Tác giả: Bùi Mẫn Hân
Người dịch: Nguyễn Quang A
NXB Princeton University Press, 2026.

Mục lục
anh mục các từ viết tắt viii
Lời giới thiệu x
Dẫn nhập 1
- Thập kỷ quyết định 15
- Cải cách và Tăng trưởng trong thập niên 1980 45
- Chủ nghĩa Độc đoán Mới, 1992–2002 74
- Sự Trì trệ trong Thời Hồ Cẩm Đào 101
- Phép màu kinh tế Trung quốc 132
- Chủ nghĩa Toàn trị hồi sinh dưới thời Tập Cận Bình 164
- Kết thúc kỳ tích kinh tế Trung Quốc 194
- Từ Can dự đến cuộc Chiến tranh Lạnh mới 222
Kết luận 253
Ghi chú 262
Index 306
Danh mục các từ viết tắt
A2/AD chống tiếp cận/phong tỏa khu vực
ADiZ Vùng nhận dạng phòng không
AIG Tập đoàn Quốc tế Mỹ (AIG)
BoT Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (mô hình)
Bri Sáng kiến Vành đai và Con đường
BRICS Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi
ĐCSTQ (CCP) Đảng Cộng sản Trung Quốc
CCTV Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc
CCDI Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương
CMC Ủy ban Quân sự Trung ương (Quân Ủy Trung ương)
CNKI Hạ tầng Tri thức Quốc gia Trung Quốc
ĐTN (CYL) Đoàn Thanh niên Cộng sản
DPP Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP) EPZ khu chế xuất
EU Liên minh Châu Âu
FAO Tổ chức Lương Nông
FDI đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTO tổ chức ngoại thương
GATT Hiệp định chung về thuế quan và Thương mại
GFC cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
HDI Chỉ số Phát triển Con người
ICF Quỹ Đầu tư Mạch tích hợp Trung Quốc
ICOR tỷ lệ vốn đầu tư trên sản lượng
ILO Tổ chức Lao động Quốc tế
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
IPO phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng
KMT Quốc Dân Đảng
LGFV phương tiện tài trợ địa phương
MFN tối huệ quốc (quốc gia được đối xử ưu đãi nhất)
ix
MOFERT Bộ Quan hệ Kinh tế Đối ngoại và Thương mại
MPS Bộ Công an
MSS Bộ An ninh Nhà nước NCW chiến tranh lạnh mới
NPC Quốc hội
ODA Hỗ trợ Phát triển Chính thức PAP Cảnh sát Vũ trang Nhân dân
PAP Đảng Hành động Nhân dân (Singapore) PBoC Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
PLA Quân Giải phóng Nhân dân PPP ngang sức mua
PRC Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Pri Đảng Cách mạng Thể chế (Mexico)
PSC Ban Thường vụ Bộ Chính trị RoC Cộng hòa Trung Hoa
SAIC Cục Quản lí Công nghiệp và Thương mại
SARS Bệnh SARS
SASAC Ủy ban Giám sát và Quản lí Tài sản Nhà nước SCO Tổ chức Hợp tác Thượng Hải
SED Đối thoại Kinh tế Chiến lược SEZ khu kinh tế đặc biệt
SOE doanh nghiệp nhà nước
SPP Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao TFP năng suất tổng hợp
TPP Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương
TVE doanh nghiệp hương trấn (cấp xã và thôn)
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
UNHCR Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
WEP Chương trình Giáo dục Thế giới
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
ZGTJNJ Niên giám Thống kê Trung Quốc
Lời giới thiệu
Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ 74 của tủ sách SOS2,* cuốn Giấc mơ Trung Hoa Tan vỡ- cải cách làm sống lại chủ nghĩa toàn trị thế nào của Bùi Mẫn Hân (裴敏欣) (Xinmin Pei: The Broken China Dream-How reform revived Totalitarianism) do nhà xuất bản Princeton University Press ấn hành năm 2026.
Do hoàn cảnh lịch sử, địa lý và văn hóa diễn biến chính trị-xã hội ở Việt Nam có nhiều nét giống (nhưng cũng có nhiều nét khác) với Trung Quốc. Chính vì thế việc tìm hiểu tình hình Trung quốc là rất quan trọng với mọi người Việt Nam cho nên tủ sách SOS2 đã cố gắng dịch một vài tác phẩm liên quan đến Trung Quốc để tham khảo, như các cuốn số 41 (Hồi ký Triệu Tử Dương) mà cuốn sách này thường xuyên trích dẫn, cuốn thứ 54 (của Desmon Shum về sự tham nhũng của giới chính trị gia chóp bu Trung quốc và sự câu kết của họ với các đại gia trong khu vực tư nhân; kể cả cô Trương vợ Ôn Gia Bảo đến rất nhiều quan chức chóp bu của ĐCSTQ như Tôn Chính Tài người có khả năng thay thế Tập Cận Bình rồi bị Tập kết án tù chung thân tr. 177 trong cuốn này và vô số quan hệ mờ ám của các lãnh đạo chóp bu của ĐCSTQ), cuốn thứ 68 (nêu và bảo vệ những quan điểm của Trung Quốc của một học giả Trung quốc) cũng như vài cuốn có liên quan đến Trung Quốc như cuốn thứ 70.
Cuốn thứ 74 này của Bùi Mẫn Hân, một học giả Trung quốc đi nghiên cứu ở Mỹ năm 1984 rồi ở lại Mỹ nghiên cứu và giảng dạy, trở thành chuyên gia nổi tiếng về Trung quốc, tổng kết những nghiên cứu của ông về Trung quốc giai đoạn 1978-2026. Cuốn sách ngắn này cho bạn đọc một cái nhìn sâu sắc vào tình hình diễn biến ở Trung Quốc, lý giải sự phát triển kinh tế kỳ diệu của Trung Quốc trong thời gian qua và vì sao giấc mơ Trung Hoa đã tan vỡ.
Bạn đọc Việt Nam có thể nhận thấy nhiều nét tương đồng của Việt Nam với Trung Quốc, nhưng cũng nên suy ngẫm về nhiều sự khác biệt.
Tôi không phải là người dịch cuốn sách này, mà chỉ hiệu đính, biên tập bản dịch của AI (DeepL dịch chỉ vài phút, còn hiệu đính biên tập thì mất vài tuần).
Xin chân thành giới thiệu với bạn đọc người Việt cuốn Giấc mơ Trung Hoa Tan vỡ của Bùi Mẫn Hân cùng những cuốn khác liên quan đến Trung Quốc. Rất mong có những nhà nghiên cứu Việt Nam trẻ có những công trình tương tự về Việt Nam.
Hà Nội ngày 10/6/2026
Nguyễn Quang A
__________
* Những cuốn trước của tủ sách SOS2:
- Kornai János, Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường, Hội Tin học Việt Nam 2001, Nhà Xuất Bản Văn hóa Thông tin 2002.
- Kornai János, Hệ thống xã hội chủ nghĩa, Nhà Xuất Bản Văn hóa Thông tin 2002.
……….
- Daron Accemoglu, James A Robinson, Vì sao các Quốc gia Thất bại, 2012 (NXB trẻ có bản dịch khác được xuất bản 2013)
…….
- Timothy Snyder, Chống Chuyên chế (On Tyranny), NXB Dân Khí, 2017
…….
- Triệu Tử Dương, Tù nhân bí mật của Nhà nước – Nhật ký bí mật của Triệu Tử dương, NXB Dân Khí, 2019
- Gabriel Zucman, Của cải Giấu giếm của các Quốc gia, NXB Dân Khí, 2019
- Emmanuel Saez và Gabriel Zucman, Chiến thắng của sự Bất công:
………
- Amartya Sen, Quê Nhà trong Thế giới, NXB Dân Khí, 2021
- Desmond Shum, Roulete Đỏ, NXB Dân Khí, 2021
- Katherine M. Gehl và Michael E. Porter, Ngành Chính trị, NXB Dân Khí, 2021
- Ronald Inglehart và Christian Welzel, Hiện đại hóa, sự Thay đổi Văn hóa và Dân chủ, NXB Dân Khí, 2022
- Ronald Inglehart, Sự Tiến hóa Văn hóa, NXB Dân Khí, 2022
- Blanko Milanovic, Bất bình đẳng Toàn cầu, NXB Dân Khí, 2022
- Blanko Milanovic, Chủ nghĩa tư bản, Một mình, NXB Dân Khí, 2022
- Julia Cagé, Cứu Media, NXB Dân Khí, 2022
- Moisés Naím, Sự Trả thù của Quyền lực, NXB Dân Khí, 2022
- David Van Reybrouck, Chống Bầu cử - Biện hộ cho Dân chủ, NXB Dân Khí, 2022
- John Gastil và Eric Olin Wright biên tập, Cơ quan Lập pháp bằng rút Thăm, NXB Dân Khí, 2023
- Timothy Snyder, Đường tới không-Tự do, NXB Dân Khí, 2023
- Yves Sintomer, Chính phủ Tình cờ, NXB Dân Khí, 2023
- Daron Accemoglu và Simon Johnson, Quyền lực và Tiến bộ, NXB Dân Khí, 2024
- Jason Hannan, Trolling bản thân chúng ta đến chết, NXB Dân Khí, 2024
- David Daokui Li, Thế giới quan của Trung Quốc, NXB Dân Khí, 2024
- Fareed Zakaria, Thời đại cách mạng, NXB Dân Khí, 2024
- Dan Slater và Joseph Wong, Từ Phát triển đến Dân chủ, NXB Dân Khí, 2024
- Timothy Snyder, Về Tự do, NXB Dân Khí, 2025
- Magyar Bálint và Maldovics Bálint, Một tóm tắt cô đọng về các chế độ hậu-cộng sản, NXB Dân Khí, 2025
- Richard Seymour, Chủ nghĩa Dân tộc Tai họa - sự Suy sụp của nền Văn minh Tự do, NXB Dân Khí, 2025
Giấc mơ Trung Hoa tan vỡ
Dẫn nhập
Lễ bế mạc Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vào ngày 22 tháng 10 năm 2022 lẽ ra phải là một sự kiện trọng đại để kỷ niệm nhiệm kỳ thứ ba chưa từng có tiền lệ của Tập Cận Bình với tư cách là Tổng Bí thư Đảng. Nhưng rõ ràng đã có điều gì đó không ổn. Người tiền nhiệm của Tập Cận Bình, cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, lúc đó 80 tuổi, đã bị hộ tống ra khỏi bục phát biểu, dường như trái với ý muốn của ông. Hơn 2.300 đại biểu tham dự đại hội đã nhìn chằm chằm trong sự ngạc nhiên tột độ, trong khi Tập Cận Bình và các lãnh đạo cấp cao khác của Đảng ngồi bên cạnh Hồ Cẩm Đào đều giữ vẻ mặt vô cảm, giả vờ không để ý đến hành động được coi là sự sỉ nhục công khai đối với một cựu Tổng Bí thư.
Điều gì đã xảy ra chính xác vẫn là chủ đề của những đồn đoán sôi nổi. Giải thích hợp lí nhất là ông Hu đã phát hiện trong tài liệu được trao cho mình rằng người học trò và thành viên hai nhiệm kỳ của Bộ Chính trị, ông Hồ Xuân Hoa (không có quan hệ họ hàng), không có tên trong danh sách các thành viên sẽ được bổ nhiệm vào Bộ Chính trị mới, mặc dù ông mới 59 tuổi và có kinh nghiệm hơn hầu hết các thành viên khác của Bộ Chính trị. Vì Hồ Cẩm Đào có lẽ chưa được thông báo về sự thay đổi phút chót này, ông có lẽ muốn hỏi những người ngồi xung quanh (Tập Cận Bình ngồi bên phải ông) tại sao Hồ Xuân Hoa lại bị loại khỏi Ban Chấp hành Trung ương. Rõ ràng, điều này đã vượt quá giới hạn đối với một trong những người trung thành nhất của Tập, Lật Chiến Thư (Li Zhanshu), một thành viên sắp nghỉ hưu của Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Lật đã giật lấy tập tài liệu từ tay Hồ Cẩm Đào trong khi Tập gọi một trợ lí và dường như ra lệnh cho người này đưa Hồ ra khỏi bục phát biểu.1
Sự việc này, dù có thể không được Tập Cận Bình dự đoán trước, vẫn là một dấu mốc phù hợp cho thấy sự thống trị chính trị tuyệt đối mà ông đã đạt được kể từ khi trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 11 năm 2012. Trong thập kỷ cầm quyền của mình, ông đã phá bỏ trật tự chính trị do các tiền nhiệm xây dựng và khôi phục các yếu tố cốt lõi của chủ nghĩa toàn trị: chế độ cá nhân, sùng bái cá nhân, thanh trừng liên tục, kiểm soát xã hội ngột ngạt, tuyên truyền tư tưởng, và một chính sách
đối ngoại hung hăng. Việc khôi phục nỗi sợ hãi như một công cụ cai trị thiết yếu có thể thấy qua một danh sách dài các hành động từng được coi là không thể tưởng tượng được trong thời kỳ hậu Mao: việc giam giữ hàng triệu thành viên của các dân tộc thiểu số (chủ yếu là người Duy Ngô Nhĩ) tại Tân Cương trong nửa cuối thập niên 2010; việc áp đặt đơn phương luật an ninh quốc gia lên Hồng Kông vào tháng 7 năm 2020, gần như chấm dứt mô hình quản trị “một quốc gia, hai chế độ” tại cựu thuộc địa Anh; cuộc đàn áp dữ dội đối với xã hội dân sự, báo chí và mạng xã hội, đẩy mức độ đàn áp lên mức tồi tệ nhất trong thời kỳ hậu Mao.
Trong nội bộ chế độ, Tập Cận Bình đã tự biến mình thành nhà lãnh đạo Trung Quốc quyền lực nhất — và đáng sợ nhất — kể từ khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, chủ yếu bằng cách triển khai các chiến thuật thanh trừng liên tục và độc quyền quyền ra quyết định mà các nhà lãnh đạo toàn trị ưa chuộng. Khi ra lệnh cho Hồ Cẩm Đào rời khỏi bục phát biểu, Tập Cận Bình đã phá vỡ gần như tất cả các quy tắc và nguyên tắc do đảng thiết lập trong thời kỳ hậu Mao Trạch Đông, bao gồm lãnh đạo tập thể, giới hạn nhiệm kỳ, nghỉ hưu bắt buộc và sự an toàn của giới tinh hoa chính trị. (Đến cuối năm 2022, cuộc chiến chống tham nhũng kéo dài một thập kỷ của Tập Cận Bình đã dẫn đến việc điều tra 4,6 triệu đảng viên, gồm hơn 500 quan chức “được Trung ương giám sát” và hơn 200.000 quan chức cấp trung và địa phương. Khoảng một trong tám thành viên chính thức và dự bị của Ban Chấp hành Trung ương đã bị điều tra, truy tố và bỏ tù.)2
Ngày hôm sau khi ông thể hiện sức mạnh chính trị thô bạo trước các quan chức điều hành đất nước, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Tập làm Tổng Bí thư cho nhiệm kỳ 5 năm tiếp theo, phá vỡ giới hạn hai nhiệm kỳ không thành văn và thực chất biến ông thành nhà lãnh đạo suốt đời đầu tiên kể từ thời Mao Trạch Đông.
Sự trở lại của một nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa toàn trị mới và những thực hành gợi nhớ đến chủ nghĩa Stalin là điều khó có thể tưởng tượng được bốn thập kỷ trước, khi những người sống sót sau Cách mạng Văn hóa của Mao đã tập hợp lại tại Bắc Kinh để cứu vãn một chế độ bị tổn thương bởi các chính sách tự hủy hoại của chính mình. Trong số họ, nổi bật là Đặng Tiểu Bình, người bị "dán nhãn " bị đảng thanh trừng ba lần (hai lần dưới thời Mao), và Trần Vân, một kỳ cựu cách mạng và nhà hoạch định kinh tế được kính trọng nhất của đảng. Mặc dù Đặng và Trần sau này có mâu thuẫn về cải cách kinh tế, họ cùng chia sẻ mục tiêu khôi phục lãnh đạo tập thể và ngăn chặn sự trỗi dậy của một nhân vật giống Mao có thể lại gây sự khủng bố cho đảng. Họ đã thúc đẩy một loạt cải cách nhằm củng cố nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cấm xây dựng sùng bái cá nhân, và áp dụng chế độ nghỉ hưu bắt buộc cùng giới hạn nhiệm kỳ.
Ngoài những nỗ lực nhằm đưa đảng thoát khỏi quá khứ toàn trị, vào đầu những năm 1980, đảng còn tự hào có những nhà lãnh đạo đương nhiệm có khuynh hướng tự do điều hành các công việc hàng ngày (mặc dù Đặng Tiểu Bình và Trần Vân vẫn là những người ra quyết định cuối cùng). Hồ Diệu Bang trở thành Tổng Bí thư vào tháng 6 năm 1981 sau khi Đặng Tiểu Bình và Trần Vân buộc Hoa Quốc Phong, một nhà lãnh đạo chuyển tiếp được cho là người đứng sau cuộc đảo chính dẫn đến việc bắt giữ góa phụ của Mao và ba phần tử cực đoan khác vào đầu tháng 10 năm 1976, phải từ chức. Hồ Diệu Bang giám sát công tác quản lí thường nhật của đảng trong 5 năm rưỡi tiếp theo và đóng vai trò then chốt trong việc soạn thảo một số văn kiện lịch sử của đảng trong thập niên 1980. Về mặt kinh tế, Thủ tướng Triệu Tử Dương đã làm việc không mệt mỏi để biến tầm nhìn “cải cách và mở cửa” của Đặng Tiểu Bình thành hiện thực. Cặp đôi cải cách này đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng Đảng theo hướng nhân ái và ôn hòa hơn. Thực tế, trước khi Đặng Tiểu Bình ra lệnh cho quân đội Trung Quốc đàn áp các cuộc biểu tình hòa bình ủng hộ dân chủ tại Bắc Kinh vào ngày 4 tháng 6 năm 1989, Trung Quốc đã trải qua thập kỷ cởi mở và tự do nhất kể từ sau năm 1949.
Hy vọng rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển thành một xã hội thịnh vượng và cởi mở hơn vẫn không tắt ngay cả sau khi những người biểu tình ở Bắc Kinh bị đàn áp dã man vào tháng 6 năm 1989. Sự sụp đổ của Liên Xô vào tháng 12 năm 1991 đã khiến Đặng Tiểu Bình khởi xướng nỗ lực cuối cùng để hồi sinh cuộc cách mạng kinh tế của đất nước vào đầu năm 1992, vì ông biết rằng ĐCSTQ, giống như Liên Xô cũ, cũng sẽ mất đi tính chính danh nếu không thể mang lại mức sống tốt hơn cho người dân Trung Quốc.
Trong hai thập kỷ tiếp theo, quá trình hiện đại hóa trên quy mô chưa từng có trong lịch sử nhân loại đã hoàn toàn biến đổi Trung Quốc, mặc dù đảng vẫn giữ quyền lực và tiếp tục chống lại sự tự do hóa chính trị. Đối với những người tin rằng sự thịnh vượng kinh tế ngày càng tăng và sự hội nhập với phương Tây thông qua thương mại và đầu tư sẽ tăng cơ hội mang lại dân chủ cho đất nước, việc dân chủ hóa thông qua hiện đại hóa kinh tế dường như là một con đường khả thi cho Trung Quốc trong thời kỳ hậu Thiên An Môn. Trong hai mươi năm từ chuyến thăm miền Nam Trung Quốc của Đặng Tiểu Bình vào năm 1992, sự kiện đã khơi dậy lại các cải cách kinh tế, cho đến khi Tập Cận Bình được bổ nhiệm làm Tổng Bí thư mới vào cuối năm 2012, nền kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ trung bình 10% mỗi năm.3 thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua đã tăng gần mười lần, từ 1.262 $ sức mua tương đương (PPP) lên 11.169 $ PPP, trong cùng thời kỳ.4 Năm 1992, chỉ có 27,5% (tương đương 322 triệu người) dân số sống ở khu vực thành thị. Đến năm 2012, thì 52,6% dân số (tương đương 712 triệu người) là cư dân thành thị.5 Dân số Trung Quốc cũng đã được giáo dục tốt hơn. Năm 1992, có 604.000 người tốt nghiệp đại học. Năm 2012, đã có 6,24 triệu người tốt nghiệp đại học, tăng gấp mười lần.6 Quá trình toàn cầu hóa trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh đã giúp Trung Quốc trở thành một phần không thể tách rời của nền kinh tế toàn cầu và cũng là cường quốc sản xuất lớn nhất thế giới. Trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến 2012, hơn $1,2 nghìn tỷ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đổ vào Trung Quốc, và thương mại hàng hóa nước ngoài tăng từ 136 tỷ USD lên 3,867 nghìn tỷ USD.7
Trước khi Tập Cận Bình lên nắm quyền, ít ai có thể tưởng tượng rằng một quốc gia đã đạt được những bước tiến vượt bậc nhờ phát triển kinh tế và toàn cầu hóa lại có thể khôi phục chế độ toàn trị trong nước và châm ngòi cho một cuộc Chiến tranh Lạnh mới với phương Tây. Đáng buồn thay, đó chính xác là những gì đã xảy ra. Vào thời điểm Tập Cận Bình thực sự trở thành nhà lãnh đạo mới suốt đời của Trung Quốc, ông không chỉ phục hồi chế độ toàn trị trong nước mà còn thực hiện một chính sách đối ngoại hung hăng, cuối cùng góp phần dẫn đến sự sụp đổ của quan hệ Trung-Mỹ và sự bùng nổ của một cuộc chiến tranh lạnh mới.
Điều gì đã xảy ra?
Không có lí thuyết nào trong văn học khoa học xã hội hiện thời lại có thể giải thích đầy đủ sự hồi sinh của chế độ toàn trị ở Trung Quốc bất chấp hàng thập kỷ hiện đại hóa kinh tế-xã hội mang tính chuyển đổi, những cải thiện to lớn về phúc lợi kinh tế và sự hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Để hiểu cách Trung Quốc trải qua một bước lùi chính trị lớn dưới thời Tập Cận Bình, chúng ta phải trước hết nhận thức được những khó khăn đối với một kết quả ngược lại tiềm năng — tự do hóa chính trị hoặc thậm chí dân chủ hóa song song với sự phát triển kinh tế nhanh chóng.
Một trong những bí ẩn lớn nhất về Trung Quốc kể từ khi kết thúc thời kỳ Mao Trạch Đông là sự mất kết nối rõ rệt giữa phát triển kinh tế và dân chủ. Trái ngược với mối tương quan mạnh mẽ giữa mức độ phát triển kinh tế và sự tồn tại của các chế độ dân chủ đã được quan sát từ lâu, sự thịnh vượng ngày càng tăng và sự thay đổi xã hội tại Trung Quốc kể từ thập niên 1980 đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho dân chủ nhưng thực tế chưa dẫn đến sự dân chủ hóa có ý nghĩa của hệ thống chính trị.8 Giải thích cho bí ẩn này có thể không khó để tìm ra. Trước hết, mặc dù có mối tương quan được quan sát thấy giữa sự giàu có và dân chủ, nhưng các cơ chế chính xác mà qua đó sự phát triển kinh tế dẫn đến dân chủ vẫn chưa rõ ràng.9 Các nghiên cứu về quá trình dân chủ hóa kể từ giữa những năm 1970 cho thấy những lựa chọn của giới tinh hoa cầm quyền độc tài đóng vai trò quan trọng và trực tiếp hơn nhiều trong quá trình chuyển đổi từ chế độ độc tài.10 Một trong những nghiên cứu có ảnh hưởng nhất về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và dân chủ không tìm thấy mối quan hệ tuyến tính giữa phát triển kinh tế và quá trình chuyển đổi sang dân chủ. Yếu tố quan trọng nhất trong quá trình chuyển đổi dân chủ của một quốc gia không phải là việc đạt được một mức độ giàu có cụ thể, mà là sự sụp đổ của chế độ độc tài.11
Nếu những lựa chọn chiến lược của các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong thời kỳ hậu Mao có ý nghĩa quan trọng hơn những thay đổi cơ cấu của xã hội và nền kinh tế nước này trong việc quyết định sự tiến hóa của hệ thống chính trị, thì có thể có một lời giải thích đơn giản và rõ ràng hơn cho câu đố Trung Quốc. Chế độ một đảng vẫn tồn tại ở Trung Quốc bất chấp quá trình hiện đại hóa chủ yếu là vì ĐCSTQ không chỉ chọn cách chống lại các áp lực đòi tự do hóa chính trị mà còn áp dụng các biện pháp hiệu quả để vô hiệu hóa các tác động chính trị của sự phát triển kinh tế. Thực tế, chúng ta không cần phải tìm kiếm xa xôi để thấy bằng chứng rằng Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo gần như một mình dẫn dắt đảng thoát khỏi chủ nghĩa Mao để hướng tới hiện đại hóa, không có ý định để dự án “cải cách và mở cửa” của mình đe dọa sự độc quyền chính trị của đảng. Vào tháng 3 năm 1979, ba tháng sau khi ông thực sự trở thành nhà lãnh đạo tối cao, Đặng Tiểu Bình đã đề ra “Bốn nguyên tắc cơ bản” — bảo vệ con đường xã hội chủ nghĩa, chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, và tư tưởng Mao Trạch Đông cùng chủ nghĩa Marx-Lenin — như những giới hạn chính trị không thể bị thách thức.12 Dù ông đã thúc đẩy mạnh mẽ các cải cách thị trường, hội nhập với phương Tây và các biện pháp có lợi cho phát triển trong thời gian cầm quyền, Đặng Tiểu Bình đã làm rõ một cách dứt khoát rằng hiện đại hóa kinh tế là phương tiện để duy trì chế độ một đảng, và không có gì khác. Mặc dù ông đã đấu tranh với những người cứng rắn trong đảng chống lại các cải cách kinh tế của mình, ông thường xuyên đứng về phía họ, thường là một cách có chủ ý, khi chỉ trích thứ mà ông gọi là “tự do hóa tư sản” — thuật ngữ tóm tắt của ông để chỉ các áp lực xã hội nhằm thúc đẩy chủ nghĩa tự do chính trị và dân chủ.
Chắc chắn, có lẽ đã có một cơ hội hẹp và ngắn ngủi cho dân chủ hóa trong những năm 1980, giai đoạn cởi mở nhất kể từ năm 1949. Trong thập kỷ đó, các nhà cải cách tự do như Hồ Diệu Bang (Tổng Bí thư từ năm 1981 đến tháng 1 năm 1987) và Triệu Tử Dương (Thủ tướng từ năm 1980 đến 1987 và Tổng Bí thư từ năm 1987 đến tháng 5 năm 1989) đã làm hết sức mình để mở cửa hệ thống chính trị. Tận dụng sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình đối với các cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu quả của nhà nước, vào năm 1986–1987, Triệu Tử Dương thậm chí còn soạn thảo một bản thiết kế có tiềm năng đưa một hình thức đa nguyên chính trị hạn chế vào hệ thống đảng-nhà nước Trung Quốc.13 Mặc dù giữ vị trí lãnh đạo cao nhất, hai nhà cải cách này không có quyền quyết định cuối cùng. Đặng Tiểu Bình và nhà cách mạng các kỳ cựu già nua nắm giữ quyền lực to lớn và đảm bảo rằng Hồ và Triệu, những người có nhiệm vụ hạn chế là thực hiện các cải cách kinh tế của Đặng, sẽ không dung túng cho các xu hướng tự do hóa có thể đe dọa chế độ một đảng. Thực tế, Đặng đã thanh trừng hai nhà cải cách này khi họ ủng hộ các lực lượng dân chủ bất chấp quan điểm cứng rắn đã được
Đặng Tiểu Bình nêu rõ. Khi cán cân quyền lực trong thập niên 1980 liên tục nghiêng về phía những người theo đường lối cứng rắn như Đặng Tiểu Bình và Trần Vân, cơ hội cho một sự tự do hóa thực sự và bền vững chưa bao giờ cao.
Sau cuộc thanh trừng triệt để các nhà cải cách tự do sau cuộc đàn áp vào tháng 6 năm 1989, những cơ hội đó đã tan biến. Trong thời kỳ hậu Thiên An Môn, chế độ đã áp dụng một chiến lược sinh tồn tinh vi, dựa vào một loạt công cụ đa dạng để đảm bảo rằng sự phát triển kinh tế và toàn cầu hóa sẽ không đe dọa sự kiểm soát quyền lực của đảng.14 Đảng duy trì sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân chủ yếu thông qua việc mang lại sự thịnh vượng ngày càng tăng. Sự chính danh của chế độ cũng được củng cố thông qua các lời kêu gọi chủ nghĩa dân tộc.15 Để mở rộng cơ sở, đảng đã triển khai một chương trình có phối hợp nhằm thu hút các nhà tư bản, chuyên gia và trí thức — những tầng lớp tinh hoa xã hội mới, sự ủng hộ của họ sẽ giúp đảng cai trị một xã hội và nền kinh tế đa dạng và phức tạp hơn.16 Thời kỳ hậu Thiên An Môn cũng chứng kiến sự trỗi dậy của một nhà nước an ninh được trang bị mạng lưới mật báo viên rộng lớn và công nghệ tiên tiến, được tài trợ bởi sự gia tăng khổng lồ về nguồn lực tài chính do sự bùng nổ kinh tế mang lại.17 Kết quả của phản ứng từ đảng, sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong thời kỳ hậu Thiên An Môn đã củng cố quyền lực của đảng thay vì làm suy yếu nó.
Hơn nữa, những lựa chọn quan trọng của các nhà lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) trong thập niên 1980, sự thích ứng hiệu quả của đảng trong thời kỳ hậu Thiên An Môn, cùng với những đặc điểm thể chế độc đáo của ĐCSTQ đã làm gia tăng những khó khăn trong quá trình chuyển đổi sang một hệ thống chính trị cởi mở hơn. Khác với các chế độ độc tài thông thường, chẳng hạn như các chế độ độc tài cá nhân, các chính quyền quân sự, hoặc các chế độ một đảng không theo chủ nghĩa Lenin, ví dụ như Đảng Hành động Nhân dân (PAP) của Singapore và Đảng Cách mạng Thể chế (PRI) của Mexico trước năm 2000, các chế độ toàn trị cộng sản có một hệ tư tưởng mang tính chương lĩnh, các đảng cầm quyền được tổ chức tốt hơn, việc sử dụng khủng bố một cách có hệ thống hơn như một phương tiện cai trị, ảnh hưởng lớn hơn đối với nền kinh tế thông qua kế hoạch hóa và các doanh nghiệp nhà nước, kiểm soát hiệu quả hơn đối với lực lượng quân sự và an ninh, cùng khả năng vô song trong việc thống trị xã hội và hạn chế dòng chảy thông tin.18
Những đặc điểm thể chế này khiến việc dân chủ hóa một chế độ toàn trị trở nên khó khăn hơn nhiều so với một chế độ độc tài. Quá trình chuyển đổi sang dân chủ trong một chế độ độc tài thông thường thường liên quan đến việc giới tinh hoa cầm quyền rút lui khỏi quyền lực và thiết lập sự kiểm soát dân sự đối với quân đội. Nhưng trong trường hợp của chủ nghĩa toàn trị, quá trình chuyển đổi này đòi hỏi sự thay đổi ở hầu hết mọi khía cạnh của hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội vì chính chế độ toàn trị đã ăn sâu vào những lĩnh vực này. Cải cách từng phần trong một chế độ toàn trị khó có thể tạo ra tác động đáng kể trong việc thay đổi bản chất của hệ thống bởi vì hệ thống cũ sẽ vẫn giữ bản chất toàn trị trừ khi các đặc điểm thể chế quan trọng nhất của chủ nghĩa toàn trị — trên hết là đảng-nhà nước theo chủ nghĩa Lênin — bị loại bỏ.
Một cái nhìn nhanh về quá trình dân chủ hóa trong các chế độ cộng sản cũ bắt đầu từ cuối thập niên 1980 và đạt đỉnh điểm với sự sụp đổ của Liên Xô vào tháng 12 năm 1991 cho thấy quá trình này được thực hiện gần như hoàn toàn thông qua cách mạng — sự lật đổ nhanh chóng các chế độ cộng sản. Đúng vậy, các chế độ Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô cũ vào cuối thập niên 1980 là các chế độ hậu toàn trị đã từ bỏ một số thực hành thiết yếu của chủ nghĩa toàn trị cổ điển, đặc biệt là việc thanh trừng liên tục và khủng bố hàng loạt, nhưng chúng vẫn giữ lại các đặc điểm xác định khác của chủ nghĩa toàn trị, đặc biệt là nhà nước đảng Leninist, nền kinh tế chỉ huy và sự kiểm soát gần như tuyệt đối đối với luồng thông tin. Tuy nhiên, một khi rõ ràng rằng Liên Xô sẽ không còn can thiệp quân sự để duy trì quyền lực của các chế độ cộng sản ở các nước vệ tinh của mình, các phong trào cách mạng tự phát đã lật đổ các chế độ này và thay thế chúng bằng dân chủ.19
Nếu sự sụp đổ nhanh chóng của các chế độ cộng sản do Liên Xô hậu thuẫn ở Đông Âu dễ giải thích hơn, thì sự sụp đổ của chính Liên Xô có lẽ cho thấy rằng ngay cả một chế độ cộng sản bản địa cũng trở nên dễ bị tổn thương trước cách mạng nếu nó cố gắng cải cách và làm suy yếu các cơ chế nền tảng của chủ nghĩa toàn trị như một phần của quá trình cải cách chính trị dần dần. Trong trường hợp Liên Xô, nhà lãnh đạo cải cách Mikhail Gorbachev đã đưa ra chính sách glasnost và perestroika nhằm mục đích làm mới hệ thống đang suy tàn. Nhưng canh bạc của Gorbachev về sự cởi mở, đa nguyên và cạnh tranh để tạo ra một hệ thống nhân văn hơn đã nhanh chóng giải phóng các lực lượng cách mạng, đặc biệt là chủ nghĩa dân tộc trong các nước cộng hòa của đế chế. Khi cải cách biến thành cách mạng, Gorbachev cuối cùng đã mất kiểm soát và trở thành người chôn vùi chủ nghĩa cộng sản Liên Xô.20
Mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô là trường hợp duy nhất về việc lật đổ một chế độ cộng sản do một cuộc cách mạng bản địa thành lập, nó đặt ra câu hỏi liệu các chế độ toàn trị có thể được chuyển đổi thành dân chủ thông qua cải cách, chứ không phải cách mạng hay không. Thực tế, Liên Xô dưới thời Gorbachev là chế độ cộng sản bản địa duy nhất cố gắng cứu vãn hệ thống đang khủng hoảng bằng cải cách chính trị, chứ không phải cải cách kinh tế. Tuy nhiên, vì chính sách glasnost và perestroika của Gorbachev đã thành công trong việc phá vỡ nền tảng của chế độ hậu toàn trị (đặc biệt là sự độc quyền chính trị của Đảng Cộng sản), trường hợp Liên Xô vẫn là trường hợp duy nhất mà một chế độ hậu toàn trị bị thay thế bằng một chế độ chính trị khác (một nền dân chủ yếu ớt trong trường hợp Nga). Đáng chú ý, các chế độ cộng sản bản địa như Trung Quốc và Việt Nam, mà đã chấp nhận chủ nghĩa tư bản nhưng chống lại sự tự do hóa chính trị, đã đạt được sự thịnh vượng kinh tế chưa từng có nhưng cũng vẫn giữ lại các thể chế chính trị cốt lõi của chủ nghĩa toàn trị.21 Sự vắng mặt của quá trình dân chủ hóa trong các chế độ này ngụ ý rằng hiện đại hóa kinh tế đơn thuần khó có thể dẫn đến sự chuyển đổi sang một chế độ chính trị khác. Cải cách chính trị làm suy yếu nghiêm trọng các thể chế nền tảng của chủ nghĩa toàn trị, như trường hợp Liên Xô vào cuối thập niên 1980, có thể là con đường duy nhất dẫn đến dân chủ cho một chế độ toàn trị hoặc hậu toàn trị.
Việc duy trì các thể chế nền tảng của chủ nghĩa toàn trị—như nhà nước đảng Leninist, kiểm soát gần như tuyệt đối thông tin, kiểm soát trực tiếp quân đội và cơ quan an ninh, cùng ảnh hưởng quyết định đối với nền kinh tế—cũng cho thấy việc phục hồi chế độ toàn trị trong các chế độ này không chỉ có thể mà còn rất có khả năng nếu một nhà lãnh đạo mạnh nắm quyền kiểm soát chính trị và quyết định đưa chế độ trở lại gốc rễ toàn trị của nó. Vì chủ nghĩa toàn trị trong các chế độ như vậy chưa bao giờ thực sự bị nhổ tận gốc và các thể chế chính của nó về cơ bản vẫn còn nguyên vẹn, việc khôi phục chế độ toàn trị gặp ít trở ngại hơn nhiều so với các chế độ nơi chủ nghĩa toàn trị đã bị dỡ bỏ phần lớn.
Cách "Giấc mơ Trung Hoa" bị phá vỡ
Khi Đặng Tiểu Bình khởi xướng chính sách “cải cách và mở cửa” vào năm 1979, Trung Quốc cuối cùng cũng có cơ hội hiện thực hóa giấc mơ trở thành một quốc gia giàu mạnh sau khi trải qua “thế kỷ nhục nhã” – giai đoạn từ khi Chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất bùng nổ năm 1839 cho đến khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào tháng 10 năm 1949. Về mặt kinh tế, đất nước này có những điều kiện cơ cấu thuận lợi để bắt tay vào một cuộc hiện đại hóa với tốc độ nhanh chóng. Không giống như Liên Xô, hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa nhà nước có gốc rễ nông hơn và ảnh hưởng đối với Trung Quốc cũng mỏng manh hơn. Hầu hết dân số sống ở nông thôn – ngoài khu vực nhà nước kém hiệu quả. Tiềm năng khai thác năng lực sản xuất bị chủ nghĩa cộng sản kìm hãm là vô cùng lớn nếu ĐCSTQ nới lỏng các hạn chế về tự do kinh tế.22 Các điều kiện địa phương đa dạng buộc nhà nước phải cho phép một hệ thống phân quyền hơn, với tiềm năng lớn hơn cho thử nghiệm, đổi mới và tinh thần kinh doanh tư nhân.23 Về mặt dân số, Trung Quốc có thể thu được những lợi ích to lớn từ lực lượng lao động trẻ và khỏe mạnh khổng lồ nếu áp dụng các chính sách nhằm nâng cao năng suất của lực lượng lao động này.24 Về mặt địa lý, Trung Quốc nằm trong khu vực kinh tế năng động nhất thế giới — Đông Á — và không chỉ có thể hưởng lợi từ thương mại và đầu tư với Nhật Bản, khi đó là cường quốc kinh tế của châu Á, mà còn học hỏi được kinh nghiệm phát triển từ bốn con rồng nhỏ, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Hồng Kông, tất cả đều là những câu chuyện thành công của toàn cầu hóa.25 Về mặt địa chính trị, vào cuối thập niên 1970, Trung Quốc đã trở thành đối tác chiến lược của phương Tây trong Chiến tranh Lạnh. Việc ủng hộ nỗ lực hiện đại hóa của Trung Quốc phục vụ lợi ích an ninh của phương Tây.
Mặc dù các điều kiện tiên quyết cho sự cất cánh kinh tế của Trung Quốc vào cuối thời kỳ Mao Trạch Đông là vô cùng tích cực, nhưng các điều kiện tiên quyết cho tự do hóa chính trị hoặc dân chủ hóa lại chủ yếu là tiêu cực. Thực tế, về lí thuyết, thảm họa Cách mạng Văn hóa đã hoàn toàn làm mất uy tín của chủ nghĩa Mao, làm suy yếu sự kiểm soát của Đảng đối với xã hội Trung Quốc và thúc đẩy Đặng Tiểu Bình áp dụng các chính sách kinh tế thị trường.26 Tuy nhiên, hầu hết các điều kiện tiên quyết cho sự tự do hóa chính trị hoặc dân chủ hóa thực sự đều không tồn tại hoặc thậm chí bất lợi.
Điều quan trọng là, sự lựa chọn chiến lược của các nhà lãnh đạo Trung Quốc chủ chốt, chủ yếu là Đặng Tiểu Bình và đối thủ bảo thủ của ông là Trần Vân, là sửa chữa và duy trì sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc, dù với các chính sách kinh tế thực dụng hơn. Họ không chỉ nhìn nhận việc tự do hóa chính trị, huống chi là dân chủ hóa, với sự thù địch mãnh liệt, mà còn tiến hành các đợt trấn áp định kỳ trong thập niên 1980 để kiềm chế bất kỳ xu hướng nào đe dọa sự kiểm soát quyền lực của Đảng. Mặc dù các nhà cải cách tự do có mặt trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất của chế độ, họ thiếu quyền lực để thúc đẩy đảng theo hướng cởi mở chính trị lớn hơn.
Nếu sự mất cân bằng quyền lực bất lợi ở cấp cao đã loại trừ khả năng một quá trình chuyển đổi do giới tinh hoa lãnh đạo hướng tới một xã hội cởi mở hơn, thì khả năng một quá trình chuyển đổi do các lực lượng xã hội thúc đẩy cũng gần như không thể do di sản của ba thập kỷ cai trị toàn trị. Là hình thức độc tài đàn áp nhất trong lịch sử nhân loại, chủ nghĩa toàn trị tập trung quyền lực và tài nguyên vào nhà nước đảng và tìm cách loại bỏ mọi mối đe dọa tiềm tàng đối với sự cai trị của mình. Trong các chế độ toàn trị được thiết lập thông qua cách mạng, quá trình củng cố quyền lực thường đi kèm với việc tiêu diệt tàn bạo các lực lượng xã hội được coi là mối đe dọa đối với sự tồn tại của chế độ.27 Do đó, các nhóm xã hội như các tổ chức dân sự độc lập, các nhóm tôn giáo và các hiệp hội doanh nghiệp không được phép tồn tại trong các chế độ toàn trị. Khu vực tư nhân hoặc bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ hoặc phụ thuộc vào nhà nước (như trường hợp Đức Quốc xã), hoặc gần như bị cấm hoàn toàn (như dưới chế độ Cộng sản).28 Trong trường hợp Trung Quốc, các lực lượng xã hội có thể gây áp lực buộc ĐCSTQ phải tự do hóa hệ thống chính trị lại quá yếu để trở thành các tác nhân chính trị có ý nghĩa. Mặc dù các nhóm này phát triển nhờ sự phát triển kinh tế, nhưng các hạn chế do chế độ Trung Quốc áp đặt đã ngăn cản chúng trở thành các tác nhân chính trị thực sự độc lập và hiệu quả.29
Do đó, sự độc quyền quyền lực của đảng không phải đối mặt với bất kỳ mối đe dọa thực sự nào từ bên trong hay bên ngoài. Hậu quả quan trọng nhất của quyết định của các nhà lãnh đạo hậu Mao dựa vào cải cách kinh tế để cứu vãn đảng là việc duy trì các cơ chế cốt lõi của chủ nghĩa toàn trị. Thực tế, ngoại trừ sự suy tàn của chủ nghĩa Cộng sản chính thống và sự suy yếu của sự kiểm soát kinh tế của đảng, hầu hết các thành phần khác của chủ nghĩa toàn trị vẫn được duy trì nguyên vẹn trong suốt thời kỳ hậu Mao. Đúng vậy, Đặng Tiểu Bình và các nhà lãnh đạo Trung Quốc khác đã cố gắng thiết lập các rào cản để ngăn chặn sự trở lại của một nhân vật giống Mao có thể khôi phục chế độ cá nhân và một lần nữa khủng bố đảng. Tuy nhiên, các biện pháp cụ thể về giới hạn nhiệm kỳ và bảo vệ quyền lợi của đảng viên được đưa ra vào thập niên 1980 lại quá hẹp và mơ hồ (ví dụ, chúng không quy định rõ ràng về độ tuổi hoặc giới hạn nhiệm kỳ cho các thành viên Bộ Chính trị hay Tổng Bí thư). Vì các quy tắc và chuẩn mực không thể thi hành trong một chế độ độc tài và sự kháng cự của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đối với dân chủ hóa và luật trị (rule of law-nhà nước pháp quyền) đã khiến việc thi hành bởi các bên thứ ba độc lập (như tòa án, báo chí hoặc cử tri) trở nên bất khả thi, các cải cách hạn chế mà Đặng Tiểu Bình đã áp dụng trong thập niên 1980 vốn dĩ không thể ngăn chặn sự trở lại của chế độ toàn trị. May mắn cho Đảng và cho Trung Quốc, sự cân bằng quyền lực mong manh giữa các nhà lãnh đạo đối lập và các phe phái của họ từ năm 1979 đến 2012 đã duy trì chế độ lãnh đạo tập thể và đảm bảo sự tiếp tục của các chính sách thực dụng của Đặng Tiểu Bình.
Tuy nhiên, trong giai đoạn trước thời Tập Cận Bình, chủ nghĩa toàn trị chỉ đang nằm im. Đảng đã đình chỉ hoặc hạn chế các chính sách và thực hành liên quan đến chủ nghĩa toàn trị cổ điển, đặc biệt là khủng bố hàng loạt và sự kiểm soát gần như tuyệt đối đối với nền kinh tế. Nhưng miễn là đảng vẫn duy trì các cơ chế nền tảng của chủ nghĩa toàn trị, khả năng phục hồi của nó là cả thực tế lẫn đáng kể. Tất cả những gì cần thiết là sự trở lại của một nhà lãnh đạo, người bị cả niềm tin lí tưởng lẫn tham vọng cá nhân thúc đẩy, và nhận ra rằng việc khôi phục chế độ toàn trị sẽ phục vụ tốt nhất cho mục tiêu và lợi ích của mình. Bởi vì các cải cách hạn chế do Đặng Tiểu Bình đưa ra quá yếu ớt hoặc quá thiếu sót để loại trừ kịch bản này, việc khôi phục chế độ toàn trị, dù có vẻ không thể tưởng tượng được đối với nhiều người, vẫn là một khả năng thực sự. Một khi một nhân vật mạnh mẽ nắm quyền trong đảng, ông ta sẽ không gặp phải sự phản đối thực sự từ bên trong để tự biến mình thành một nhân vật giống Mao, trong khi việc duy trì các cơ chế cơ bản của chế độ toàn trị sẽ cho phép ông ta khôi phục lại chế độ đó một cách tương đối dễ dàng.
Ngoài các thể chế toàn trị đang ngủ yên, các khuyết điểm của chủ nghĩa phát triển tân-độc đoán của Đặng Tiểu Bình — hiện đại hóa kinh tế dưới chế độ một đảng — cũng là nguyên nhân dẫn đến sự trở lại của chủ nghĩa toàn trị. Chủ nghĩa phát triển tân độc đoán dựa trên hai trụ cột: đàn áp phe đối lập có tổ chức và tự do dân sự, và sự tập trung mù quáng vào phát triển kinh tế. Dù hấp dẫn về mặt lí thuyết, chủ nghĩa phát triển độc đoán mới không chỉ không bền vững trong thực tiễn mà còn tạo ra điều kiện chính trị thuận lợi cho sự trở lại của một nhà lãnh đạo toàn trị. Phát triển kinh tế dưới chế độ độc tài phải đối mặt với hai rào cản không thể vượt qua. Thứ nhất là sự thiếu vắng luật trị – nền tảng của quyền sở hữu tài sản và nền kinh tế thị trường. Vì các chế độ độc tài không muốn bị ràng buộc bởi luật trị và có tầm nhìn ngắn hạn do sự bất an của họ, việc nhà nước bóc lột là một đặc điểm cấu trúc của chế độ độc tài. Quyền sở hữu tài sản do đó sẽ mãi mãi không được đảm bảo ở các quốc gia do chế độ độc tài cai trị, từ đó làm suy yếu niềm tin của nhà đầu tư và hạn chế tiềm năng kinh tế của các quốc gia này.30 Rào cản thứ hai là bẫy của cải cách kinh tế một phần. Một chế độ độc tài tuyệt vọng trong việc giành lấy tính chính danh chính trị bằng cách cải thiện hiệu quả kinh tế có thể ban đầu sẵn sàng áp dụng các cải cách triệt để, nhưng sẽ có ít động lực hơn để theo đuổi các cải cách triệt để hơn nữa vì thành công ban đầu của cải cách củng cố tính chính danh của chế độ và làm giảm áp lực đòi hỏi thay đổi thêm. Điều quan trọng là, các cải cách kinh tế dưới chế độ độc tài thường trở nên khó khăn hơn về mặt chính trị khi tiến triển, bởi vì những cải cách triệt để nhất đòi hỏi phải trao quyền đầy đủ cho các lực lượng thị trường, phân quyền nguồn lực và đồng thời hạn chế quyền lực của nhà nước. Khi các cải cách thị trường toàn diện đe dọa hạn chế khả năng của giới elite cầm quyền trong việc sử dụng quyền lực để thu lợi kinh tế, các cải cách này trở nên ít hấp dẫn hơn đối với họ, khiến họ ngày càng miễn cưỡng thực hiện. Sự trì trệ kinh tế, chứ không phải sự năng động bền vững, có khả năng sẽ xảy ra.31
Sự kết hợp giữa chế độ độc tài và bẫy cải cách một phần không thể tránh khỏi sẽ tạo ra chủ nghĩa tư bản thân hữu, đặc trưng bởi sự thông đồng giữa các tầng lớp tinh hoa (elite) chính trị và các nhà tư bản, những người sử dụng mối quan hệ với các tầng lớp tinh hoa chính trị để tiếp cận các đặc quyền và cơ hội mà những người bên ngoài mạng lưới đó không thể có được. Sự liên kết này cho phép các tầng lớp tinh hoa chính trị trong chế độ độc tài chuyển đổi quyền lực của họ thành tài sản. Khi chủ nghĩa tư bản thân hữu làm trầm trọng thêm bất bình đẳng và tham nhũng bằng cách ưu ái những người có mối quan hệ, nó kích thích căng thẳng xã hội và đẩy nhanh sự suy tàn của chế độ, từ đó tạo ra cơ hội cho một nhà lãnh đạo mạnh mẽ nắm quyền bằng cách tận dụng các cuộc điều tra chống tham nhũng để tiêu diệt đối thủ chính trị và mạng lưới của họ.32 Đây chính xác là điều đã xảy ra sau khi Tập Cận Bình trở thành Tổng Bí thư vào cuối năm 2012.
Nhìn lại, việc Tập Cận Bình có thể dễ dàng quay ngược thời gian và khôi phục một hình thức cai trị toàn trị mà ít ai nghĩ là có thể xảy ra không phải là một kết quả ngẫu nhiên của lịch sử Trung Quốc trong thời kỳ hậu Mao. Chắc chắn, nhà lãnh đạo chịu trách nhiệm cho bước lùi lớn này — Tập Cận Bình — có thể chỉ là một sự tình cờ, vì sự thăng tiến của ông lên hàng ngũ
lãnh đạo cao nhất của ĐCSTQ hoàn toàn không phải là điều đã được định trước hay không thể tránh khỏi. Nhưng trong bối cảnh chính trị rộng lớn của thời kỳ hậu Mao, đặc biệt là những lựa chọn có chủ đích của Đặng Tiểu Bình và các nhà cứng rắn khác nhằm duy trì và bảo vệ độc quyền chính trị của đảng bằng mọi giá, việc bảo tồn các cơ chế nền tảng của chế độ toàn trị, cùng những khuyết điểm nội tại của chủ nghĩa phát triển tân độc đoán của Đặng Tiểu Bình, đã tạo ra những điều kiện cho sự hồi sinh của chế độ toàn trị vừa luôn hiện hữu vừa vô cùng thuận lợi. Nói cách khác, việc các cải cách hậu Mao kết thúc bằng một hình thức cai trị toàn trị mới gợi nhớ đến chủ nghĩa Stalin là một tai nạn đã được báo trước.
Tóm tắt luận điểm
Trung Quốc hậu Mao đã trải qua ba giai đoạn riêng biệt: giai đoạn cải cách thập niên 1980, giai đoạn độc đoán mới (1992–2012) và giai đoạn chủ nghĩa Stalin mới dưới thời Tập Cận Bình kể từ năm 2013.33 Mặc dù có những sự đứt gãy rõ rệt giữa các giai đoạn này, chúng đều được kết nối bởi logic của sự phụ thuộc vào con đường đã chọn. Các lựa chọn chiến lược của lãnh đạo Trung Quốc trong một thời kỳ sẽ thu hẹp phạm vi các lựa chọn và con đường tiềm năng cho các thời kỳ tiếp theo, vì những lựa chọn này tạo ra các kết quả làm tăng xác suất của một số diễn biến nhất định và giảm xác suất của các diễn biến khác trong các giai đoạn sau.
Cụ thể, sự phụ thuộc vào con đường phát triển có nghĩa là Trung Quốc có phạm vi lựa chọn rộng nhất vào những năm 1980. Trong thập kỷ đó, không có gì ngạc nhiên khi cuộc đấu tranh gay gắt ở cấp cao nhất của lãnh đạo Trung Quốc tập trung vào ba con đường tiềm năng phía trước. Những người cứng rắn ủng hộ việc quay trở lại hệ thống cộng sản mà không có chủ nghĩa Mao cực đoan. Những người Leninist thực dụng muốn ủng hộ chủ nghĩa tư bản để cứu vãn một chế độ đang khủng hoảng. Những nhà cải cách tự do cố gắng thực hiện cả cải cách chính trị và kinh tế để đưa đảng thoát khỏi gốc rễ toàn trị của mình. Thất bại quyết định của phe tự do vào năm 1989 đã loại bỏ lựa chọn thứ ba. Trong giai đoạn hậu Thiên An Môn, những người Leninist thực dụng do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo đã tận dụng sự sụp đổ của Liên Xô vào tháng 12 năm 1991 để tập hợp một đảng đang suy sụp theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa mang tính độc đoán mới dưới chế độ một đảng. Chiến lược này trong hai thập kỷ tiếp theo ban đầu mang lại sự năng động kinh tế chưa từng có nhưng dần dần rơi vào chủ nghĩa thân hữu độc tài tham lam. Di sản của trật tự hậu Thiên An Môn—tham nhũng quan chức tràn lan, các cải cách thị trường bế tắc, và khả năng đàn áp tinh vi và hiệu quả—đã mở ra một con đường tiềm năng cho một nhà lãnh đạo mạnh mẽ giành quyền kiểm soát và quay trở lại chế độ toàn trị. Mặc dù đảng có thể tiếp tục lê bước trên con đường hậu Thiên An Môn dưới sự lãnh đạo của một người khác, nhưng khả năng đảng sẽ
bước vào con đường hoàn toàn khác — hướng tới một hình thức mới của chế độ toàn trị dưới sự lãnh đạo của một nhà lãnh đạo mạnh mẽ. Nếu có chăng, khả năng phục hồi của chủ nghĩa toàn trị thậm chí còn cao hơn vì một nhà lãnh đạo mạnh mẽ tiềm năng có thể dễ dàng thanh trừng các đối thủ bị vấy bẩn bởi tham nhũng để tìm kiếm sự thống trị trong chế độ. Chính nhà lãnh đạo mạnh mẽ đó có thể triển khai các biện pháp đàn áp toàn trị để tái áp đặt sự kiểm soát chặt chẽ lên xã hội, bởi vì các cơ chế cưỡng chế của chế độ toàn trị, như quân đội do đảng kiểm soát, cảnh sát mật, giám sát hàng loạt và mạng lưới người cung cấp thông tin, không chỉ được duy trì mà còn được nâng cấp đáng kể nhờ công nghệ và đầu tư trong thời kỳ hậu Thiên An Môn.
Lí thuyết về sự phụ thuộc vào con đường phát triển cũng giúp làm sáng tỏ quỹ đạo phát triển kinh tế của Trung Quốc trong thời kỳ hậu Mao. Nhờ cấu trúc dân số thuận lợi, nguồn năng lượng khởi nghiệp dồi dào trong xã hội và mối quan hệ hợp tác với phương Tây, nền kinh tế đã sẵn sàng cho một bước nhảy vọt mạnh mẽ và nhanh chóng nếu Đảng dỡ bỏ các thể chế kinh tế cộng sản cũ và áp dụng các chính sách thân thị trường. Mặc dù Trung Quốc thực sự đã trải qua một “phép màu” kinh tế được đánh dấu bằng ba thập kỷ tăng trưởng kinh tế cao, nhưng sự lựa chọn chiến lược của Đặng Tiểu Bình trong việc sử dụng cải cách kinh tế và toàn cầu hóa để duy trì chế độ một đảng đã không tránh khỏi việc làm mất đà cải cách. Bị chi phối bởi yêu cầu chính trị phải duy trì chế độ một đảng, Đặng Tiểu Bình và những người kế nhiệm đơn giản là không thể mạo hiểm nhượng lại “các đỉnh cao chỉ huy” cho khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài. Nguyên tắc ngăn chặn cải cách thị trường làm suy yếu chế độ một đảng sẽ hạn chế nghiêm trọng sự phát triển của khu vực tư nhân và bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước khỏi cạnh tranh, dẫn đến một nền kinh tế hỗn hợp cuối cùng sẽ rơi vào tình trạng trì trệ. Tệ hơn nữa, cùng nguyên tắc đó cũng có thể dẫn đến việc thu hẹp khu vực tư nhân nếu chế độ muốn kiềm chế các mối đe dọa từ chủ nghĩa tư bản. Nhìn từ góc độ này, việc đảo ngược cải cách kinh tế hậu Mao dưới thời Tập Cận Bình không phải là ngẫu nhiên.
Mối quan hệ của Trung Quốc với phương Tây trong thời kỳ hậu Mao cũng không thể thoát khỏi sự ràng buộc của "sự phụ thuộc vào con đường". Sự yếu kém quốc gia, mối đe dọa từ Liên Xô và nhu cầu cấp bách của Đảng về sự ủng hộ từ phương Tây đã buộc phải áp dụng một chính sách đối ngoại thực dụng, ưu tiên phát triển kinh tế hơn là xung đột ý thức hệ với phương Tây. Mỹ và các đồng minh đã mở rộng vòng tay để tái tích hợp Trung Quốc vào trật tự kinh tế do phương Tây dẫn dắt vào thập niên 1980, được thúc đẩy bởi lợi ích an ninh chung và triển vọng hấp dẫn rằng các cải cách của Trung Quốc có thể thúc đẩy cả thịnh vượng kinh tế lẫn tự do chính trị trong nước. Khi cuộc đàn áp Thiên An Môn năm 1989 đột ngột chấm dứt quan hệ đối tác chiến lược giữa Trung Quốc và phương Tây và phơi bày khoảng cách ý thức hệ không thể hàn gắn, con đường hướng tới sự tích hợp toàn diện gần như đã bị đóng lại. Thành công của chế độ hậu Đặng trong việc theo đuổi chiến lược lớn “giấu sức và chờ thời” trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh chỉ làm tăng khả năng xảy ra một cuộc Chiến tranh Lạnh mới sau này, khi một Trung Quốc mạnh mẽ hơn nhiều bắt đầu khẳng định sức mạnh mới có được và thách thức trật tự do Mỹ dẫn dắt. Với sự xuất hiện của Tập Cận Bình vào cuối năm 2012, sự kết hợp giữa thái độ thù địch về ý thức hệ, tham vọng địa chính trị và những tính toán chiến lược sai lầm của ông — tất cả đều là hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của sự hồi sinh của chế độ toàn trị — sẽ dẫn đến một loạt cuộc đối đầu với Mỹ và các đồng minh, cuối cùng leo thang thành một cuộc Chiến tranh Lạnh mới.
Cấu trúc cuốn sách
Để hiểu cách các diễn biến chính trị và kinh tế kể từ năm 1979 dần thu hẹp phạm vi các lựa chọn và tăng khả năng phục hồi chế độ toàn trị, cuốn sách này sử dụng phương pháp theo trình tự thời gian để mô tả và phân tích các sự kiện quyết định và yếu tố quan trọng nhất đã định hình các xu hướng chính trị và kinh tế trong ba giai đoạn riêng biệt của Trung Quốc hậu Mao: thập niên 1980, thời kỳ hậu Thiên An Môn và thời kỳ Tập Cận Bình. Chương 1 tập trung vào chính trị giới thượng lưu và các cuộc đấu tranh phe phái về hướng đi của cải cách trong thập niên 1980, thập kỷ cởi mở nhất về chính trị nhưng kết thúc bằng cuộc đàn áp bi thảm đối với phong trào dân chủ vào tháng 6 năm 1989. Chương 2 xem xét lại việc triển khai các cải cách định hướng thị trường trong thập niên 1980, với trọng tâm đặc biệt vào cách thức việc giải thể nhanh chóng các hợp tác xã nông nghiệp đã giải phóng tinh thần kinh doanh bị kìm nén và tạo ra một khu vực tư nhân phát triển nhanh chóng. Trong Chương 3, chúng tôi phân tích trật tự chính trị tân độc đoán mà ĐCSTQ xây dựng trong thập kỷ đầu tiên của thời kỳ hậu Thiên An Môn dưới sự lãnh đạo của Giang Trạch Dân. Chúng tôi khám phá cách thức việc ĐCSTQ thích ứng với trật tự chính trị tân độc đoán này đã giúp chế độ vượt qua những cú sốc từ sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản trong khối Liên Xô cũ và đối phó với những thách thức của quá trình hiện đại hóa kinh tế. Chương 4 xem xét các chính sách mà Đảng đã áp dụng trong thời kỳ Hồ Cẩm Đào để giải quyết những thiếu hụt xã hội do chế độ độc đoán mới gây ra, và phân tích các yếu tố góp phần vào sự sụp đổ của trật tự hậu Thiên An Môn. Trong chương 5, chúng tôi phân tích các động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc trong thời kỳ hậu Mao Trạch Đông. Chương 6 theo dõi sự trỗi dậy của Tập Cận Bình và sự trở lại của chế độ toàn trị. Câu chuyện về sự kết thúc của phép màu kinh tế Trung Quốc được kể lại trong chương 7. Trong chương 8, chúng tôi xem xét và phân tích cách thức mà sự gắn kết của Trung Quốc với phương Tây trong thời kỳ hậu Mao cuối cùng đã dẫn đến một cuộc chiến tranh lạnh mới.
Ghi chú:
Dẫn nhập
- Agnes Chang et al., “What Happened to Hu Jintao,” New York Times, October 27, 2022, https://www.nytimes.com/interactive/2022/10/27/world/asia/hu-jintao-congress-videos.html.
- Zhong Yuhao, “中纪委公布十八大以来被查的中央委员、中央候补委员人数” [The Ủy ban Kiểm tra và Kỷ luật Trung ương công bố số ủy viên trung ương ủy biên trung ương dự khuyết đã bị điều tra kể từ Đại hội Đảng Toàn quốc thứ Mười tám], The Paper, October 17, 2022, https://m.thepaper.cn/newsDetailforward_20332452.
- Được tính từ dữ liệu trong Niên giám Thống Kê Trung quốc- Statistical Yearbook of China 2013 (Beijing: Zhongguo tongji chubanshe, 2014), https://www.stats.gov.cn/sj/ndsj/.
- World Bank, “GDP per Capita, PPP (current international $)—China,” https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.PP.CD?locations=CN.
- Statistical Yearbook of China 2013.
- Statistical Yearbook of China 1995 (Beijing: Zhongguo tongji chubanshe, 1996), 588; Statistical Yearbook of China 2013.
- Được tính từ Statistical Yearbook of China 2013; Statistical Yearbook of China 1995, 537.
- Seymour Martin Lipset, “Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy,” American Political Science Review 53, no. 1 (1959): 69–105; Robert A. Dahl, Polyarchy: Participation and Opposition (New Haven, CT: Yale University Press, 1971).
- Barbara Geddes, “What Causes Democratization,” in The Oxford Handbook of Political Science, ed. Robert Goodin (New York: Oxford University Press, 2013), 593–615.
- Guillermo O’Donnell and Philippe C. Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions About Uncertain Democracies (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1986); Samuel P. Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (Norman: University of Oklahoma Press, 1991); Stephan Haggard and Robert R. Kaufman, Dictators and Democrats: Masses, Elites, and Regime Change (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2016), 142–72.
- Adam Przeworski and Fernando Limongi, “Modernization: Theories and Facts,” World Politics 49, no. 2 (1997): 155–83.
- 邓小平 [Deng Xiaoping], “坚持四项基本原则” [Duy trì bốn nguyên tắc cơ bản], trong 邓小平文选第二卷 [Tuyển tập Đặng Thiểu Bình-Selected works of Deng Xiaoping, vol. 2] (Beijing: People’s Press, 1994),164–65.
- Wu Guoguang, 趙紫陽與政治改革 [Triệu Tử Dương và cải cách chính trị] (Hong Kong: Taipingyang shiji yanjiusuo, 1997).
- Bruce J. Dickson, The Dictator’s Dilemma: The Chinese Communist Party’s Strategy for Survival (New York: Oxford University Press, 2016); David L. Shambaugh, China’s CommunistParty: Atrophy and Adaptation (Berkeley: University of California Press, and Washington, DC: Woodrow Wilson Center Press, 2008); Dimitar D. Gueorguiev, Retrofitting Leninism: Participation Without Democracy in China (New York: Oxford University Press, 2021).
- 15. Suisheng Zhao, A Nation-State by Construction: Dynamics of Modern Chinese Nationalism (Stanford, CA: Stanford University Press, 2004); Zheng Wang, Never Forget National Humiliation: Historical Memory in Chinese Politics and Foreign Relations (New York: Columbia University Press, 2012).
- 16. Jie Chen and Bruce J. Dickson, Allies of the State: China’s Private Entrepreneurs and Democratic Change (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2010).
- 17. Yuhua Wang and Carl Minzner, “The Rise of the Chinese Security State,” China Quarterly, no. 222 (2015): 339–59; Minxin Pei, The Sentinel State: Surveillance and the Survival of Dictatorship in China (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2024).
- Carl Friedrich and Zbigniew Brzezinski, “The General Characteristics of Totalitarian Dictatorship,” in Comparative Government: A Reader, ed. Jean Blondel (London: Macmillan Education, 1969), 187–99; Juan J. Linz, Totalitarian and Authoritarian Regimes (Boulder, CO: Lynne Rienner, 2000).
- 19. Ivo Banac, ed., Eastern Europe in Revolution (Ithaca, NY: Cornell University Press, 1992); Archie Brown, The Rise and Fall of Communism (New York: Ecco, 2011).
- 20. Vladislav M. Zubok, Collapse: The Fall of the Soviet Union (New Haven, CT: Yale University Press, 2021); Michael A. McFaul, Russia’s Unfinished Revolution: Political Change from Gorbachev to Putin (Ithaca, NY: Cornell University Press, 2002).
- Martin K. Dimitrov, ed. Why Communism Did Not Collapse: Understanding Authoritarian Regime Resilience in Asia and Europe (New York: Cambridge University Press, 2013).
- Jeffrey Sachs and Wing Thye Woo, “Structural Factors in the Economic Reforms of China, Eastern Europe, and the Former Soviet Union,” Economic Policy 9, no. 18 (1994): 101–45.
- 23. Yingyi Qian and Chenggang Xu, “The M-Form Hierarchy and China’s Economic Reform,” European Economic Review 37, no. 2–3 (1993): 541–48; Xueguang Zhou, The Logic of Governance in China: An Organizational Approach (New York: Cambridge University Press, 2022).
- 24. Xin Yuan and Yuan Gao, “Demographic Transition and Economic Miracles in China: An Analysis Based on Demographic Perspective,” International Journal of Economic Policy Studies 14, no. 1 (2020): 25–45.
- Ezra F. Vogel, The Four Little Dragons: The Spread of Industrialization in East Asia (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1991).
- 26. Andrew G. Walder, “Bending the Arc of Chinese History: The Cultural Revolution’s Paradoxical Legacy,” China Quarterly, 227 (2016): 613–31.
- Steven Levitsky and Lucan Way, Revolution and Dictatorship: The Violent Origins of Durable Authoritarianism (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2022).
- 28. Adam Tooze, The Wages of Destruction: The Making and Breaking of the Nazi Economy (New York: Penguin, 2008); Carl J. Friedrich and Zbigniew K. Brzezinski, Totalitarian Dictatorship and Autocracy (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1956).
- Timothy Brook and B. Michael Frolic, eds., Civil Society in China (London: Routledge, 2015).
- Mancur Olson, “Dictatorship, Democracy, and Development,” American Political Science Review 87, no. 3 (1993): 567–76; Daron Acemoglu et al., “Institutions as the Fundamental Cause of Long-Run Growth,” in Handbook of Economic Growth: Volume 1A, ed. Steven N. Durlauf and Philippe Aghion (Elsevier, 2005), 385–472.
- 31. Joel S. Hellman, “Winners Take All: The Politics of Partial Reform in Post-Communist Transitions,” World Politics 50, no. 2 (1998): 203–34; Victor Shih, “Partial Reform Equilibrium, Chinese Style: Political Incentives and Reform Stagnation in Chinese Financial Policies,” Comparative Political Studies 40, no. 10 (2007): 1238–62.
- Minxin Pei, China’s Crony Capitalism: The Dynamics of Regime Decay (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2016); Andrew Wedeman, “The Dynamics and Trajectory of Corruption in Contemporary China,” China Review 22, no. 2 (2022): 21–48.
- 33. “Chủ nghĩa tân độc đoán (neo-authoritarianism)” ở đây đề cập đến một dạng độc đoán đặc biệt nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế dưới chế độ độc đoán. Về mặt lịch sử, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Chile dưới thời Pinochet là những ví dụ điển hình của loại chế độ này. Tầm nhìn về hiện đại hóa kinh tế của Đặng Tiểu Bình, về bản chất, mang tính chất chủ nghĩa độc đoán mới. “Chủ nghĩa Stalin mới” có thể được định nghĩa là một hình thức toàn trị áp dụng các thực tiễn thể chế và chính trị đặc trưng của Liên Xô Stalinist, chẳng hạn như sự thống trị của một nhà độc tài cá nhân, sự sùng bái cá nhân, việc sử dụng các cuộc thanh trừng để khủng bố đảng, sự tuân thủ một hệ tư tưởng chính thức và sự kiểm soát xã hội nghiêm ngặt. Hình thức toàn trị này khác với chủ nghĩa toàn trị quần chúng Maoist ở công cụ khủng bố mà nhà độc tài ưa chuộng. Các chế độ tân-Stalinist dựa vào bộ máy cưỡng chế của nhà nước để duy trì sự cai trị bằng nỗi sợ hãi, trong khi các chế độ Maoist ưa chuộng việc huy động quần chúng để thực hiện các chiến dịch khủng bố.