lại vẫn cảnh lụt lội vừa diễn ra, nhiều ngôi nhà bị ngập tới mái… 6 giờ tối em mới đến Hà Nội, và chỉ biết đến nhà bác Văn thôi. Em rất muốn ghi thư cho anh qua địa chỉ nhà bác, song ngại vô cùng, vì biết đâu anh Tùng sẽ bóc trộm thư anh… Thôi em chịu khó chờ anh tới ngày 14 không thấy anh ra, em sẽ lên trường và anh ghi thư cho em theo địa chỉ trường anh nhé? Mong anh quá… Thôi em dừng bút đây. Anh cứ yên tâm là “Mèo con” gầy gò của anh bây giờ béo khỏe hơn, và luôn nhớ đến anh… Em chờ anh.
Em của anh.”
“Hà Nội ngày…
Anh nhớ nhiều!
Hôm nay nhớ anh, em đọc lại mấy bài thơ của anh do thầy Bình chép cho, mà anh chưa đọc em nghe bao giờ, chắc bởi đó là anh viết cho cô học trò nào nảo trên Tây Bắc… Em không ghen đâu mà sợ! Anh biết vì sao không? Bởi em cảm thấy như đó là những dòng anh viết dành cho riêng em:
Em có biết suối này chảy về đâu
Anh mong em. Suối vô tình thân thuộc
Anh nhớ em. Sương rừng giăng giá buốt
Mảnh trăng nghiêng thêm lạnh một căn phòng…
Anh lên miền Tây trời chẳng còn trong
Mưa bất thần. Lũ về đột ngột
Như nỗi nhớ chẳng hề báo trước
Anh lại thèm đi. Khát gió trăm miền...
Gặp lại, em phải phạt anh thật nặng vì cái tội anh luôn giấu em thơ của anh…”
“Đòn quyết định”[49] cho thiên tình sử của đôi tình nhân mơ mộng bắt đầu khi Yến đưa người yêu lên Điện Biên để ra mắt chính thức bố mẹ anh chị em cô chú bác vốn xuất thân từ một làng khai hoang người Thái Bình lên miền Tây xây dựng kinh tế mới từ những năm 50. Bố Yến là một thầy giáo cấp Một, quý Thế ngay khi biết anh cũng từng là “giáo khổ” Tây Bắc. Nhưng mẹ và mấy bà cô ruột, nhất là hai người chị của Yến được coi là “chuyên gia về Tình yêu và Hôn nhân” thì ỉ eo (qua Yến tới Thế): “Ôi chao, tin thế nào được bọn thanh niên công tử Hà thành, nhất là một tay đạo diễn điện ảnh lúc nào cũng có hàng đống bóng hồng vây quanh xin xỏ cầu cạnh để vào vai diễn… Nó lấy cái Yến xứ Mèo xứ Thái về đâu phải làm diễn viên, mà để làm ô sin cho nhà nó thôi…”. Mặc dù Thế rất nhẫn nại, cố gắng cư xử theo phong cách “giáo khổ Tây Bắc” - nghĩa là chân tình, mộc mạc, không kiểu cách xã giao, nhưng chỉ hơi “lung lay” được bà mẹ, còn hai cô chị và mấy bà bác thì Thế đành bó tay chịu trận - định kiến về cái nghề anh đang theo đuổi sao lại nặng nề đến thế, tới tận ranh giới cuối cùng của miền Tây Bắc rộng lớn?
Lúc Thế đưa Yến ra bến xe để cùng trở về Hà Nội, thì tình cờ có tiếng gọi giật:
- Thầy Thế phải không?
Hóa ra đó là Long, một anh lái xe tải cũ của trường Sư phạm, một học viên bổ túc cấp Ba của anh, một khán giả nhiệt thành của các chương trình văn nghệ của trường Sư phạm, và có lần đã vào một vai phụ trong một vở kịch của anh và Phúc. Long vồn vã tay bắt mặt mừng Thế như người thân lâu ngày mới gặp lại.
- Thầy và em về Hà Nội à? Tôi cũng có chuyến về đây, mời hai vị đồng hành cho vui. Tôi sẽ mời hai vị tới thăm một chỗ cực hay…
Vì nể nang, Thế đồng ý, nhưng chỉ Yến ngồi trong ca bin, còn Thế thì ngồi trên thùng xe chở tre nứa… Trên con đường số 6 năm xưa, hiện đại hơn, rộng rãi hơn nhưng không hết những ổ trâu được phóng đại thêm bởi cái sóc của xe tải, có lúc Thế chợt nghĩ đến tâm trạng của nhân vật từng sống trên mảnh đất này mà anh tạo ra - chàng thiếu úy Pháp, nhà dân tộc Pháp Cornaul sau khi từ giã người yêu thuộc Ban xòe của vua Thái Đèo Văn Long:
Trên con đường quốc lộ chiến lược số 6 đầy bụi, hai chiếc xe Cam nhông chở tù binh, hàng binh Pháp phóng nhanh về phía Hà Nội.
Trên xe, Cornaul ngồi dựa vào thành xe, anh hình dung lại gương mặt người yêu dấu đang chập chờn ẩn hiện cùng những cánh ban có vệt tím bầm ở giữa, những bước chân đẫm máu tươi đêm xoè ấy... Cornaul rưng rưng khóc, bên cạnh, những người tù binh Pháp lặng lẽ, mỗi người theo đuổi một tâm trạng riêng...
Chập tối, xe tải dừng lại bên một vùng hoang sơ còn nhiều cánh rừng nguyên sinh cuối thảo nguyên Mộc Châu. Long bảo Yến:
- Em này, anh là bạn của thầy Thế đây từ hồi ở trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, lâu lắm mới gặp lại, tưởng lên đạo diễn thì quên bè bạn cũ, nhưng anh đã lầm to. Để sửa sai, giờ xin đưa hai vị tình nhân tới thăm thú hang có tên Tình yêu nhé? - Nói với Thế - Trên xe, tôi thấy cô nàng đây buồn khó tả, tôi không dám hỏi… Ở Hát Lót, tôi đã chuẩn bị lương thực cho hội thám hiểm thiên nhiên của chúng ta đêm nay đây rồi, ông nghệ sĩ sẽ có dịp an ủi người đẹp…
Nói xong, anh lên xe lôi ra mấy bọc, can nhựa, trong đó có hai tấm vải bạt lớn, gọi Thế khuân giúp. Thế cười: “Vậy là cậu có cảm tình với vùng đất được mệnh danh là “Nàng tiên ngủ trong rừng” này hơn bọn tôi đó!”.
- Chứ gì, cái đó đâu phải độc quyền của dân văn nghệ các ông! - Anh tài xế nói và nháy mắt về phía Yến.
Bên cửa hang đá, một đống lửa đã được nhen lên nhờ sự tháo vát của anh tài xế đã nhặt cây khô và can xăng đem theo, và mỗi lúc một bốc cao. Trước đó, ba người đã thăm hang đá, với cây bùi nhùi của anh tài xế. Trong ánh lửa, trần hang và thành hang lấp lóa nổi lên muôn hình thù kỳ lạ và bí ẩn. “Ban ngày, hang Tình yêu có vẻ đẹp riêng, còn ban đêm, nó còn đẹp hơn thế nữa, đôi chim cu của tôi ạ - Anh tài xế có tâm hồn lãng tử hăng hái giải thích cho đôi nam nữ đang ngây người ra trước cảnh tượng lần đầu tiên mới thấy trong ánh lửa của thời nguyên thủy.
- Bối cảnh này sẽ có lúc tôi dùng đến đó, ông bạn thân mến! - Thế sung sướng reo lên, và anh đâu ngờ sẽ là lời tiên báo cho chính anh vài năm sau đó thực hiện bộ phim nhựa đầu tay về người Mông: tại một hang đá ở vùng cao Tây Bắc anh đã yêu cầu tổ quay phim dùng tới cả nghìn mét phim màu négatif 400 ISO đã chuẩn bị trước lúc khởi hành!
Bên đống lửa, Long bày ra một bữa tiệc đơn sơ: mấy miếng thịt trâu sấy khô kèm gói muối rang giã nhỏ trộn mắc khén[50] của người Thái, chục chiếc măng lay đã luộc, hai chiếc bánh dày người Mông, và ba cốc nhựa vàng đầy rượu trắng men lá rót từ chiếc can nhỏ màu trắng.
- Nào, can pây! (Tiếng Thái: cạn chén) - Anh tài xế nâng cốc lên.
Yến lắc đầu - Em không biết uống rượu - Thế thì em cứ nâng lên chúc cho tay lái vàng của bạn anh, và chúc cho tương lai của chúng mình! - Thế động viên.
Yến xấu hổ cầm chiếc cốc lên bằng hai tay, vừa ngấp một ngum nhỏ cô đã rời cốc ho sặc sụa.
- Thế mà đòi học làm nghề thư ký trường quay, nghề trợ lý đạo diễn! - Thế nhăn mặt đùa.
Nhưng trước câu đùa đó Yến lại trở nên ủ rũ, vì động tới tương lai nghề nghiệp mù mịt của mình. Và cô chợt thấy thương anh, chàng nghệ sĩ ôm bao khát vọng đẹp nhưng “chỉ giàu có nỗi buồn và trăn trở” như anh từng nói. Nhưng tình thương của cô chỉ có thể tô điểm cho cuộc sống của anh - tựa những tàn lửa đang bay lên không trung làm sinh động thêm cảnh quan thiên nhiên hoang sơ kia! Thương và có chút ái ngại, tội nghiệp cho anh, giữa lúc anh chật vật để có phim đầu tay và lo tìm việc cho cô, chỉ là kẻ “tay không bắt giặc” mà thôi, anh vẫn say mê chỉ tay vào không gian trước mặt nói về ý tưởng hình thành một phim trường thiên nhiên hoang dã theo tiêu chuẩn studio film thế giới… Nhưng chỉ tới đêm nay Yến mới hiểu Tây Bắc là phần quan trọng thế nào trong cuộc sống người yêu: Anh kể cho hai người nghe, hồi dạy học trên này, có năm anh đã không về nghỉ phép để lang thang nhiều ngày trên thảo nguyên đục sương mù, sống bên những bếp lửa nông trường mùa thu hoạch, trò chuyện với những người người lính cũ làm nông nghiệp còn mặc áo trấn thủ bạc màu và những cô công nhân quá lứa quá thì để lấy chất liệu viết kịch. Trong tâm hồn cô sinh viên văn như hiển hiện ký ức về Thảo nguyên qua tâm tình của những công nhân trồng cỏ, trồng ngô, trồng bông với chàng “giáo khổ” có máu lang bạt kỳ hồ: những dải đồi hanh khô, cỏ tranh cằn vàng úa, gió lào hoang dại, bóng mây nhức mắt, nơi vầng trăng lạnh thêm trong tiếng sói hú hổ gầm, người công nhân sống qua những ngày sương muối lạnh tê người, lạnh tới độ nai rừng phải chui vào lán nông trường ngủ ké… Nơi ấy còn in bao dấu chân của những công voa[51] tù chính trị thời tiền Khởi nghĩa bị lưu đày lên chốn ma thiêng nước độc không hy vọng có ngày về… Vậy là anh ấy từng sống nhiều ngày hè với những người công nhân đầu hai thứ tóc, nghe họ kể và ghi chép tỷ mỉ từ buổi đầu phạt cỏ tranh, đánh gốc, san nền cho đến ngày trèo lên cao tìm hướng đi của đất, ngày được bấm ngọn, cày vun, tuốt lá đánh cành, phun thuốc bảy lần cho ruộng bông cao sản… Anh ấy đâu chỉ mơ mộng trăng sao mây gió mà còn lăn vào quả bông lầm bụi đất để cùng đoán lượng mưa lượng nắng, để thu lượm được biết bao lời ăn tiếng nói, cảm nghĩ dân dã… Anh ấy vốn là kẻ như “tự họa”: Những trưa chói chang, những lúc sương chiều/ Hay những sớm khi chim rừng mở hội/ Trên những nẻo đường quanh co ven sông ven suối/ Có một người trai đang đi… Chao ôi, làm cái nghề viết kịch viết văn cực quá, mình thì chịu! - Yến thầm nghĩ.
Long hỏi, như hỏi thay cho Yến:
- Hồi thâm nhập thực tế ở nông trường, thầy có yêu cô công nhân nào không đấy? Có để lại “hạt giống” nào ở Thảo nguyên?
Thế không trả lời ngay. Anh nhìn đăm đăm vào ngọn lửa vừa bốc tàn lên sau khi Long chất thêm củi khô.
- Nói là không thì chẳng hẳn vậy… Mà nói là có thì không chính xác
- Anh ỡm ờ nước đôi đấy à? - Yến kêu lên.
- Thực ra… Chuyện này em đừng để bụng nhé? Có một cô công nhân trạc ba mươi tuổi, cũng khá xinh xắn, nửa đêm tìm đến phòng trọ của anh, phòng do nông trường thu xếp… Mặc dù anh ít hơn bốn tuổi, cô ấy luôn xưng “anh em” với anh như cả tuần trước đó, và hay tìm cớ đến chỗ anh trò chuyện, đòi anh đọc thơ cho nghe… Đêm ấy, cô chân thật bày tỏ muốn có một đứa con với anh…
- Thật thế à? Anh trả lời sao? - Yến nóng ruột
- Cô ấy tâm sự: không chỉ mình cô, mà nhiều cô gái trên nông trường đã quá lứa quá thì nhưng không về quê lấy chồng được, còn trên này thì đàn ông ai cũng có gia đình cả… Mơ ước có một tổ ấm đã tàn lụi, giờ đây cô chỉ muốn có một đứa con để thực hiện thiên chức làm mẹ… Có con làm bầu bạn sớm hôm… Cô ấy bảo, cũng có mấy người đàn ông đã có vợ tìm cô, muốn giúp cô điều đó, nhưng cô đều đắn đo rồi làm kế hoãn binh… bởi cô muốn tìm người đàn ông nào cô thực lòng yêu…
- Vậy là cô ấy thực lòng yêu anh! Thế còn anh? - Yến sồn sồn.
- Em đừng vội thế, em định làm bà La sát đấy à! Anh thấy thương cô ấy quá, nhưng chỉ cầm hai tay cô ấy bảo: Tôi cũng thương quý chị lắm, nhưng… Tôi đã có người yêu…
- Anh đã yêu cô nào thế?
- Em ngớ ngẩn thế? Cô người yêu đó chính là một học trò cũ của anh, nhưng thực ra cũng chỉ là “mưa bóng mây” thôi, đúng hơn là “người tình” trong tưởng tượng”… Anh phải bày đặt ra thế để từ chối nhẹ nhàng đề nghị của cô ấy, mặc dù chính đáng, rất con người, song anh cảm thấy… Mình không thể làm như thế với một người con gái trinh trắng còn có cơ hội lấy chồng…
- Em hiểu rồi… Làm chuyện đó phải có tình yêu cơ… Anh và thầy Bình cùng một duộc cả mà… - Yến nói vui vẻ như một sự khám phá có chứng nghiệm của cô.
- Các nghệ sĩ rắc rối tơ vò quá đi! Nếu phải là tôi xem! - Long chêm vào hóm hỉnh
- Anh và em nghe mấy câu này, xem tôi có yêu ai không nhé:
Anh yêu thảo nguyên mỗi lúc lặng thầm
Yêu cả lúc chói chang nắng gắt
Bởi em đến làm bóng cây râm mát
Làm vệt nắng chiều mang hơi ấm qua đêm…
Anh ngồi trong chiều đợi em lúc mai lên
Làm sương sớm đọng trên đầu ngọn cỏ…
Yến thốt lên:
- Em hiểu rồi! Đó là anh yêu một cô gái tưởng tượng khi anh sống trên Thảo nguyên…
- Em đúng là một cô sinh viên giỏi của giảng viên - thi sĩ Bình. Thay mặt anh ấy, anh cho em điểm 10! Đó là một cô gái anh mơ tưởng…
Long mỉm cười:
- Cái cô gái anh mơ tưởng hồi đó bây giờ đã hiển hiện bên thầy đây, phải không?
Cả ba chợt cùng cười phá lên. Yến chưa hết cười quay sang nói với Long:
- Anh Long ạ, hai năm yêu nhau, có bao giờ anh ấy hé ra câu thơ tình nào của anh ấy cho em đâu, giấu như mèo giấu của quý ấy…
- Thì cũng phải có cơ hội chứ! Đọc thơ cho em, thì em và lũ bạn em sẽ riễu là “thơ tán gái”… Với lại xưa nay anh quan niệm làm thơ là chỉ để cho mình thôi, còn buộc phải đọc cho ai nghe thì anh gọi đó là “cảm ngôn”, tránh mang tiếng là kẻ ôm mộng thi sĩ dở hơi… - Anh chống chế.
- Anh không đọc cho em thì em cũng biết thừa, thầy Bình đã cho em đọc mấy bài gọi là “thơ tán gái” của anh đó! Nhưng em lại có cảm tình với anh từ những bài anh bảo là “cảm ngôn” đấy! Anh phải cám ơn thầy Bình đi!
Thế làm động tác chắp tay giơ lên trời diễn trò: “Cám ơn… Cám ơn…”
- Đúng là thầy Bình có làm thơ tặng cô học trò nào thì cô ấy đều tạm biệt để đi lấy chồng cả! Vì thế anh muốn tránh vết xe đổ của ông bạn quý chứ gì? Em không thế đâu nhé! Mà mấy câu về Thảo nguyên vừa rồi của anh, em nghe có âm hưởng gì đó của thơ Apôline, thơ Rinke mà thầy Bình từng đọc cho bọn em nghe…
- Vậy à? Nhưng so sánh liên tưởng kiểu đó thì khập khễnh lắm! Thế thầy Bình có đọc các em nghe bài “Giã từ” của Apôline không?
- Bọn em đứa nào cũng chép sổ tay và thuộc lòng bài ấy - Yến đọc luôn:
Chùm thạch thảo này anh đã ngắt
Mùa thu chết rồi xin em nhớ cho
Mình sẽ chẳng gặp nhau trên cõi thế
Hương thời gian đây chùm thạch thảo
Xin nhớ rằng anh vẫn đợi chờ.[52]
“Trong sổ tay chép thơ của cô Liên tài vụ không hề có những bài thơ kiểu này” - Thế chợt nhớ lại - Còn bài thơ của Rinke “Em biết chăng: những vì sao rụng xuống”, thầy Bình có đọc các em nghe không? - Yến lắc đầu - Thế đọc:
…trước vũ hội ngây ngất của màn đêm,
trái tim ta bỗng trở nên bình thản
bởi ta biết sau những gì cháy sáng
ta vẫn còn sống sót giữa trần gian![53]
Yến xuýt xoa:
- Bởi ta biết sau những gì cháy sáng - ta vẫn còn sống sót giữa trần gian… Hay thế anh! Anh chép lại cho em nhá?
- Được thôi, chuẩn bị trả nhuận chép cho anh - Thế quay sang nói với Long - Anh Long à, những năm dạy học trên này tôi đã phải giấu kỹ loại thơ văn “không có chút lửa lý tưởng cách mạng nào” - theo quan điểm của những người trả lương cho tôi, để khỏi mang cái tiếng là “tàn dư tiểu tư sản” và thêm cái cớ bị trù úm, và hiện giờ lại càng phải thế, trong môi trường mới…
- Hóa ra, bọn lao động chân tay chúng tôi sướng hơn, tự do hơn các anh nhiều đấy nhỉ? - Long cám cảnh.
Thế tiếp lời anh tài xế, tâm trạng không vui cũng chẳng buồn:
- Hơn nữa, những thằng làm văn nghệ mà không được cầm súng ra mặt trận như bọn tôi thường bị coi ở một “đẳng cấp” thấp hơn hẳn so với lớp người đã hy sinh tuổi xuân, xương máu bảo vệ Tổ quốc…
- Thì cả tuổi trẻ của các thầy đã cống hiến cho văn hóa - giáo dục Tây Bắc đó, gian khổ chồng chất, lẽ nào không có giá bằng họ ư?
Thế im lặng nhìn đống lửa. Còn Yến nhìn anh vẻ cảm thương.
Long đứng dậy dựng lán, Thế cũng đứng lên định làm cùng thì Long gạt đi - Không có gì đâu, thầy để mình tôi làm!
Khi dựng xong hai cái lán bạt cách nhau mươi mét, Long bảo hai người:
- Tôi phải nghỉ đây, mai mới đủ tỉnh táo cầm vô lăng đưa các vị về Thủ đô an toàn. Còn hai vị cứ tự nhiên thưởng thức hương vị hoang dã thảo nguyên nhé!
Nói rồi, Long chui vào lán thứ nhất. Thế nhìn người yêu, cô có vẻ mệt mỏi, cái mệt mỏi sau chặng đường dài hiểm trở miền núi mà những món đặc sản dân tộc cùng các kỷ niệm cũ của hai người đàn ông về các đêm văn nghệ không làm giảm bớt, lại còn thêm vào cho cô những trăn trở buồn phiền khi nghĩ về tương lai. Thế cầm tay cô - Em vào lán nghỉ trước đi - Yến ngoan ngoãn gật đầu - Anh cũng vào nghỉ luôn đi… Khuya lắm rồi - Được, anh ngồi đây một lúc đã…
Thấy cô chần chừ, Thế dắt tay Yến đứng lên bước vào lán. Long thực là anh chàng quen sống “du mục” chốn đường trường Tây Bắc: trong lán Long đã trải chiếu đơn, giăng màn cá nhân và chiếc chăn bông mỏng màu lục có từ thời các nông trường quân đội trên Tây Bắc làm lễ hạ sao, và một chiếc gối thổ cẩm Thái - Thế là, anh ấy nhường hết cho anh em mình nhỉ? - Yến băn khoăn - Không sao, anh ấy cũng như anh, là dân “thổ phỉ” Tây Bắc mà, để cho anh ấy được vui vì đã làm kẻ “nghĩa hiệp” đối với bạn cũ cùng “quân khu” - Thế cười giải tỏa cho cô - Em ngủ đây, em díu mắt từ lúc nãy rồi - Yến vạch màn chui vào nằm lăn ngay ra. Thế thận trọng giở tấm chăn, đắp cho cô, rồi âu yếm nhìn người yêu. Trong vệt sáng của đống lửa sắp tàn hắt vào, gương mặt cô trở lại vẻ trẻ thơ hồn hậu, mọi sự mệt nhọc lo âu biến mất hết, và cô ngủ ngon lành như có vị thần bảo hộ tin cậy nhất luôn ở bên - người con trai yêu thương cô, che chở cho cô không chỉ giờ phút này mà suốt đời… Anh nhìn em ngủ hồn hiu nhẹ/ Như bóng vườn trưa xanh tiếng ve[54] - câu thơ yêu thích từ thời sinh viên bất ngờ hiện về sau bao năm tháng long đong lận đận, lại trong cái cảnh ngộ chênh vênh của đôi tình nhân đều trót dính vào “bả” văn chương!… Tuổi trẻ nghèo nàn và cay cực ơi/ sao cứ đuổi theo ta như thú dữ cắn càn. Đó mới là thân phận thực, tâm trạng thực của anh chứ không có chút gì thi vị của chùm thạch thảo đã bị ngắt nọ… Cay cực của riêng anh chẳng là gì, nhưng anh lại trót đèo bòng mối tình mà anh đặt hy vọng trở thành hôn nhân này mới là điều cay cực trớ trêu! Có nên kể cho Yến mối tình đầu đời của anh với cô học trò 19 tuổi, mối tình thoáng qua và cảm xúc của anh về đứa con gái tưởng tượng để anh có cảm ngôn: Viết dành cho con gái năm con 19 tuổi? Có nên kể về mối tình với cô Liên tài vụ gần như là một “mối tình nực cười”[55] mà ông nhà văn nước ngoài nọ dường như viết cho riêng anh? Có nên kể về mối tình với cô Thảo kỹ sư Bê tông, mà nỗi đau - buồn - hận ngang nhau còn rỉ máu tim anh? Cả mối tình đơn phương của cô gái Sài Gòn hy vọng được anh giải thoát khỏi tổ quỷ văn hóa năm trước? Nhất định anh sẽ kể hết cho cô nghe, khi đã thành gia thất hẳn hoi. Nhưng cuộc hôn nhân này liệu có thành không? Dự cảm xấu ám ảnh anh ngay từ cái nhìn sắc lẹm soi mói đầy nghi ngờ của hai cô chị Yến đối với anh trong buổi ra mắt, cho đến tận lúc này. Và anh sẽ lo cho cuộc sống - nghề nghiệp của cô ra sao đây, khi nhà không còn, tiền chẳng có, nghề nghiệp chưa đâu vào đâu, quan hệ xã hội chỉ toàn với dân nhà giáo, nhà báo nghèo ôm mộng thi sĩ kịch sĩ dở hơi như anh?…
Thế định vạch màn nằm ghé xuống cạnh cô, ngả lưng chút, song anh sợ cô bị thức giấc nên nhẹ gài lại màn rồi bước ra đống lửa đã tàn, ngả lưng trên một tảng đá chong mắt nhìn trời sao… Anh lục lọi trí nhớ tìm những mối quan hệ của bố mẹ anh trong giới nhà giáo, nghệ thuật, rồi họ hàng bên nội - ngoại, mong tìm lối thoát nào cho tương lai của Yến - cũng là hạnh phúc của anh… Tất cả những “manh mối” anh có thể tin cậy được đều đang sống qua cơn bão kinh hoàng mang tên “Bao cấp” rồi “Hậu Bao cấp”, nhà nào cũng thiếu đói, chạy ăn từng bữa toát mồ hôi hột, nhà nào may mắn có con cháu du học nước ngoài hoặc xuất khẩu lao động thì chiếc quạt tai voi, tủ lạnh Xaratốp, xe đạp Sputnik đã là tài sản vật chất có ý nghĩa Sinh Tử! Chế độ gạo của anh may là được gấp đôi bình thường (bởi nghề “đào giếng” - theo tiếng địa phương của bác Tổ chức cơ quan), nhưng để hình thành một gia đình nho nhỏ thì đồng lương còm với các chế độ gạo và tem phiếu các loại của mình anh sẽ chỉ lọt thỏm “không một tiếng vang”[56] trong tiếng khóc trẻ con - mà nhất định phải có con, người phụ nữ nào lấy chồng chẳng mong như vậy đầu tiên… Có con rồi, nuôi con thế nào đây trong thời buổi “thóc cao gạo kém” này… Tháng trước, nhà biên kịch Nhuận tìm đến anh ở nhà ông Văn, khẩn khoản vay kẻ dưới đáy là anh mấy chục ngàn để mua sữa cho con, viết báo viết kịch bản như điên như dại mà không đủ nhuân bút lo cho vợ con… Thế nhớ lần trong Sài Gòn lo triển lãm tranh cho bố anh, anh đọc được bài báo đâu đó kể rằng: Có ông giáo sư mơ ước nhặt được một khoản tiền đánh rơi - dĩ nhiên là của dân nhà giàu, để có tiền đưa vợ đi chữa bệnh… Thế chợt nghĩ đến ông Bụt của anh, cán bộ Tổ chức Sở Giáo dục Hà Nội… Ừ nhỉ, sao mình không nghĩ ngay tới bác Thăng… Nhưng mình đã mang ơn bác Thăng chưa hề trả được ơn nghĩa, và không biết lúc nào mới trả được, lại ngoéo vào chuyện xin việc giống như lên trời này, lương tâm mình để đâu?… Vả lại, bác ấy chắc đã về hưu, lại là người liêm khiết, làm sao có nổi những quan hệ nhiều sức nặng để giúp được ta đây… Nghĩ cách nào cũng bế tắc đen ngòm… Miên man trong bao suy tính, Thế thiếp đi trên tảng đá… Chợt có bàn tay lay người anh, giọng hoảng hốt: “Anh… Anh sao thế hở anh?” Thế dụi mắt, Yến liền ôm choàng lấy anh. “Anh làm em lo quá! Sao không vào nằm với em mà định phơi sương núi cả đêm thế này?”
Anh hôn cô. Cái hôn thấm sương đêm, thấm nỗi lo âu trước “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”… Anh vuốt nhẹ tấm lưng thanh tú của cô gái vừa trải qua đời sinh viên mà sự đói ăn và thiếu thốn đủ điều dường đã phải nhường bước cho sức trẻ, tình yêu và khát vọng sống… Một tình thương xa xót chợt trào lên khiến cả người anh rung lên. Yến như trực cảm được điều đó, cô dứng thẳng người lên, kéo tay anh đi về phía hang đá. Qua cửa hang vài bước chân, Yến dừng lại, lúc đó vòm hang để lộ ngôi sao mai đương lấp lánh cô đơn. Ép chặt thân mình nóng hổi vào người Thế, cô thì thầm: “Anh yêu em đi… Yêu như một người vợ… Anh vẫn mong em thành vợ yêu của anh mà… Không gì chia cắt được đôi ta…”. Anh làm sao có đủ dũng khí để từ chối lời khẩn cầu gần như ra lệnh đó của người yêu. Cửa hang đá vùng thảo nguyên còn hoang sơ đêm ấy là cửa Địa ngục với ai, chứ đối với anh và cô lại là cánh cửa dẫn tới Thiên đàng…
Cũng ngay trong hôm đó, hai cô chị của Yến đã vội vàng liên hệ với người quen làm ở Sở Giáo dục Điện Biên, xin một xuất biên chế cho em gái; nơi đó đang thiếu giáo viên cấp Ba, nhất là giáo viên văn, thế là công văn xin người, đích danh Yến, được đánh và gửi ngay về Đại học Xuân Hòa. Khi Thế được tin, phóng lên thị trấn Xuân Hòa, gặp Yến ở phòng thầy Bình sau giờ lên lớp. Mắt cô sưng vù đỏ mọng vì khóc nhiều. Thấy Thế vào, Bình nói vài câu rồi tìm cách ra ngoài cho hai người tự nhiên trò chuyện. Thế nắm tay Bình kéo lại bởi chỉ có bạn lúc này mới giúp anh có đủ lòng dũng cảm để nói với em những điều đứt ruột song cần thiết đối với cả hai:
- Ba mặt một lời đây! Ông và tôi cần giúp em bớt dày vò đau khổ bằng cách cho em hiểu rõ tình thế của tôi… Tôi đã hoàn toàn bất lực trong chuyện lo tìm việc cho em, cũng không có bất cứ khả năng nào lo toan hạnh phúc lâu dài của em được nữa… Tôi đã bỏ cơ quan một lần vào Sài Gòn tìm đường làm phim nhưng thất bại, và giờ đây có thể lại phải bỏ đi lần nữa, dù chưa biết đi đâu… Vì thương em, nên tôi quyết định để em trở về quê có việc ngay, gia đình em vui vẻ… Không dễ dàng đâu ông, tôi đau lòng lắm, mấy ngày qua cứ lồng lộn còn nước còn tát tìm việc cho em để rồi tự đấm vào mặt tự chửi mình là kẻ vô vị kém cỏi, gần chục đêm qua tôi không ngủ nổi…
Yến chợt ôm mặt khóc òa sau mấy ngày cô khóc dường chẳng còn nước mắt nữa.
Cả ngày hôm đó Thế ở Xuân Hòa, cùng Bình giúp Yến giải quyết mọi thủ tục, nợ nần, thu xếp đồ đạc sách vở. Cô gửi lại phòng thầy Bình một hòm sách vở tài liệu, và chỉ đem theo một ba lô to. Thế đèo cô về Hà Nội. Sau khi mua vé ô tô đi Điện Biên cho cô trước một ngày, anh đèo cô tới chào vợ chồng ông Văn. Đêm cuối, anh đưa cô đến ngôi nhà cấp Bốn của người bạn bỏ không, đã cho anh mượn tạm để chứa toàn bộ sách vở của anh khi bố mẹ anh bán nhà. Thấy các chồng sách tú hụ của anh trong hai góc nhà và chất trên mấy cái bàn, Yến lè lưỡi:
- Em chịu anh với thầy Bình! Và cũng chắp tay kính nể những cô gái có thể yêu các anh…
- Thế thì em phải là người được kính nể đầu tiên, em định nói vậy chứ gì?
- Chứ sao! - Cô chợt buồn thiu - Nếu anh không phải là kẻ mộng mơ đắm chìm trong sách vở và khát vọng điện ảnh, thì chắc sẽ có nhiều khả năng tìm việc cho em ở Thủ đô, và chúng mình không phải xa nhau cách sông cách núi vời vợi thế này…
- Nhưng nếu anh là kẻ thực tế, khôn ngoan, sành sỏi các mánh khóe của đời như em muốn, chắc gì em đã yêu anh, thậm chí chẳng coi anh ra gì…
- Ừ nhỉ - Yến gật đầu thật thà thừa nhận - Đúng là em đã yêu anh, rồi ngày một thêm yêu, cũng chỉ tại những truyện phim nước ngoài anh kể, rồi biết bao ý tưởng điện ảnh của anh; em cứ như bị anh thôi miên ý…
- Chỉ thế thôi ư? - Thế nheo mắt vẻ riễu cợt
- Không phải, em chưa hết ý em, em muốn nói là… là…
Thế giơ tay bịt miệng người yêu, rồi anh hôn cô. Chỉ giây lát sau, đôi môi cô ướt đẫm nước mắt mà cô không ghìm nổi, cô gạt nhẹ anh ra rồi ôm mặt ngồi sụp xuống chiếu rải dưới đất khóc nức nở hồi lâu. Thế bùi ngùi ngồi xuống bên cạnh, vuốt ve an ủi… Lát sau cô bình tĩnh dần trở lại, lau nước mắt, bước đến các chồng sách ngổn ngang.
- Anh chọn cho em mấy cuốn tiểu thuyết hay nhé, những cuốn trên thư viện trường em không có ý.
- Những cuốn gì nào? Anh đâu phải thủ thư trường em mà biết sách nào có sách nào không…
- Anh ác vừa chứ, xiên xẹo ý em, em muốn nói là em có ý tìm những cuốn thầy Bình giới thiệu nhưng trường không có, hay là đã bị lấy mất…
- Đấy nhé, bài học về diễn đạt của cô giáo văn!
Hai người dường đang cố giảm thiểu sự bi thiết của cuộc chia ly bằng những câu chuyện chẳng đâu vào đâu như thế, để rồi thấy ngay là bất lực thê thảm trong ý đồ này. Thế lục lọi tìm ra hơn chục cuốn tiểu thuyết dịch của Nga, Pháp, Anh, Đức mà theo anh sinh viên văn trên Xuân Hòa khó có thể tìm được. Yến tới sau lưng Thế, gục đầu trên vai anh khóc lặng lẽ. Anh đứng lặng người tê dại, không dám quay lại ôm hôn cô, bởi sợ xáo động thêm nỗi đau lòng của cô… Không gian đặc quánh cảm xúc biệt ly vĩnh viễn, tỏa ra từ những trang sách phủ bụi thoảng mùi hoa thạch thảo hòa trộn với nỗi tuyệt vọng tràn ngập hai trái tim trẻ đương chơi vơi tìm chỗ đứng trên cõi đời mà họ bắt đầu thấm hiểu họ chỉ như “bóng chớp có rồi không” (Thân như điện ảnh hữu hoàn vô - Vạn Hạnh)…
Cả đêm hôm ấy, trong căn nhà cấp Bốn xộc xệch chứa đầy sách vở và bụi bậm, đôi tình nhân ôm nhau lặng lẽ trên chiếc chiếu rách trải trên nền xi măng nứt nẻ, vĩnh biệt nhau bằng cõi lòng tan nát được tô điểm bằng sự im lặng kèm tiếng nấc của cô gái vừa rời khỏi đời sinh viên đã phải rơi vào hố thẳm tuyệt vọng của mối tình đầu…
Lúc 4 giờ sáng, Thế đèo cô ra bến xe đi Điện Biên, ngoài chiếc ba lô của cô còn thêm một túi nặng đựng sách... Lúc đó, các ngọn đèn cao áp vẫn còn loang loáng mặt đường, Thế bỗng dưng nhớ lại sớm năm xưa, cũng vào quãng này, mẹ anh đã đưa tiễn thằng trai trưởng ra bến xe lên Tây Bắc theo tiếng “rú gọi của gió ngàn”[57]. Hai người không nói với nhau câu nào và cũng không thể nói gì cho tới khi xe chuyển bánh, bởi chỉ cần cô hoặc anh mở miệng là cô sẽ òa khóc… Khi xe rời khỏi bến, Thế đứng yên như bức tượng đá trong sáng tối nhập nhoạng, anh không giơ tay vẫy chào cô theo lẽ thông thường trong các cảnh phim chia ly. Anh cũng ngạc nhiên là mình không thể có giọt nước mắt nào khi anh muốn khóc cho thỏa lòng. Anh thoáng xấu hổ bởi cái thói quen nghề nghiệp khốn khổ dẫn anh liên tưởng đêm ly biệt vừa qua của hai người tới cái chết của đôi tình nhân bởi thuốc độc trong vở kịch Âm mưu và Ái tình của Sinle[58] (đạo diễn Đình Nghi tặng sách này năm anh lên Hải Phòng với tư cách phóng viên hợp đồng của Tạp chí Sân Khấu viết bài về vở diễn Hình và bóng do ông dàn dựng). Sau khi xấu hổ với bản thân và cảm thấy có gì thiếu lương thiện trong tập quán nhồi nhét cho cái “kho ý tưởng bần tiện” của mình, anh bỗng thấm tận xương tủy một nỗi tê tái xót thương. Không phải xót thương cho anh, mà cho cô gái anh yêu mà không có khả năng giữ được cô, không thể đem lại hạnh phúc cho cô… Thôi em, đừng buồn thương lâu nữa, mai là em đã về với môi trường quen thuộc của em, với những người thân yêu, em sẽ được làm cô giáo dạy văn đúng nghề em học và mơ ước, là “cô giáo Tây Bắc” chứ không phải “giáo khổ miền núi” như bọn anh, những kẻ Tuổi đôi mươi ẩm mốc một góc rừng[59]… Em đã trót dính vào Một người trai ra đi trong nắng bụi mưa rào/ Những quán trọ âm thầm, những nông trường tất bật/ Những thung lũng vàng cỏ tranh cháy khét/ Những phố hè ngập hàng hoá phương Nam… Còn lời hò hẹn giữa đôi ta, dù thiêng liêng, quý giá đến đâu, nhưng không có cơ sở thực tế bảo đảm thì cũng chỉ là lời hẹn hò với sương giăng mây phủ chốn núi rừng mà thôi…
Mấy ngày sau đó, Thế như người mất hồn, anh chìm đắm trong nỗi nhớ thương em nhập nhòa cùng lời hò hẹn với núi và chợt hiểu bản ngã sâu xa của anh, lẽ tồn tại của anh, số phận của anh - kẻ thuộc loài “nhân giả lạc sơn”[60], và anh thốt lên giữa cõi lòng tan hoang những lời cho riêng anh, không bao giờ gửi cho cô bởi không muốn cuộc sống yên ổn của cô bị xáo trộn thêm lần nữa bởi một kẻ vô vị bất tài là anh:
LỜI HẸN HÒ VỚI NÚI
Cặp mắt em nhìn tựa sương giăng đỉnh đèo
Mùa mưa chưa qua
Mai em về nơi ấy
Đường núi quanh co một thời trẻ dại
Cho đến tận giờ
Anh vẫn còn đi...
Thôi em
Khóc làm chi
Cho anh quặn nhớ cơn mưa rừng xối xả
Khúc suối lồng đau
Bến xe lam lũ
Khói nương thẫn thờ
Cành ban trắng cheo leo...
Tuổi trẻ anh đi qua những bản nghèo
Những thảo nguyên, những phố huyện buồn ngủ quên trong mây núi
Nơi có cuộc chia li vồi vội
Giọt lệ nào hoá đá giữa hang sâu…
Mai em về trường xưa mái lá bạc màu
Thăm căn phòng của người trai thao thức
Có thể
Em sẽ tìm lại được
Tiếng chim rừng
Ngơ ngác
Cả đời anh
Hạnh phúc chúng mình
Sương khói mong manh
Chỉ có thực
Lời hẹn hò với núi
Cành ban tím giữa phố phường lủi thủi
Mai em đi
Anh lại nhớ rừng xa...
[48] Tiểu thuyết Illusion perdues (Ảo tưởng tiêu tan) của H. Balzac.
[49] Đòn quyết định (The Art of Closing the Sale) tên cuốn sách của Brian Tracy - một chuyên gia thế giới về huấn luyện kinh doanh và phát triển cá nhân.
[50] Hạt mắc khén là gia vị không thể thiếu trong các món gác bếp, nướng, và chẩm chéo của người Thái.
[51] Convoir: Chuyến đi.
[52] Nhà thơ Hoàng Hưng dịch thơ từ tiếng Pháp (Nguyên tác: J’ai cueilli ce brin de bruyère/ L’automne est morte souvien-t’en/ Nous ne nous verrons plus sur terre/ Odeur du temps brin de bruyère/ Et souviens-toi que je t’attends). Guillaume Apollinaire (1880 - 1918): nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình nghệ thuật Pháp gốc Ba Lan.
[53] Pháp Hoan dịch. Rainer Maria Rilke (1875-1926): nhà thơ Áo gốc Bohemia viết bằng tiếng Đức, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỉ XX.
[54] Thơ Huy Cận (Anh viết bài thơ…).
[55] Tập truyện Những mối tình nực cười (Laughable loves) của nhà văn Tiệp Khắc quốc tịch Pháp Milan Kundera.
[56] Tên một truyện của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
[57] Thơ Chế Lan Viên: Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?/ Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội/ Anh có nghe gió ngàn rú gọi/ Ngoài cửa ô tàu đói những vầng trăng…
[58] Những tên cướp - F. Sinle, Nguyễn Tất Thắng, Nguyễn Đình Nghi dịch, Nxb Văn học 1983.
[59] Thơ Châu Hồng Thủy.
[60] Trí giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn (Kẻ trí thì vui với sông nước, người nhân thì vui với núi non - Luận Ngữ).