Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (3)

 Mai An Nguyễn Anh Tuấn

ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM - VÕ SĨ KHÔNG CÂN SỨC

1. Những cú nốc-ao!

Khi phần đông khán giả Việt Nam đã “quen hơi bén tiếng" phim Hồng Kong, khi các ông chủ trường quay ở xứ xở “lung linh ánh đèn màu” nọ hỉ hả thấy chính sách tiếp thị và kế hoạch kinh doanh điện ảnh lâu dài của họ có hiệu quả vượt ngoài sự mong đợi, thì cũng là lúc điện ảnh Việt Nam bị “nốc ao” và ngắc ngoải chờ một phát súng lục - của Châu Nhuận Phát chẳng hạn, kết liễu.

Ở một tờ báo chuyên ngành, có người viết sau khi đã dài dòng khen chê phim Hồng Kong đã đi tới một kết luận có tính “thực tiễn”: “Ai muốn làm phim nghệ thuật để đoạt giải thưởng quốc tế hãy cứ làm. Điện ảnh ở đây, chủ yếu dựa vào tầng lớp khán giả đông nhất, thị trường đông nhất và cuối cùng cũng là món lợi nhuận kếch xù nhất” (Điện ảnh TP. HCM số 15.10.1990). Bênh vực những phim Hồng Kông dễ dãi, tác giả công kích sâu cay vào một loại phim mà điện ảnh chúng ta giờ vẫn thiếu vắng: phim có giá trị tư tưởng & nghệ thuật cao, kết quả của sự tìm kiếm sáng tạo độc đáo - những bộ phim có khả năng gây được ấn tượng sâu bền, dù nặng nề chăng nữa nhưng đó chính là con đường lớn đầy chông gai của một nền điện ảnh đích thực.

Nhưng chúng ta hãy quay lại với “võ đài” hiện tại. Các “võ sĩ" điện ảnh Việt Nam không “nặng nề” chút nào như người ta vẫn định kiến, mà ngược lại “nhẹ cân lạng” về cả nội dung tư tưởng lẫn hình hài: từ cấu trúc cốt truyện, tâm lý nhân vật đến các chi tiết sống, từ điều kiện làm phim, phổ biến phim đến kĩ thuật các bản phim (négatif và positif)… Nhiều “lời khẩn cầu” cấp bách, nhiều lúc rơi tõm vào chốn hư không; còn sự chai lỳ, câm điếc của những người, những cấp có trách nhiệm và có thẩm quyền đã mặc nhiên cho nền điện ảnh “rơi tự do”, vô tình tiếp tay cho sự ra đời như nấm của hàng đống phế phẩm điện ảnh! Đó là chưa kể đến những vụ móc ngoặc để được giao làm phim, để mua bán phim có lợi cả đôi bên, cùng sự thiếu sót và bất lực thảm hại của các luật lệ… khiến cho “võ đài điện ảnh” Việt Nam mỗi lúc càng bị phủ thêm màn u ám.

Thực ra, ở trên đó vẫn còn vài “hiệp sĩ cô độc”. Những tác phẩm điện ảnh ít nhiều có giá trị nghệ thuật vẫn âm thầm tìm hướng đi cho cả ngành, giữa lúc nhiều địa phương, cơ quan phát hành và chiếu bóng gần như tẩy chay phim Việt Nam bằng một bản án không tuyên bố nhưng nghiệt ngã. Với một phim “trôi nổi” mua với giá vài trăm ngàn đồng có thể thu lời hàng triệu, tội gi mà chiếu phim nội địa vắng khách - dù đã buộc phải bỏ ra hàng chục đến hàng trăm triệu đồng (Kinh phí Nhà nước) để mua nó? Thôi thì mạnh ai nấy được. Việc làm phim và tìm “đầu ra” cho phim trở thành những “phi vụ làm ăn” chụp giật, bịp bợp và chớp nhoáng quay vòng vốn, bất chấp khán giả, bất chấp mọi quy luật về chức năng giáo dục và thẩm mỹ. Người người làm phim, nhà làm phim - cái cảnh tượng mới trông thì tưởng nức lòng, ra chiều “khởi sắc”, xem kỹ ra thì thật tuyệt vọng! “Lợi nhuận kếch xù!”! Lời kêu gọi hấp dẫn ấy không chỉ làm lao đao nhiều nghệ sĩ đáng kính trọng, khiến họ chấp thuận “luật chơi” của đám “võ sĩ nghiệp dư” đang ganh đua uốn éo chiều theo đủ mọi thị hiếu tạp nham, mà còn khiến cho cả Liên hiệp Điện ảnh cũng nhảy ra tổ chức “làm phim thể nghiệm” - mà kết quả thực sự “thể nghiệm” đó (thực chất là “làm tiền”) khiến nhiều người xem phải ê chề xấu hổ… Những “võ sĩ” còn giàu tâm huyết thì bị dồn đến chân tường, bị thương tích băng bó đầy mình (giống như nhiều máy quay phim cổ lỗ ở các hãng phim), phải bán bớt phương tiện và mặt bằng hành nghề để kiếm sống qua ngày. Người làm phim bế tắc, nhà làm phim đau đầu, những người làm công tác phát hành phim và chiếu bóng cũng ngộp thở. Cái giá của lợi nhuận trong nghệ thuật điện ảnh khiến cái “võ đài” thiêng liêng đó trở thành bãi chiến trường : người võ sĩ thất trận - nền điện ảnh dân tộc đáng thương đã tới lúc không còn đủ sức để kêu cứu nữa!

2. Ở đâu, những ông bầu của võ đài?

Họ vẫn tồn tại ở đâu đó. Chỉ có điều, dưới sự chỉ đạo của các “ông bầu” làm phim bằng mọi giá, những "võ sĩ" điện ảnh đang mất phương hướng, bị nhiễu loạn, lại è cổ ra chịu đựng những cú đấm thôi sơn của kinh doanh lỗ lãi. Bị nhốt chung vào một cái “rọ” bùng nhùng của cơ thể quá lỗi thời, quá bất hợp lý, các "võ sĩ" bị dồn đến cùng đường đôi khi đã “đánh lộn” lẫn nhau… Ngành chiếu bóng thì phải è cổ nộp ngân sách cho địa phương, còn ngành phát hành phim thì hoảng hồn trước chỉ tiêu kế hoạch nộp ngân sách Nhà nước mỗi lúc một tăng cao. Năm 89, 90, năm nào ngành phát hành phim cũng bị lỗ hàng tỷ đồng, nhưng nghe nói năm 91 khả năng chỉ tiêu giao nộp còn tăng cao hơn nữa! Trong khi một đồng chí Thứ trưởng thay mặt Bộ Văn hóa - Thông tin Thể thao và Du lịch tuyên bố: “Không thể nhìn văn hóa nghệ thuật như một ngành kinh tế, tự hạch toán và thăng bằng thu chi, mà phải tài trợ cho nó, vì doanh thu chủ yếu của văn hóa nghệ thuận là doanh thu tinh thần, tư tưởng và thẩm mỹ” (Sài Gòn giải phóng 6-1-1991) thì có lẽ chỉ tiêu doanh thu theo pháp lệnh cho ngành điện ảnh đã được ấn định. Để đạt được con số doanh thu ấy, liệu người ta có dám chiếu phim liền trong vòng một tuần không? Nên chăng, cứ tiếp tục dùng tiền thu được ở phát hành phim để vừa mua phim vừa mua phim Việt Nam nhét vào trong kho, vừa nộp ngân sách? Cái vòng luẩn quẩn, sẽ không bao giờ chấm dứt. Để có một số tiền khổng lồ như thế, người ta buộc phải tiếp tục mở rộng của chào mời phim ngoại nhập bằng đủ kiểu, nghĩa là thị trường điện ảnh Việt Nam sẽ còn phải “ngập lụt” bởi chính những “ông bầu” đang tâm hạ sát các “võ sĩ” của mình!

Đến lúc nào mới xuất hiện những “ông bầu” thực sự có hiểu biết về nghệ thuật điện ảnh, toàn tâm toàn ý với các “võ sĩ” của mình, đồng thời tạo điều kiện giúp họ mở mày mở mặt với thiên hạ?

Tp.HCM 1990 (Báo Đại Đoàn kết)

ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM ĐI VỀ ĐÂU?

Dường như, song song với những biểu hiện đáng mừng của một nền kinh tế thời mở cửa là sự “đua nở” của phim ảnh (không chỉ là “ khởi sắc” như nhận định của một vị quan chức điện ảnh). Trên các phương tiện thông tin đại chúng, những “tít” phim mới đua nhau xuất hiện ngày một dồn dập. Các công ty chiếu bóng địa phương không còn kêu ca về chuyện thiếu tiết mục điện ảnh nội địa mà nạn phim ngoại nhập lậu đành tạm lùi vào “hậu trường”. Điện ảnh đã tỏ ra rất nhạy cảm với cơ chế mới cùng những thị hiếu thời thượng; hơn ở đâu hết và hơn ai hết, nó đang là một “chiến sĩ tiên phong” của thương trường văn hóa.

Bất cứ một nền điện ảnh nước nào cũng có một loại phim thương mại mà người ta vẫn gọi là “phim chợ”, phim loại ba với mục tiêu lớn nhất là cung cấp món ăn giải trí cho đông đảo khán giả. Nhưng để duy trì một nền nghệ thuật điện ảnh đích thực, để có một đội ngũ sáng tạo điện ảnh luôn được bổ sung bằng những tài năng mới và để có được những tác phẩm “rửa mặt” cho quốc thể trong các liên hoan phim lớn quốc tế, thì ngay đến những “con sói già” của điện ảnh Pháp, Anh, v.v. cũng cần đến sự tài trợ đáng kể của nhà nước. Hàn quốc đang đầu tư mạnh cho điện ảnh như một phương cách truyền bá văn hóa hữu hiệu... Trông người mà ngẫm đến ta, quả thực đáng lo ngại! Những bộ phim nhựa và vidéo đã và đang ra lò hàng loạt và được quảng cáo rùm beng chỉ có thể chứng minh hùng hồn cho sự suy thoái về trình độ nghề nghiệp lẫn thẩm mỹ của giới làm phim (cả chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư), sự xuống cấp về thưởng thức thẩm mỹ của người xem. Tình trạng này đã ở mức báo động! Nhiều bài báo ở trung ương lẫn địa phương đã bày tỏ sự lo lắng, buồn phiền và chê trách. Điều đáng buồn hơn cả là việc làm phim đã trở thành một phương tiện kiếm sống đơn thuần và dễ dãi (thậm chí gần như một sự chụp giật), một cách vun quén sự giàu sang cho cá nhân. Không kể đến những kẻ “ngoại đạo” háo danh ham tiền nhảy bổ vào điện ảnh để kiếm chác, ngay cả một số không ít các nghệ sĩ đã có tên tuổi, vị trí nhất định trong ngành cũng trở nên mê muội trước những vụ “apphe” trong thị trường phim ảnh (và phim trường)! Một bộ phim làm về lãnh tụ (tiêu tốn tới gần hai tỷ đồng) cũng trở thành “phi vụ” làm ăn béo bở, rồi sau đó thì “bộ phim vĩ đại” được nhét vào kho. Không có gì đáng ngạc nhiên khi một đạo diễn có tiếng tăm ở phía nam chấp nhận làm một bộ phim nhiều tập hoàn toàn dựa theo một cốt truyện phim Hồng Kông, một đạo diễn được phong nghệ sĩ ưu tú ở phía Bắc mang danh “làm phim thể nghiệm” (do LHĐA cũ bày vẽ) để cho ra đời một sản phẩm đáng xấu hổ… Song, điều đáng ngạc nhiên là những nghệ sĩ đáng kính trọng đó đã không hề có một chút áy náy, băn khoăn nào, họ còn ngang nhiên tuyên bố trước công luận: họ cần phải làm phim để sống, cần phải chiều theo ý muốn của kẻ có tiền! Gần đây nhất, một đạo diễn thuộc loại “có cỡ” để thanh minh cho hàng loạt phim kém cỏi làm theo lối “chạy sô” của mình, đã trả lời phỏng vấn như sau: “Điều trước hết đối với riêng tôi là cần phải tồn tại bởi vì tôi không thể không làm phim”… “nhiều đồng nghiệp của tôi, chỉ vì không chịu đổi mình, đành phải sống cơ cực. Muốn làm phim tử tế, tôi phải có thật nhiều tiền”… “Bây giờ người ta đang sửa lại cái “thói quen nghèo khổ” đó, không có gì buộc tôi không như họ”. Thực là thảm hại, và đáng buồn quá! Chưa cần nói đến những mỹ từ to tát: sứ mệnh nghệ thuật, danh dự người nghệ sĩ, v.v, chỉ cần nói đến lòng tự trọng tối thiểu của người làm nghề, người ngoài cũng cảm thấy xót xa, tủi hổ thay! Thế nào là “chịu đổi mình” ? Phải chăng ông đạo diễn đạt kỷ lục về số lượng làm phim nọ muốn nói tránh đi cái sự thật: “chịu đổi mình” cũng có nghĩa là “tự hạ mình”, “tự bán rẻ tài năng và nhân cách của mình”? Đến nay những “tấm gương” như thế không chỉ còn đếm trên đầu ngón tay được nữa. Họ đã đang “chơi” trò chơi phim ảnh như những con gấu đập những đõ ong đầy mật, dù lũ ong có túa ra đốt chí chết bọn trẻ con đang đứng bâu quanh hâm mộ họ cũng chẳng làm họ mảy may động tâm!

Trong suốt một thời gian dài, tất cả những “thể nghiệm” điện ảnh để kiếm ra tiền, để “móc túi” khán giả hầu như đều đã được sử dụng. Còn những thể nghiệm nghiêm túc về nội dung- nghệ thuật thì bị quên lãng, bị coi rẻ, không được ủng hộ (ngoài những lời cổ động chung chung). Những người ôm ấp khát vọng sáng tạo thực sự thì bị coi là không tức thời- tệ hơn, là những kẻ điên rồ, phải sống trong cảnh đói rách, mệt mỏi, chán nản. Cả guồng máy điện ảnh ầm ầm lao theo cái đích doanh thu. Lợi nhuận khổng lồ của phim ảnh phần lớn rơi vào túi những kẻ thức thời cơ hội và những kẻ lợi dụng vị trí công tác để xoay xở mờ ám. Và nhan nhản trên màn ảnh là những nhân vật sang trọng thuộc tầng lớp trên hoặc những kẻ mới phất lên giàu có làm người xem phát thèm rỏ rãi. Những con người sống động với chiều sâu tâm lý chân thật của các tầng lớp xã hội dần dần biến mất khỏi màn ảnh để nhường chỗ cho những hình nhân xa lạ, khóc, cười, thọc lét và ba hoa những triết lý học mót rởm đời. Phim dành riêng cho thiếu nhi gần như vắng bóng…

Nhìn bức tranh toàn cảnh của điện ảnh Việt Nam, không thể không lo ngại. Giai đoạn phim quay thông dụng bằng vật liệu ORWO đã chấm dứt, bước sang giai đoạn phải dùng vật liệu đắt hơn gấp mấy lần (phim AGFA, KODAK, v.v), kinh phí làm phim sẽ phải tăng vọt. Trong khi đó, cơ cấu tổ chức phát hành, chiếu bóng trên toàn quốc chưa được cải tổ một cách đáng kể mà quy trình công nghệ sản xuất phim đã lạc hậu so với thế giới đến nửa thế kỷ. Công chúng xem phim hàng ngày bị ngạt thở với hàng đống thứ phẩm điện ảnh nội địa. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ điện ảnh tựa như chuyện ăn cháo loãng cầm hơi. Những người được đào tạo tử tế, nhất là những người có khuynh hướng thẩm mỹ tích cực , có nhiệt huyết đối với sự nghiệp điện ảnh dân tộc thì sống trong cảnh cầu may…

Điện ảnh Việt Nam sẽ đi về đâu? Trên “võ đài” điện ảnh quốc tế, điện ảnh Việt Nam còn là một “võ sĩ” bủng beo, gầy còm, không cân sức đến bao giờ?... Những điều day dứt, trăn trở của những người hoạt động điện ảnh có tâm huyết hi vọng sẽ tìm được sự đồng cảm sâu xa và những biện pháp mạnh bạo, hữu hiệu của những người lãnh đạo điện ảnh, những cấp có trách nhiệm của Nhà nước.

Những “ông bầu” đích thực của Điện ảnh Việt, theo hình mẫu “Ông hoàng Hollywood" mà dân làm phim nước nào cũng mơ ước cho đến hôm nay vẫn chưa thấy bóng dáng ở chân trời nào của xứ sở! Trong lúc đó, thì việc “đục nước béo cò”, những người có tiền song chẳng hiểu quái gì về Điện ảnh nhảy xô vào mong hốt bạc từ những thứ ngoài nghệ thuật Điện ảnh - là chuyện hiển nhiên, dể hiểu!

Tp. HCM - 1990 (báo Đại đoàn kết)

LÀM PHIM... HAY LÀM TIỀN?

I. Thời gian vừa qua, công luận rộ lên về tình trạng bát nháo của phim Việt (đặc biệt là phim truyện truyền hình chiếu "giờ vàng"), tất cả đều xác đáng- mà một "tít" phụ của báo Tuổi trẻ TPHCM đã thâu tóm được chỉ bằng hai chữ: "nhảm nhí". Nhiều ý kiến đã phanh phui thực trạng cũng như nguyên nhân của tình trạng này. Có điều, một sự thật hiển nhiên mà chắc nhiều người cũng biết song không nỡ nói trắng phớ ra: đấy là, người ta không làm phim, nghĩa là không làm văn hóa, mà là làm tiền một cách trắng trợn! Việc làm tiền, đâu có gì đáng phải nói, nhưng ở đây, vấn đề là người ta đã làm tiền một cách thiếu sòng phẳng, không lương thiện, vô tình hoặc cố tình đánh cắp thời giờ, tiền bạc, lòng tin... của đông đảo khán giả!

Nhưng cái thực trạng đáng xấu hổ này (nhục nhã thì đúng hơn!) đã được ủ mầm bệnh từ hai chục năm trước (và đến bây giờ thì có điều kiện bung ra tất cả sự thối tha của nó) khi điện ảnh Việt Nam rơi vào cơn khủng hoảng trầm trọng, từng phải lên tiếng cấp cứu thảm thiết, và cũng là lúc xuất hiện hàng loạt "phim mì ăn liền" với những cái tên phim câu khách lộ liễu trắng trợn! Nhiều ông "chủ phim" xuất hiện, nhưng than ôi, không phải là hình mẫu "Ông Hoàng Hollywood" đáng nghiêng mình kính nể của nhà văn Mỹ Fitzgerald! (cuốn tiểu thuyết đã có bản dịch tiếng Việt). Những ông "chủ phim" này rất giỏi đánh hơi phần thị hiếu tầm thường của công chúng và quả đã lập được những kỷ lục khủng khiếp trong việc kiếm tiền chụp giật cũng như tiêu diệt những thị hiếu lành mạnh còn sót lại! Kẻ viết những dòng này cũng từng lang thang phía Nam nhiều năm ròng "tìm đường làm phim", cũng đã từng phải nhún mình trước những ông chủ phim như thế, để có lần, khi một ông "chủ phim" ra điều kiện làm phim là: không được sửa kịch bản, phải lấy vợ ông ta vào sắm vai chính, thì hắn nổi khùng. Và hắn đã bị ông "chủ phim" đó hắt khinh miệt vào mặt: "Anh không làm thì thôi! Loại đạo diễn thất nghiệp như anh từ ngoài Bắc vào nhiều như chó con!"

Làm khổ độc giả bằng câu chuyện cũ rích như vậy là để từ chuyện làm "phim mỳ ăn liền" kia, khi liên hệ với chuyện làm phim nhố nhăng hiện tại (và việc phát hành nó tới đông đảo khán giả), chúng ta dễ dàng nhận diện những ông "chủ phim" kiểu mới (đã biến tướng đi ít nhiều). Họ bây giờ là những ai? Đó là những công ty truyền thông tư nhân, những hãng phim tư nhân mà mục tiêu chủ yếu trong hoạt động là lợi nhận, lợi nhận, và lợi nhuận - còn những thứ khác như: nội dung giáo dục, vì tương lai thế hệ trẻ, vì thuần phong mỹ tục, v.v. chỉ là đồ trang kim dán bên ngoài để dễ dàng trôi qua kiểm duyệt, để nhanh chóng được nghiệm thu sản phẩm (dĩ nhiên là phải kèm thêm khoản "hoa hồng" hoặc phong bì lót tay hậu hĩ!).

Khoảng 6 năm trước, khi được Nhà nước cho phép, các hãng phim tư nhân mọc lên như nấm sau mưa, các công ty cổ phần hay trách nhiệm hữu hạn làm truyền thông quảng cáo cũng mau chóng bổ sung chức năng làm phim. Lúc đó, Trung tâm dịch vụ & quảng cáo truyền hình (TVAD) Đài THVN đã tổ chức một cuộc gặp mặt hoành tráng với các cơ sở sản xuất phim tư nhân toàn quốc, mở đầu cho giai đoạn xã hội hóa phim ảnh! (Thực ra từ trước đó cũng đã có sự xã hội hóa bằng cách Đài "bán cái" một số chương trình show games truyền hình cho tư nhân thực hiện). Rồi tiến tới, "mật ngọt chết ruồi", đến ngay cả Trung tâm sản xuất phim truyền hình (VFC) - một cơ sở làm phim truyện truyền hình lớn nhất nước cũng hầu như "bán cả hồn lẫn xác" việc sản xuất phim cho tư nhân - và thời kỳ "hoàng kim" của VFC đã trở thành niềm tiếc nuối của không ít khán giả truyền hình khi "Văn nghệ chủ nhật" đã nhường chỗ cho một chương trình lạ hoắc và "lông bông" (nhận xét của một người xem truyền hình). Dựa trên một chủ trương đúng đắn (cần phải có 70% phim nội địa), dòng phim "mỳ ăn liền" đùng đùng sống dậy đã tác yêu tác quái các kênh truyền hình cả nước- và chiễm trệ tại "giờ vàng" của VTV Quốc gia!

Bên điện ảnh phim nhựa cũng rơi vào tình trạng bị "mua đứt bán đoạn" tương tự, đến nỗi người xem phim vào rạp có cảm tưởng phải buộc xem những post quảng cáo kéo dài, buộc xem trình diễn thời trang, buộc mở những trang web cá nhân xa lạ xem nam thanh nữ tú "lộ hàng nóng" khiến họ phải đỏ mặt; và diễn ra cái cảnh mà một nhà biên kịch nổi tiếng Mỹ đã hài hước kể lại trong "Những bài giảng về Nghệ thuật kịch bản điện ảnh": đó là lúc lượng tiêu thụ nước của thành phố thình lình tăng vọt!

Thực ra, ngay cả những phim truyện Truyền hình chưa đủ "tiêu chuẩn" để được gọi là "mỳ ăn liền" cũng đã mang những yếu tố của "mỳ ăn liền" đích thị! Vì không có trường quay, kinh phí quá bèo bọt, nên một số phim TH quay kéo dài hàng tháng trời đã mang tiếng là "lừa đảo" những chủ nhà cho thuê mượn bối cảnh (bởi hứa hẹn là chỉ quay có vài ngày!) Những người tham gia làm phim thì mắt trước mắt sau ngốn cho xong tiến độ để còn "chạy sô" phim khác; bộ phận kỹ thuật thường rất khó chịu khi đạo diễn muốn tìm tòi suy nghĩ cho phim thì có câu nói mỉa mai kinh điển: "định săn bắt cái con gì thế hở?"; còn diễn viên (trừ một số ít người đứng tuổi) thì mắt nhắm mắt mở cầm cuốn kịch bản phân cảnh đọc mà chẳng cần biết đầu cua tai nheo thế nào, nhăn nhó năn nỉ với trợ lý: "Nhắc thoại tý!"- nhưng "một tý "ấy kéo dài hết cảnh này sang cảnh khác, khiến người lồng tiếng hậu kỳ phải chửi rủa ầm ĩ (còn nếu do chính mình đóng mà nhai lời lại thì đành ngậm bồ hòn làm ngọt), và người xem phim thì có ấn tượng rằng: đấy là những người lớn đang tập nói tiếng Việt!… Thảm cảnh của chuyện làm phim ở Việt Nam cũng có thể coi là một thứ phim truyền hình bi hài dài tập không có hồi kết!

II. Có mấy công đoạn liên kết chủ yếu để diễn ra cái tình cảnh phim Việt trở thành nỗi "kinh hoàng", "ghê sợ", làm đau đầu nhiều người hiện nay, tôi xin thử tháo gỡ và phân tích từng công đoạn:

1. Được các Nhà đài bật đèn xanh, các công ty sản xuất phim tư nhân năng nổ kêu gọi các nhà tài trợ (thường là những cơ sở sản xuất kinh doanh muốn quảng cáo sản phẩm trên TH) - bằng các dự án phim TH dài tập. Nghĩa là, Nhà đài cho phép đổi phim lấy quảng cáo. Còn công ty sản xuất phim bắt đầu đi thuê mướn đội ngũ làm phim, với hình thức "cò kè bớt một thêm hai", và tất nhiên họ sẽ "ngã giá" với những ai có khả năng thực hiện "nhanh nhiều tốt rẻ" và chấp thuận những điều kiện có lợi nhất cho họ. Những người đổ tiền vào để quảng cáo (trong phim và ngoài phim) chỉ chăm chăm xem sản phẩm của mình có làm "mờ mắt thủng tai" người xem hay không. Ngay cái khâu đầu tiên này đã sặc mùi thương mại, chẳng thèm đếm xỉa đến nội dung tư tưởng nghệ thuật gì hết trọi, nếu còn mong phim có giá trị nhân bản sâu sắc hay nghệ thuật cao siêu thì thực là ảo tưởng!

2. Người làm phim (thường do đạo diễn, hoặc đối tác trung gian đứng ra "nhận thầu"), khi cầm đồng tiền tạm ứng làm phim thì phải so đo đong đếm để "gọt giày vừa chân". Chưa kể, người làm phim trong khi lo xoay sở chuẩn bị tiền kỳ, lại phải đối phó với trung gian đương tìm mọi cách bớt xén phần kinh phí vốn đã quá èo uột... Nhưng không chấp nhận thì... đạo diễn thất nghiệp và "chợ người làm phim" chờ việc đang nhan nhản ra kia ở cổng các hãng phim lớn nhỏ! Và không ít người làm phim, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, đã chấp nhận làm phim bằng mọi giá, đồng thời cũng coi lương tâm nghề nghiệp chẳng đáng xu rỉ, đã thực hiện đúng phương châm: "Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi"! Sở dĩ trong dân gian lâu nay vẫn lưu truyền câu nói của bố mẹ với con cái: "Nếu con mà lười học, dốt nát, mai kia sẽ cho làm đạo diễn phim truyền hình!", phải chăng có cơ sở thực tế là những "đạo diễn truyền hình, đạo diễn điện ảnh" kiểu này đang xuất hiện nhan nhản trên thương trường phim ảnh? Chỉ cần có những mối quan hệ hữu hảo, biết "chi đẹp", là dễ dàng được "cầm cờ" làm đạo diễn, hô diễn hô cắt máy rất oai, để vênh váo với bạn - hơn thế, có thể "hòa vốn" hoặc có lãi to chưa biết chừng trong cuộc mua bán hư danh! (Chỉ đơn cử ví dụ: một người chỉ mới làm vài cái saw games đơn giản trên truyền hình bỗng dưng nảy nòi trên cương vị đạo diễn điện ảnh rất oách, trong một phim lịch sử cực kỳ đồ sộ và tai tiếng cũng đồ sộ không kém! Thật may cho khán giả là phim chưa kịp ra "lò" đã bị tuýt còi, xếp xó).

Nếu là một người làm nghề có lương tâm thì sẽ không bị đồng tiền chi phối một cách thảm hại, sẽ biết lịch sự hay thẳng thừng từ chối những kịch bản dở, từ chối lối làm phim chụp giật. Nhưng than ôi, người biết từ chối như vậy trong nghề xem ra ngày càng hiếm "như lá mùa thu", và góp phần làm tràn ngập những bộ phim quái thai "khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào"!

3. Nhưng xét cho cùng, nếu những thứ phẩm của điện ảnh - truyền hình (đúng ra phải gọi là Rác văn hóa) bị chặn lại bởi hệ thống duyệt & phát hành đúng nghĩa thì đã không xảy ra chuyện dở cười dở khóc khiến bao người phải phí công sức để than phiền, phẫn nộ! Thực chất thế nào? Nhiều ý kiến đã vạch ra quá chi tiết và xác đáng, tôi chỉ xin nói thêm điều này: tôi thực sự kinh ngạc khi thấy người duyệt phim rất kỹ lưỡng, săm soi từng chi tiết, từng câu thoại mà họ coi là "nhạy cảm", song lại tỏ ra thông thoáng dễ dãi đến đáng ngờ trước những sản phẩm nhạt nhẽo, vô duyên, ngớ ngẩn, và nhảm nhí! Bản thân tôi và một số đồng nghiệp cũng không chỉ một lần là nạn nhân của cái bệnh "cầm đèn chạy trước ô tô", thói "bảo hoàng hơn vua" này của những người duyệt phim, khi phân cảnh thì được soi rất kỹ từng lời thoại, song khi diễn viên nói ra lại khiến họ sợ dúm, bắt đạo diễn phải cắt, hoặc "hiếp lời" (diễn viên nói một đằng, nhưng lồng tiếng lại một nẻo!) Và có những phim phải bị cắt đến không còn ra hình thù gì cả khi phát sóng khiến đạo diễn không nỡ, không dám xem lại phim của mình nữa!

Hệ lụy của tất cả những điều nói trên không chỉ là làm mất lòng tin của số đông khán giả với truyền hình - điện ảnh nước nhà, làm lãng phí công sức, thời gian tiền bạc của biết bao người, nó còn góp phần đắc lực tạo ra sự lệch lạc méo mó trong thị hiếu thẩm mỹ của thế hệ trẻ, góp vào sự suy đồi của đạo đức xã hội, tạo ra nguy cơ "sự trống rỗng văn hóa" như một số nhà hoạt động văn hóa nước ngoài đã từng cảnh báo!

…Trong mối quan hệ chằng chịt giữa các công đoạn, các tổ chức để ném ra đời hàng đống phim nhảm nhí kia, là những âm mưu, những tính toán, những mục đích không "nhảm nhí" chút nào, còn người xem vô tội lương thiện thì lãnh đủ; và tôi đồ rằng, dường như có một hình bóng của quy luật "Maphia" đang len lỏi thao túng làm u ám thêm đời sống phim ảnh nước nhà vốn đang ốm yếu què quặt…

Hà Nội, 2011 (Tuanvietnam.net)

Nếu chị diễn viên chịu đọc qua mấy bài báo tép này, Thế sẽ có cớ để nhẹ nhàng nói với chị: Vậy đó chị, nói như cụ Nguyễn Trãi: “họa phúc hữu môi phi nhất nhật” - họa phúc có mầm đâu chỉ một buổi, cái sự tan hoang này khiến chị phải khóc đã được chuẩn bị từ lâu rồi, có gì mà phải phí hoài nước mắt, thưa bà chị, nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng, nữ Nghệ sĩ Nhân Dân đáng kính và đáng thương?

2.

Chật vật lắm mới được chuyển vùng từ Tây Bắc về Thủ đô, sau gần “Chín năm làm một Điện Biên” và bao nỗi kiên trì và kiên quyết “nổi loạn” cùng một số đồng nghiệp “giáo khổ” nhằm phá vỡ lời nguyền “Không cho chúng nó thoát” của các “thủ lĩnh” Giáo dục của một tỉnh miền núi, Thế mới được toại nguyện, và sau đó được phân về một trường Phổ thông trung học ngoại thành cách nhà hơn 20 cây số…

Những hôm có tiết dạy đầu, Thế phải dậy từ 4 giờ sáng, hộc tốc đạp xe đạp tàng từ phố xá còn loạng choạng đèn đường tới những con đường đất đá lổn nhổn dẫn ra một bến phà ngồi chờ đợi, lúc mặt trời bắt đầu le lói tia nắng đầu tiên trên sông Hồng… Nỗi nhớ thời dạy học miền núi và những suy tư về ước vọng điện ảnh giúp Thế bớt đi nỗi bực dọc của sự đợi phà đến cũng như lúc phà đi… Có lần, lúc trở về, trên con phà lênh đênh giữa dòng sông đỏ quạch chìm trong hoàng hôn, Thế lặng đi trong nỗi nhớ Tây Bắc và mối tình đầu…

Sông Hồng mùa lũ đục ngầu miên man cuộn chảy. Anh nhìn phía thượng nguồn xa tít tắp…

Hỡi chàng trai không còn trẻ nữa, bao dòng sông bao con suối anh đã đi qua

Một con tàu trắng hiện lên, khi chỉ còn một chấm nhỏ, sóng con tàu mới đánh vào bờ dào dạt. Chỉ nỗi nhớ thương là có thật và đầy ắp cả không gian bao la

Sông nhoè ướt, cồn cào…

Sao em chỉ đi qua đời anh như một tia sáng?

Anh chợt hiểu những gì là phù du, dối giả của đời anh - chúng tựa những bọt cát đang trôi vật vờ trên sông…

Cùng những rác rến bèo bọt, những năm tháng lỗi lầm và hèn đớn trôi đi… Anh ngược dòng tìm đến thượng nguồn sông, tới đầu con suối. Để sống, dù một ngày thôi, giữa cái nơi không có thù hằn, đố kỵ, bon chen.

Để sống, dù một chốc lát thôi, với ngọt ngào dịu êm vô tận của mối tình đầu…

Sông nhoè ướt, cồn cào…

Cũng có buổi trên sông lúc hoàng hôn đỏ rực những đám mây vần vụ tận chân trời, Thế chợt hình dung đó là một màn ảnh khổng lồ của một bãi chiếu phim ngoài trời… Vốn là "tín đồ" của màn ảnh, cả tuổi thơ anh từng lê la qua hầu hết các rạp chiếu phim của Hà Nội, lần đầu tiên đã ngỡ ngàng xiết bao khi được xem phim ở bãi chiếu phim thời đi sơ tán tại một làng quê Bắc Bộ... Trong khi nhiều bạn trẻ trong làng rú lên khiếp sợ khi đàn chiến mã trên màn ảnh lao về phía ống kính (bởi lần đầu xem phim) thì cậu bé Thế ngơ ngác quan sát những người xem phim đang ngồi bệt ngồi xổm xung quanh. Thế bắt đầu có ý niệm về sự giao lưu trực tiếp giữa màn ảnh với người xem, giữa người xem với khung cảnh: màn trời đêm đầy sao, phông màn ảnh được dựng lên bằng các sào tre, gió đồng thổi lộng khiến những hình ảnh khổng lồ đang hoạt động như cũng được tiếp thêm năng lượng - đó là điều anh không cảm nhận thấy ở trong rạp kín. Thế có lần kể cho mẹ nghe ấn tượng không thể quên về phim bãi tuổi thơ trong một lần cùng mẹ đi xem phim rạp ở Hà Nội, mẹ chỉ cười... Cho tới khi tình nguyện lên công tác một thị trấn vùng núi Tây Bắc, nơi Tuổi trẻ anh đi qua những bản nghèo/ Những thảo nguyên, những phố huyện buồn ngủ quên trong mây núi... Phố huyện buồn đó thường được đánh thức bởi những buổi chiếu phim bãi. Tiếng loa từ Uỷ ban huyện ngay lúc đầu giờ chiều đã oang oang thông báo lịch của đội chiếu bóng. Mấy cái thông báo viết nguệch ngoạc tên phim, xuất xứ phim dán ở cửa hàng ăn, cửa hàng bách hóa. Học trò rỉ tai nhau trong giờ học về bộ phim sẽ chiếu. Các gia đình ở thị trấn lo nấu bữa cơm chiều thật sớm… Có lẽ, tất cả những bãi chiếu phim từ đồng bằng, vùng trung du, cho tới thị trấn miền núi ấy đều có những điểm tương đồng: Đó một bãi đất trống được rào giậu cẩn thận, ở một số nơi, có khi bãi chiếu là nghĩa địa của làng. Vài cái ghế con, vài viên gạch được ai đó đặt giữa bãi để xí chỗ từ chiều. Bọn trẻ hiếu động thường đi rất sớm tranh chỗ, thường là trước buồng máy (được dựng bằng tranh nứa hay gỗ, tựa lều canh cá) - nơi chúng có thể hoa chân múa tay lúc thử máy để thấy hình mình trên màn ảnh, được ngắm nghía cái máy chiếu cồng kềnh như súng đại liên với những hộp phim như các băng đạn trong bộ phim "Dặm đường máu lửa" và nhiều phim chiến đấu của Liên Xô, Ba Lan, CHDC Đức, thế mà lại chỉ "bắn" ra luồng ánh sáng mờ bụi... Học sinh con em cán bộ thì thường nhịn ăn quà sáng dành tiền xem phim bãi; đứa không có tiền thì năn nỉ với anh soát vé, không được thì tìm cách nhảy rào hoặc chờ đến khi chiếu đến cuốn hai thì được vào "tháo khoán", đông quá thì chui ra phía sau màn ảnh xem cũng "đã"! Không ít người vượt tới chục cây số đường rừng đến bãi chiếu, mang theo cơm nắm, ngô luộc. Có buổi, cả bãi phải đợi cả tiếng đồng hồ, vì phim còn đang vận chuyển từ huyện khác tới, hay một xã vùng cao về, nhưng ít có sự rên rẩm kêu la, thay vào đó là sự râm ran bàn luận về bộ phim chiếu hôm trước... Tới lúc máy nổ rùng rùng, mọi người hân hoan hẳn lên, sau đó, một bóng đèn điện lập tức áp đảo ánh nến, ánh đèn dầu của những gánh, những mủng hàng rong bán kẹo, lạc rang, mực nướng, khoai sắn nướng, những con tò he... ở trong và ngoài bãi. Khi người thuyết minh (cũng thường đồng thời là đội trưởng chiếu bóng) trịnh trọng: “Thưa bà con, hôm nay đội chiếu bóng xin phục vụ bà con bộ phim..." thì một tràng vỗ tay, kèm những tiếng reo hò như cổ vũ bóng đá. Đèn tắt. Tiếng máy xè xè cất lên, cả bãi phim đang như ong vỡ tổ chợt lặng đi. Một thế giới lúc gần gũi lúc xa lạ xuất hiện, với những lời thoại cô đọng bay bổng quyện khí lạnh trời đêm dường góp phần thăng hoa sự say đắm, thi vị... Trẻ con, người lớn, bà đi chợ, anh phòng thuế, ông cán bộ huyện... tất cả đều như bị phép lạ thôi miên, mặc kệ những vết xước ào ạt trên phim vì khai thác quá nhiều (mà lẽ ra chúng phải "hóa kiếp" thành đèn lồng, cây cau, thuyền buồm... từ lâu). Cái dạ dày đương rên rỉ bởi cơm độn ngô bỗng quên phắt anh giáo huyện là Thế để cùng mê mải với những gì đương diễn ra trên màn ảnh lớn đang lay động kia... Có đôi lần, vào trước giờ chiếu, anh đội trưởng say mèm đã năn nỉ nhờ Thế thuyết minh hộ. Chưa hề được xem qua, lại thấy bản thuyết minh đánh máy chữ nhàu nát, lúc đầu Thế từ chối; nhưng rồi vì thương anh ta và thương khán giả đang mong chờ, anh tặc lưỡi đồng ý - may mà không bị khán giả la ó, ném rác lên màn ảnh phản đối!... Chẳng hiếm người khi phim đang chiếu đã lăn ra bãi làm một giấc ngon lành, tỉnh dậy xem tiếp; và đôi lần, khi bãi đã vắng hoe từ lâu, có khán giả mới choàng thức giấc! Các đôi nam nữ thanh niên đang thời kỳ tìm hiểu nhau hay đã yêu nhau tìm đến bãi chiếu phim để "mượn cớ" với cha mẹ, hoặc để vừa xem vừa thủ thỉ tâm sự; và nếu có cảnh cầm tay rạo rực trên phim sẽ giúp họ bạo dạn hơn cầm tay nhau trong sáng tối nhập nhoạng mà cả hai không thấy quá đột ngột! (thời mới hòa bình, thời chiến tranh, rồi đến thời bao cấp, những cảnh "nóng" tràn ngập phim ảnh, thậm chí chỉ hôn nhau kín đáo thôi cũng đã bị cắt béng!). Trước khi lên Tây Bắc, Thế từng được nghe kể lại: thời kỳ đầu, ở các bãi chiếu bóng thường xảy ra những sự kiện chẳng khác gì phim hành động: gạch đá, dép cao su bay vèo vèo đến màn ảnh cùng tiếng thét “đả đảo địa chủ", thậm chí có cả tiếng súng bắn lên trời!... Tuy nhiên thời ấu trĩ đó qua rất nhanh, và bãi chiếu phim thực sự trở thành bạn tâm giao, trường học lớn của không ít lớp người, chưa kể là nơi chắp mối nên duyên của không ít lứa đôi khi tìm được sự đồng điệu qua phim ảnh, được phim ảnh cổ vũ đến với tự do hôn nhân... Những năm sau Giải phóng, ở phía Nam, ngay tại trung tâm nhiều thành phố - thị xã, điện ảnh đến với người dân chủ yếu bằng các bãi chiếu bóng dân dã kiểu này. Đôi ba bài ca dao mới xuất hiện bằng các các tên phim chắp lại vốn là sản phẩm độc đáo của thời phim bãi: “Khởi đầu” em đứng “Trên cao”/ Nghe “Cơn gió lốc” thổi vào buồng tim/ Ngày mai em quyết đi tìm/ “Người thứ Bốn mốt” của “Đêm giao thừa”/ "Bao giờ cho đến..." ngày xưa/ Dù "Đại hồng thủy" chẳng chừa đâu anh. Với riêng Thế, bãi chiếu phim chính là cái nôi ấp ủ cho anh khát vọng Điện ảnh kể từ thời thơ ấu… Giờ đây trên sông Hồng nhớ tới bãi chiếu phim phố Núi, Thế có cảm giác bùi ngùi tựa tâm trạng nhân vật chính trong phim Rạp chiếu bóng Thiên đường (Cinema Paradiso) của Ý sau nhiều năm trở lại chốn hoang tàn nhưng lại nơi đã hun đúc cho anh tình yêu điện ảnh và khơi nguồn sự nghiệp cả đời người...

Thế chỉ tồn tại ở mái trường ngoại thành này ngót một năm, chẳng để lại ấn tượng gì đáng kể, ngoài một mối tình thoáng qua mà nguyên cớ ban đầu và chủ yếu của “sự kiện” tình ái này lại bởi… Thơ:

Cô tài vụ của trường tên là Liên có vẻ ác cảm với một kẻ tự ti lầm lỳ như Thế, hoặc coi thường anh “giáo khổ” miền núi trở về, nên cứ vào kỳ lĩnh lương, cô thường để anh phải đi tới đi lui dăm bẩy bận, đến phát khùng lên mới được lĩnh hết lương.

Một buổi, Thế vào phòng tài vụ chờ rất lâu. Trong lúc nôn nóng chờ đợi cô tài vụ và chuẩn bị thái độ ứng xử trước sự trù úm quen thuộc, Thế chợt nhìn thấy một cuốn sổ tay để mở trên bàn. Anh tò mò cầm lên đọc. Hóa ra là sổ chép thơ, ngoài thơ Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Chính Hữu, Bằng Việt… còn có mấy bài thơ tình của Puskin. Có nhiều câu, đoạn chép sai, còn chính tả sai be bét. Thế liều mạng lấy bút ra sửa giúp, say sưa đến nỗi không nhận ra cô tài vụ đã về từ lúc nào. Cô giằng lấy cuốn sổ từ tay anh, nhìn với vẻ hết sức khó chịu, như lên án một kẻ phạm tội nặng nề, quên thoái thác nhiệm vụ theo kiểu đối phó với kẻ cô có sẵn ác tâm rằng: hôm nay chưa có tiền lương!

Thế tái mặt lo lắng. Nhưng số anh quả là có sao may mắn chiếu mệnh. Cô đọc một lúc xem tay này có viết bậy gì trong sổ quý của cô. Vẻ lạnh lùng khinh khỉnh dần biến mất, rồi nhẹ nhàng hỏi: "Anh sửa đấy à?" Thế ấp úng gật đầu: "Tôi… Tôi là giáo viên văn mà...". Cô dường như quên phắt cái “sứ mệnh” là phải hành hạ một "ma mới" như Thế, hào hứng: "Anh thuộc nhiều thơ không? Chép hộ em với nhé?"

Thế là hôm đó, lần đầu tiên sau nửa năm chuyển vùng về, anh được lĩnh lương đúng hạn... Cô còn chủ động hẹn được gặp Thế để “xin anh phụ đạo cho một ít về thơ ca” - như cô chân thành bảo. Để trả ơn tri ngộ, đúng hơn là cái ơn được xóa bỏ trù úm “ma mới”, Thế đã đến phòng tài vụ vài lần nữa - ngoài lúc lĩnh lương, để nói chuyện với cô những gì anh biết về Thơ. Cũng may là ngày đó chưa xuất hiện những hiện tượng quái đản về Thơ như việc tôn xưng “Nhà thơ Thế giới”, người làm thơ dám tự nhận "mượn bút tiền nhân giáng bút thơ Thiền”. Cũng chưa có chuyện làm thơ bằng AL rồi được trao giải thưởng cao ngút khiến cả xã hội phải lên đồng. Cũng chưa có chuyện "Thơ thập - diện - mai - phục… thơ làm tắc nghẽn mọi ngóc ngách, ngõ hẻm, đường sá, giao lộ tinh thần khiến cho thơ sạch không có lối đi" cùng thái độ của Thế trước sự lạm phát thơ đó trong bộ phim truyện Trời cho - trò chơi mà hơn mười năm sau anh thực hiện và phát sóng trên Truyền hình quốc gia: Một ông được đền bù đất đai đã vung tiền cho mình và vợ con làm sang: vợ mở phủ, con gái mua sắm, còn bản thân thì cho in thơ "con cóc" của mình để khoe và để biếu. Nhưng chỉ mới nói về chuyện “thuổng thơ” được trao giải ở một địa phương, thấy mặt cô hơi nhăn lại Thế vội nói: “Đấy chỉ là cá biệt thôi, em à… Lòng yêu thơ, có thể nói là cái phần tốt đẹp nhất trong những tình cảm tốt đẹp còn sót lại sau những cuộc tàn phá kinh hoàng của nền kinh tế thị trường méo mó đối với nhân tính và các mối quan hệ xã hội - Mặt Liên lại nhăn, nhìn Thế nghi ngờ, anh vội tiếp - Một đàn anh của tôi trong giới văn chương có ý kiến khá lạ và hóm hỉnh: "Nếu có một ngày toàn nhà thơ tham gia giao thông thì chắc chắn nạn tắc đường giảm đi rất nhiều, bởi dù đấy là nhà thơ ở cấp độ nào thì đều là những người có tâm hồn phong phú, có nhân tính, biết nhường nhịn nhau… Còn nếu các nhà công quyền lại đồng thời là các nhà thơ thì lại tốt quá, người dân chắc không phải điêu đứng vì thói hống hách, quan liêu, cửa quyền, tham lam vô độ…”.

Mặt cô trở lại tươi tỉnh. Thế được đà, khai thác sâu thêm lòng yêu thơ của cô: “Trong một lần trả lời phỏng vấn, nhà thơ Hoàng Cầm có nói đại ý rằng: tính cách của người Việt rất gần gũi với thơ - đó là lối sống tình cảm đối với bạn bè, bà con làng xóm, nhường cơm sẻ áo trong hoạn nạn... Mới tuần trước, nhà thơ dân gian Đăng Luận hùng dũng phóng xe tới nhà tôi để tặng tận tay một tập "Tân Văn" sang trọng mới in, do ông làm chủ biên, kèm theo cuốn foto Lời thề lá sen và 64 bài họa. Bài thơ Lời thề lá sen nổi tiếng của ông có vẻ ngoài đặc dân gian, song cảm thức bên trong thì hiện đại không kém một thi sĩ hiện đại hay hậu hiện đại nào:

Lá sen chưa kịp đi tu

Mà hoa cúc đã nhộm thu óng vàng

Yêu em mua cốm làng Vòng

Nâng niu anh gói trong lòng lá sen

Lời thề hôm ấy của em

Thơm như cốm ướp hương sen giữa mùa

Không ngờ, anh thật không ngờ

Lá sen rách. Cốm bây giờ thơm đâu?

Em à, tôi kính nể nhà thơ này bởi tình yêu dường không giới hạn và đặc biệt không vụ lợi đối với thơ văn. Ông đã ghi rõ trong sách “Tân Văn” như một tiêu chí: "Không nhận tài trợ, không đăng quảng cáo". Khi tự coi mình là "nhà thơ tình", Đăng Luận chắc cũng chẳng quan tâm đến sự đánh giá của các vị mũ cao áo dài trong các hội đoàn cơ quan nghề nghiệp, mà ông chỉ sung sướng đến ngây ngất với những người đọc ông một cách trân trọng, và còn họa thơ của ông nữa! Sự hồn nhiên của nhà thơ dân gian này thực đáng yêu, và điều đó càng tương phản với một vài kẻ lợi dụng lòng yêu thơ của mọi người để kiếm lợi!”

Câu chuyện này khiến cô tài vụ cảm động, khiến Thế được đà bồi thêm: “Tháng trước có dịp về thôn Duệ Đông - một trong 49 làng quan họ gốc Bắc Ninh, tôi được tặng một tập thơ của các liền anh liền chị cao tuổi. Trong số những tác giả mà tôi được tiếp xúc, tôi đặc biệt chú ý tới bà Ngọc Viên. Say mê tiếng hát quan họ cổ của bà, tôi còn rung động sâu sắc trước cuộc đời bà: chồng và cả ba người con đều lần lượt ra đi do tai nạn và bệnh tật bất ngờ, trong nhiều năm bà đã cắn răng để sống, để hát quan họ, truyền dạy hát quan họ cho lớp trẻ, và làm thơ. Thơ của bà dung dị, chân thật, đượm xót xa ngọt ngào và thấm như câu ca quan họ:

Cánh sen gọi nắng trưa hè

Mưa rào bất chợt, ướt nhòe thơ tôi...

Nhưng câu chuyện về nhà thơ Trần Dần mà tôi được một đàn anh kể còn thú vị hơn nhiều... - Liên mở to mắt háo hức chờ đợi - Ông Trần Dần bảo, có một bài ca dao cổ tuy hay nhưng ông không đồng tình lắm với nội dung lẫn hình thức của nó:

Tình cờ bắt gặp nàng đây

Đòi cắt cái áo đòi may cái quần

May rồi anh sẽ trả công

Ít nữa lấy chồng, anh sẽ giúp cho

Giúp em một thúng xôi vò

Ba con lợn béo một vò rượu tăm

Giúp em đôi chiếu em nằm

Đôi chăn em đắp đôi chằm em đeo

Giúp em quan tám tiền cheo

Quan tư tiền cưới lại đèo buồng cau...

Nhà thơ Trần Dần đã làm lại bài ca dao như sau:

Bao giờ em đi lấy chồng

Để anh sắm sanh quà cưới

Anh mừng em đôi chiếu mới

Em về trải kín giường đôi

Anh đi sang tận làng Ngòi

Tìm mua gạo cẩm

Xu xuê bánh cốm tự anh buộc lạt điều...

Em có cần anh đầu cỗ

Bảo người nhắn gọi anh sang

Giò lụa chạo nem, thịt quay xôi gấc

Vật bò mổ lợn

Con dao anh cắt, nuột lạt anh thắt

Giò thủ anh nén, nước xuýt anh nếm, nạc mỡ anh pha

Cỗ lòng anh thuốn, gỏi cuốn anh cuộn

Mâm son anh dọn, đĩa trúc anh so...

Hay em nhờ anh giúp về văn nghệ

Để anh sửa soạn chương trình

Máy hát anh mượn, trò vui anh chọn

Bạn bè anh đón

Tuyên bố lý do anh nói

Kèn tàu anh thổi.

Anh lưu tới cuối tiệc tan

Khách muộn anh tiếp, đèn rạp anh tắt

Thuốc lá thừa anh nhặt

Xong xuôi anh về!

Nghe xong bài ca dao làm lại trên, cô gái tài vụ yêu thơ bất giác vỗ tay đôm đốp, y như trong một cuộc Hội nghị lớn mà cô là người quan trọng. Thế được thêm kha khá điểm với cô gái này. Đến khi Liên hỏi: “Cái ông Trần Dần này có phải là người trong sổ đen bị lên án hay không, mà sao lại có bài ca dao mới thích thế?”, anh trả lời: “Đúng, ông ấy từng bị chụp mũ là “Thủ lĩnh của nhóm Nhân văn Giai phẩm”, “Thủ lĩnh trong bóng tối”, nhưng… - Cô nhăn mặt lại: “Em từ bé đã được nghe nói đấy là một tổ chức phản động nguy hiểm” - “Không đâu, thật ra đó là một sự hiểu lầm thôi! Ông ấy và nhiều người của Nhóm này đang được phục hồi danh dự, rất có thể sẽ được Giải thưởng Nhà nước nữa cơ!”[12]. Liên lại nhìn Thế vẻ nghi ngờ một lúc rất lâu…

Tới lúc cô cảm thấy có thể tin được tay thầy giáo dạy văn ngu ngơ về đời sống này về mặt lý lịch chính trị, quan điểm tư tưởng, sau vài cuộc “thẩm tra” kín đáo - qua người quen trong Ban giám hiệu, nhất là qua “đối thoại” trực tiếp, thì cô hăng hái nấu cơm trưa cho Thế những hôm ở lại họp hành, và một tuần sau cô chủ động tỏ tình với anh; hai người đã có dăm buổi ngồi tâm sự thân mật kèm những cái hôn khá thắm thiết trên bờ đê sông Hồng… Rõ công đầu là do Thơ; đúng hơn là do tâm hồn yêu thơ của một cô gái tuy có nhiều nét tính cách không dễ chịu gì cho lắm nhưng chỉ một cái đức yêu thơ đó cũng đủ thể tất nhân tình cho tất cả. Và Liên là người đầu tiên trong đời được anh tin tưởng bộc bạch nhiều ý tưởng về phim truyện của anh - khi cái mộng vào ngành điện ảnh còn xa vời đối với anh.

Song, sự lạnh nhạt của Liên với Thế bắt đầu ươm mầm từ buổi anh đọc cô nghe bài thơ viết về nhà giáo của một người anh kết nghĩa từng là Hiệu trưởng của anh trên Tây Bắc:

GIÁO RỞM

Ăn sư ở phạm đã lâu

Tôi thành giáo rởm từ đầu tới chân

Đồng lương rởm chẳng đủ ăn

Nên chi cái áo cái quần rởm theo

Căn nhà rởm đứng liêu xiêu

Nhà chị Dậu cái chuồng heo nặng mùi

Tơ hơ chẳng líp chẳng đùi

Cái xe đạp rởm nằm chui góc nhà

Ngày xuân cơm rởm dọn ra

Năm Gà chẳng có con ga trên mầm

Cái giường rởm chẳng ai nằm

Đêm nghe tiếng mọt nghiến răng kẽo kè

Trường xa sớm tối đi về

Một tấm thân rởm xác ve hao gầy

Đang đi nghe tiếng chào thầy

Học trò rởm đứng một bầy lao nhao

Mai sau ơi hỡi mai sau

Cái gì rởm nữa "lấy đầu mà tương"...

Liên có vẻ khó chịu: Sao anh lại có thể tuyên truyền thứ thơ bôi nhọ giáo giới, cũng là bôi nhọ chế độ thế? - Anh tiếp luôn - Đấy là sự thật hiển nhiên mà em. Ông ấy còn có bài thơ vui: GIÁO GIÀU GIÁO NGHÈO, trong đó thống kê ba loại “Giáo giàu” - thứ nhất là Phường giáo mác vua liều xưa nay, thứ hai là "Giáo" giảm "dục" tăng, thứ ba là loại này:

Giáo gì miệng nói thao thao

Ấy ông giáo huấn mũ cao áo dài

Suốt đời ông chỉ một bài

Dăm câu khẩu hiệu ông sài quanh năm

Giáo huấn, Giáo mát, Giáo mác Giáo đâm

Ba giáo giàu giao hợp đẻ hàng trăm giáo nghèo!

Liên mặt nhăn nhó, đùng đùng bỏ đi. Tới khi anh kể cho cô nghe về chuyện trong nhiều năm anh đi tìm “dịch giả thực sự” của một bộ ba tác phẩm văn học Pháp hiện đại, mà gần đây nhất mới tìm ra, đó là nhà thơ Trần Dần, cô đã thẳng thắn và hùng hồn chỉnh huấn Thế như một “nữ Chính ủy” mà cô may mắn được ảnh hưởng sâu sắc qua vài cuốn sách dịch của Liên Xô, Trung Quốc cùng một loạt phim điện ảnh nói tiếng Nga, tiếng Tàu và tiếng nội địa:

- Em không hiểu vì sao anh lại cứ mất công sức tâm trí vào những nhân vật có “vấn đề” như vậy, dù các ông ấy đang được được minh oan, bởi “không có lửa sao có khói”, chắc chắn họ đã từng là kẻ đi ngược lại thậm chí kịch liệt chống phá Lý tưởng cao đẹp của cả Dân tộc, bây giờ có thể được hưởng sự khoan hồng độ lượng… Anh không phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc như anh trai em, một liệt sĩ, nên anh không hiểu nổi cái giá của Tự do Độc lập dân tộc… Em cảm thấy, anh thực là… là…

Thế cắt lời ngay để giúp cô, đúng hơn là giúp anh bớt đi ấn tượng về định kiến thô thiển của cô trong cái lĩnh vực mà cô không biết đến đầu đến đũa, không có cơ sở tri thức cần thiết mà cứ luôn luôn ra vẻ là người có đủ tư cách để phán xét định giá - như số đông người vào thời đó:

- Là sao? Em cho rằng anh là kẻ phản động thế hệ sau bị “lọt lưới” à? Không đâu nhé, trên mặt trận văn hóa tư tưởng của giai đoạn mới này, khi anh vào ngành điện ảnh, những thằng như anh sẽ là kẻ tiên phong, sẽ được coi trọng đó!

Liên tròn xoe mắt nhìn Thế như nhìn “Cô bé Maika từ trên trời rơi xuống”[13], như anh là một kẻ mắc bệnh hoang tưởng hoặc là đối tượng phức tạp thuộc thế giới “Bạch vệ” rơi rớt lại đang khoác áo cán bộ Nhà nước trong ngành giáo dục, kẻ có thể làm u ám tinh thần cả một thế hệ trẻ - ít nhất là bọn học trò nơi cô đang công tác… Thế đọc được cảm nghĩ của cô và chợt ân hận, rồi thương hại cô gái “phổi bò” đã bị nhồi nhét bao điều ngớ ngẩn. Đồng thời, anh cũng thoáng nhận ra ảo tưởng của bản thân sau những điều vu vơ nhằm “trấn an” cô gái đang tin yêu anh, đang hy vọng tìm được bờ vai cho đời cô, và anh cũng bắt đầu thấy yêu cô. Nhưng Thế đâu ngờ rằng, lời “tiên tri” về tình cảm trai gái của thi hào Nguyễn Du đã ứng vào anh và cô gái yêu thơ này: Trong khi chắp cánh liền cành/ Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên - sau khi Thế đọc cô nghe những câu cảm ngôn văn xuôi anh mới nảy ra trong óc khi đi phà trên sông Hồng tháng trước, tới câu cuối: “Sông nhòe ướt cồn cào”, Liên thắc mắc luôn: “Thơ mà chẳng có vần điệu gì cả anh? Lại lằng ngà lằng ngoằng đẩu đâu ý! Mà sao chẳng thấy chút lạc quan nào, toàn buồn thỉu buồn thiu, đen tối, tiêu cực, anh vứt đâu rồi niềm vui chiến thắng của toàn dân tộc?” Và cô bắt đầu tìm cách lảng tránh Thế - bắt đầu bằng việc thoái thác lý do để không nấu cơm cho Thế những hôm anh phải ở lại trường tới chiều hoặc qua đêm như mọi khi, sau khi anh tâm sự cho cô về nỗi tuyệt vọng trong một “cơn khủng hoảng tình duyên” cũ bằng mấy vần vè sau đây:

… Bao nhiêu năm qua

Em đã bỏ anh vơ vơ một mình

Chàng trai đa sầu và nhát nhúa

Chỉ giàu có nỗi buồn và trăn trở

Đôi lúc anh thầm kêu lên:

Tuổi trẻ nghèo nàn và cay cực ơi

Sao cứ đuổi theo ta như thú dữ cắn càn!

…Có lẽ nào em đã bay khỏi đời anh

Em - Vị thiên sứ có đôi cánh mỏng như ban mai, trong suốt như nước đầu nguồn

Anh sẽ chết mà không nhắm được mắt

Khi em đã xa vời như bông hoa cô đơn trên núi tuyết

Kẻ lữ hành mệt mỏi là anh gục ngã giữa lưng chừng

Không một lời an ủi, không một giọt lệ xót thương

Hấp hối sau bao nhiêu trớ trêu và nhục mạ

Danh dự - Nhân phẩm - Tình yêu chỉ còn là đài tưởng niệm của quá khứ

Cái thời người ta có thể rút gươm vì một chút lòng tự trọng bị xúc phạm có còn đâu

Cũng không còn ai dám chết vì một niềm tin xác thực, một chân lý hiển nhiên bị đe doạ

Anh bị những “hiệp sỹ” của miếng cơm manh áo và những quyền lợi nhỏ bé bao vây

Bị dồn đến chân tường mà chưa biết cách tự thoát, cũng chưa biết chết bằng cách nào.

Chỉ còn nỗi tuyệt vọng về em là liều thuốc độc

Anh sẽ phải uống

Như đã từng uống bao vại đắng vại cay,

Uống đến trọn đời!

Sau cùng, cô gửi Thế mấy dòng thư nghệch ngoạc, gửi qua người bạn cùng Tổ văn của anh, bằng thứ chữ của người từng chép thơ sai lổn nhổn: Phải chăng là anh muốn cảnh báo em và tìm cách lảng xa em bằng câu chuyện cô gái đã phản bội anh, khiến anh phải muốn uống thuốc độc tự tử? Em không níu giữ anh đâu, bởi ý nghĩ và cuộc sống của anh viển vông quá, mờ mịt quá, không thể đem lại hạnh phúc lâu dài cho em hay bất cứ cô gái nào đâu! Nhưng em vẫn rất quý trọng anh, mong anh được hạnh phúc thực sự và đạt được ước mơ điện ảnh của mình

Cũng vào những ngày “khủng hoảng” mới đó của Thế, Sở Giáo dục Hà Nội có công văn điều chuyển anh vào một trường PTTH trong Khu kinh tế mới Đức Trọng - Lâm Đồng. Buổi Thế rời đi “không kèn không trống”, bởi anh chưa kịp để lại ấn tượng nào đáng kể với đồng nghiệp tổ văn và một lớp học sinh cuối cấp mà anh dạy hơn nửa năm; còn anh chỉ có chút kỷ niệm với Liên, song anh không muốn nghe thêm một lời chúc tụng ráo hoảnh nặng giáo huấn nào của cô nữa…

Mấy năm sau, khi đã biên chế chính thức ở Xí nghiệp phim truyện lớn nhất nước (sau thành Hãng) với chức danh Đạo diễn, tình cờ Thế được biết một trong những nguyên nhân anh bị Lãnh đạo Hãng chú ý, đề phòng và “được chăm sóc” kỹ càng về tư tưởng trong sự nghiệp điện ảnh ngay từ đầu, chính là câu chuyện về thân phận bộ tiểu thuyết dịch anh đã kể cho Liên nghe lúc yêu nhau, mà mấy năm sau đó anh đã viết thành bài báo dài và làm thành một phim tài liệu mang tên: “Đi tìm dịch giả Trần Dần”…


[12] Nhà thơ Trần Dần được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật vào năm 2007.

[13] Tên một bộ phim của Tiệp Khắc sản xuất năm 1978.