Nguyễn Thị Hải dịch và chú thích
1.
Thơ Bắc Đảo
Trường ca “Kỳ lộ hành”
(Chương 2)
Hân hoan cuồng nhiệt là đặc quyền của nô lệ và dân chúng
Họ bỏ phiếu bằng chân, dùng mái tóc quấy tạo sóng gió
Tiếng hát nung nấu năm ngôi sao trên quảng trường
Ngày và đêm rượt đuổi nhau trong mây
Học sinh bãi khoá, kim giờ dừng ở vạch nửa đêm
Sao bay phấp phới trên trục quyền lực thẳng đứng
Đàn phong cầm mở ra những nếp gấp thời gian sâu hoắm
Sóng âm của người hát lay chuyển đất đá, lay chuyển mặt trời
Sợ hãi và dũng khí cùng nảy nở từ một hạt giống
Khiến dạ dày chúng ta âm ỉ đau
Khoảnh khắc là cánh chim bay rẽ hướng
Bóng chim là những khoảnh khắc tiếp liền nhau
Quân binh vây thành tất thấy chiêu hiểm
Cao sơn lưu thuỷ thâu tại lòng tay
Bầu trời ngoài cõi không tưởng, bức pha lê xiêu đổ
Tử thần bóp chặt những quả tim non
Nửa đêm sương mù vang tiếng chó sủa
Đường gạch nối chết chóc chưa biết điểm dừng
Tử Cấm Thành và đèn tín hiệu giao thông
Không ngăn cản được sự luân chuyển của thời tiết
Mở sách lịch sử và báo giấy
Hổ báo sài lang mai phục
Đột phá cạm bẫy chữ Hán
Bên trên nắp lưới ngầm vẫn là lao ngục
Cách mạng cần không gian rộng lớn hơn
Cùng một bi kịch, không thể được diễn lại
Băng rôn, biểu ngữ, chấy rận, chai nhựa rỗng
Tay chơi ghi ta, truyền đơn, kim đồng hồ máu
Lều trại như đàn ngỗng trời bị mặt đất cột chặt
Thức ăn còn sót lại bị người tuyệt thực vứt lăn lóc
Cuộc đàm phán và chợ nông sản, ngả giá cò kè
Xe đứt thắng còn đạp mạnh chân ga
Còi xe cứu thương lưu động vang dọc kinh thành
Cây hai bên đường đứng im, đói khát
Quảng trường đêm hấp thụ hơi nóng
Ánh trăng dao động, người mất ngủ đang bơi
Bão táp cuốn theo những tiểu tiết của giấc mơ
Tiếng rì rầm và cảnh báo giới nghiêm xáo trộn màn đêm
Hôn lễ cử hành ngay cạnh bia kỷ niệm
Ánh đèn pha xanh nghênh rước cô dâu
Lớp sơn mới quét đã phai màu
Và bạn khó nhận rõ mình trong gương
Lịch sử ăn cỏ dại, đá bị chuyển dời
Bảy vì sao Bắc Đẩu không chỉ được lối ra
Móng vuốt không với tới sau lưng
Những cuốn nhật ký vô danh tản mát
Những dòng tự sự liên tục đổi vai
Dẫn tới cái kết mở
Những đêm dài đều là sự đợi chờ đáng nguyền rủa
Những cuộc cách mạng đều là những lý tưởng bị phản bội
Ngấn lệ trên khuôn mặt cô gái
Con đường bí mật nằm ngoài lịch sử
Dẫn dắt chúng tôi, trong hân hoan cuồng nhiệt học được đau thương
Trong đau thương học được tiếng hát thầm
Ngoảnh đầu lại trên con đường dẫn ra khỏi quảng trường
Thủy triều vỗ mạnh vào đêm từng trận sóng
Chú thích:
+ Trường ca “Kỳ lộ hành” của nhà thơ Bắc Đảo được ông hoàn thành trong vòng 11 năm, từ 2010 đến 2021. Khi đang viết những chương đầu tiên của trường ca, năm 2012, ông bị tai biến mạch máu não, mất đi 70% khả năng ngôn ngữ. Đúng như tên tác phẩm, ông đã phải đi qua một “ngã rẽ”, một “khúc quanh” sinh tử, để khi trở lại vào ba năm sau, ông như đứng trước một định mệnh mới, chinh phục ngôn từ để tái sinh một nhà thơ.
Trường ca “Kỳ lộ hành” gồm khúc tựa mở đầu và 34 chương. Tác phẩm như cuốn hồi ký được bắt đầu từ biến cố Thiên An Môn, trải dài sau đó là 18 năm tác giả sống lưu vong qua nhiều quốc gia từ châu Âu sang Mỹ, cho đến khi trở về Hồng Kông. Đây là bản tổng kết một hành trình thơ ca, một giai đoạn lịch sử, là câu trả lời của ông với ký ức cá nhân, ký ức dân tộc và thời đại.
2.
Thơ Liệu Vĩ Đường (Hong Kong)
Lục quỷ bạ
(Sổ ghi chép về những hồn ma)
Paris, ngươi điên rồi, tôi vẫn còn sống sót.
Ở Trung Quốc không tìm thấy Trung Quốc,
Cũng như ở Paris không tìm thấy Paris,
Nhưng năm 1989, tôi đã tìm thấy cơn mưa của năm 1789.
Ánh nắng Paris ngày hôm nay vô tội,
Những hồn ma cũng đang bơi lội trong biển hạt rực cháy.
Tôi cũng là hồn ma xanh, nhưng không còn cố chối bỏ lãng quên điều đó,
Uống tràn cái thế giới ngất ngây này, như cá trong bình.
Hai mươi năm sau, ở Paris, tôi chỉ thấu rõ Bát Đại Sơn Nhân,
chứ không phải Dubuffet. Tôi đã từng là Dubuffet,
toàn thân là một khối u uất xám ngắt, còn khắc họa thêm một khuôn mặt quỷ,
Nhưng giờ đây tôi chính là thân gỗ già, nấm mọc ra như sấm sét.
Trên thềm ga, tôi tự ăn chính mình,
Chứng kiến từng tốp hai mươi người, hai mươi người Trung Quốc lũ lượt đi qua,
Bọn họ đã mua cơn ác mộng và LV, cuối cùng họ mua luôn Bắc Đại và Bastille,
mua luôn lịch sử hồn ma bị đánh cắp của tôi.
Tôi đã chôn vùi thật sâu, trên đầu tôi là thi hài của toàn thế giới,
Rồi sẽ có người trẻ đào lấy xương ống chân tôi để làm sáo thổi.
Tôi không trở lại nữa, trên ga tàu điện ngầm, tôi đã đi hàng vạn vòng,
Hàng vạn vòng ấy đều được đan kết bằng hoa lụa đen.
Tôi đi thành một quảng trường, cho riêng mình tôi.
Tôi viết đi viết lại trên mặt nước:
Bản phán quyết không có người nghe.
Nhưng mà tôi có thể nghe thấy, mộc nhĩ mọc ra trên người tôi như một đám mây đen.
(2009)
Chú thích:
+ Liệu Vĩ Đường sinh năm 1975, người Hồng Kông, là nhà văn, nhà thơ, người làm xuất bản tự do, nhiếp ảnh gia. Bài thơ này Liệu Vĩ Đường viết về Lão Mộc, nhà thơ lưu vong sau phong trào Thiên An Môn 1989. Bài thơ nằm trong chùm thơ “Lục quỷ bạ”, Liệu Vĩ Đường viết về những nhà thơ cùng thời với Lão Mộc như Hải Tử, Lạc Nhất Hòa,… và những vong hồn trong cuộc thảm sát tại Thiên An Môn.
Liệu Vĩ Đường mượn tên sách “Lục quỷ bạ” của học giả đời Nguyên Chung Tự Thành để đặt cho chùm thơ. Cuốn sách của Chung Tự Thành ghi chép tiểu sử của hàng trăm nhà tạp kịch và tản khúc đời Kim, đời Nguyên cùng bảng thống kê hơn 450 vở tạp kịch; là cơ sở để đời sau thấy được lịch sử phát triển rực rỡ của “Nguyên khúc”, sánh ngang với Đường thi, Tống từ. Sở dĩ Chung Tự Thành đặt tên sách là “Lục quỷ bạ” (Sổ ghi chép về những hồn ma) là do vào thời đó, địa vị của nho sĩ, trí thức chỉ cao hơn ăn mày một bậc trong nấc thang xã hội (cửu nho, thập cái). Họ phần lớn thất thế, sống trong nghèo khổ, một số tham gia sáng tác kịch nghệ dân gian, một loại hình bị xem nhẹ là giải trí thấp kém. Nhưng Chung Tự Thành quan niệm “kịch nghệ dân gian cũng là nghệ thuật đích thực”, thế nên dù có bị gọi một cách khinh miệt là “quỷ” (những người ở tầng lớp thấp kém) thì với tài năng và học vấn, những tác giả ấy cũng là “quỷ bất tử”, tên tuổi và tác phẩm của họ sẽ lưu truyền hậu thế.
Liệu Vĩ Đường đặt tên chùm thơ là “Lục quỷ bạ” cũng mang hàm ý đó, dù quỷ là người đã chết hay quỷ là người còn sống, dù bị giết chết giữa tuổi hoa niên hay lưu vong, mai một ở góc biển chân trời, thì thế hệ thanh niên trên quảng trường Thiên An Môn năm đó, vẫn sẽ sống mãi trong khát vọng và sự đấu tranh cho tự do, dân chủ của dân tộc Trung Hoa.
+ Nhà thơ Lão Mộc tên thật là Lưu Vệ Quốc, sinh năm 1963 tại Giang Tây, Trung Quốc. Năm 1979, ông thi đỗ vào trường đại học Bắc Kinh, khoa Ngôn ngữ và Văn học Trung Quốc. Ông và nhà thơ Hải Tử, Tây Xuyên, Lạc Nhất Hoà là bốn nhà thơ nổi tiếng của đại học Bắc Kinh khi đó. Ông có tập thơ riêng “Bạn hát ca trên ngọn lửa”, là người đồng sáng lập tập san “Sao buổi sớm”, chủ biên của “Tuyển tập trào lưu thơ mới” và “Các nhà thơ trẻ nói về thơ”. Năm 1989, ông tham gia phong trào dân chủ của học sinh, sinh viên tại quảng trường Thiên An Môn. Phong trào bị đàn áp, ông sống lưu vong ở Paris nước Pháp trong suốt 27 năm. Một quãng thời gian ông được cho là bị điên, sống lang thang ở ga tàu điện ngầm Paris. Bài thơ của Liệu Vĩ Đường viết về Lão Mộc, chính là khắc hoạ hình ảnh nhà thơ trong giai đoạn này. Năm 2016, ông được thân nhân đưa trở về nước, sống tại quê nhà Bình Hương, Giang Tây cho đến khi qua đời vào năm 2020.
Có một số ý kiến cho rằng bốn câu thơ đầu của bài thơ là do nhà thơ Lão Mộc tự đọc ra. Và bài thơ này, cho tới bây giờ, vẫn còn nhiều nơi đăng tải ghi tên tác giả là Lão Mộc.
+ Bát Đại Sơn Nhân (1626-1705), danh hoạ Trung Quốc. Ông tên Chu Đạp, thuộc dòng dõi hoàng thất nhà Minh. Năm 1644, nhà Minh diệt vong, hoàng đế Sùng Trinh tự tận, nhà Thanh lên thay. Để tránh sự truy bức, ông ẩn thân trong chùa chiền, thay tên đổi họ, xuống tóc xuất gia, giả câm giả điên, lúc làm hòa thượng, lúc làm đạo sĩ, rồi lại hoàn tục. Chính hoàn cảnh đó đã tạo ra một danh hoạ đặc dị và kiệt xuất. Một trong những đặc trưng bút pháp của Bát Đại Sơn Nhân là “bạch nhãn hướng thiên” (mắt trắng nhìn đời), khi ông vẽ mắt của ngư điểu, cầm thú luôn trong cái nhìn trợn ngược với tròng mắt trắng dã, biểu lộ sự khinh miệt phản kháng, khí tiết cứng cỏi và tâm sự u uất bi thương của ông…
+ Jean Dubuffet (1901-1985), họa sĩ và nhà điêu khắc người Pháp. Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với phong trào nghệ thuật được chính ông đặt tên: Art Brut (Nghệ thuật thô hay Nghệ thuật nguyên sơ), vào năm 1945. Loại hình nghệ thuật này không thuộc phạm vi mỹ thuật hàn lâm, nó vốn xuất phát từ những bệnh nhân tâm thần, tù nhân, trẻ em và những người sống bên lề…, do bản năng cá nhân hoặc do nhu cầu thúc bách của nội tâm. Đó là “nghệ thuật của kẻ điên”, “nghệ sĩ bị xa lánh”, trước khi nó được Dubuffet gọi tên là “Art Brut”.
Trong một số tác phẩm của mình, Dubuffet cố ý sử dụng những vật liệu thô như bùn, cát, sỏi đá, mảnh thủy tinh, rơm, nhựa đường, hồ dán… khiến cho tác phẩm mang một bề mặt dày, sần sùi thô ráp, gây tác động mạnh lên thị giác.
+ Bắc Đại, tức trường Đại học Bắc Kinh, là chiếc nôi và điểm tựa tinh thần cốt lõi của phong trào dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Các trí thức và sinh viên từ ngôi trường này đã khởi xướng phong trào bằng các cuộc biểu tình ôn hoà đòi tự do báo chí và cải cách dân chủ.
+Bastille, nhà tù Bastille, biểu tượng quyền lực của chế độ phong kiến chuyên chế Pháp. Ngày 14/7/1989, quần chúng Paris đã nổi dậy tấn công nhà tù pháo đài này, đánh dấu cột mốc mở đầu cuộc cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái. Những lý tưởng này, đúng 100 năm sau, tại quảng trường Thiên An Môn, vẫn truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ Trung Quốc đứng lên đòi hỏi quyền tự do và dân chủ cho đất nước mình.
+ LV, Louis Vuitton, thương hiệu thời trang xa xỉ của Pháp. Hình ảnh những đoàn người Trung Quốc lũ lượt mua sắm hàng hiệu xa xỉ, phô trương sự phồn vinh giàu có, trong mắt của Lão Mộc chẳng khác nào một cơn ác mộng. Những con người từ bỏ lý tưởng, chạy theo chủ nghĩa tiêu dùng trong thời đại thương mại toàn cầu, không những biến Lão Mộc trên thềm ga trở thành một bóng hình mờ nhạt của quá khứ, mà chính họ sẽ khiến nhà tù độc tài kiên cố hơn, tương lai dân chủ của đất nước xa vời hơn.