Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Khóc cho một tiếng cười

 Tô Văn Trường

Có những tiếng khóc dành cho con người, có những tiếng khóc dành cho một thời đại, và cũng có những tiếng khóc dành cho những giá trị tinh thần từng làm cho cuộc sống trở nên dễ chịu hơn.

Bài thơ Khóc Tuổi-Trẻ-Cười của nhà thơ Nguyễn Duy (ký bút danh Thy Sĩ Ủa) là một tiếng khóc như thế. Lấy sự kiện báo Tuổi Trẻ Cười ngừng hoạt động làm điểm khởi đầu, tác giả đã viết nên một bài thơ vừa mang tính điếu văn, vừa là một bài nghị luận xã hội bằng thơ về vai trò của tiếng cười trong đời sống cộng đồng.

Ngay từ những câu mở đầu, người đọc đã bắt gặp giọng điệu tiếc thương chân thành:

"Hôm nay kỷ niệm ngày báo chí
Đốt nén nhang rơi lệ xót thương"

Hình ảnh "đốt nén nhang" tạo nên không khí trang nghiêm như một lễ truy điệu. Điều được tiễn đưa ở đây không chỉ là một tờ báo, mà còn là một biểu tượng văn hóa gắn bó với nhiều thế hệ bạn đọc. Chỉ bằng một vài câu thơ ngắn, tác giả đã biến sự kiện một ấn phẩm đình bản thành nỗi mất mát mang ý nghĩa xã hội rộng lớn hơn.

Nỗi tiếc thương ấy được đẩy lên cao ở những câu:

"Thế là tắt tiếng cười sảng khoái
Tiếng cười thời đổi mới ngân vang
Tiếng cười chính khí hiên ngang
Tiếng cười tử tế rộn ràng lòng nhau"

Đây có thể xem là đoạn thơ mang tính khái quát cao nhất của tác phẩm. Nhà thơ không nói về tiếng cười giải trí đơn thuần mà nhấn mạnh những phẩm chất xã hội của nó: chính khí, tử tế, kết nối lòng người. Bốn chữ "tiếng cười tử tế" có lẽ là nhãn tự của cả bài thơ. Đó là thứ tiếng cười biết phê phán cái xấu mà không độc địa, biết đả kích thói hư tật xấu nhưng vẫn hướng con người đến điều thiện.

Điều thú vị là bài thơ không dừng lại ở cảm xúc tiếc thương mà nhanh chóng chuyển sang suy tư xã hội. Câu hỏi:

"Đột tử hay bức tử hỡi trời?"

xuất hiện như một tiếng kêu bật ra từ nỗi đau.

Dấu hỏi ấy không nhằm truy tìm nguyên nhân cụ thể, mà gợi lên sự day dứt trước số phận của một diễn đàn tiếng cười từng có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội.

Từ đây, nhà thơ triển khai một luận điểm rất đáng suy ngẫm: xã hội cần tiếng cười như một nhu cầu tinh thần thiết yếu. Bằng những hình ảnh gần gũi, ông chỉ ra hệ quả của việc thiếu vắng tiếng cười:

"Không cười được khiến lòng nặng nặng
Chuyện thường ngày cáu bẳn gì đâu
Hung hăng cục mịch càu nhàu
Hằm hằm nhăn nhó nhìn nhau lầm lì"

Những câu thơ này mang đậm chất đời sống. Không có những khái niệm lớn lao hay những lập luận hàn lâm, tác giả chỉ ghi lại những biểu hiện rất thường ngày của con người khi thiếu đi sự hài hước và bao dung. Chính sự mộc mạc ấy làm cho lập luận trở nên thuyết phục.

Một trong những đoạn thơ sắc sảo nhất là khi tác giả khẳng định giá trị của tiếng cười trong việc hóa giải xung đột:

"Thường khi một tiếng cười tinh tế
Sâu sắc hơn lý lẽ phổi bò
Nhẹ nhàng mà lại hay ho
Tiếng cười thấm thía mặt mo cũng mềm"

Ở đây, ngôn ngữ khẩu ngữ dân gian được sử dụng rất đắc địa. Cụm từ "lý lẽ phổi bò" vừa hài hước vừa châm biếm những cuộc tranh luận nặng nề, cực đoan và thiếu hiệu quả. Nhà thơ đề cao sức mạnh mềm của tiếng cười: không áp đặt, không công kích nhưng có khả năng cảm hóa lòng người. Đó là một quan niệm giàu tính nhân văn và cũng rất phù hợp với truyền thống trào phúng Việt Nam.

Đặc biệt, đoạn kết của bài thơ chứa đựng một hình tượng vừa dân dã vừa giàu ý nghĩa xã hội:

"Tiếng cười - tấm đệm êm xã hội
Van xả hơi cho khỏi nổ nồi
Một nồi áp suất đang sôi
Không cho xả cái van Cười thì... toang?"

Có thể nói đây là phần mang tính chính luận rõ nhất trong tác phẩm. Tiếng cười được ví như "van xả hơi" của chiếc nồi áp suất xã hội. So sánh ấy vừa hóm hỉnh vừa sâu sắc. Trong cuộc sống luôn tồn tại áp lực, bất đồng và những điều bất hợp lý. Tiếng cười thông minh giúp con người tự điều chỉnh, tự phản tỉnh và giải tỏa căng thẳng. Thiếu nó, những mâu thuẫn nhỏ có thể tích tụ thành những vấn đề lớn hơn.

Về nghệ thuật, bài thơ cho thấy phong cách quen thuộc của Nguyễn Duy: ngôn ngữ đời thường, giàu khẩu ngữ, đậm chất dân gian nhưng chứa đựng nhiều suy tư xã hội. Ông không triết lý bằng những khái niệm trừu tượng mà bằng những hình ảnh ai cũng có thể hiểu: "mặt mo cũng mềm", "nồi áp suất", "van xả hơi", "bấc ném đi cục chì văng lại"... Chính cách nói ấy làm cho bài thơ vừa gần gũi vừa giàu sức gợi.

Đọc Khóc Khóc Tuổi-Trẻ-Cười, người ta nhận ra rằng đằng sau tiếng khóc dành cho một tờ báo là nỗi lo cho sự vắng bóng của những tiếng cười tử tế trong đời sống hôm nay. Bài thơ nhắc chúng ta rằng một xã hội lành mạnh không chỉ cần những tiếng nói nghiêm trang, mà còn cần những tiếng cười thông minh, nhân hậu và giàu trách nhiệm. Bởi như Nguyễn Duy đã gợi ra, đôi khi một tiếng cười đúng lúc có thể làm được điều mà hàng ngàn lời giáo huấn không thể làm được: giúp con người hiểu nhau hơn, mềm lòng hơn và sống tử tế hơn.

Nhà thơ Nguyễn Duy cách đây ba năm chống gậy về quê lúa thăm bạn gìà 

 

KHÓC

TUỔI-TRẺ-CƯỜI

Hôm nay kỷ niệm ngày báo chí

Đốt nén nhang rơi lệ xót thương

Báo Cười Tuổi Trẻ đang cường

Bốn mươi hai sọi hưởng dương – tịt ngòi

 

Thế là tắt tiếng cười sảng khoái

Tiếng cười thời đổi mới ngân vang

Tiếng cười chính khí hiên ngang

Tiếng cười tử tế rộn ràng lòng nhau

 

Rũ ruột gan rầu rầu thương tiếc

Tiếc với thương chẳng biết làm gì

Làm gì cũng chẳng làm chi

Âm dương đôi ngả phân ly Khóc - Cười

 

Mắc một cục ngậm ngùi nghẹn cổ

Đột tử hay bức tử hỡi trời?

Cả làng có mỗi Tiếng Cười

Bỗng nhiên tắt ngóm – còn vui nỗi nào?

 

Tiếng cười vốn thanh cao tao nhã

Phép màu nâng quả tạ nhẹ tênh

Đôi khi việc lớn tày đình

Tiếng cười hóa giải thênh thênh lông hồng

 

Không cười được khiến lòng nặng nặng

Chuyện thường ngày cáu bẳn gì đâu

Hung hăng cục mịch càu nhàu

Hằm hằm nhăn nhó nhìn nhau lầm lì

 

Bấc ném đi cục chì văng lại

Thấy võ mồm cự cãi mà lo

Chuyện be bé xé ra to

Phồng mang trợn mắt hét cho đã đời

 

Thường khi một tiếng cười tinh tế

Sâu sắc hơn lý lẽ phổi bò

Nhẹ nhàng mà lại hay ho

Tiếng cười thấm thía mặt mo cũng mềm

 

Tiếng cười – tấm đệm êm xã hội

Van xả hơi cho khỏi nổ nồi

Cái nồi áp suất đang sôi

Mà không cho xả van Cười thì... toang?

 

Thy sĩ Ủa

SG-21.6.2026