Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Thoát khỏi giáo điều: Đã đến lúc đối thoại trung thực về con đường phát triển

 Tô Văn Trường

Trở lại thời điểm cuối năm 2013 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh từng để lại một phát biểu đầy sức nặng và mang tính thức tỉnh:

"Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm".

Đáng nói, nhận định này không thốt ra từ một người mang định kiến bên ngoài hay muốn phủ nhận lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Đó là tiếng lòng, là sự trăn trở sâu sắc của một nhà quản lý kinh tế vĩ mô, người từng dành nhiều tâm huyết đi tìm đáp án cho bài toán "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" nhưng đành bất lực trước sự mơ hồ của nó.

Hơn một thập kỷ đã trôi qua, niềm trăn trở ấy vẫn nóng hổi tính thời sự. Giờ đây, sự lảng tránh không còn là lựa chọn; đất nước cần một cuộc đối thoại thẳng thắn, khoa học và thực chất.

Thực tiễn là thước đo tối thượng của chân lý

Chính Karl Marx từng nhấn mạnh nguyên lý cốt lõi: thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý. Do đó, bất kỳ học thuyết hay mô hình kiến tạo xã hội nào cũng phải chứng minh được giá trị qua lăng kính của đời sống thực, thay vì bám víu vào những niềm tin cảm tính hay các giáo điều xơ cứng.

Nhìn lại dòng chảy lịch sử, thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ mang tính tất yếu của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực tại Liên Xô và khối Đông Âu. Trái lại, những quốc gia vươn tới đỉnh cao thịnh vượng, sở hữu nền kinh tế hiện đại, nhà nước pháp quyền vững mạnh và mạng lưới an sinh xã hội ưu việt, lại chủ yếu xây dựng bệ phóng từ nền kinh tế thị trường.

Ngay cả Trung Quốc dù vẫn giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội mang màu sắc riêng cũng chỉ gặt hái được kỳ tích nhờ dũng cảm cải cách mở cửa và tuân thủ các quy luật khách quan của thị trường.

Thực tế rành rành ấy minh chứng rằng không có khuôn mẫu nào là vĩnh cửu, và không một lý luận nào có quyền đứng trên sự phán xét của lịch sử. Sự nguy hiểm không nằm ở chỗ học thuyết đó có tì vết, mà bùng phát khi con người biến nó thành những "vùng cấm" tuyệt đối và khước từ mọi tranh luận.

Khoảng cách giữa khát vọng lý tưởng và thực tại

Xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi con người được giải phóng và phát triển toàn diện, là một giấc mơ vĩ đại mà nhân loại không ngừng theo đuổi.

Tuy nhiên, khát vọng chính đáng đó không thể là tấm mộc bảo chứng cho sự đúng đắn của mọi mô hình được vận hành nhân danh chủ nghĩa xã hội.
Bài học xương máu từ lịch sử cho thấy, những lý tưởng dù cao đẹp đến mấy, nếu thiếu vắng cơ chế kiểm soát quyền lực, vắng bóng sự phản biện khoa học và trượt dài khỏi thực tiễn, đều có thể gieo rắc những bi kịch đi ngược lại mục tiêu ban đầu.
Không ai có thể phủ nhận tầm vóc vĩ đại của Karl Marx trong lịch sử tư tưởng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm duy vật lịch sử hay những mổ xẻ sắc sảo về chủ nghĩa tư bản vẫn nguyên vẹn giá trị tham khảo.

Song, tư tưởng của Marx, giống như bất kỳ di sản triết học nào, chưa bao giờ là một tác phẩm hoàn hảo và khép kín. Bản thân Marx không hề vẽ ra một bản thiết kế thi công chi tiết cho tương lai, và chắc chắn ông không bao giờ muốn những luận điểm của mình biến thành những câu kinh kệ giáo điều.

Việc thần thánh hóa lý luận, coi đó là hệ quy chiếu tuyệt đối, vô hình trung lại là sự phản bội lớn nhất đối với tinh thần khoa học mà chính Marx đã đặt nền móng.

Sức mạnh nội tại đến từ sự cởi mở và phản biện

Lúc sinh thời, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt luôn thấm nhuần triết lý nhìn thẳng vào hiện thực khách quan. Lời răn dạy của ông: "Điều đáng sợ nhất là không dám nhìn thẳng vào sự thật."

Lịch sử ghi nhận ông như một trong những kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc Đổi mới, người đã mạnh dạn dỡ bỏ rào cản bao cấp, đưa con tàu kinh tế Việt Nam hội nhập và vận hành theo nhịp đập của thị trường.

Di sản Võ Văn Kiệt để lại không thuần túy là những công trình vĩ mô, mà cao cả hơn là một tư duy bứt phá, dám nghĩ khác và dám gánh vác trách nhiệm trước vận mệnh quốc gia.

Tương tự, triết gia Trần Đức Thảo – một học giả uyên bác dành trọn đời nghiên cứu triết học Mác – cũng kiên quyết bác bỏ sự bảo thủ trong lý luận. Ông đấu tranh không mệt mỏi cho tinh thần khoa học độc lập, tự do tư tưởng và yêu cầu bức thiết phải mài giũa lý luận bằng thực tiễn.

Tài sản vô giá mà những thế hệ tiên phong trao truyền lại không phải là những đáp án dọn sẵn, mà là một tư thế trí thức: hiên ngang đối diện sự thật để rọi sáng con đường đi lên của dân tộc.

Bởi lẽ, một học thuyết chân chính không bao giờ run sợ trước tranh luận. Một thể chế vững chãi không bao giờ chùn bước trước phản biện. Một dân tộc trưởng thành không bao giờ quay lưng với sự thật.

Mối họa lớn nhất của một quốc gia không phải là phải đối mặt với những câu hỏi hóc búa, mà là một xã hội cam chịu sự im lặng, nơi không ai còn dám đặt câu hỏi.

Đích đến cuối cùng là sự phồn vinh, không phải chiếc áo ngôn từ

Nhân loại đang cuộn chảy vào một kỷ nguyên bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học và nền kinh tế tri thức.
Trên bàn cờ địa chính trị hiện đại, vũ khí cạnh tranh không còn dựa dẫm vào mỏ quặng hay lực lượng lao động cơ bắp, mà định đoạt bởi chất xám, sức mạnh công nghệ lõi và năng lực đổi mới sáng tạo.

Do đó, bài toán sinh tử đối với Việt Nam lúc này không phải là cố công đặt tên cho một mô hình trừu tượng, mà là mô hình đó có khả năng kiến tạo sức bật phát triển hay không.

Đất nước đang khắc khoải chờ đợi một cơ chế phát triển đặt trọng tâm vào:

- Khoa học và công nghệ là bệ phóng chủ đạo.

- Đổi mới sáng tạo là nền tảng cạnh tranh quốc gia.

- Chuyển đổi số là phương thức tái cấu trúc nền kinh tế.

- Kinh tế tư nhân được tôn trọng như một động lực dẫn dắt then chốt.

- Nhà nước pháp quyền hiện đại, minh bạch và bị giám sát chặt chẽ bằng pháp luật.

- Giáo dục, nhân tài và con người là hạt nhân của mọi chiến lược tiến lên.

Trong một thế giới xoay chuyển với tốc độ chưa từng có, mọi nỗ lực bấu víu vào các giáo điều của thế kỷ XIX hay những chiếc áo chật hẹp của thế kỷ XX đều sẽ dẫn đến sự tụt hậu.

Điều đất nước cần là một tư duy mở, sẵn sàng chắt lọc tinh hoa nhân loại và mạnh dạn tháo gỡ mọi "vòng kim cô" của sự bảo thủ, giáo điều.

Phục hưng dân tộc phải bắt đầu từ cởi trói tư duy

Bánh xe lịch sử chưa bao giờ khoan nhượng đối với những dân tộc khư khư ôm lấy giáo điều và ngủ vùi trên những chân lý cũ.

Sự lột xác của Nhật Bản thời Minh Trị, kỳ tích của Hàn Quốc, sự hóa rồng của đảo quốc nghèo nàn Singapore hay công cuộc vươn mình của Trung Quốc đều chung một mẫu số: họ đã dũng cảm giải phóng sức sáng tạo của con người và kiến tạo một thể chế tương thích với quy luật thời đại.

Chắc chắn, Việt Nam không có quyền và không thể là một ngoại lệ. Đã đến lúc những cuộc thảo luận về chủ nghĩa xã hội phải thoát khỏi tháp ngà lý thuyết để hướng tới một nhãn quan lớn hơn: làm sao để rèn đúc một quốc gia hùng cường, một nền kinh tế bám rễ vào tri thức, một hệ sinh thái tôn vinh sự sáng tạo và một dân tộc đủ năng lực cạnh tranh trong thế kỷ XXI.

Suy cho cùng, thước đo vĩ đại nhất của một hệ tư tưởng không nằm ở những mỹ từ ca ngợi trên giấy, mà kết tinh ở năng lực mang lại sự phồn thịnh cho non sông và hạnh phúc cho nhân dân.

Thay lời kết

Trở lại với lời phát biểu của ông Bùi Quang Vinh, điều đáng quý nhất không nằm ở tính chất phủ định, mà nằm ở khí chất của một người dám nói lên sự thật.
Bởi lẽ, chân lý không bao giờ được tạo ra bằng các mệnh lệnh hành chính.
Đức tin không thể lấp đầy những khoảng trống của thực tiễn.

Và sự phát triển của cả một dân tộc tuyệt đối không thể được xây cất trên những định đề chưa được dòng đời kiểm chứng. Lúc này đây, một cuộc đối thoại trung thực, điềm tĩnh và đậm tính khoa học về chủ nghĩa xã hội là cần thiết; không phải để rũ bỏ quá khứ, mà là ngọn đuốc rọi đường để tìm ra lối đi tối ưu cho tương lai.

Bởi phán quyết cuối cùng của lịch sử sẽ không bận tâm đến việc chúng ta đã trung thành một cách xơ cứng với học thuyết nào, mà sẽ đòi hỏi trả lời: chúng ta đã trao lại cho thế hệ mai sau một đất nước ra sao?

Và xin hãy khắc cốt ghi tâm rằng: Không một lý luận nào có quyền bệ vệ đứng trên lợi ích của dân tộc. Không một chân lý nào có thể cao hơn sự thật khách quan. Và không có con đường nào xứng đáng để dấn bước hơn con đường đưa Việt Nam cất cánh trở thành một quốc gia thịnh vượng, văn minh trong kỷ nguyên đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.